KYABJE DORZONG RINPOCHE ĐỜI THỨ 8
Việt dịch: Nhóm Thuận Duyên
Chi tiết cụ thể về sự ra đời của Dorzong Rinpoche hiện thời
đã được báo trước rất rõ ràng bởi Kyabje Drukpa Yongdzin Rinpoche đời thứ 7, vị
thầy gốc của Kyabje Dorzong Rinpoche đời thứ 7. Những chi tiết này cũng đã được
dự liệu bởi Ngài Kyabje Khamtrul Rinpoche đời thứ 8 và cả Kyabje Agon Rinpoche,
bậc thầy thành tựu nổi tiếng của dòng truyền thừa Drikung tại một nơi xa xôi
hẻo lánh ở miền Trung Tây Tạng.
Khi thụ thai Kyabje Dorzong Rinpoche, mẫu thân Ngài mơ thấy
khi bà đang đứng giữa một thung lũng nhuộm đầy sắc hoa vàng, thì từ bầu trời
phía Đông xuất hiện một tấm thảm dài được kết bởi những đám mây trắng muốt, rất
nhiều vị Lạt ma ngự trên đó. Các ngài đội chiếc mũ đỏ rất lạ mà bà chưa từng
thấy bao giờ. Chính giữa là một vị Lạt ma rất trẻ đẹp đang an tọa trên tòa.
Ngài đắp trên mình bộ y trắng và đội mũ trắng với một chiếc vương miện chóp
cao. Vị Lạt ma trẻ nhìn bà với ánh mắt hỉ lạc.
Bà lập tức cảm thấy tràn ngập lòng sùng kính vô hạn và
vội hái lấy một bó hoa lớn dâng cúng dường vị Lạt ma trẻ cùng chư vị Lạt ma
khác.


(Kyabje Dorzong Rinpoche đời thứ tám)
Kể từ đêm đó, một sinh linh mới dần dần trưởng dưỡng trong
bà. Gần 3 năm sau, khi dự lễ đăng quang của con trai (Ngài Kyabje Dorzong
Rinpoche hiện tại), tại tu viện Dorzong, lần đầu tiên bà được thấy chiếc
mũ thiền của dòng Drukpa Kagyu và lập tức nhận ra nó trong giấc mơ trước đây
của mình. Ngay khi bà miêu tả chiếc mũ chóp cao mà vị Lạt ma trẻ kia đội, các
vị Lạt ma cao cấp tại tu viện Dorzong đều đáp lại rằng đó chính là chiếc mũ của
Ngài Rechunpa. Gốc các hóa thân của các vị Dorzong là Ngài Kim Cương Thủ, ngài
A Nan, Palgye Dorje, một trong 25 đại đệ tử của Ngài Liên Hoa Sinh và
Rechungpa, một trong hai bậc thầy chính nắm giữ dòng truyền thừa của các giáo
huấn Milarepa.
Kyabje Dorzong Rinpoche được hạ sinh vào một sáng bình minh
đầu hè. Một đám mây nhẹ đã mang đến cơn mưa phùn tươi tốt và cầu vồng xuất hiện
ngay trên nóc nhà gia đình Ngài trú ngụ. Trước những điềm cát tường đó, mọi
người dân trong ngôi làng Ngeyul đều dám chắc đứa trẻ chính là một vị hóa thân. Cũng
sáng hôm đó, một hình hoa sen đã xuất hiện trên bề mặt của bốn trong số 7 bát
cúng dường trong phòng thờ của gia đình Ngài. Bức hình in đậm và không thể tẩy
được dưới đáy chiếc bát làm từ chiếc chuông bằng kim loại. Những tài sản
quý giá của gia đình đều đã bị phá hủy hết từ thời Cách mạng Văn hóa ở Tây
Tạng.
Lại cũng sáng hôm đó, một cặp quạ bỗng dưng xuất hiện và đậu
trên mái nhà. Chúng lưu lại đó cho đến lúc cậu bé Kyabje Dorzong Rinpoche được
đưa tới tu viện của mình. Sau đó người ta mới phát hiện ra rằng chúng chính là
đôi quạ thường sống tên mái nhà của các vị hộ pháp của Gonkhang tại tu viện
Dorzong ở Gon Jo đã biến mất vào thời điểm Dorzong Rinpoche chào đời. Tu viện
Dorzong được thành lập dưới thời Ngài Kyabje Dorzong Rinpoche đời thứ 4, theo
lời thỉnh cầu có được một tu viện mới trên lãnh địa của người dân vùng Gon Jo.
Tu viện mới mất chừng hai ngày đi ngựa từ Ngeyul.
Kyabje Dorzong Rinpoche đăng quang từ năm ba tuổi và Ngài bắt
đầu tu học từ năm lên 5. Ngài chứng tỏ năng khiếu của mình trong các bài đọc,
bài viết và học thuộc lòng. Năm lên 7, Ngài viếng thăm tu viện Khampagar và
hạnh ngộ Kyabje Khamtrul Rinpoche đời thứ 8. Vào thời điểm này, “ Đại Pháp Hội Liên
Hoa Sinh” đang được thực hành tại Tu viện Khampagar. [Pháp hội thực hành] Nghi
quỹ này 12 năm mới diễn ra một lần và kéo dài trong một tháng. Ngài Kyabje
Dorzong Rinpoche trẻ tuổi đã tham dự pháp tu và hoàn thành nghi lễ nhờ vào trí
nhớ của mình. Đông đảo mọi người chứng kiến điều kỳ diệu này đều có cảm giác vị
Rinpoche trẻ thật đặc biệt.

Kể từ đó, Kyabje Dorzong Rinpoche bắt đầu thọ nhận các quán
đỉnh, giáo lý và các pháp tu cao hơn của Drukpa Kagyu từ Kyabje Khamtrul
Rinpoche. Năm 8 tuổi, Ngài được tiếp thu giáo huấn của tất cả các truyền thống,
đặc biệt là Đại Thủ Ấn và Đại cứu cánh từ Kyabje Ragtul Rinpoche, vị Lạt ma
dòng Nyingma vô cùng được sùng kính bởi các bậc thầy của tất cả các trường
phái. Cũng vào lúc này, Ngài bắt đầu học những giáo lý và luận điển cơ bản của
Phật giáo về ba giới nguyện. Ngài nghiên cứu các luận điển của Tịch Thiên và
các vị Bồ Tát khác, đồng thời nghiên cứu về ba bộ luận chính của Trung Quán
Tông cùng các vị hóa thân Đại Đức Tashi Namgyal và Drayab Khenpo Lodru, một
trong số Khenpo nổi tiếng nhất của dòng Sakya lúc bấy giờ ở tỉnh Kham.
Bước lên 9, Ngài thọ nhận các Pháp Thiền siêu việt Đại Thủ Ấn
và Đại cứu cánh đồng thời được Kyabje Ragtul Rinpoche (một trong những bậc thầy
bất bộ phái đáng kính nhất thời đó) đích thân hướng dẫn và còn được thọ nhận
trọn bộ kho tang các giáo huấn Mật điển của dòng Kagyu ( Kagyu Ngag Dzod) cũng
như tất cả các trao truyền của các terma Namchoe khác. Ngoài ra, Ngài còn nhận
được ba Pháp tu chính của dòng Nyingma, các Pháp Hộ pháp của Đức Liên Hoa Sinh
được phát hiện từ thế kỷ 11, và trọn bộ giáo huấn từ Ngài Tsele Natsog Rangdol.
Cùng lúc, Ngài còn thọ nhận 100.000 giáo huấn Mật điển cổ truyền của truyền
thừa Nyingma (Nyingma rgyud ‘bum) từ Đại Đức Rongmi Lama Gedun.
Năm 14 tuổi, Ngài bước vào bậc học cao hơn tại Viện nghiên
cứu của Tu viện Khampagar, tại đây Ngài đã theo học dưới sự dìu dắt của Khenpo
Perma Tharchin đến từ Kathog, một tu viện Nyingma cổ. Dưới sự chỉ dạy của vị
Khenpo lỗi lạc, Ngài được học về Đại Thủ Ấn và hai luận điển Câu xá Tông chính,
cũng như các giáo lý triết học Phật giáo củai Kyanje Mipham Rinpoche. Ngài luôn
xuất sắc đứng đầu lớp trong mọi kỳ thi.


(Kyabje Dorzong
Rinpoche đời thứ 8 cùng với ngài Drugu Choegyal Rinpoche ở Bồ Đề Đạo Tràng)
(Rinpoche đi bộ gần
sông Naranjana, trong chuyến hành hương, năm 1999)
Có lần Kyabje Dorzong Rinpoche được người dân xứ Rongmi mời
tới thăm vùng đất của họ gần tu viện gốc Dorzong. Ở đấy có dãy núi Yongten
Ritra trùng điệp (Ngọn núi công đức rực rỡ) và rất nhiều hồ được đồn đại là nơi
chôn giấu các kho tàng giáo lý của Đức Liên Hoa Sinh. Đoàn dừng lại trên một
cánh đồng cỏ, nơi những người du mục cúng dường các Ngài sữa chua và sữa. Bầu
trời trong và xanh. Nhưng khi các Ngài bắt đầu cất lời cầu nguyện thì bỗng dưng
hai đụn mây xuất hiện trên khoảng trời ngay trên đầu họ. Sau đó, từ hai
đụn mây lớn kia lần lượt tách ra từng làn mây nhỏ bồng bềnh trôi đến nối đuôi
nhau làm nên chín dải mây dài tuyệt hảo. Người dân tụ tập ở đó đều hết sức kinh
ngạc. Sau hồi lâu tĩnh lặng chìm trong ngạc nhiên, chín dải mây lại tan ra về
quy tụ trong đụn mây. Hai đụn mây lại nhập vào nhau, và rồi những hồi sấm vang
rền kèm theo sau đó là một trận mưa. Các bậc cao niên du canh du cư đều thừa
nhận rằng trong suốt cả cuộc đời mình các vị chưa từng được chứng hiện một hiện
tượng nào kỳ lạ đến vậy. Khi nghe câu chuyện, một trong những vị thầy gốc đầu
tiên của Kyabje Dorzong Rinpoche, Kyabje Ragtul Rinpoche đã giảng giải rằng bởi
lẽ các vị thần địa phương, những người coi giữ các giáo lý của Đức Liên Hoa
Sinh có mối liên kết với Kyabje Dorzong Rinpoche đời quá khứ nên những đám mây
này, như chiếc khăn mà chín vị hộ thần nơi đây cúng dường lên để chào đón
chuyến viếng thăm đầu tiên của vị hóa thân trẻ.
Năm 1958, Kyabje Khamtrul Rinpoche quyết định rời Tây Tạng
đến Ấn Độ và đề nghị Kyabje Dorzong Rinpoche, lúc bấy giờ 15 tuổi, đi cùng
Ngài. Trong cuộc hành trình băng qua Lhasa, họ đã có cơ duyên hạnh ngộ Đức Đạt
lai Lạt ma. Tiếp sau đó, họ hành hương đến các thánh địa ở miền Trung Tây Tạng
trước khi qua Sikkim và đến dừng chân tại Ấn Độ. Kể từ năm 1959, họ lưu lại tại
Kalimpong. Tại đây, Kyabje Khamtrul Rinpoche đã xây dựng nên ngôi đền Zandok
Palri với sự đóng góp, hỗ trợ từ người dân Sikkim, Bhutan và Tây Tạng để có thể
lại tiếp tục thực hành các giáo Pháp, bao gồm cả các vũ điệu Lạt ma.
Kyabje Dorzong Rinpoche lập tức nối lại quá trình học tập của
mình về triết học, Kinh điển Phật giáo và các mật điển với ba vị Hòa thượng,
Khenpo Thupchoe và Khenpi Tsondue của trường phái Nyingma và Khenpo Rinchen
trường phái Sakya. Cho đến tận khi thành lập Tashi Jong năm 1969, Kyabje
Dorzong Rinpoche vẫn phải đi lại giữa Kalimpong, Dalhousie và Kangra. Trong
thời gian này, Ngài thọ nhận các quán đảnh, giáo lý Đại Thủ Ấn cũng như chỉ dẫn
từ Kyabje Khamtrul Rinpoche đời thứ 8. Ngài còn nhận được vô số các quán đỉnh,
giáo lý và chỉ dẫn từ Đức Pháp Vương Karmapa đời thứ 16 và Kyabje Dilgo
Khyentse Rinpoche. Năm 1969, Ngài trở thành một Khenpo (tu viện trưởng của viện
giáo dục tu sĩ) của tu viện Drukpa Kagyu tại Tashi Jong.
Năm 1971, do lịch làm việc quá ngặt nghèo cùng các vấn đề về
sức khỏe của Kyabje Khamtrul Rinpoche, người dân vùng Tashi Jong đã đề nghị
Kyabje Dorzong Rinpoche lên làm Phó hiệu trưởng của Tu viện Khampagar và Phó
Chủ tịch Cộng đồng người dân Tashi Jong. Khi Kyabje Khamtrul Rinpoche viên tịch
năm 1980, Ngài được bầu giữ chức Hiệu trưởng.

(Hạnh ngộ với đức Đạt Lai Lạt Ma)

(Giảng Pháp ở Lhasa, Tây Tạng)
Tại vị trí đó, cùng với Pháp Vương Karmapa đời thứ 16 và
Kyabje Dilgo Khyentse Rinpoche, Ngài thưc hiện tất cả các cuộc tham vấn và sắp
xếp cho việc thừa nhận sự tái sinh của Kyabje Khamtrul Rinpoche đời thứ 9. Lễ
đăng quang được tổ chức năm 1983. Với cương vị là Nhiếp chính vương của Kyabje
Khamtrul Rinpoche đời thứ 8 kiêm Hiệu trưởng của Tu viện Khampagar ở Ấn Độ đồng
thời là Chủ tịch Cộng đồng người Tây Tạng ở Tashi Jong, Kyabje Dorzong Rinpoche
đã cống hiến suốt 21 năm với lòng bi mẫn, trí tuệ và năng lượng vĩ đại cho sự
tiến bộ của tu viện và cộng động cư sĩ. Cùng với việc củng cố các trung tâm
nghệ thuật thủ công và các hoạt động văn hóa, Ngài còn lập nên trung tâm y tế,
trường mẫu giáo và Viện nghiên cứu cho các bậc học cao hơn. Vào những năm 1990,
Ngài thọ nhận trọn vẹn các quán đỉnh của truyền thừa Drukpa từ Đức Kyabje Trulsik
Adeu Rinpoche đời trước.
Song song với các hoạt động trên, Kyabje Dorzong Rinpoche
luôn chú tâm thực hành thiền định và các giáo lý truyền thừa một cách miên mật,
thuần tịnh và không gián đoạn. Tất cả những điều đó đã cấu thành nên tư cách
một bậc thầy đích thực, người nắm giữ truyền thừa Drukpa Kagyu.
Năm 1984, Kyabje Dorzong Rinpoche có cơ hội trở về Tây Tạng
và thăm lại tu viện của mình. Tại đó, Ngài được mời thuyết Pháp tại các tu viện
của tất cả các trường phái của Phật Giáo Tây Tạng. Ngài đã giúp đỡ các hành giả
rất nhiều thông qua việc ban truyền quán đảnh và giáo lý mà họ bị gián đoạn
trong thực hành.
Ngài còn đi đến nhiều nước để thuyết giảng, từ đó dần hình
thành nên một số cộng đồng và hành giả đáng chú ý.
Bên cạnh việc thực hành giáo lý của truyền thừa Drukpa,
Rinpoche còn thực hành nhiều giáo lý của các dòng truyền thừa Phật giáo Tây
Tạng khác. Kyabje Dorzong Rinpoche đời thứ 8 là một trong số những vị Lạt ma
đáng để học tập, thực hành theo và được tín nhiệm nhất trong số các vị bổn tôn
Phật giáo Tây Tạng còn tại thế hiện nay. Ngài là một trong số các bậc thầy nắm
giữ truyền thừa, là bậc tôn quý đáng kính nhất của Drukpa Kagyu bởi những cống
hiến của Ngài tại quê nhà cũng như cả khi lưu vong.

(Kyabje
Dorzong Rinpoche đời thứ tám cùng với ngài Drugu Choegyal Gyamtso Rinpoche và
ngài Drubwang Tsoknyi Rinpoche – bên phải ngoài cùng, năm 2008).
Nguồn:
http://www.dorzongrinpoche.org/8drzng.htm
Việt
dịch: Nhóm Thuận Duyên