Lời Dẫn
Phật
Giáo Việt Nam có sự gắn bó như nước và sữa với dân tộc và đất nước Việt
Nam suốt quá trình lịch sử tồn tại và phát triển trên hai ngàn năm qua.
Đó là sự thật lịch sử không thể phủ nhận. Trong quá trình tồn tại và
phát triển đó, Phật Giáo Việt Nam đã trải qua nhiều cơn thăng trầm, vinh
nhục. Nhưng chưa bao giờ Phật Giáo Việt Nam đánh mất bản nguyện hoằng
dương Chánh Pháp giải khổ quần sanh và góp phần giữ nước và phát triển
đất nước.
Trong
thời cận và hiện đại, từ đầu thế kỷ 20 đến nay, Phật Giáo Việt Nam cùng
với dân tộc bước vào một khúc quanh mới để bắt kịp trào lưu tiến bộ,
hiện đại hóa, kỹ nghệ hóa, và toàn cầu hóa của toàn thể nhân loại. Chính
trong bối cảnh và nhu cầu thời đại đó, Phật Giáo Việt Nam đã chuyển
mình để trở thành cơ cấu tổ chức với các danh xưng Giáo Hội. Giáo Hội là
hình thái sinh hoạt mới không còn và cũng không thể mang sắc thái thuần
túy khép kín trong thiền môn, trong nội bộ Tăng Già, mà mở rộng phạm vi
hoạt động ra nhiều lãnh vực trong cộng đồng xã hội. Đó vừa là đáp ứng
đúng nhu cầu thời đại và vai trò của một tôn giáo có bề dày trên hai
mươi thế kỷ trong lòng dân tộc, vừa là thách thức đối với sự tồn tại và
phát triển của truyền thống tâm linh lâu đời của chính Phật Giáo Việt
Nam, cũng như bao nhiêu nghịch cảnh và chướng duyên từ bên trong lẫn bên
ngoài.
Chính
vì nghịch cảnh và chướng duyên, không ít bậc lãnh đạo của Phật Giáo
Việt Nam, dù muốn hay không, đã bị cơn lốc thị phi va chạm. Một trong
những vị lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam bị nhiều thị phi nhất là Hòa Thượng
Thích Trí Quang. Chỉ một mình Hòa Thượng Thích Trí Quang mà từ mấy thập
niên qua thiên hạ đã tốn không biết bao nhiêu giấy mực để dệt nên vô số
bài viết, nghiên cứu, biên khảo, sách báo với đủ mọi sắc thái khen,
chê. Thậm chí gần đây còn có cả những âm mưu lợi dụng chuyện về Hòa
Thượng Thích Trí Quang để ngụy tạo, bóp méo, và xuyên tạc lịch sử với ý
đồ bôi nhọ Phật Giáo Việt Nam. Nhận thức được nguy cơ này, Hòa Thượng
Thích Trí Quang, dù không muốn, đã phải viết tự truyện để soi sáng sự
thật lịch sử.
Người
viết nhân đọc “Tự Truyện” của Hòa Thượng Thích Trí Quang nên có cảm
khái viết đôi điều suy nghĩ về Hòa Thượng và một chặng đường lịch sử
Phật Giáo Việt Nam.
“Tự
Truyện” được Hòa Thượng Thích Trí Quang cho in trong nước vào khoảng
thời gian gần cuối năm 2011, dày 220 trang, khổ nhỏ hơn khổ sách bình
thường một chút, bìa trắng đen, không có hình ảnh. Điểm đặc biệt của “Tự
Truyện” là Hòa Thượng Thích Trí Quang đã kể lại nhiều điều liên quan
tới bản thân của ngài, tới lịch sử đất nước và Phật Giáo Việt Nam mà lâu
nay chưa ai nói tới. Bài viết này xin tập trung nói đến những điểm đặc
biệt mới này.
I- Biết Mình, Biết Người
Từ
năm 1940 đến 1944, tức là khoảng thời gian cuộc chiến tranh Việt Pháp
do Việt Minh khởi xướng mới bắt đầu, khi nhận định về thế cuộc thời đó,
Hòa Thượng Thích Trí Quang đã viết trong Tự Truyện rằng, “Tôi khẳng định
vị trí ‘Tăng sĩ Phật giáo’ của tôi. Nhưng tôi suy nghĩ sự đô hộ của
người Pháp.” Rồi Hòa Thượng viết tiếp khi đọc “bản tường trình sự cần
thiết thành lập Mặt trận Việt minh của Trường Chinh, nội dung nói rõ
quan điểm ‘giải phóng dân tộc’ làm tôi chú ý. Tôi thừa hiểu giải phóng
dân tộc rồi không phải ngưng ở đó.”
Đoạn trích trên cho thấy 3 điểm đáng chú ý:
1-
Hòa Thượng Thích Trí Quang biết rõ và khẳng định mình là ai, đó là một
Tăng sĩ Phật Giáo. Biết và khẳng định vị thế Tăng Sĩ Phật Giáo đồng
nghĩa với sự khẳng định lý tưởng tu hành giác ngộ và giải thoát cũng như
sứ mệnh truyền thừa nhiệm vụ hoằng dương Phật Pháp của đức Phật và Thầy
Tổ. Biết rõ như vậy thì sẽ không thể nào đi lạc hướng.
2-
Hòa Thượng Thích Trí Quang nhận thức rõ về hiểm họa xâm lược của thực
dân Pháp và nguy cơ mất nước nên đã không ngần ngại tham gia kháng chiến
chống Pháp. Đó là trách vụ thiêng liêng của người công dân nước Việt
trước cơn nguy biến của sơn hà xã tắc. Chê trách việc làm đó là đồng
nghĩa với phủ nhận bổn phận của người dân khi đất nước lâm nguy.
3-
Hòa Thượng Thích Trí Quang biết rõ phong trào Việt Minh sẽ không dừng
lại ở chỗ ‘giải phóng dân tộc’ mà còn đi xa hơn. Điều Hòa Thượng không
nói ra trong Tự Truyện chính là sự lộ diện nguyên hình của Đảng Cộng Sản
Việt Nam với việc thực thi chủ nghĩa Cộng Sản của họ tại Việt Nam sau
đó. Biết rõ như vậy cho nên, Hòa Thượng đã bỏ kháng chiến mà về lại Chùa
tiếp tục sứ mệnh của người Tăng Sĩ Phật Giáo.
Trước
ngày 1 tháng 11 năm 1963, tức trước cuộc đảo chánh lật đổ chế độ Tổng
Thống Ngô Đình Diệm, lúc còn tị nạn trong Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn, Hòa
Thượng Thích Trí Quang đã đoán trước là thế nào cũng có đảo chánh. Điểm
đáng lưu ý là khi nghĩ tới chuyện đảo chánh thì Hòa Thượng viết trong Tự
Truyện rằng, “… khi đoán chắc sẽ có đảo chánh, tôi lại lo như tình
trạng Hàn Quốc: Lý thừa Vãn đổ rồi, đảo chánh hoài. Như thế thì làm được
cái gì. Ông Diệm bị đảo chánh rồi, tôi cáo từ ra về, người Mỹ nói, nếu
có thể, tôi nên góp ý kiến với chế độ mới, tôi nói, nhưng không nên đảo
chánh nữa. Người Mỹ không nói gì hết.”
Trích
đoạn trên cho thấy Hòa Thượng Thích Trí Quang không tán đồng việc đảo
chánh để rồi đưa đất nước vào những cơn biến động, những cuộc đảo chánh
liên tiếp gây khủng hoảng và làm suy yếu sức mạnh đoàn kết dân tộc để
xây dựng và phát triển quốc gia.
II- Lập Trường Đấu Tranh
Như
vậy có nghĩa là bản thân Hòa Thượng nói riêng và Phật Giáo nói chung
không chủ trương đảo chánh lật đổ chế độ nhà Ngô. Điểu này đã được viết
rõ trong Tự Truyện. Trong Tự Truyện kể rằng Bác sĩ Lê Khắc Quyến được
ông Diệm mời gặp taị Sài Gòn. Trước khi đi Sài Gòn, BS Quyến đến gặp Hòa
Thượng Thích Trí Quang để hỏi xem Hòa Thượng có muốn nói gì với Tổng
Thống Diệm không. Hòa Thượng Thích Trí Quang nói với BS Quyến rằng, “Ông
hỏi tôi muốn ông nói gì, tôi nói, xin nói rất thật thâm tâm của tôi.
Tôi không mưu đồ gì cả, chỉ phản ứng vì hết mức chịu đựng sự xúc phạm
quá đáng đến đức Phật và Pg của tôi, mà thôi. Vấn đề như vậy quá dễ giải
quyêt cho Tổng thống chứ không thương tổn gì.”
Một
chỗ khác trong Tự Truyện, Hòa Thương Thích Trí Quang viết lại 5 nguyện
vọng của Phật Giáo trong vụ tranh đấu 1963 đã được hoạch định ngay từ
lúc đầu. Trong 5 nguyện vọng đó nói rằng, “Một, Pg tự giới hạn, chỉ phản
đối chính sách ngược đãi Pg của chính phủ. Pg không bước qua những địa
hạt khác, nhất là địa hạt quyền chức chính quyền. Hai, tuyệt đối sử dụng
phương cách ‘bất bạo động.’ Ba, Pg không mưu độc tôn, không cầu đặc
tôn, nên không thấy ai, kể cả Tcg, là đối nghịch. Bốn, Pg không mưu hại
ai, không thiên ai để hại ai. Nếu thất bại, Pg coi là sự thất bại của
chân lý trước bạo lực, không phải thất bại như bạo lực kém bạo lực. Năm,
sau hết, nhưng quan trọng nhất, là Pg thỉnh cầu các bậc lãnh đạo 2 thực
thể đối trận, đừng khai thác gì về cuộc vận động của Pg. Vì làm như vậy
thì đối phương quý vị lấy cớ để hại Pg mà thôi.”
Hai trích đoạn trên nêu bật một số điểm đáng chú ý sau đây:
1-
Cuộc đấu tranh của Phật Giáo năm 1963 là vì không “chịu đựng sự xúc
phạm quá đáng đến đức Phật và Phật giáo” của chính quyền nhà Ngô qua
việc cấm treo cờ Phật Giáo trong các Chùa, các cơ sở Phật Giáo, việc thủ
tiêu, bắn giết, bỏ tù và trù dập hàng ngũ Tăng, Ni và cư sĩ Phật tử
trên khắp miền Nam từ năm 1951, như Tự Truyện ghi rằng, “Năm ngoái, 2495
(1951), khi vào họp Đại hội, hòa thượng Tâm châu có đưa cho tôi 2 tài
liệu bằng hình ảnh. Tài liệu 1 là thư tuyệt mệnh của 1 gia đình nếu tôi
nhớ không lầm là 7 người, đau lòng vì tín ngưỡng của mình bị kỳ thị, và
gia đình mình bị bức tử. Tài liệu 2 là 3 ngôi chùa mái cổ có mặt nhật bị
đập, và thay vào là hình chữ thập. Các vị ni sư bị mặc áo mão bà sơ.”
Đó là cuộc vận động đòi quyền bình đẳng tôn giáo.
2-
Cuộc đấu tranh của Phật Giáo năm 1963 ngay từ đầu phía Phật Giáo đã
khẳng định là bất bạo động, có nghĩa là không sử dụng đến phương thức
bạo động để đòi quyền bình đẳng tôn giáo. Trong bối cảnh khi mà Liên
Hiệp Quốc đã công bố Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền vào ngày 10 tháng 12 năm
1948, thì vấn đề tôn trọng quyền bình đẳng tôn giáo, tôn trọng quyền làm
người là quyền lợi tất yếu của người dân và bổn phận phải có của các
thể chế chính quyền. Chính vì vậy, Hòa Thượng Thích Trí Quang kể trong
Tự Truyện: “Bắt đầu việc gửi điệp văn đến LHQ, mật và gấp. Nội dung tôi
nói Nam Việt nam “vi phạm nhân quyền.” Sự vi phạm ấy gồm có xúc phạm
Phật đản 2507, triệt cờ Pg Thế giới, khủng bố trắng Phật tử bất bạo động
bằng chiến xa. Thỉnh cầu ngài Tổng thư ký LHQ tra xét và bảo vệ “hiến
chương nhân quyền.”
3- Cuộc đấu tranh của Phật Giáo năm 1963 không có mưu đồ lấn sang địa hạt quyền chức chính quyền, không mưu đồ
độc tôn tôn giáo, hay chống Thiên Chúa Giáo. Khẳng định ngay từ đầu như
thế cho nên, Phật Giáo nói chung và bản thân Hòa Thượng Thích Trí Quang
nói riêng không hề có ý đồ chen lấn vào các vấn đề chính trị thế quyền.
Và cũng vì vậy mà các thế lực chính trị với quyền lợi cá nhân, gia
đình, đảng phái, chủ nghĩa, hay tôn giáo riêng đã xem Phật Giáo là thế
lực cần phải triệt hạ. Nhưng xác định thế đứng vượt lên trên đảng phái,
khuynh hướng chính trị và chủ nghĩa là đúng với con đường dẫn đạo tâm
linh cho con người trong mục đích giác ngộ vô minh và giải thoát mọi khổ
đau của đạo Phật. Cũng chính ở vị thế vượt lên trên đó, đạo Phật đã đi
sâu vào lòng người, sống trong trí tuệ và tình thương của nhân loại, để
có thể tồn tại và phát triển ở mọi quốc gia, mọi thời đại. Nếu Phật Giáo
chọn đứng chung hàng ngũ với các thể chế chính trị, các chế độ chính
quyền, hay các chủ nghĩa thế tục thì đã có lúc bị buộc phải trở thành
thế lực chống lại dân tộc và làm hại cho quốc gia xã tắc.
4-
Nguyện vọng thứ 5 của Phật Giáo là điểm quan trọng nhất vì nó cho thấy
viễn kiến chính xác của những nhà lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam ngay từ
lúc bắt đầu công cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng tôn giáo và nhân
quyền. Nguyện vọng đó: “là Pg thỉnh cầu các bậc lãnh đạo 2 thực thể đối
trận, đừng khai thác gì về cuộc vận động của Pg. Vì làm như vậy thì đối
phương quý vị lấy cớ để hại Pg mà thôi.” Quả thật không sai. Cuộc vận
động cho quyền bình đẳng tôn giáo của Phật Giáo đã bị các thế lực chính
quyền ở 2 miền Nam Bắc lợi dụng để gây tại hại không lường cho Phật Giáo
Việt Nam mà mãi đến ngày nay, sau gần 50 năm, vẫn còn những di chứng
đáng sợ. Chế độ Quốc Gia ở Miền Nam thì chụp mũ Phật Giáo là Cộng Sản,
trong khi chế độ Cộng Sản ở Miền Bắc thì kết án Phật Giáo là CIA, là
“tay sai của Mỹ Ngụy,” là “Phật Giáo phản động,” v.v…
III- Theo Ai?
Vậy
đâu là sự thật? Hòa Thượng Thích Trí Quang là người của CIA, là người
quốc gia chống Cộng Sản, hay là người của Cộng Sản chống Mỹ, chống Quốc
Gia?
Trong
tác phẩm “Only Religions Count in Vietnam: Thich Tri Quang and the
Vietnam War,” (Chỉ Có Tôn Giáo Là Đáng Kể Tại Việt Nam: Thích Trí Quang
và Chiến Tranh Việt Nam) của Giáo sư Trường Cao Đẳng Tư Williams College
ở Tiểu Bang Massachusetts, Hoa Kỳ, và là nhà nghiên cứu chuyên về Phật
Giáo Việt Nam và nhân vật Thích Trí Quang là James McAllister, được Nhà
Xuất Bản Modern Asian Studies ấn hành năm 2007, bản dịch Việt do Trần
Ngọc Cư thực hiện. Trong đó tác giả James McAllister sau khi nghiên cứu
nhiều tài liệu từ các nguồn khác nhau gồm cả tài liệu của Bộ Ngoại Giao
Hoa Kỳ đã đưa ra khẳng định rằng, “Tuy nhiên, như chính Moyar cũng nhìn
nhận, các quan chức của chính phủ Mỹ, những người có đủ mọi lý do tự lợi
(self-interested) để kết luận Trí Quang là Cộng sản, lại trước sau như
một đã bác bỏ cách đánh giá này. Như các nhà phân tích của CIA đã kết
luận tháng Chín 1964: “Không một ai trong số nhiều người Việt thù ghét
Trí Quang, những kẻ chỉ chờ cơ hội để bôi nhọ ông, hay thậm chí những kẻ
hoài nghi về động lực chính trị của ông, có thể đưa ra bằng chứng vững
chắc về bất cứ liên kết nào hiện có giữa ông và Cộng sản”.”
Hòa
Thượng Thích Trí Quang viết trong Tự Truyện rằng, “Nhưng rồi tôi chữa
lửa mà bị cho là đốt nhà. Bao nhiêu chuyện xảy ra, ở Huế cũng như ở
Sàigòn, do các ông Tướng ai cũng thấy mình có thể làm nên chuyện. Quần
chúng Pg bị cuốn hút là vì cái tính “giữa đường thấy chuyện bất bình mà
tha,” nên bị lợi dụng có khi thật phiền.” Hay ở một đoạn khác Hòa Thượng
viết: “Bằng cái gọi là Quốc hội lập hiến, tôi mong quần chúng có cơ cấu
sinh hoạt chính trị, Pg có thể rút mình ra.” Một đoạn khác Hòa Thượng
viết rằng, “Nhưng thực sự có 3 bên không muốn tôi sống. Họ muốn Pg không
còn là mối bận tâm cho họ nữa.” Trong đoạn cuối của Tự Truyện, Hòa
Thượng Thích Trí Quang viết rằng, “Rốt cuộc, tôi không biết gì, không có
ý định gì cả, nên cuộc đời tôi ‘không vẫn hoàn không,’ không có gì đáng
nhớ, đáng nói. Ngay như sự tự truyện này, vì không thể không có nên
phải viết và phải in, mà thôi. ‘Không vẫn hoàn không’ là Phật cho, tôi
mới được như vậy.”
Trong
các đoạn trích dẫn trên, xin lưu ý ở một chỗ Hòa Thượng Thích Trí Quang
nói rằng “Nhưng thực sự có 3 bên không muốn tôi sống. Họ muốn Pg không
còn là mối bận tâm cho họ nữa.” Ba bên là ai thì chắc người đọc có quan
tâm đến tình hình Việt Nam thời bấy giờ đều biết rõ, đó là Mỹ, Chính
Quyền Miền Nam và Cộng Sản. Như vậy thì làm sao Hòa Thượng Thích Trí
Quang lại là người đi theo một trong 3 bên đó. Không đi theo bên nào cho
nên phải gánh chịu thảm nạn là bị cả ba bên chống phá và kết án.
Những
ai không liễu ngộ, không thực hành Phật Pháp đúng mức, không thấu triệt
giáo nghĩa “Không” của nhà Phật thì sẽ không làm sao hiểu được điều Hòa
Thượng Thích Trí Quang viết trong câu cuối của trích đoạn trên, rằng,
“’Không vẫn hoàn không’ là Phật cho, tôi mới được như vậy.”
Tại sao, Phật cho cái “Không” mà Hòa Thượng lại tâm đắc như được điều gì quý giá nhất trong đời?
Cứu
cánh của một người tu sĩ Phật Giáo hay một người con Phật không phải là
đạt được điều gì đó về danh vọng, về quyền hành, về chức tước, về phẩm
vị, về đẳng cấp, về của cải vật chất, mà đích thực và tối thượng là có
thể buông xả mọi việc, mọi thứ, mọi điều, không nắm bắt, không chấp
trước, không bị buộc trói bởi bất cứ điều gì trên thế gian này. Đó là sự
giác ngộ tận cùng bản chất “vô sở đắc,” hay “thật tánh không” của tất
cả các pháp và giải thoát mọi phiền não và triền phược.
Với
sự thực chứng như thế thì không một thế lực chính trị nào, không một
thể chế chính quyền nào, không một chủ nghĩa nào đáng để cho người con
Phật đúng nghĩa nói chung và Hòa Thượng Thích Trí Quang nói riêng để tâm
tới, chứ đừng nói là bị trói buộc vào. Trong ý nghĩa đó, Hòa Thượng
Thích Trí Quang chỉ đơn giản là một tăng sĩ Phật Giáo Việt Nam. Nhưng vì
sinh ra trong một hoàn cảnh đất nước ngửa nghiêng, dân tộc bị vùi dập bởi các thế
lực chính trị, Phật Giáo bị kỳ thị, bị bách hại, cho nên Hòa Thượng
Thích Trí Quang và các vị lãnh đạo Phật Giáo phải ra tay lèo lái con
thuyền đạo pháp để vượt qua cơn bão táp pháp nạn và quốc nạn.
Như thế đã quá rõ là Hòa Thượng Thích Trí Quang và những nhà lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam chỉ theo Phật.
IV- Ước Nguyện Bình Sinh Và Nỗi Oan Khó Nói
Dù
là nhà lãnh đạo Phật Giáo có thẩm quyền quyết định cao nhất, nhưng
không phải việc gì Hòa Thượng Thích Trí Quang cũng có thể kiểm soát hết.
Như Hòa Thượng đã viết trong Tự Truyện đã được trích ở trên rằng,
“Nhưng rồi tôi chữa lửa mà bị cho là đốt nhà. Bao nhiêu chuyện xảy ra, ở
Huế cũng như ở Sàigòn, do các ông Tướng ai cũng thấy mình có thể làm
nên chuyện. Quần chúng Pg bị cuốn hút là vì cái tính “giữa đường thấy
chuyện bất bình mà tha,” nên bị lợi dụng có khi thật phiền.”
Điều
phiền nhất mà Hòa Thượng ghi trong Tự Truyện là chuyện về việc đem bàn
thờ Phật ra đường trong biến cố xảy ra tại miền Trung năm 1966. Hòa
Thượng kể rằng, “Một đoàn chiến xa và thiết giáp khá hùng hậu, được điều
động từ Quảng trị vào Huế. Khi sắp qua cầu An hòa, viên sĩ quan chỉ huy
ra lịnh ngừng lại để anh đi thám sát đã. Anh đến chùa của khuôn hội Pg
Phú thạnh, miệng hét, tay làm, hối thúc Phật tử khuôn hội, có anh phụ
lực, khiêng bàn Phật ra đặt giữa đường, lại thúc hối tư gia Phật tử làm
theo. Viên sĩ quan quay lại, báo cáo đường bị cản trở. Rồi đợi lịnh.
Nhưng bàn Phật được đưa ra càng nhiều. Khuôn hội Phú thạnh đã chạy vào
Diệu đế thông báo cho tôi và hỏi ý kiến. Tôi hỏi Ôông (Ôn) Thiện siêu
đang có mặt. Ôông nói, ‘thụ động chứ biết làm sao.’ Thực tế tôi cũng
không thể bảo ngưng được nữa. Bàn Phật đã có sau trong thành phố rồi.
Chưa bao giờ, mà bây giờ, tôi phải xúc phạm sự tôn nghiêm đến mức này!”
Đó
là điều tất yếu phải xảy ra cho mọi phong trào quần chúng. Khi một
phong trào đã phổ biến ra quần chúng thì không một nhà lãnh đạo quân sự,
chính trị, xã hội, hay tôn giáo nào có đủ sức để kiềm chế, hay kiểm
soát hết mọi tình hình. Cũng chính ở nhược điểm này mà Phật Giáo Việt
Nam đã không ngừng bị lợi dụng, bị chụp mũ, và bị kết án.
Nhưng, như thế, trong cõi tận cùng của con người Hòa Thượng Thích Trí Quang, đâu là ước nguyện bình sinh của ngài?
Hòa
Thượng Thích Trí Quang viết trong phần đầu của Tự Truyện rằng, “Dầu
chưa phải lúc, ở đây vẫn nên nói rõ về sự biên dịch kinh sách Phật giáo
của tôi. Vì điều này mới đích thực là thị hiếu và chí hướng bình sinh
của đời tôi, là lòng mong ước của mẹ tôi. Nên, dầu cơ hội có chùa lớn và
đệ tử nhiều, tôi có không ít, nhưng tôi khước từ không đắn đo. Chỉ tạm
trú hết Từ đàm thì Ấn quang, thì Gìa lam, ở đâu, đầu óc tôi chỉ nghĩ
đến, ngay trong lúc ăn, phải dịch chữ này, câu kia, đoạn nọ, sao cho
đúng ý và nghe được. Tôi không dạy học, vì không thích bằng sự biên
dịch. Khởi sự hơn 1 năm trước ngày tốt nghiệp, tôi đã chuẩn bị đầy đủ để
biên tập “Từ điển Phật học” và biên dịch “Đại tạng kinh.” Nhưng công
việc lúc đó, công việc góp sức “Vận động thống nhất Phật giáo VN” khiến
tôi xếp cất lại chí nguyện của mình.”
Vận
động thống nhất Phật Giáo Việt Nam mà Hòa Thượng nói đến là vận động
thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam vào năm 1951 và Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất vào năm 1964.
Kết Luận
Ngày
xưa, đức Phật thừa biết Ngài có thể làm Chuyển Luân Thánh Vương để dùng
vương đạo mà an bang tế thế. Nhưng, Ngài đã không làm? Vì sao? Vì Ngài
biết rõ hơn ai hết rằng cái khổ sanh, già, bệnh, chết và muôn vàn phiền
não sân si khác mà chúng sinh trong vô lượng kiếp, ở mười phương thế
giới phải gánh chịu không thể nào được chữa trị tận gốc bởi Chuyển Luân
Thánh Vương, mà duy chỉ có bậc Giác Ngộ Viên Mãn là Phật mới làm được.
Đức Phật cũng biết rõ rằng liên hệ tới chính trị là phiền lắm cho nên,
đời Ngài chỉ đi khất thực để sống và ngủ ở gốc cây, mà không can dự vào
chính sự của các bậc vua chúa công hầu.
Những
nhà lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam thời cận đại và Hòa Thượng Thích Trí
Quang cũng ý thức tinh tường về những hệ lụy thế tục, nhưng vẫn phải
xông pha vào công cuộc vận động đòi bình đẳng tôn giáo và nhân quyền,
vẫn phải liên hệ tới chính trị trong chừng mức nào đó, chính là vì không
thể quay lưng với bổn phận và trách nhiệm đối với đạo pháp và dân tộc.
Đó là hạnh nguyện dấn thân và hy hiến vì đạo của bồ tát. Nếu không phải
thế thì Phật Giáo Việt Nam hơn hai ngàn năm qua đã không có những tấm
gương sáng ngời của Thiền sư Pháp Thuận, Thiền sư Vạn Hạnh, Phật Hoàng
Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Bồ Tát Thích Quảng Đức, v.v…
Riêng
đối với trường hợp Hòa Thượng Thích Trí Quang, người viết bài này rất
tâm đắc ở câu nói cuối cùng trong Tự Truyện của ngài, rằng, “Rốt cuộc,
tôi không biết gì, không có ý định gì cả, nên cuộc đời tôi ‘không vẫn
hoàn không’, không có gì đáng nhớ, đáng nói… ‘Không vẫn hoàn không’ là
Phật cho, tôi mới được như vậy.”
Nếu
không phải suốt đời hành đạo bằng tâm Phật thì cuối đời ở tuổi 89 (năm
2011), Hòa Thượng Thích Trí Quang không thể nào cảm nhận được ân đức lớn
như vậy từ nơi Phật.
Đó
là chỗ khác nhau giữa người thế gian chỉ muốn nhận vào mà không dám bỏ,
với người tăng sĩ Phật Giáo làm bao nhiêu việc cho đời cho đạo mà không
thấy có việc gì làm và ai làm. Giác ngộ và giải thoát là ở chỗ này