Ngày còn bé tí tẹo, tôi thường theo bà
nội đi chùa vào những ngày rằm hay mùng một Âm lịch. Ngôi chùa trong
làng cách nhà tôi chừng nửa cây số. Trong khuôn viên chùa trồng rất
nhiều hoa phượng. Loại cây nầy thường được trồng ở các ngôi chùa cổ miền
Trung. Ngày đó tôi thường mặc duy nhất một chiếc áo ngắn màu trắng. Dù
tôi có vài chiếc màu khác nhau, bà nội tôi cứ vẫn bảo tôi phải thay
chiếc áo màu trắng ấy mỗi khi đi chùa. Cho đến khi nó quá chật, tôi
không thể mặc được nữa thì bà cẩn thận gói nó và cất vào tủ. Nó không
những chật mà còn cũ và rách vài chỗ nữa.
Cho đến một buổi chiều mùa đông kia, bà
nội cùng tôi ngồi nhìn mưa rơi, bất chợt bà nội hỏi rằng có biết tại sao
bà thường bảo tôi mặc chiếc áo màu trắng kia không. Hai mắt bà lúc đó
nhìn xa thẳm buồn vời vợi. Bà nói: “Cháu thật tội nghiệp! Nếu má cháu
còn sống thì cháu đâu đến nỗi quần áo rách rưới như thế này”. Suốt tuổi
thơ của tôi, bình thường, chỉ có vài bộ áo quần ngắn ngủn, cũ kỹ do bà
nội đi xin từ mấy gia đình giàu có. Đi học hay đi chơi đâu cũng chỉ
quanh quẩn mấy bộ đồ cũ kỹ ấy, chỉ khi nào đi chùa thì bà mới cho tôi
mặc chiếc áo màu trắng mới hơn một chút. Bà nói khi mẹ tôi còn sinh tiền
thì mỗi khi đi đâu xa, mẹ tôi thường đi bộ chứ không đi xe, hoặc có đi
đâu xa quá mà phải đi xe thì mẹ tôi thường dành tiền uống nước dọc đường
lại. Số tiền dành dụm đó, mẹ mua vải và tự tay may chiếc áo trắng kia
cho tôi. Mẹ nói là phải có một chiếc áo cho đàng hoàng để tôi đi chùa
lạy Phật với bà nội. Từ ngày mua được miếng vải, mẹ tôi thường chong
ngọn đèn dầu lạc bên cạnh chiếc võng dứa đưa tôi ngủ trong những ngày hè
nóng bức và may chiếc áo đó cho tôi. Ban ngày mẹ phải tảo tần đi làm
thuê, làm mướn, hết chỗ này đến chỗ nọ; ban đêm phải lo việc nhà, nào
cơm nước cho gia đình, giặt giũ áo quần cho ông bà nội, cho ba và cho
tôi. Bao nhiêu công việc đó cũng ngần đến khuya. Công việc xong xuôi đâu
vào đấy, mẹ mới chong đèn may áo và cũng để tiện bề chăm sóc tới khi
tôi ngủ hẳn, mẹ mới lên giường nghỉ lưng một chút. Công việc may áo lúc
đó không phải bằng máy mà bằng tay. Mỗi mũi kim luồn qua vải là mỗi tấm
ân tình, mỗi nỗi nhọc nhằn. Mẹ đã may cho tôi một chiếc áo chỉ, với mong
ước nhỏ nhoi là khiến cho tôi vui và mỗi khi đi chùa có được chiếc áo
mới. Bà nội ôm tôi vào lòng với một giọng run run nói tiếp rằng chỉ vì
chiếc áo đó mà mẹ tôi ngã bệnh nặng. Sau ba ngày hoàn thành chiếc áo mẹ
tôi đã ra đi vĩnh viễn. Với tấm thân hạc mảnh khảnh, mẹ tôi lại làm việc
quá sức, nào là phải sớm hôm tần tảo nuôi cả gia đình bên chồng, chăm
sóc mẹ già, nào là tiết kiệm không dám ăn uống lặt vặt để dành tiền may
chiếc áo. Bao nhiêu đó đã khiến mẹ kiệt sức, gầy gò, cơ thể ngày một yếu
kém. Mẹ không đủ sức chống chọi với mưa chiều nắng sớm của khí hậu miền
Trung. Tất cả những thứ đó đã thực sự cướp đi mạng sống của mẹ tôi vào
cái tuổi 25.
Cái ngày tôi xuất gia, bà nội soạn trong
tủ lấy ra một cái gói nho nhỏ. Bên ngoài gói một lớp vải cũ bạc màu. Bà
đưa tôi gói đó và nói rằng dù đi đâu, ở đâu hay làm gì, thì tôi cũng
phải trân trọng cái vật trong ấy. Vì thương nội quá nên tôi nhận cái túi
vải ấy mà không biết bên trong là gì nữa. Từ ngày sống cuộc sống thiền
môn, tôi thực sự quên hẳn tất cả. Ban ngày hầu thầy, lo công việc chùa
tháp, ban đêm tụng kinh ngồi thiền và học kinh, luật tới khuya. Chuông
hôm mõ sớm đã thực sự nuôi lớn tôi. Bây giờ tôi là một tu sĩ được rèn
luyện kỹ nơi chốn thiền môn quy củ, được mọi người kính mến.
Một ngày nọ, đang lưu học nơi thành phố
xa, tôi nghe tin bà nội qua đời. Lòng quá xót xa thương cảm, tôi quyết
định về quê để gặp mặt bà lần cuối và cũng để tụng một thời kinh chú
nguyện cho bà như lời bà tôi trăng trối. Chính bà nội đã đem lại hạt
giống từ bi, mầm trí tuệ giải thoát gieo vào đầu óc trẻ thơ của tôi. Bà
nội là thiện tri thức của tôi. Đêm đó, đang sửa soạn hành lý để lên
đường về quê, tôi chợt nhớ tới gói vải mà nội đã trao cho tôi cách đây
20 năm. Tôi bèn mang nó theo với ý định là sẽ bỏ nó vào quan tài của nội
để bà mang xuống “suối vàng”. Khi về tới chùa đã khuya, giữa tiếng côn
trùng và tiếng dế buồn, tôi lặng lẽ mở gói vải ra xem thử vật gì trong
ấy. Lặng người giây lát, tôi nhẹ nhàng nâng vật ấy lên. Một chiếc áo trẻ
con màu trắng đục! Nhìn chiếc áo cũ ngày xưa lòng tôi càng bồi hồi xao
xuyến. Nhiều miếng vá trên vai, vài chỗ vẫn còn thủng, cái cổ áo nhuốm
màu lốm đốm đen như ai đã rắc mè lên đấy. Giờ đây tôi đã trở thành một
tu sĩ, nhưng khi cầm trên tay kỷ vật thiêng liêng này, những kỷ niệm
thời thơ ấu lại dần dần xuất hiện. Hình dáng mẹ tôi dưới ánh đèn dầu
khuya, một tay giữ lấy áo, một tay cầm kim đưa lên đưa xuống, thỉnh
thoảng ngừng tay kim để đẩy nhẹ chiếc võng cho tôi ngủ. Từng mũi kim
xuyên qua làn vải mỏng là mẹ tôi đã khâu kết trọn quãng đời trẻ trung
của người vào đấy với một hy vọng nhỏ nhoi như ngọn đèn dầu đêm khuya.
Giờ đây ngọn đèn đã đi về đâu? Nó mang theo một kỷ niệm của thời quá
khứ, mang theo hình bóng người mẹ suốt đời hy sinh cho con. Tôi có thể
mua bao nhiêu ngọn đèn dầu cũng được. Tôi cũng có thể đốt lên bao nhiêu
ngọn đèn trong đêm khuya cũng được, nhưng tôi không thể tạo ra được ngọn
đèn mà năm xưa nó chứng kiến cảnh mẹ tôi cặm cụi may áo trong đêm. Giá
như tôi có thể tạo ra ngọn đèn ấy, nhưng còn mẹ tôi thì sao? Đây là một
mất mát lớn không thể tìm lại được trong đời tôi. Tôi nghĩ không những
riêng tôi mà hầu hết con người sống trên đời này đều phải chịu cảnh
thiệt thòi đó. Cái gì mất cũng có thể tìm lại được, một khi mất mẹ thì
ngàn muôn năm vẫn là đứa con mồ côi. Nhưng may thay, trường hợp của tôi
hạnh phúc hơn; tôi có chiếc áo đã gói trọn cuộc đời của mẹ và nó thay
thế mẹ để theo tôi suốt cuộc đời và sẽ theo tôi xuống lòng đất lạnh.
Từ ngày đó, tôi không còn mẹ nữa, nhưng
tôi có cả một quãng đời của mẹ trong chiếc áo cũ kia. Trong chiếc áo đó
không những có hình dáng mẹ âm thầm đưa từng mũi kim sợi chỉ, mà còn có
cả tiếng ầu...ơ ru con giữa trưa hè hay trong đêm vắng nữa. Tuổi thơ của
tôi, cuộc đời trẻ trung của mẹ và lòng thành kính của nội đã gói trọn
trong chiếc áo cũ đó. Cho dù chiếc áo đó có bị thời gian bào mòn, không
gian thay đổi trong quy luật vô thường. Một ngày nào đó nó sẽ tan hoại
đi, nhưng 3 yếu tố: Tuổi thơ của tôi, cuộc đời của mẹ và lòng thành của
nội sẽ không bao giờ phai mờ. Chính ba yếu tố đó đã tạo ra cuộc sống đạo
hạnh của tôi. Chiếc áo cũ rách đó quý hơn tất cả những thứ gì tôi có
trên đời.
Khi nhận ra giá trị của chiếc áo, tôi
quyết định không bỏ vào quan tài của nội. Nếu bà nội tôi biết được sự
thay đổi này, thì bà cũng vui vẻ nơi “chín suối”. Tôi nghĩ đó cũng là ý
nghĩ của nội tôi khi trao nó cho tôi. Chiếc áo có một tiềm lực vô biên.
Tuổi thơ của tôi đã đi qua. Cuộc đời trẻ trung của mẹ cũng lùi vào quá
khứ và nay bà nội tôi cũng ra đi vĩnh viễn. Chỉ có chiếc áo vẫn còn bên
tôi, có nghĩa là tôi mất mẹ, mất nội, nhưng thực ra chưa mất gì cả. Nếu
trong cuộc đời hành đạo của tôi có làm được điều gì ích lợi cho đời, cho
chúng sanh, phần lớn cũng do nơi chiếc áo cũ rách kia. Đó là do đức hy
sinh của nội, lòng thương bao la của mẹ gói trọn trong đó. Không những
thế, mà mỗi khi nhìn chiếc áo đó thì tôi không thể lơ đãng trong tu tập,
trong đạo hạnh để thời gian trôi qua vô ích. Khi nào tôi giải đãi, yếu
kém thì chiếc áo cũ rách kia là lời khuyên hữu hiệu nhất, động viên cho
tôi tiếp tục lý tưởng của mình. Tôi tin rằng nội và mẹ sẽ thảnh thơi an
lạc nếu tôi tu hành nghiêm túc.
Khi viết lên những dòng này để tưởng nhớ
một kỷ vật giá trị, người đọc chắc sẽ khinh thường vì lẽ tôi xuất thân
hàn vi. Một lo ngại khác là các pháp hữu (bạn đạo) cho rằng tôi xuất gia
không phải vì một lý do chính đáng, như là mến mộ đạo Phật, say mê
nghiên cứu giáo lý hay mang một lý tưởng cao thượng. Nếu quả như thế thì
tôi sẽ không biện minh lời nào, vì đó là sự thật đời tôi. Chính tôi
cũng thấy xấu hổ rằng ngoài những nguyên nhân ấy ra, tôi thật sự không
có một hoài bão cao xa hay tâm nguyện nào khi cất bước xuất gia. Khi tôi
thực sự chấp nhận nếp sống thiền môn, với chuông chiều mõ sớm, thời
gian ấy tôi rất xúc động và say mê với ý nghĩa câu: “Ngũ trược ác thế
thệ tiên nhập. Như nhất chúng sanh vị thành Phật. Chung bất ư thử thủ
Nê-hoàn”, nghĩa là (tôi nguyện sẽ không chứng Phật quả cho tới khi nào
trong cõi đau khổ này không còn một chúng sanh nào chưa giác ngộ giải
thoát). Trong sinh hoạt hằng ngày trong chốn thiền môn, tôi cũng bị
thuyết phục bởi tất cả những động tác dù lớn hay nhỏ cũng đều đặt trọng
tâm vào sự quan tâm chú nguyện tới chúng sanh. Tất cả những động tác đều
đi kèm với một bài kệ, mỗi bài đều có mang câu “đương nguyện chúng
sanh”. Đó là tiếng sét lý tưởng đã đánh mạnh vào đầu óc trẻ thơ của một
chú tiểu. Khi còn là một chú điệu để chỏm, tôi không ân hận thân phận
thấp hèn của mình. Trái lại tôi rất cảm ơn thân phận và hoàn cảnh đó.
Chính cái thân phận ấy và hoàn cảnh ấy đã mang tôi vào chốn thiền môn và
cũng chính hoàn cảnh ấy đã khiến tôi siêng năng tu tập. Thành quả mà
tôi có được như hôm nay đều xây dựng trên căn bản bần cùng khốn đốn
trong suốt quãng thời gian thơ ấu của tôi.
Tôi về thăm lại chùa xưa, đồng thời dự
đám tang bà nội lại đúng vào mùa hoa phượng nở đỏ sân chùa, gợi cho tôi
nhớ lại những kỷ niệm ấu thơ, những ngày đầu đi chùa. Hoa còn đó, vẫn nở
như xưa mà cảnh vật và con người đổi thay nhiều quá. Tôi vẫn đứng trước
cảnh chùa đầy hoa phượng giờ đây khác với tôi năm xưa theo nội đi chùa
giẫm lên hoa phượng tại nơi này. Ngày xưa, tôi là thằng bé đi theo nội
và còn có cả mẹ may áo cho tôi. Ngày nay, hoa phượng vẫn nở đỏ, bầu trời
vẫn xanh, sân chùa vẫn rợp bóng, mà bà không còn, mẹ cũng khuất bóng từ
lâu. Đứng giữa cái thường và cái vô thường đó, đầu óc tôi bối rối giữa
quá khứ và hiện tại, vừa rõ ràng mà cũng vừa mơ hồ. Đứng giữa thường và
vô thường, giữa quá khứ và hiện tại, con người tự tìm cho mình một lẽ
sống thật có ý nghĩa là một chuyện không dễ dàng. Miên man trong ý nghĩ
đó, tôi lặng lẽ cúi xuống nhặt một chiếc hoa phượng nhẹ nhàng ép vào
trong chiếc áo cũ rách kia và cất bước tiến về phía trước để đi cho hết
con đường mà nội và mẹ đã gởi gắm trong chiếc áo đó. Hy vọng một ngày
nào đó tôi trở lại chốn xưa, ôm chiếc áo vào lòng nằm trên tấm thảm hoa
phượng trước sân chùa xưa để nhìn mây trắng ngàn muôn năm cứ vô tình
trôi qua trước mắt.
Trí Nguyệt