Vào khoảng năm mười ba tuổi, tôi đã có một giấc mơ tuyệt đẹp mà ấn tượng mãi đến giờ vẫn chưa phai nhạt.
Thuở ấy, tuy còn nhỏ nhưng tôi vẫn thường theo mẹ lên chùa tụng kinh Phổ môn[1]
vào mỗi buổi tối. Tuy chưa hiểu gì nhiều về ý nghĩa của những câu kinh,
nhưng tôi đã có một sự kính ngưỡng rất sâu sắc về hình tượng của vị
Bồ-tát Quán Thế Âm với lòng đại từ đại bi, luôn sẵn sàng cứu khổ cứu nạn
cho hết thảy những ai xưng danh hiệu Ngài.
Trong những lần theo mẹ lên chùa như
thế, có nhiều khi tôi đứng lặng rất lâu trước pho tượng của Ngài để
chiêm ngưỡng, cảm nhận vẻ đẹp từ hòa trong màu áo trắng ngần tinh khiết.
Trong đầu óc non nớt của tôi ngày ấy, nhành dương liễu mà Ngài cầm trên
tay hẳn phải vô cùng mầu nhiệm mới có thể ngày đêm tuôn xuống những
giọt nước mát cam lộ làm vơi đi vô vàn những khổ đau của người trần thế.
Rồi một đêm kia, tôi đã có một giấc mơ
thật đẹp. Trong mơ tôi gặp rất nhiều điều kỳ thú, nhưng kỳ diệu nhất là
tôi đã nhìn thấy Bồ-tát Quán Thế Âm với tất cả vẻ sinh động tuyệt vời mà
từ lâu tôi hằng kính ngưỡng. Từ xa, tôi nhìn thấy rất rõ Ngài đứng trên
một tòa sen trắng, giữa một đám mây trên cao cũng trắng ngần như màu áo
của Ngài, tay cầm nhành dương liễu với tịnh bình và đôi mắt nhìn xuống
tôi đầy vẻ từ hòa, trìu mến. Lạ thay, tôi bỗng thấy thân thể mình chợt
như nhẹ bỗng đi, rồi bồng bềnh bay lên cao dần, cao dần, đến gần sát
dưới chân Ngài. Tôi cúi đầu quỳ dưới chân Ngài một lát, rồi từ từ ngẩng
lên để nhìn cho rõ mặt Ngài. Ô hay, tôi nhận ra khuôn mặt Ngài sao mà
quen thuộc quá, quen thuộc quá... Rồi tôi chợt cảm thấy vừa ngạc nhiên
vừa sung sướng đến tột độ khi nhìn rõ khuôn mặt Bồ- tát: Ngài chính là
mẹ tôi chứ không phải ai khác!
Kể từ sau giấc mơ ấy, tôi ngày càng cảm
thấy rằng mẹ tôi đúng là hiện thân của Bồ- tát Quán Thế Âm. Thật vậy,
đối với tôi thì không ai có thể dịu hiền hơn mẹ, không ai có thể bao
dung hơn mẹ, càng không ai có thể thương yêu tôi hơn mẹ! Vậy thì mẹ đúng
là hiện thân của Bồ-tát Quán Thế Âm rồi, không còn nghi ngờ gì nữa.
Trong kinh chẳng đã nói rất rõ đó sao, vì muốn cứu độ chúng sinh nên
Bồ-tát Quán Thế Âm có thể hóa thân ở khắp mọi nơi, với mọi hình dáng
khác nhau. Hơn nữa, trong suy luận của một đứa trẻ như tôi khi ấy, tôi
nghĩ nếu người không hóa thân làm mẹ tôi thì sao tôi lại có thể mơ thấy
như thế kia chứ? Từ đó tôi càng thương yêu và kính trọng mẹ, càng thấy
mẹ rất tuyệt vời đến nỗi không một ai khác có thể so sánh được!
Nhưng có một lần, tôi sang chơi với hai
đứa trẻ con của cô Tư bên hàng xóm. Sau một hồi đùa nghịch dưới ánh nắng
trên sân, mặt mũi bọn tôi đứa nào cũng nhễ nhại mồ hôi và dính đầy bụi
đất. Vừa lúc cô Tư đi chợ về, hai đứa bạn tôi chạy a tới, giành nhau cái
giỏ để xem cô mua gì cho chúng. Cô Tư đứng nhìn chúng tranh nhau cái
giỏ với ánh mắt hiền hòa, rồi cô lặng lẽ vào nhà lấy ra một cái khăn
thấm nước, vắt ráo và dịu dàng lau mặt sạch sẽ cho từng đứa.
Đứng nhìn cảnh ấy, bất chợt tôi cảm thấy
cô Tư cũng giống hệt như mẹ tôi, cũng dịu hiền, cũng bao dung và hết
lòng thương yêu con cái. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu tôi: Phải chăng
cô Tư cũng là Bồ-tát Quán Thế Âm hiện thân?
Sau lần ấy tôi mới nghĩ rằng, có lẽ đối
với con cái thì hết thảy những người mẹ đều là hóa thân của Bồ-tát Quán
Thế Âm. Bởi không có người con nào lại không thấy là mẹ mình rất dịu
hiền, rất bao dung và luôn thương yêu che chở cho mình.
Rồi tuổi thơ dần qua đi. Bước vào tuổi
trưởng thành, những hiểu biết thực tiễn khiến cho tôi không còn giữ được
những ý nghĩ thơ mộng như xưa. Thật ra, với tôi thì mẹ vẫn là tuyệt
vời, nhưng không phải cái tuyệt vời trong ánh hào quang mầu nhiệm như
thuở nhỏ, mà là cái tuyệt vời rất thật của một người mẹ buôn tảo bán tần
khó nhọc nuôi con. Anh chị em tôi cả thảy bảy người đều do một tay mẹ
khổ cực chăm sóc từ thuở nhỏ cho đến lớn khôn, chẳng phải đã là tuyệt
vời lắm sao?
Nhưng ý nghĩa sâu sắc của giấc mơ ngày
ấy thì mãi về sau tôi mới đủ sức hiểu được. Ngày nay, tôi đã hiểu biết
nhiều hơn về Bồ-tát Quán Thế Âm và những hạnh nguyện của Ngài. Những ý
nghĩa sâu xa của phẩm kinh Phổ môn cũng đã trở thành kim chỉ nam trong
cuộc sống của tôi, giúp tôi vững vàng vượt qua biết bao nhiêu sóng gió
của cuộc đời. Nhưng có một điều thú vị nhất mà chính tôi cũng không ngờ
đến. Đó là, sau rất nhiều sự nghiền ngẫm và trải nghiệm tôi mới hiểu ra
được rằng ý nghĩa sâu xa nhất của phẩm kinh này lại nằm ngay trong giấc
mơ của tôi từ thuở nhỏ!
Sự thật là, bằng vào trực giác mà tôi đã
có được một giấc mơ nói lên những ý nghĩa sâu xa nhất về hóa thân của
Bồ- tát Quán Thế Âm. Đây có thể nói là một trong những kinh nghiệm quý
giá nhất mà bản thân tôi đã từng có được. Trong khi việc bằng vào tri
thức để đạt đến ý nghĩa sâu xa nhất về sự hóa thân của Bồ-tát Quán Thế
Âm đòi hỏi phải đọc hiểu rất nhiều kinh luận, thì sự cảm nhận ý nghĩa đó
bằng trực giác đã có thể xuất hiện ngay nơi một đứa trẻ chỉ mới tuổi
mười ba!
Toàn phẩm kinh Phổ môn mô tả Bồ-tát Quán
Thế Âm là vị Bồ-tát hiện thân của lòng thương yêu. Với nguyện lực vô
biên, Ngài trải lòng thương yêu hết thảy chúng sinh mà không đòi hỏi
phải có bất cứ một điều kiện gì. Khi có sự đau khổ, dù là ở bất cứ nơi
đâu, chỉ cần có người xưng niệm đến danh hiệu của Ngài là sẽ được chở
che, cứu độ. Và vì muốn cứu độ chúng sinh, Ngài đã dùng nguyện lực để
hóa thân trong vô số những hình thức khác nhau, từ thân Phật, Bồ-tát cho đến Phạm vương, Đế-thích, cho đến cả các
loài rồng, dạ- xoa, càn-thát-bà, a-tu-la... Chỉ cần có thể sử dụng một
hình tướng nào đó để cứu thoát khổ nạn cho chúng sinh, Ngài liền lập tức
hóa hiện trong hình tướng đó.
Một anh bạn tôi vốn cũng thuộc hạng
người “học nhiều biết rộng”, có một hôm đã tâm sự cùng tôi: “Quả thật,
tuy là người tin Phật nhưng tôi chỉ có thể lấy đức tin để tin nhận kinh
Phổ môn chứ không thể hiểu nổi những ý nghĩa trong đó. Lẽ nào những điều
trong kinh nói lại có thể là có thật? ”
Tôi rất cảm thông với suy nghĩ của bạn,
và biết chắc là còn có rất nhiều trí thức trẻ hiện nay cũng không tránh
khỏi sự băn khoăn như thế. Cách đây hơn 35 năm, học giả Đoàn Trung Còn
khi dịch phẩm kinh Phổ môn này đến câu “bỉ sở chấp đao trượng tầm đoạn
đoạn hoại – 彼所執刀 杖尋段段壞” (những dao gậy của kẻ kia liền tự gãy lìa hư
hoại) đã tham khảo bản tiếng Pháp để sửa câu này lại là “liền giật lấy
đao trượng của bọn ấy, đánh đuổi được chúng nó”, bởi vì ông cho là như
vậy mới “hợp lý” hơn.[2]
Thật ra, khi đọc hiểu kinh Phổ môn theo
cách phân tích ngữ nghĩa như thế, chúng ta sẽ chẳng bao giờ có thể hiểu
thấu được ý nghĩa của kinh. Toàn bộ phẩm kinh không nhằm mục đích nào
khác hơn là chỉ rõ lòng thương yêu hay tâm đại bi của Bồ-tát Quán Thế
Âm. Và nếu như chúng ta chỉ có thể cảm nhận chứ chưa bao giờ có thể “sờ
mó” được lòng thương yêu, thì cũng không thể đòi hỏi những điều mô tả
trong kinh phải là những chi tiết có thể “sờ mó” được.
Khi hiểu được như thế, chúng ta mới có
thể thấy rằng tất cả những gì được mô tả trong phẩm kinh đều là những
biểu tượng vô cùng sinh động và cụ thể nhằm nêu rõ được lòng thương yêu
vô bờ bến của Bồ-tát đối với tất cả chúng sinh, một lòng thương yêu chân
thật luôn cứu khổ, ban vui cho mọi chúng sinh và cũng luôn thể hiện sự
sáng suốt, bình đẳng không phân biệt.
Nếu nhớ lại tất cả những gì đã biết về
một lòng thương yêu chân thật, chúng ta sẽ có thể thấy rõ rằng mỗi câu
kinh, mọi hình tượng trong phẩm kinh Phổ môn đều là những phương thức
miêu tả rất tuyệt vời, có thể giúp chúng ta cảm nhận được ý nghĩa thực
sự của lòng thương yêu mà không cần phải trải qua những sự phân tích,
suy luận phức tạp. Chính ý nghĩa trực nhận này là những gì mà tôi đã có
được ngay từ khi còn là một đứa trẻ mười ba tuổi, chỉ có thể tiếp cận
với kinh Phổ môn qua những hình tượng mà không phải là sự phân tích ngữ
nghĩa.
Bằng vào sự cảm nhận của trực giác,
trong tiềm thức của tôi khi ấy đã hình thành một sự tương đồng giữa lòng
thương yêu của vị Bồ-tát trong kinh với lòng thương yêu của người mẹ.
Và vì thế, trong giấc mơ của tôi Bồ-tát Quán Thế Âm đã có khuôn mặt của
chính mẹ tôi chứ không phải là ai khác.
Thật ra, ý nghĩa của giấc mơ này là phổ
quát đối với mọi chúng ta. Nếu đã hiểu được rằng Bồ-tát Quán Thế Âm là
hiện thân của lòng thương yêu, chúng ta cũng sẽ hiểu được rằng Ngài
không chỉ hóa thân thành những người mẹ dịu hiền, mà còn có thể là những
người cha, người anh, người chị, người thầy... cho đến tất cả những ai
có thể mở lòng thương yêu trong cuộc sống.
Lần đầu tiên khi tôi đọc những bài giảng
bằng Anh ngữ của đức Đạt-lai Lạt-ma thứ 14 cũng là lần đầu tiên tôi
được biết rằng, theo truyền thống Tây Tạng, Ngài chính là hiện thân của
Bồ-tát Quán Thế Âm (Avalokiteśvara). Hơn thế nữa, tôi còn được biết rằng
cả 14 vị Đạt-lai Lạt-ma nối tiếp nhau đều là hóa thân của Bồ- tát Quán
Thế Âm.[3] Rất nhiều người phương Tây cảm thấy khó chấp nhận niềm tin truyền thống này, nhưng bản thân tôi khi đọc thấy điều này lại cảm
thấy như tìm gặp được một điểm tương
đồng với những gì mình đã hiểu. Không chỉ là đức Đạt-lai Lạt-ma, trong
cuộc sống này tôi đã rất nhiều lần được nhìn thấy những hóa thân của
Bồ-tát Quán Thế Âm. Và những lần như thế bao giờ cũng giúp tôi có thêm
niềm tin và nghị lực.
Một hôm, trong khi chờ đón lượt mình,
tôi ngồi nhìn một nữ bác sĩ khám bệnh cho một em bé gái. Trước khi mang
ống nghe vào, cô dịu dàng vuốt mái tóc rối bời của em, nhẹ nhàng gỡ từng
sợi tóc rối, rồi lấy một sợi dây nhỏ buộc lại cho gọn gàng. Sau đó, cô
mới bắt đầu khám bệnh cho bé. Ngồi nhìn sự chăm sóc dịu dàng với ánh mắt
hiền hòa của cô, tôi bất chợt nhận ra sự hiện thân của Bồ-tát Quán Thế
Âm!
Mỗi người chúng ta đều có thể thường
xuyên bắt gặp những hiện thân khác nhau của Bồ-tát Quán Thế Âm trong
cuộc sống. Vì Ngài là hiện thân của lòng thương yêu, nên bất cứ ở đâu có
sự thương yêu chân thật là ở đó nhất định có sự hiện thân của Ngài.
Chính vì Ngài có thể hóa hiện ở khắp mọi nơi, nên phẩm kinh này về lòng
thương yêu của Ngài mới có tên là Phổ môn – 普 門 (khắp cả mọi nhà). Chỉ
cần hiểu được ý nghĩa này, chúng ta sẽ thấy rằng chính bản thân ta cũng
có những lúc trở thành hóa thân của Bồ-tát Quán Thế Âm. Đó là những lúc
ta thật lòng thương yêu người khác.
Khi được nghe danh hiệu Bồ-tát Quán Thế
Âm là lúc ta được tiếp cận với lòng thương yêu. Khi tin nhận danh hiệu
của Ngài là lúc ta mở lòng đón nhận sự thương yêu. Và khi thành tâm xưng
niệm danh hiệu Ngài chính là khi ta mở lòng ra thương yêu người khác.
Lòng thương yêu đó không có giới hạn, nên khi thường xuyên xưng niệm
danh hiệu của Ngài, chúng ta sẽ có thể mở rộng lòng thương yêu đến khắp
cả muôn loài. Đây chính là lý do giải thích vì sao trong suốt phẩm kinh
này đức Phật luôn khen ngợi và khuyến khích tất cả mọi người nên thường
xuyên xưng niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm. Bởi vì việc nghe biết, tin
nhận và xưng niệm danh hiệu Ngài có ý nghĩa là thực hành lòng thương
yêu chân thật. Và điều đó tất yếu sẽ mang đến những lợi lạc tinh thần to
lớn, hay nói theo văn kinh thì đó chính là “vô lượng vô biên phước đức
chi lợi ” 量無邊福徳之利). Vì thế, tu tập và hành trì kinh Phổ môn chính là
phải thực hành lòng thương yêu. Khi chúng ta xưng niệm danh hiệu Bồ-tát
Quán Thế Âm bằng cách thực hành lòng thương yêu, chúng ta chắc chắn sẽ
có thể bình an vững chãi trước mọi biến cố hay nạn khổ trong đời sống.
Ngay cả khi rơi vào những hoàn cảnh bi đát, khốn cùng nhất, người thực
hành lòng thương yêu cũng sẽ có đủ niềm tin và nghị lực đứng vững và
vượt qua mà không bao giờ gục ngã. Đây chính là lý do giải thích vì sao
chư Tổ xưa kia đã chọn phẩm kinh này để sử dụng trong nghi thức Cầu an.[4]
Nguyễn Minh Tiến
[1]
Tuy thường được gọi là kinh Phổ môn, nhưng thật ra đây là phẩm thứ 25
trong bộ kinh Diệu pháp liên hoa, thường gọi tắt là kinh Pháp hoa. Phẩm
kinh này nói về Bồ-tát Quán Thế Âm và hạnh nguyện của Ngài.
[2] Tham khảo Chư kinh tập yếu, bản dịch tiếng Việt của Đoàn Trung Còn, Phật học Tùng thư xuất bản năm 1970.
[3]
Tham khảo thêm bản dịch tiếng Việt của sách The Tibetian Book of the
Death, nhan đề Người Tây Tạng nghĩ về cái chết, Nguyên Châu & Nguyễn
Minh Tiến dịch, NXB Văn hóa Thông tin.
[4]
Ngoài việc được sử dụng trong nghi thức Cầu an tại các tự viện, phần
lớn Phật tử cũng thường tụng niệm phẩm kinh này tại nhà mỗi khi muốn cầu
được sự bình an cho cả gia đình.
(Tập san Pháp Luân số 41)