Những Hộ pháp vương trong lịch sử Phật Giáo Ấn Độ
Trần Trúc Lâm
LỜI GIỚI
THIỆU
Tác phẩm “NHỮNG HỘ PHÁP VƯƠNG CỦA
PHẬT GIÁO TRONG LỊCH SỬ ẤN ĐỘ” của Bác sĩ Trần Trúc Lâm
Có không ít người thường viện dẫn câu hỏi triết học:
‘Trứng sinh ra gà hay gà sinh ra trứng’ để phủ nhận đạo lý nhân quả trước
sau. Vì đứng từ nghĩa tuyệt đối, mọi sự vật trên thế gian này chỉ là vòng
lẫn quẩn không có cái nào trước, cũng không có cái nào sau. Hạt nẩy mầm
thành cây, hay cây sinh ra hạt? Lấy nguyên tắc nào để xác định cái nào
sinh ra cái nào. Cũng vậy, trứng sinh ra gà hay gà sinh ra trứng, câu trả
lời nào cũng đúng và câu trả lời nào cũng sai cả. Phải chăng điều đó biểu
thị giá trị nhận thức của con người trở thành vô nghĩa?
Với tôi, không phủ nhận đạo lý tuyệt đối này, nhưng tôi không chấp nhận
quan điểm vì tính tuyệt đối mà phủ nhận tính tương đối của cuộc đời. Vì dù
gì đi nữa, thân người là một hợp thể của 5 uẩn, nó chỉ nhận thức được qua
những dữ liệu từ 6 trần, là những hình ảnh (biểu tượng) của sắc thinh
hương vị xúc và pháp. Đồng thời, cơ thể con người chỉ tồn tại khi con
người còn ăn uống, hít thở không khí… một đời người cũng chỉ trăm năm,
trước và sau cuộc sống này là gì, nó vẫn còn là câu hỏi lớn cho con người.
Đó là lý do tại sao đức Phật nói:
Quá khứ
không truy tìm,
Tương lai
không ước vọng,
Chỉ có
pháp hiện tại,
Tuệ quán
chính ở đây
(Trung Bộ. Kinh Nhất dạ Hiền Giả).
Nói như thế khhông đồng nghĩa phủ nhận kiếp trước hay kiếp sau, thời gian
trước hay thời gian sau, nhưng dù có hay không cũng không là vấn đề quan
trọng. Điểm quan trọng là hiện giờ chúng ta đang tồn tại, tồn tại với con
người và hòan cảnh chung quanh nó điều mang nghĩa tương đối, hơn nữa mọi
vấn đề đều bắt nguồn từ hiện tại. Do vậy, không thể lấy lý do vì mọi vật
là tương đối là giả tạm mà chúng ta từ chối chúng, chúng ta lại không ăn
uống…, không suy nghĩ theo một trật tự của tương đối đó, muợn nó để vươn
tới một cái gì đó có ý nghĩa cho cuộc đời. Hay nói một cách khác, chúng ta
không nên quá cường điệu tính tuyệt đối mà quên đi cái đạo lý tương đối.
Trong điều kiện con người và hòan cảnh sống con người là như thế, chúng ta
lấy gì làm thước đo cho sự nhận thức? Theo tôi, khái niệm không gian và
thời gian là nguyên tắc cơ bản để nhận thức hay đánh giá bất cứ vấn đề
nào, vì không có một sự nhật thức nào lại không liên hệ đến thời gian và
không gian. Có nghĩa là tách thời gian và không gian ra khỏi sự vật thì
không có nhận thức, hay nói cách khác đối tượng nhận thức đó trở nên mơ hồ
lẩn quẩn, giá trị nhận thức trở thành vô nghĩa, ngay cả vấn đề luân lý đạo
đức, trật tự xã hội cũng không thể thiết lập. Điều đó chẳng khác nào như
đặt câu hỏi khái niệm đói và no cái nào có trước cái nào có sau? Khái niệm
đói và no chỉ có giá trị khi nào khái niệm thời gian và không gian đi liền
với nó. Cũng vậy, khái niệm mẹ và con được hình thành chỉ khi nào trật tự
về thời gian được xác định, nếu không, đứng về mặt sinh tử luân hồi thì ai
là mẹ ai là con thật khó nói. Vô lý vì nghĩa tuyệt đối mà ta lại phủ nhận
cái đạo lý mẹ con hay sao?
Cũng vậy, ý nghĩa về con gà sinh ra cái trứng hay cái trứng nở ra con gà’
nó chỉ có giá trị nhận thức khi nào trật tự thời gian và không gian được
đi cùng. Ví dụ tháng trước tôi thấy tại nhà ông A con gà sinh ra cái
trứng. Tôi được quyền nói như vậy. Nhưng một tháng sau người khác lại thấy
tại nhà ông B cái trứng nở ra con gà. Người ta cũng được quyền phát biểu
theo sự thấy của mình. Phát biểu như vậy không sai, vì khái niệm thời gian
và không gian rất cụ thể và rõ ràng.
Nhự vậy, một cách tương đối mà nói, khái niệm thời gian và không gian là
thước đo để truy tìm giá trị tương đối của sự vật, nó là cái tiêu chuẩn
tương đối để thiết lập mọi nguyên tắc họat động xã hội, ngay cả luân lý
đạo đức.
Đề cập đến khái niệm thời gian và không gian là đề cập đến bộ môn sử học.
Bộ môn này chuyên khảo sát mối quan hệ giữa thời gian và không gian. Nói
một cách dễ hiểu hơn, khi nghiên cứu hay tìm hiểu một vấn đề nào, điều
kiện cơ bản cần phải xác định địa điểm và thời gian phát sinh ra nó. Mức
độ xác định thời gian và không gian càng rõ chừng nào thì đối tượng nghiên
cứu càng rõ ràng và đúng chừng ấy. Vì bất cứ sự kiện nào phát sinh cũng
phát sinh trong một bối cảnh cụ thể, chúng có mối quan hệ và tương tác lẫn
nhau. Do vậy, thời gian và không gian của vấn đề càng rõ thì đối tượng
nghiên cứu càng chuẩn xác hơn.
Tác phẩm “Những Hộ Pháp Vương của Phật giáo tại Ấn độ” của Bác sĩ Trần
Trúc Lâm, là một tuyển tập bao gồm những bài nghiên cứu của tác giả,
chuyên khảo cứu những chủ đề quan trọng mang tính lịch sử của Phật giáo ở
Ấn Độ. Ví dụ khảo cứu các bia ký của nhà vua Asoka là một trong những vấn
đề hết sức quan trọng trong việc tìm hiểu và đánh giá nhà vua, cũng như sự
phát triển Phật giáo ở Ấn Độ. Bài viết đã đã tập trung nghiên cứu về các
bia đá này, khi giới thiệu về nhà vua Asoka, là việc làm hết sức cần thiết
và nghiêm túc. Đây là một ví dụ mang tính điển hình, các bài nghiên cứu
khác trong tác phẩm này, tác giả cũng làm việc theo tinh thần như vậy.
Tôi đã đọc qua bản thảo của tác phẩm “Những Hộ Pháp Vương của Phật giáo
tại Ấn độ” của tác giả BS Trần Trúc Lâm, là tác phẩm bao gồm những bài
viết có giá trị học thuật cao, mang tính nghiên cứu hơn là một tác phẩm
mang tính tiểu thuyết. Nếu như cuốn tiểu thuyết hay làm cho trái tim độc
giả ngất ngây phập phồng hồi hộp, thì công trình nghiên cứu này của BS
Trần Trúc Lâm được trình bày trong tác phẩm này, làm cho người nghiên cứu
sử lắm điều thú vị, học hỏi nhiều điều từ tác phẩm này. Tác giả tập trung
trình bày vấn đề niên đại, cũng như những sự kiện phát sinh chung quanh,
và tái hiện bối cảnh lịch sử của nó. Điều đó giúp cho người đọc nhận thức
có hệ thống và logic hơn, góp phần làm giảm đi cách suy tư tùy tiện, thiếu
cơ sở, dẫn đến lời phê bình hay đánh giá mang tính cảm tình hay chủ quan
mà chúng ta thường gặp. Ở đây, tôi không có ý định bình luận vấn đề tính
đúng sai của tác phẩm, vì các sự kiện xảy ra trong thời cổ đại và các
chứng liệu khảo cổ và sử học vẫn còn tranh cãi, vấn đề này xin nhường lại
cho các nhà nghiên cứu và học giả, ở đây tôi chỉ tán đồng và nhấn mạnh
thái độ nghiên cứu nghiêm túc và phương pháp nghiên cứu hợp lý của tác
giả.
Như tôi đã nói, tác phẩm này là công trình nghiên cứu mang tính khoa học,
nhưng nó có thể giúp cho các nhà nghiên cứu về Phật giáo tìm hiểu thêm về
lịch sử Phật giáo, cho thấy giáo lý của đức Thích Ca Mâu Ni rất gần gũi
với đời thường và đã trải qua bao thăng trầm lịch sử. Tôi mong quí vị độc
giả đọc tác phẩm này trong tinh thần ‘Uống nước nhớ nguồn’ để cảm nhận
công đức to lớn của biết bao bậc cao đức, A la hán, cả những vua chúa là
những vị hộ pháp, tín đồ đã gìn giữ và lưu truyền Phật pháp cho hậu thế,
qua hơn 2500 năm lịch sử; đọc để biết và trân quí những tấm gương hy sinh
cao cả của các đại sư chiêm bái trong việc truyền bá chánh pháp; đọc để
cảm thấy gần gũi với cổ nhân. Tôi nghĩ tác giả không vì thương mại mà
viết, ngược lại vì lý tưởng: phụng sự đạo pháp, phụng sự cho dân tộc, cộng
thêm tính tò mò của một người quen làm việc khoa học, muốn tìm hiểu những
vấn đề của Phật giáo trong quá khứ, viết lên những đắng đo suy nghĩ của
mình.
Theo tôi, tác phẩm này có thể giá trị về kinh tế giới hạn, nhưng tôi tin
rằng giá trị về học thuật khá cao. Nó mang tính gợi ý, giúp cho người làm
công việc nghiên cứu Phật giáo Ấn Độ có thêm tư liệu, và có cái nhìn chuẩn
xác hơn.
Tôi xin trân trọng giới thiệu tác phẩm này đến độc giả trong và ngoài
nước. Tôi tin tưởng rằng, người nghiên cứu sẽ cảm thấy hài lòng với tác
phẩm này.
Nơi đây, tôi cũng xin cám ơn Bác sĩ đã cống hiến cho Phật giáo nói chung,
Phật giáo Việt Nam nói riêng một tác phẩm có giá trị học thuật.
Sài gòn
ngày 16 tháng 7 năm 2007
Tỳ Kheo
Thích Hạnh Bình
Giáo sư,
Phật học Viện Viên Quang, Taiwan.
Mời Xem nội dung sách