
PDF Toàn Bộ Tác Phẩm
Chương mười hai
Câu chuyện tình phóng tác từ câu chuyện thật
Nhân duyên để tôi phóng tác câu
chuyện thật bên trên (Chương mười một) thành câu “Chuyện tình của Liên
Hoa Hòa Thượng” là do những nguyên nhân gần và xa như dưới đây:
Năm 2009 vừa rồi, trong
khi tịnh tu, nhập thất tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi lần thứ 7; ngoài
giờ tụng kinh, ngồi thiền, niệm Phật và dịch thuật ra, khi nào có thì
giờ thì tôi đọc sách và đọc báo. Nhìn trên kệ sách của Tu Viện có quyển “Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong” khá dày của Tác Giả Nguyễn Hiền Đức,
tôi lấy xuống đọc, mỗi ngày một ít. Với hơn 800 trang, tôi phải cần hơn
2 tháng mới đọc xong. Quyển sách thật là thú vị, vì với quyển nầy, chúng
ta sẽ có thêm một số sử liệu cho Phật Giáo Việt Nam khi mới được truyền
vào đây trên dưới 300 năm về trước.
Khi đọc đến trang 231 thì
câu chuyện của Hoà Thượng Liên Hoa lại hiện ra trước mắt mình. Đây là
một câu chuyện hay, có thật, có thể là 98%, tôi tin như vậy, vì có 2
long vị và bài vị của Hoà Thượng và Hoàng Cô tại Chùa Từ Ân là bằng
chứng. Do đó tôi nảy ra ý định là nên phóng tác từ chuyện này thành một
quyển tiểu thuyết lấy tên là: “ Chuyện tình của Liên Hoa Hoà Thượng”.
Năm nay 2010 lẽ ra tôi phải
dịch kinh sách như mọi lần nhập thất trước, nhưng sách dịch chung với
Thượng Toạ Thích Nguyên Tạng bằng tiếng Anh nhan đề là: Peaceful Death
and Joyful Rebirth (Chết an Lạc –
Tái sanh hoan hỷ) tôi đã dịch xong trong mùa An Cư Kiết Hạ năm nay
tại Chùa Viên Giác Hannover rồi, khi qua đây chỉ mang bản thảo đã dịch
để nhờ Thầy Phổ Huân và Sư Cô Giác Anh đánh máy cũng như sửa lại giùm
những chỗ cần sửa, sau đó gọp chung lại phần dịch của Thượng Toạ Thích
Nguyên Tạng thì chúng tôi sẽ có một tác phẩm dịch chung. Đây là lý do để
tôi rảnh rổi đặt bút viết quyển Tiểu Thuyết này từ ngày 22 tháng 11 năm
2010 sau khi tôi đi Thái Lan và Ấn Độ. Tôi viết ròng rã suốt 4 tuần lễ
như thế, cho đến hôm nay là ngày 22 tháng 12 năm 2010 nhằm ngày 17 tháng
11 năm Canh Dần, nhân Lễ vía Đức Phật A Di Đà là xong tác phẩm thứ 58
này, gồm 510 trang viết tay như vậy. Sách này sẽ được xuất bản vào năm
2011 tại Đức. Đây là lý do gần tại sao có được tác phẩm này.
Nguyên do xa, như nhiều
người đọc sách có lẽ cũng muốn biết một câu chuyện tình, dưới nhãn quan
của một người tu sẽ được viết như thế nào, từ đó độc giả sẽ tìm để đọc,
nhất là câu chuyện tình của một Hòa Thượng.
Tại Thiền Môn cũng đã xảy
ra rất nhiều chuyện tình, nhưng đa phần người tại gia viết, nên dầu ít
nhiều nó cũng không thể lột trần hết được tất cả những sự suy nghĩ cần
thiết của một nhà tu, nên vẫn còn xa lạ với chốn Thiền Môn. Chỉ có một
vài quyển như: “Tình Duyên Tái Thế” hay “ Thoát Vòng Tục Lụy” là do
người Xuất Gia viết và dịch, nên đã lột tả hết được nội dung của tác giả
muốn gởi đến độc giả.
Khi người cư sĩ viết chuyện
trong nhà chùa, cũng chỉ có thể viết một số chi tiết phụ mà thôi, không
thể viết và tả rõ hết tất cả những số phận, tâm tình, cách suy nghĩ, sự
sinh sống ở trong Thiền Viện được, ngoại trừ người ấy đã sinh sống trong
cửa chùa một thời gian.
Tôi không nhận mình là một
Văn sĩ, mà chỉ là một Tu sĩ tập viết văn, vẽ tâm trạng và sự suy nghĩ
của mình qua chữ nghĩa, để mọi người thưởng thức, nhằm giúp người đọc có
một cái nhìn đứng đắn về Phật Pháp ở một vài khía cạnh nào đó.
Khi dựng thành một câu
chuyện, dĩ nhiên nó phải có đầu, có đuôi, có chỗ phải thêm vào và có chỗ
phải bớt ra để câu chuyện được hợp lý. Do vậy mà độc giả sẽ thấy câu
chuyện được chia ra thành nhiều chương. Tôi không phải là người viết
chuyên về lịch sử, nhưng nếu muốn nói về triều đại Gia Long mà không nói
đến Nguyễn Tây Sơn và Vua Lê, Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài là một điều thiếu
sót lớn. Trong chương một về “Nhơn tình thời Lê Mạt Nguyễn Sơ” không
nhứt thiết đại diện cho tất cả mọi người. Có thể đó là ý riêng của Tác
giả mà thôi. Khi ở vào một thời đại khác, sau hơn 200 năm viết về việc
trước đó, chắc hẳn có sai lầm vì không phải là nhân chứng của thời đại.
Đồng thời nếu ai là con cháu của Vua Gia Long thì chắc chắn sẽ không
thích quan điểm của con cháu Nguyễn Tây Sơn, hoặc ngược lại. Cũng như
thế, những ai là con cháu của nhà Hậu Lê và họ Trịnh thì cũng khó lòng
mà chấp nhận quan điểm của cả hai họ Nguyễn thời bấy giờ. Nhưng lịch sử
vẫn là lịch sử. Chúng ta không thể nói khác hơn, những gì mà lịch sử đã
xảy ra vào thời điểm ấy, nhưng đó cũng chỉ là cái nhìn phiến diện mà
thôi.
Tôi mong rằng tác phẩm này
không làm hạ uy tín của các bậc Tăng Cang Hoà Thượng thuở ấy hay ngay cả
ngày nay, mà ngược lại qua câu chuyện tình này ta thấy Liên Hoa Hòa
Thượng đã thoát tục như đoá hoa sen tinh khiết nhiệm mầu khi bị nghiệp
trần duyên ràng buộc. Còn Hoàng Cô, cũng là một nhân vật lịch sử, tôi
thăng hoa cho bà siêu thoát. Mặc dầu tất cả những “ lá thư tình” là do
tôi viết chứ không phải bà. Nếu bà có đầu thai đâu đó, sẽ bảo tôi rằng “
Tại sao ông Hoà Thượng này lắm chuyện thế” là nhiều. Vì lẽ khi yêu thầm
nhớ trộm một người, người ta khó có thể chôn hết ngôn từ vào lòng được,
mà phải thổ lộ bằng giấy trắng mực đen thì mới có thể nói hết nổi lòng
của mình. Nếu tôi có mạo phạm lời lẽ của một Công Chúa Hoàng Triều thì
mong tâm thức bà đại xá cho.
Những “chiếu chỉ” hay văn
thư của Vua Gia Long hay Minh Mạng là do tôi sáng tạo ra, không phải của
những vị ấy viết, khi đọc truyện kính mong chư độc giả hiểu ý, quên lời.
Vì là một Tăng Cang Trụ Trì
chùa Thiên Mụ và giảng dạy kinh điển nơi Hoàng Cung, nên tôi đã sắp đặt,
cho Hoà Thượng Liên Hoa giảng những bộ kinh quan trọng, nhằm đề cao
Phật Học; chưa hẳn lúc ở cung Vua giảng pháp từ năm 1817 đến năm 1823
Ngài đã giảng những
kinh này.
Những sự kiện tại Chùa Từ
Ân và Khải Tường là những chính sử, tôi thêm vào một số chi tiết trước
và sau khi Hoà Thượng Liên Hoa làm Trụ Trì để câu chuyện ý vị hơn.
Một số nhân vật tôi cho
thêm vào câu chuyện như Sa Di Mật Hạnh là người tưởng tượng chứ không có
thật.
Chuyện tình cảm của con
người xưa nay trên quả địa cầu nầy là chuyện bình thường, người ta hay
nói “ xưa như quả đất “ . Nghĩa là khi có quả đất này, con người và muôn
vạn sinh vật đều sinh sống với nhau bằng tình thức, cho nên mới có nhiều
câu chuyện xảy ra như vậy. Nào chuyện vui, chuyện buồn, chuyện hay,
chuyện dở v.v…nhưng người đọc sách sẽ nhận được điều gì đó, sau khi gấp
sách lại là điều quan trọng mà người viết phải gởi gấm tâm sự của mình
vào đó.
Khi phóng tác quyển Tiểu
Thuyết này, tôi phải đóng đủ thứ vai trong một cục diện lịch sử nhạy bén
như vậy, nên chắc chắn có nhiều điểm yếu kém hay quá cường điệu chăng?
lỗi này tôi xin nhận. Vì khả năng của mình cũng chỉ có thể diễn đạt đến
thế là nhiều, chứ không khá hơn được nữa.
Suốt cả câu chuyện dài, tôi
viết liên tục hết 10 cây bút mực, chưa dò lại trang nào, nên chắc chắn
có sự lập lại nhiều lần ngoài ý muốn. Để dựng nên một câu chuyện vừa
thật vừa hư, nhiều khi cũng tự biến mình thành người của hơn 200 năm về
trước, để nói hoặc viết văn phong, ngôn ngữ cho hợp với thời đại lúc bấy
giờ. Đây không phải là chuyện dễ.
Trong 58 tác phẩm của tôi
vừa viết vừa dịch từ năm 1974 đến năm 2010 này; trong đó có 4 quyển Tiểu
Thuyết do tôi tự dựng lên câu chuyện để trình bày như: Tình Đời Nghĩa
Đạo,Vụ Án Một Người Tu, Giai Nhân Và Hoà Thượng. Vì là câu chuyện tự
biên tự diễn nên nhân vật do mình sáng tác ra. Còn tác phẩm này thực sự
ra rất khó đối với tôi, vì cần nhiều sự suy nghĩ làm sao để viết cho hợp
với nhân vật đó.
Tôi mong rằng mọi người sau
khi đọc tác phẩm này. Nhất là những vị Phật Tử tại gia sẽ hiểu Phật Pháp
và chuyện đời, chuyện Đạo một cách cao thượng, đứng đắn hơn, không phải
người xuất gia bị tình đời ràng buộc, rồi quên đi chuyện “xuất trần
thượng sĩ” của mình.
Tất cả 10 đến 12 chương đều
là thật mà cũng đều là giả. Vì sao vậy ? Vì tất cả mọi hiện tượng đều
không có thật tướng. Thật tướng của hiện tượng chỉ là không . Do vậy khi
xem xong sách, xin quý vị đừng trụ vào đâu cả, thì đó là mục đích tối
hậu của tác phẩm này.
Riêng chương thứ 10 nói về
“Giải oan, Đàn tràng chiêu mộ” cũng do tôi sáng tác và dựa theo những
kinh sách đã trích dẫn nhằm giới thiệu một nghi lễ đặc biệt của Phật
Giáo Việt Nam cho những ai muốn tìm hiểu đến. Đây không phải là mê tín
mà là một điều phải tin. Đó là “chết không phải là hết”. Sự chết chỉ là
sự bắt đầu của một kiếp sống khác mà thôi. Cho đến ngày nay nghi lễ ấy
vẫn còn tổ chức trong và ngoài nước Việt Nam để cầu nguyện cho cõi âm
được siêu và cõi dương được thái bình.
Tôi sẵn sàng để nghe những
lời đóng góp, phê bình và xây dựng cho tác phẩm, cho nên nếu tác phẩm
phóng tác này có gì sai, thì xin quý vị giúp đỡ chia sẻ cho những chỗ
thừa hay thiếu. Xin chân thành niệm ân quý vị trước.
Rất thận trọng cho mọi việc,
nhất là phương diện lịch sử. Cho nên tôi đã nhờ một số quý vị con cháu
là hậu duệ nhà Nguyễn của Vua Gia Long, Minh Mạng đọc lại giùm tác phẩm
này trước khi in thành sách để ra mắt độc giả đó đây. Xin cảm ơn những
vị Phật Tử đã giúp cho tôi về việc này.
Về phần giáo lý Phật Pháp
qua tinh thần kinh Kim Cang trong quyển sách này và do chính tôi dịch từ
bản chữ Hán và bình chú ra tiếng Việt. Riêng phần trích dẫn “Phật Quang
Đại Tự Điển” do Hoà Thượng Thích Quảng Độ dịch từ chữ Hán sang tiếng
Việt thì đã có ghi chú rõ ràng từng nơi được trích lại.
Quyển “Như Áng Mây Bay” của
Cư Sĩ Tâm Đức viết về cưộc đời của Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, Đệ Tam Tăng
Thống GHPGVNTN và là Trụ Trì Chùa Thiên Mụ từ năm 1932 cho đến ngày Ngài
viên tịch vào ngày 21 tháng 3 âm lịch năm 1992 là một bằng chứng lịch sử
qua 60 năm thăng trầm của Phật Giáo Việt Nam.
Truyện Kim Vân Kiều là một
tuyệt tác văn chương của Việt Nam do cụ Nguyễn Du đã diễn thành văn lục
bát. Khi nói về phận bạc của người đàn bà, ít ai mà không lấy Kiều để mà
so sánh. Trong tác phẩm này ngoài Hòa Thượng Liên Hoa ra, Hoàng Cô cũng
đóng một vai trò quan trọng, cho nên trong những “Bức thư tình” đều có
trích một số đoạn thơ trong truyện Kiều để nói lên nỗi lòng của những kẻ
“hồng nhan bạc mệnh”.
Cuối cùng và cũng rất là
quan trọng, nếu không có quyển sách “Lịch sử Phật Giáo Đàng Trong “ của
Nguyễn Hiền Đức thì tác phẩm này không có cơ duyên để thành tựu. Từ câu
chuyện thật với 5 trang sách, tôi đã cố gắng dàn dựng và diễn dịch,
cũng như tô điểm thành 510
trang viết tay. Đây chắc chắn không phải là do công của người viết, mà
chính là do chất xúc tác quan trọng của quyển sách lịch sử kia.
Nhân đây xin tạ ơn tất cả
quý vị Tác Giả và Dịch Giả của những sách trên. Người còn hay kẻ đã qua
đời, nếu không có những chất tơ óng ả mà quý vị đã đem tâm huyết của
mình ra để dệt nên những gấm hoa của tư tưởng, của trí tuệ thì người đời
sau không thể cậy nhờ được. Đây là một công trình không thể tính bằng
công sức, tiền bạc, mà là một sự hy sinh thì giờ cũng như cuộc sống cá
nhân của mình để làm nên được những việc hy hữu như thế.
Sách là một đứa con tinh
thần của tác giả sinh ra nó. Do vậy nếu không quý sách thì Tác Giả đã
không sinh ra những đứa con tinh thần như vậy. Trong gần 60 đứa con ấy
chắc chắn cũng có đứa hoàn hảo, có đứa bị thương tật, có đứa đẹp lạ lùng,
có đứa cao thượng không còn chỗ nào chê được, nhưng cũng có đứa khó tánh,
nhút nhát v.v… tất cả đó là những bề mặt và bề trái, đúng và sai của một
thời kỳ, một thuở cầm bút của Tác Giả. Nếu ai đó hoan hỷ thì xin bỏ qua
những chuyện thị phi nhân ngã, còn những ai khó tánh, chỉ muốn đón nhận
phần cao đẹp nhất, thì có lẽ không có tác giả nào có thể mang lại sự
mong đợi đầy đủ này cho tất cả mọi người được.
Khi xem sách, xin chỉ lưu ý
đến những điểm hay, liệu tâm mình có thể chấp nhận được. Còn những điểm
dở, điểm không cần thiết… nó giống như những cái xấu, cái tệ thì chẳng
nên mang vào tâm thức mình làm gì. Vì nó sẽ làm choán chỗ tư duy của
người đọc và làm cho người đọc khó chịu không ít.
Khi tác phẩm này được ra
đời, chắc chắn sẽ có nhiều nhà xuất bản in, ấn và phát hành tại nhiều
nơi khác nhau trên Thế Giới. Ơn này người cầm bút cũng ghi sâu vào lòng.
Nếu không có những người bỏ vốn ra như vậy thì khó tìm được những tấm
lòng hy sinh cao hơn cho việc này, khi mà có nhiều người chỉ mong có
được lợi nhuận mà thôi. Sự hy sinh ấy là do ý thức của nhà xuất bản và
mong cho văn hoá được tiếp nối lâu bền. Ở đây xin thành thật biết ơn về
nỗi lo của quý vị, khi tác phẩm chưa thâu hồi vốn lại được.
Thói quen của tôi là viết
tay chứ không tự đánh máy. Vì nếu nhỡ máy hư thì còn bản thảo. Do vậy
bản thảo này cũng sẽ được quý vị trong văn phòng Chùa Viên Giác đánh máy
và sau đó còn layout nữa để quyển sách thật sự là quyển sách. Khi quý
độc giả cầm quyển sách trên tay để đọc, chúng ta cũng không nên quên
công khó của những người này. Cũng xin cảm ơn Cô Quảng Tuệ Duyên đã
layout bìa sách này và những bìa sách khác trong thời gian qua. Khi độc
giả cầm quyển sách trên tay, thường hay xem bìa sách trước. Công đức này
xin hồi hướng đến Cô và Gia Đình vậy.
Có lẽ đây là cuốn sách cuối
về Tiểu Thuyết mà tôi muốn trao đến cho mọi người. Vì tuổi trên 60 rồi,
nên dồn nổ lực dụng công tu học, nghiêm trì tịnh giới và dịch giải những
kinh điển khác qua tiếng Việt bằng những ngôn ngữ khác nhau thì có lẽ
ích lợi cho đời sau nhiều hơn. Do vậy xin chào tạm biệt về việc sáng tác
Tiểu Thuyết có tính cách Phật Giáo này và xin tự nguyện đứng qua một bên
để cho những cây bút trẻ tiến lên và hội nhập vào nền văn minh khoa học
hiện đại qua cái nhìn mới mẻ và trẻ trung hơn.
Xin chấp hai tay, con xin
tạ ơn Tam Bảo,Thầy Tổ, huynh đệ, đệ tử, học trò và những người Phật Tử
khác đã giúp cho con tròn ước nguyện của một kiếp nhân sinh, khi mình là
Trưởng Tử của Như Lai -Tác Như Lai Sứ, Hành Như Lai Sự.
Viết xong vào ngày 22 tháng 12 năm 2010 tại Tu Viện Đa Bảo,
Úc Đại Lợi nhân lần nhập thất, tịnh tu thứ 8 tại đây.
Sa Môn Thích Như Điển