BA PHÁP ẤN
HT. Thích Nhất Hạnh giảng
Hôm nay là ngày 20 tháng giêng năm 1994, chúng ta ở tại xóm Thượng và học tiếp về bát chánh đạo.
Pháp ấn
Trong bài trước chúng ta đang học về
chánh định và do đó đã bàn tới chánh kiến. Học về chánh định ta phải
nói tới tam tam muội, tức là ba cái định quan trọng, có khi được gọi là
tam giải thoát môn. Nhưng muốn hiểu về ba cánh cửa giải thoát, ta cũng
cần học về tam pháp ấn. Tam pháp ấn thuộc về lĩnh vực của chánh kiến.
Pháp ấn là khuôn dấu của chánh pháp. Khuôn dấu chứng thực tính cách
chính thống và đích thực. Giáo lý đích thực của Bụt thì phải mang ba
dấu ấn chứng nhận đó. Tiếng Anh có thể dịch là the three dharma seals.
Trong Đại tạng có Kinh Pháp Ấn. Ba pháp ấn vô thường, vô ngã và niết
bàn liên hệ tới không, vô tướng và vô tác, tức là ba
giải thoát môn. Vô thường (impermanence) tiếng Phạn là anitya. Vô ngã
(non-self) tiếng Phạn là anatma. Niết bàn tiếng Phạn là nirvana. Giáo
lý nào có ba khuôn dấu này là đích thực giáo pháp của Bụt, không thể
nhầm lẫn với giáo pháp ngoại đạo.
Danh từ Tam pháp ấn có khi cũng dùng để nói tới tam giải thoát môn.
Ba
cánh cửa giải thoát (the three gates of liberation) là không, vô tướng
và vô tác. Vô thường, vô ngã thuộc về thế giới hiện tượng, nghĩa là về
tướng (laksana), và niết bàn thuộc về thế giới bản thể, về tánh
(svabava). Tướng là hữu vi (samskrita), tánh là vô vi (asamskrita).
Đạo Bụt Nam truyền không chú trọng nhiều đến tam pháp ấn, nhất là
không nhấn đủ mạnh tới tam giải thoát môn, hay tam tam muội. Ba trạng
thái định (samadhi) là không tam muội, vô tướng tam muội và vô tác tam
muội. Đạo Bụt Bắc truyền như ta đã biết nhấn mạnh tới tam pháp ấn và
tam tam muội.
Trong đạo Bụt Nam truyền, Tam pháp ấn
được trình bày là vô thường, khổ và vô ngã. Theo tôi đây là do tình
trạng thất truyền. Sự thất truyền này là bắt đầu từ sự chắp nối nhầm
lẫn trong một đoạn kinh, sau đó qua sự truyền thừa, tất cả những đoạn
kinh khác về cùng một đề tài đều lặp lại điều sai lầm đó. Đoạn kinh
thuật lời Bụt như sau:
- Này các vị khất sĩ, sự vật là thường
hay là vô thường? - Bạch đức Thế Tôn, sự vật là vô thường. - Này các vị
khất sĩ, sự vật vô thường thì là khổ hay là vui? - Bạch đức Thế Tôn, sự
vật vô thường cho nên là khổ. - Này các vị khất sĩ, nếu sự vật là khổ
thì có nên nói cái này là ta, cái này là của ta hay không? - Bạch đức
Thế Tôn, vì sự vật là khổ cho nên ta không thể nói được cái này là ta
hay là của ta.
Đoạn kinh đó được nhắc lại hàng trăm,
hàng ngàn lần trong kinh điển. Chỗ nào có nói tới vô thường và vô ngã
là có nói đến khổ, và về sau cứ tiếp tục như vậy. Cho nên khi nói với
các vị Phật tử Nam tông rằng tam pháp ấn là vô thường, vô ngã và niết
bàn thì họ không chấp nhận. Họ bảo trong Kinh nói rằng tam pháp ấn là
vô thường, khổ và vô ngã, chứ không phải vô thường, vô ngã và niết bàn.
Điều này không có nghĩa là Kinh điển
Bắc tông khi nói về vô thường, vô ngã không nói tới khổ. Các đoạn đối
thoại giữa Bụt và các thầy khất sĩ cũng giống hệt như trong kinh ở Nam
tông:
- Này các vị khất sĩ, sự vật thường hay
là vô thường? - Bạch đức Thế Tôn, sự vật vô thường. - Này các vị khất
sĩ, nếu sự vật vô thường thì là khổ hay là vui? - Bạch đức Thế Tôn, khổ.
- Này các vị khất sĩ, nếu sự vật là khổ thì ta có nên nói nó là ta hay
là của ta không? - Bạch đức Thế Tôn, không.
Tuy nhiên, chúng ta có thể chứng minh giáo lý tam pháp ấn
chắc chắn là vô thường, vô ngã và niết bàn. Trong kinh tạng Bắc tông,
còn Kinh Tạp A Hàm, Kinh số 262, quyển thứ mười lặp đi lặp lại năm lần
công thức vô thường, vô ngã và niết bàn.
Nhất thiết hạnh vô thường Nhất thiết pháp vô ngã Niết bàn tịch diệt.
Ba
câu đó nghĩa là đứng về phương diện thế giới hiện tượng thì ta thấy có
khổ đau vì vô thường và vô ngã, nhưng đứng về phương diện bản tánh thì
vẫn có vắng lặng, vẫn có bình yên. Mặt khác, tác phẩm Đại Trí Độ Luận
(Mahaprajnaparamita) của thầy Long Thọ sáng tác vào khoảng thế kỷ thứ
hai, sau Thiên Chúa giáng sinh, cũng nói rất rõ rằng Tam pháp ấn là vô thường, vô ngã và niết bàn.
Thật ra lý luận vì vô thường cho nên
khổ, vì khổ cho nên vô ngã không đủ vững chắc, và có thể gây hiểu lầm
về vô thường và vô ngã. Vô thường và vô ngã nằm ở một bình diện khác
với khổ. Ví dụ như cái bàn này. Cái bàn này là thực tại. Cái bàn này là
vô thường, nói vậy chúng ta hiểu được. Cái bàn này là vô ngã, đúng.
Nhưng cái bàn này là khổ thì ta khó quan niệm được. Nói rằng vì vô
thường cho nên khổ, vì khổ cho nên vô ngã, lý luận đó nghe không thuận.
Có thể nói rằng vì sự vật vô thường và vô ngã mà chúng ta không biết,
cứ cho là thường, là có ngã cho nên ta khổ, nói như vậy xuôi hơn.
Khi nghiên cứu kinh điển, ta phải dùng trí phán đoán suy xét để có thể loại bỏ những sai lầm lưu cữu trong lịch sử. Ban
đầu chúng ta có Đạo Bụt Nguyên Thỉ (Original Buddhism), sau thời gian
một trăm năm thì đạo Bụt ấy biến thành Đạo Bụt Bộ Phái (Multiple
Schoolsí Buddhism). Hai trăm năm sau khi Bụt nhập diệt, giáo đoàn phân
liệt ra, tối thiểu là mười tám bộ phái, nên gọi là Đạo Bụt Bộ Phái. Hai
truyền thống trong số các bộ phái đó còn để lại rất nhiều kinh điển mà
chúng ta có thể so sánh, đó là truyền thống Hữu Bộ (Sarvastivada) và
truyền thống Đồng Diệp Bộ (Tamrasatiya). Sau này, Đạo Bụt Đại Thừa,
phát sinh vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước công nguyên, gọi các Bộ Phái
là Tiểu Thừa, và tự gọi mình là Đại Thừa. Những trường phái phân liệt
ra vào khoảng từ một trăm tới ba
trăm năm sau khi Bụt nhập diệt đều gọi là Đạo Bụt Bộ Phái cả. Và Đạo
Bụt Bộ Phái không phải là chỉ có trong Đạo Bụt Nam Truyền, Đạo Bụt Bắc
Truyền cũng có Bộ Phái, phân hệ từ thời đại vua Asoka (A Dục). Trong hai
hệ phái, Hữu Bộ và Phân Biệt Thuyết Bộ, Hữu Bộ (Savastivada) truyền
lên miền Bắc, vùng Kashmir, phát triển tại đó một ngàn năm. Vặn tự sử
dụng trong Hữu Bộ là chữ Sanskrit. Trong khi đó, Phân Biệt Thuyết Bộ
được chính thức ủng hđo, phát triển tại nơi gốc, và một phần được
truyền qua Tích Lan. Đạo Bụt truyền qua Tích Lan thuộc về Đồng Diệp Bộ,
bộ phái các thầy mặc áo vàng màu đồng đỏ, gọi là Xích Đồng Diệp Bộ.
Sau họ bỏ tên đó, dùng tên Theravada, nghĩa là Thượng Tọa Bộ, cho có
tính cách chính thống hơn.
Xích Đồng Diệp Bộ thừa hưởng văn hệ
Abhidharma, tức là Luận Bộ (A Tỳ Đàm) của Phân Biệt Thuyết Bộ. Trong
khi đó Hữu Bộ tại miền Bắc cũng rất hưng thịnh, trước tác nhiều bộ
luận. Những bộ luận lớn là Tỳ Bà Sa Luận, đã được phiên dịch ra chữ
Hán, tồn tại cho tới hôm nay.
Đạo Bụt Bộ Phái không phải chỉ có mặt
trong Đạo Bụt Nam Truyền Tích Lan, mà ở phương Bắc cũng có. Việt Nam,
Trung Hoa, Nhật Bản cũng được thừa tiếp Đạo Bụt Bộ Phái. Giới luật của
các khất sĩ, nữ khất sĩ cũng đều là giới luật được trao truyền từ Đạo
Bụt Bộ Phái. Từ Kashmir (chữ Hán là Ca Thấp Di La), Hữu Bộ đã đưa đạo
Bụt với những Kinh A Hàm vào Trung Hoa và các xứ Á đông. Tại Việt Nam
chúng ta có thể đọc Kinh Nikaya từ chữ Pali do Xích Đồng Diệp Bộ truyền
lại, và chúng ta có thể so sánh với các Kinh A Hàm bằng chữ Hán.
Khi so sánh về sự hành trì cũng như về
kinh điển, chúng ta mới thấy Đạo Bụt Bắc Truyền, dầu là gốc Đạo Bụt Bộ
Phái, cũng còn giữ được giáo lý chân truyền về tam pháp ấn: vô thường,
vô ngã và niết bàn. Chứng cớ thứ nhất đã nêu ra là trong Tạp A Hàm,
Kinh 262, vô thường, vô ngã và niết bàn là ba pháp ấn. Chứng cớ thứ hai
là thầy Long Thọ, vào thế kỷ thứ hai, đã nói rõ ràng tam pháp ấn
là vô thường, vô ngã và niết bàn. Vậy nghiên cứu Đạo Bụt Bộ Phái và
Đạo Bụt Đại Thừa chúng ta có thể tìm lại được Đạo Bụt Nguyên Thỉ. Đó là
công việc chúng ta đang làm và phải làm.
Vậy pháp ấn đầu tiên, con dấu đầu tiên, là nhất thiết hạnh vô
thường, tất cả mọi hiện tượng được tập hợp nên đều vô thường. Tất cả
các pháp hữu vi đều vô thường. Hữu vi là những pháp thuộc thế giới hiện
tượng. Nếu một giáo lý, một học thuyết nào không mang dấu ấn này thì
không phải là Phật pháp
Nhưng giáo lý vô thường (impermanence)
có khác với ý niệm về vô thường vẫn có ở ngoài đời. Theo nguyên tắc
tương tức và tương nhập, giáo lý vô thường phải phản ảnh những giáo lý
khác của đạo Bụt, nó không được đi ngược với những giáo lý khác trong
đạo Bụt. Trên thế giới có rất nhiều nguồn tư tưởng nói đến tính vô
thường. Ví dụ khi đức Khổng Tử đứng trên bờ sông và nhìn xuống nước,
ngài cũng thấy dòng sông là vô thường: ‘‘Thệ giả như tư phù, bất xả trú
dạ?’’ nghĩa là ‘‘trôi chảy hoài, ngày đêm không thôi, như thế này ư?’’
Như vậy đạo Khổng cũng dạy về vô thường. Triết học Tây phương cũng có
cái thấy về vô thường. Heraclite nói: ‘‘Không ai có thể tắm hai lần
trong một dòng sông’’. Chúng ta xuống sông bơi một lần rồi đi lên, khi
xuống lại lần thứ hai thì dòng sông đã khác rồi. Tóm lại, các bậc hiền
giả nhiều đời đã nhìn thấy thế giới hiện tượng là vô thường.
Nhưng vô thường không tất yếu đưa tới
khổ, như lý luận cho rằng hễ vô thường là khổ. Nếu xét kỹ thì vô thường
có thể đem lại niềm vui. Vô thường nghĩa là sự vật không duy trì được
tính chất đồng nhất bất biến, chúng luôn luôn thay đổi. Như vậy vô
thường là đặc tính đích thực của sự sống. Nếu không có vô thường thì
không có sự sống. Ví dụ như một hạt ngô. Nếu hạt ngô thường tại thì nó
không bao giờ có thể trở
thành cây ngô được cả. Nếu sự vật thường tồn thì không có sự sống. Một
Phật tử người Anh học Phật và thực tập Phật pháp,
về nhà nói chuyện giáo lý cho gia đình nghe. Anh đã nói theo lý luận
rằng vì sự vật vô thường (impermanent) cho nên mình khổ. Đứa con gái
hỏi: ‘‘Ba nói cái gì lạ vậy? Nếu mà mọi sự vật cứ mãi mãi không thay đổi, con làm sao lớn lên thành thiếu nữ được?’’
Sự thật đơn giản như vậy. Nếu sự vật không vô thường thì em bé không bao
giờ trở thành cô thiếu nữ. Cô bé tuy không học kinh sách nhưng cô hiểu
Bụt nhiều hơn là ông bố. Người cha thấy trong vô thường mùi vị của bi
quan, nhưng chính cô bé thấy được rằng nhờ sự vật vô thường cho nên có
sự sống. Nếu sự vật không vô thường thì chúng ta làm gì có hy vọng một
ngày mai bệnh ta sẽ lành hoặc ta có thể thay đổi một chế độ độc tài?
Cho nên vô thường đem lại niềm tin rằng ta có thể chuyển đổi được tình
trạng, rằng ngày mai trời lại sáng. Do đó vô thường không nhất thiết
phải là nguyên nhân của khổ.
Nguyên nhân của khổ là sự vật vô
thường mà chúng ta tưởng là thường. Trong kinh Bảo Tích có câu chuyện
con chó bị ném cục đá, nó chạy theo cục đá mà sủa, vì tưởng cục đá là
nguyên do làm nó đau. Cũng vậy, vô thường không gây ra khổ, mà chính vì
nhận thức sai lạc cho những gì vô thường là thường tại cho nên ta khổ.
Khi có sức khỏe mà không ý thức được tính cách vô thường của thân thể
thì ta có thể đánh mất sức khỏe. Ý thức về vô thường giúp ta biết bảo
vệ sức khỏe, biết ăn, uống, làm việc một cách điều độ và giữ gìn thân
thể của mình. Vậy ý thức về vô thường có thể đưa tới hạnh phúc. Nhiều
người đã sống qua tuổi trẻ nhưng chưa bao
giờ cảm thấy hạnh phúc trong tuổi trẻ của mình, vì họ không có ý thức
về vô thường. Mình tưởng như mình sẽ trẻ hoài, ai ngờ ngoảnh qua ngoảnh
lại vài cái, tuổi trẻ đã đi đâu mất.
Cho nên thực tập vô thường quán giúp
cho ta biết quý trọng từng giờ phút của sự sống. Và khi ta đã biết quý
trọng từng giờ phút của sự sống, thì ta cũng biết chăm sóc và vun tƯới,
để nuôi dưỡng những gì hiện ta đang là và đang có. Tuổi trẻ như thế mà
người thương cũng thế. Ý thức được rằng mình có một người thương hay
mình đang thương một người, ta đang có hạnh phúc. Nhưng ta phải biết
rằng tình thương đó cũng vô thường. Nếu người đang thương yêu không
nuôi dưỡng hiểu biết và tình thương của chính mình thì tình thương cũng
mòn mỏi rồi tiêu diệt. Nếu người được thương yêu không biết bảo trì
tính dễ thương và tươi tắn của mình thì cũng sẽ đánh mất lòng thương
yêu.
Cho nên có ý thức về tính vô thường ta
biết sống từng giờ, từng phút trong chánh niệm, biết duy trì lòng
thương của ta, và tính chất đáng yêu của ta. Khi hai người kết hôn và
về ở với nhau, họ có thể có tình thương nồng nhiệt trong những năm đầu.
Nhưng nếu họ không sống trong ý thức vô thường, cứ nghĩ rằng mình luôn
luôn là mình, người kia luôn luôn là người kia, thì hạnh phúc sẽ không
bền vững được. Sống không có ý thức về vô thường, sống không chánh
niệm, không biết bồi đắp tình thương, thì có thể một ngày kia, người ta
sẽ ‘‘anh đi đường anh, tôi đường tôi, tình nghĩa đôi ta có thế thôi.’’
Thành ra vô thường quán rất quan
trọng. Thứ nhất, nó cho ta biết cái gì đang có trong giây phút hiện tại
là quý giá và đẹp đẽ, ta phải trân trọng, bảo tồn cho ta và cho những
người xung quanh ta. Thứ hai, khi thấy tình trạng hiện tại không được
như ý thì ta cũng không chán nản. Sự vật vô thường, nếu ta biết cách
chuyển hóa thì ngày mai tình trạng sẽ thay đổi. Trước ngày bức tường Bá
Linh đổ, rất nhiều người cứ nghĩ rằng bức tường Bá Linh sẽ ở đó cả
ngàn năm. Đến khi bức tường Bá Linh đổ họ mới thấy rằng bức tường Bá
Linh cũng vô thường. Và sau bức tường Bá Linh còn nhiều thứ cũng sẽ đổ
theo, vì niềm tin vào một chủ thuyết cũng đã sụp đổ. Trong đời sống
hàng ngày của mỗi người tình trạng cũng vậy. Ta có niềm tin vào một
người, hay ta được một người tin, nhưng nếu ta không thực tập quán
chiếu vô thường, không thực tập sống chánh niệm, thì niềm tin đó có thể
tan rã. Phải nhìn vào sự sống trong từng giây từng phút và dùng ánh
sáng chánh niệm chiếu rọi để thấy được tính vô thường, để thấy mình
đang tiến hay lùi trong sự xây dựng hạnh phúc và an lạc. Nếu vững chãi
và an lạc đang giảm sút thì ta phải tìm biết những nguyên do để kịp
thời cứu chữa và thay đổi.
Vô thường là vô ngã
Hiểu vô thường trong tinh thần tương
tức và tương nhập thì ta mới hiểu đúng giáo lý đạo Bụt. Vô thường cũng
chỉ là vô ngã đứng về phương diện thời gian mà nói, nhưng hai tính đó
đích thực là một. Ngã tức là tính đồng nhất. Vô thường là tính thay
đổi. Khi một cái gì thay đổi, nó không còn tính cách đồng nhất của nó,
do đó nó vô ngã. Phải hiểu vô thường là vô ngã thì ta mới thực sự hiểu
vô thường được. Nếu nói vô thường là bước thứ nhất, sau khi học bước đó
rồi thì mới đi bước thứ hai, mới hiểu vô ngã, nói vậy là chưa hiểu đạo
Bụt. Theo đạo Bụt, một giáo pháp trùm chứa tất cả các giáo pháp khác.
Nhất pháp nhập nhất thiết pháp, nhất thiết pháp nhập nhất pháp,
one dharma enters all dharmas, all dharmas enter one dharma, đó là lời
Kinh Hoa Nghiêm. Nhiều giòng tư tưởng khác cũng nói tới vô thường.
Nhưng giáo lý vô thường trong đạo Bụt thật đặc biệt vì ở các truyền
thống khác ít ai nói tới tính vô ngã.
Vô thường là một chiếc chìa khóa Bụt
trao cho chúng ta để mở cửa thực tại. Bụt dạy chúng ta phải sử dụng cái
chìa khóa đó để đi vào thực tại. Nếu chỉ đàm luận, khảo cứu về vô
thường mà không thực tập vô thường quán trong đời sống hàng ngày thì
chúng ta không sử dụng chiếc chìa khóa như Bụt ước muốn. Thay vì dùng
chiếc chìa khóa để mở cửa thực tại thì chúng ta đem cái chìa khóa đó
đặt trên bàn thờ và sì sụp lạy. Dù ta có lạy mỗi ngày một trăm lẻ tám
lạy, thì cái chìa khóa đó cũng không có ích lợi gì cả. Cho nên vô
thường ở đây không phải là một lý thuyết, một triết học, mà là một phép
sống, gọi là vô thường quán (contemplation on impermanence). Mà quán
vô thường thì quán vào những lúc nào? Chúng ta quán trong khi ăn cơm,
trong khi rửa chén, trong khi giặt áo, trong khi tiếp xử với bạn bè với
anh chị em, với bản thân và vạn vật quanh ta.
Bàn tay cầm chiếc chìa khóa vô thường
là chánh niệm. Dùng hơi thở chánh niệm ta tiếp xúc với mọi sự vật, quán
chiếu và thấy được tính vô thường của mọi sự vật. Quán chiếu như vậy
không phải là để than thở rằng vạn vật là vô thường, không có gì đáng
lưu tâm, thôi đừng làm gì nữa cho khỏe. Đó là một thái độ sai lầm rất
lớn về vô thường. Vô thường là một cơ hội cho sự sống và cho sự chuyển
hóa. Nhờ vô thường mà chúng ta có thể thực hiện được mọi tự do. Chúng
ta có thể làm cho khổ trở thành vui, chúng ta có thể thay đổi tình
trạng xã hội. Đạo đế được thiết lập trên căn bản vô thường. Đạo đế là
để chuyển hóa sự vật, nếu sự vật không vô thường thì đạo đế dùng để làm
gì? Cho nên vô thường không phải là những nốt nhạc sầu thảm, tiêu cực.
Nếu anh, nếu chị nghĩ tới vô thường như những điệu nhạc sầu thảm, thì
anh và chị hoàn toàn không hiểu giáo lý vô thường. Rất ít người học
Phật chịu thấy điều đó. Trong khi ấy giáo lý rất minh bạch. Chúng ta
mới học quán chiếu mà đã thấy được rằng vô thường đích là vô ngã. Không
vật gì có tính đồng nhất; cái này liên hệ tới cái kia. Từ lúc ta bước
vào thiền đường này gần một tiếng đồng hồ đã đi qua, và ta đã thay đổi!
Đứng về phương diện cơ thể và đứng về phương diện tâm thức, ta đã thay
đổi. Không khí và máu huyết trong ta, các tế bào trong ta đã thay đổi.
Ta không giữ được tính đồng nhất của ta trong hai mươi phút liên tiếp.
Cho nên ta vô ngã, và ta biết rằng ta được tạo thành bằng những yếu tố
không phải là ta. Hãy nhìn cây ti-dơn ngoài kia, ta cũng được cấu tạo
thành bằng chất liệu của cây đó. Nếu không có cây ti-dơn ở đó thì ta đã
khác. Cây ấy đã tặng cho ta rất nhiều niềm vui. Cây đó đã nuôi dưỡng
ta trong mười mấy năm nay. Nếu không có sư anh, sư chị, sư cô và sư chú
thì ta sẽ khác, và như vậy sư anh, sư chị, các sư cô và sư chú đã nuôi
dưỡng ta, đã làm cho ta khác. Vì vậy ta biết ta được làm bằng bao
nhiêu yếu tố không phải là ta (the self is made of non-self elements).
Đó là vô ngã. Và ta phải thấy và biết rằng hạnh phúc, an lạc của ta
tùy thuộc nơi những yếu tố không phải ta. Sư em hạnh phúc được là nhờ
sư chị. Sư chị hạnh phúc được là nhờ sư em. Nếu một trong hai người
không có hạnh phúc thì người kia cũng khó có hạnh phúc. Vì vậy hạnh
phúc không phải là vấn đề của
mỗi cá nhân. Điều này là tuệ giác phát xuất từ vô thường quán hay vô
ngã quán. Cho nên ta phải tu tập như thế nào để cho cha mình, mẹ mình
và những người quanh mình đừng đau khổ, thì lúc đó ta mới có hạnh phúc.
Đi tìm hạnh phúc riêng tư là điều sai
lầm phải tránh. ‘‘Tôi phải bỏ nhà đi, tôi phải bỏ cha, bỏ mẹ, để đi tìm
tự do, để đi tìm bản ngã và hạnh phúc cá nhân của tôi, tôi chỉ còn
cách đó.’’ Nói vậy không đúng. Vì tuy muốn bỏ đi nhưng không ai thật sự
ra đi được một mình! Trong tâm tư ta sẽ mang theo hết các thứ đi theo
mà ta không biết. Dầu có trốn đi biệt tích thì tất cả vẫn đeo theo bên
ta. Tàng thức của ta chuyên chở theo tất cả, không bỏ sót lại một cái
gì. Cho nên vô thường quán hay vô ngã quán giúp ta thấy được cách ta
sống, cách ta hành xử như thế nào trong đời sống hàng ngày, để ta có
thể thực sự xây dựng an lạc và hạnh phúc.
Vô thường và vô ngã là một. Thực tập
quán vô thường thâm sâu thì tự nhiên ta thấy được lẽ vô ngã. Thực tập
vô ngã cho sâu sắc thì tự nhiên ta thấy được lẽ vô thường. Đó là tính
cách mầu nhiệm của nguyên lý tương tức tương nhập trong đạo Bụt. Giáo
lý Duyên sinh (interdependence, co-production) trong đạo Bụt giải bày
sự hình thành của các hiện tượng nương vào nhau mà có mặt. Cái này có
thì cái kia có, cái này không thì cái kia không. Cái này sinh thì cái
kia sinh, cái này diệt vì cái kia diệt. Cái này như thế này vì cái kia
như thế kia. Duyên sinh cũng là vô ngã và vô thường, nhìn từ một góc
cạnh khác. Hiểu vô thường là duyên sinh thì mới là hiểu vô thường đúng
mức.
Quán sát một hiện tượng nào đó trong
thời gian và không gian, chúng ta có thể tưởng rằng nó bắt đầu ở đây và
chấm dứt ở kia. Nghĩ như vậy là sai. Vì mỗi hiện tượng trong không
gian và thời gian luôn luôn xúc tiếp và trao đổi với bên ngoài, với môi
trường quanh nó. Hiện tượng trao đổi này xảy ra trong từng giây từng
phút. Đó gọi là duyên sinh. Vì vậy vô thường cũng chỉ là duyên sinh mà
thôi. Tu học, mỗi ngày mở tấm lòng ta ra cho những điều kiện tốt đi vào
nuôi dưỡng và chuyển hóa cho ta thành ra tốt đẹp hơn, đó là thuận theo
tính duyên sinh. Còn nếu ta khép cái vỏ sò của mình lại kín bưng, tức
là ta đã không thấy tính duyên sinh của chính mình.
Thay vì nói vô thường, vô ngã, duyên
sinh người ta có thể nói đến Không. Không trước hết là không có đồng
nhất tính, nghĩa là vô ngã. Nếu Không có nghĩa là Vô ngã, thì Không
cũng có nghĩa là duyên sinh.
Không, giả và trung
Trong Đại Trí Độ Luận có một bài kệ rất hay mà thầy Trí Giả thuộc
phái Thiên Thai đã sử dụng để lập nên pháp môn tam quán là Không, Giả,
và Trung. Bài kệ như sau:
Nhân duyên sở sinh pháp Ngã thuyết tức thị không Diệc danh vi giả danh Diệc danh trung đạo nghĩa.
Dịch:
Các pháp do duyên sinh Tôi gọi chúng là không Cũng gọi là giả danh Cũng gọi là trung đạo
Chúng ta hãy tìm hiểu từng câu. Nhân duyên sở sinh pháp
tức là những hiện tượng, do nhân và duyên sinh ra (all phenomena that
are produced by conditions). Ngã thuyết tức thị không nghĩa là tôi
tuyến bố rằng chúng đều là không. Duyên sinh nghĩa là không, đó là lời
thầy Long Thọ. Nhưng cái không này không phải là ngược lại với cái có.
Chữ không này chỉ có nghĩa là duyên sinh, là vô ngã và vô thường. Câu
thứ ba: Diệc danh vi giả
danh. Giả danh là có một cái tên, nhưng chỉ là cái tên giả. Một cái
danh để gọi của một sự vật mà ta tưởng là không thay đổi là thường là
ngã. Trong khi đó sự thực thay đổi từng giờ, từng phút. Cho nên ta nói
cái tên ấy là giả danh, vì cái danh bất biến không gọi đúng được cái
thực tại luôn thay đổi. Hơn nữa gọi tên một sự vật là giới hạn sự vật đó
trong thời gian và không gian, cắt nó ra khỏi ngoại cảnh, che lấp mất
những liên hệ giữa nó với những hiện tượng khác trong vũ trụ.
Khi chúng ta gọi tên một đóa hoa, tên
gọi đó phân cách rõ ràng bông hoa và tất cả các thứ không phải là bông
hoa. Bông hoa không thể nào là gốc cây được. Bông hoa không thể nào là
cÒn gió hay là đám mây được. Nhưng sự thật thì đóa hoa cũng đồng thời
là gốc cây, là đám mây, là mặt trời, là trái đất. Vì đóa hoa là vô ngã,
vì đóa hoa là vô thường, vì nó là duyên sinh vì hoa là không, cho nên
khi ta dùng danh từ hoa để gọi nó là ta đã bắt đầu sự sai lầm. Vì vậy
mỗi tên gọi là một giả danh. Mọi sự vật là một giả danh.
Những điều trên có thể được diễn tả
bằng ý niệm trung đạo. Trung đạo tức là không phải có mà cũng không
phải không. Ý niệm về không cốt để giúp ta thoát khỏi vọng tưởng là có
những thực thể riêng biệt, nhưng chúng ta cũng dễ bị vướng ngay vào ý
niệm không này. Đưa ra ý niệm về trung đạo là để cho ta thoát ra khỏi
cả ý niệm về không lẫn về có. Trung đạo nghĩa là không có cũng không
không. Ở một thiền viện kia có treo bốn chữ hữu vô nhị vong, tức là cả
hữu cả vô đều biến mất. Siêu việt có và không thì mới đạt tới trung
đạo.
Đạo Bụt có khi nói thế giới hiện tượng
là vô thường, có khi nói là vô ngã, có khi gọi là duyên sinh, có khi
gọi là không. Và trung đạo xét cho cùng cũng chỉ là không, là duyên
sinh, là vô ngã, là vô thường. Hiểu vô thường là trung đạo tức là hiểu
vô thường khá sâu sắc. Và chúng ta lại còn nhận thức về tương tức.
Tương tức nghĩa là cái này và cái kia là một. Bông hoa là mặt trời,
bông hoa hiện hữu cùng với mặt trời. Tương tức như vậy cũng chỉ là
duyên sinh thôi. Vậy tương tức cũng là trung đạo, là vô ngã, là không
và là vô thường.
Vô thường, hay vô ngã, hay duyên sinh,
hay là không, hay là tương tức, tất cả đều là những chìa khóa để mở
cửa thực tại. Mở cửa thực tại trong mỗi giây mỗi phút bằng sự quán
chiếu. Nếu không có niệm và không có định thì cả chùm chìa khóa sẽ cũng
không được sử dụng. Trong vô minh, trong ảo tưởng thường và ngã, chúng
ta khổ đau. Bụt đưa chìa khóa vô thường và vô ngã cho chúng ta quán
chiếu để chúng ta phá tan địa ngục đau khổ.
Niết bàn và vô tác
Khi dùng chìa khóa vô thường và vô ngã
để mở cửa thực tại thì chúng ta có cơ hội tiếp xúc được với bản thân
thực tại, gọi là niết bàn. Niết bàn có mặt ngay bây giờ mà không phải
là một đối tượng có thể tìm kiếm ở tương lai. Cây đèn này, chiếc bình
này, hay bông hoa này đều có tính niết bàn. Nó có tính vô thường, tính
vô ngã và tính niết bàn cùng một lúc. Giống như là một đợt sóng trên
đại dương. Đợt sóng trên đại dương thuộc về thế giới hiện tượng. Trong
thế giới của sóng có cao, có thấp, có lên, có xuống, có bắt đầu, có
chung cuộc, có đợt sóng này và đợt sóng kia, có ngã và phi ngã. Nhưng
nhìn vào nước ta có thể nhận ra được một tính khác của sóng : nước vốn
không cao, không thấp, không sinh, không diệt, không có đợt này đợt
kia. Mà sóng không cần biến đi rồi thì mới thành nước. Sóng là nước
ngay tự bây giờ và ở đây. Vì vậy chúng ta thấy niết bàn ở ngay trong
hiện tại. Chúng ta đang an trú ở trong niết bàn. Kinh Pháp Hoa nói :
các pháp từ xưa nay vẫn an trú trong niết bàn (chư pháp tùng bản lai,
thường tự tịch diệt tướng)
Bụt đã giao cho chúng ta chiếc chìa
khóa quán chiếu vô thường và vô ngã. Càng tiếp xúc với thực tại vô
thường và vô ngã thì ta càng tiếp xúc sâu sắc với niết bàn, đạt tới
niềm an lạc không sợ hãi, gọi là vô úy. Nếu chúng ta đang lo sợ về cái
chết, đó là vì ta đang còn vọng tưởng dựa trên ý niệm về thường và ngã.
Chúng ta khổ vì vô minh, nghĩ thực tại là thường, là ngã. Dùng chánh
niệm và chánh định sống trong ý thức về vô thường và vô ngã, ta đạt tới
niết bàn, đi tới tình trạng vô úy và an lạc. Chúng ta không cần phải
chạy đi tìm hạnh phúc và an lạc ở đâu nữa, đó là giáo lý niết bàn (You
are already where you want to go.)
Trong đạo Bụt có giáo lý vô tác
(nothing to be done), có khi gọi là vô nguyện. Vô nguyện tức là không
còn muốn gì nữa hết không có dự án nào cần được thực hiện nữa hết, vì
tất cả đã được hoàn thành sẵn rồi. Trong bài thơ ‘‘Bướm bay vườn cải
hoa vàng’’, tôi có viết một câu mà chính lúc viết tôi cũng không có ý
thức rõ rệt:
Công trình xây dựng ngàn đời
Nhưng công trình em ơi, đã được ngàn đời hoàn tất.
Sự tu học thấm vào con người ta, cho
đến khi ta viết ra một câu thơ thì ta viết tự nhiên như vậy thôi, không
có chủ định thuyết pháp, cũng không có chủ đích nói về thế giới hiện tượng và thế giới bản thể.
Vườn cải hoa vàng Chính mắt tôi vừa
thấy sáng qua Tôi không ngủ mơ đâu Ngày hôm nay đẹp lắm, thật mà Em
không về chơi trò bắt tìm nơi quá khứ Chúng mình còn đây Hôm nay và ngày
mai nữa Đến đây, khi khát chúng ta cùng uống ở một giếng nước thơm,
trong Ai nói cho em nghe rằng Thượng đế đã bằng lòng cho con người khổ
đau đứng dậy hợp tác cùng người Chúng ta đã từng nắm tay nhau từ muôn
vạn kiếp Khổ đau vì không tự biết là lá là hoa Em hát ca đi, bông cúc
cười theo em bên hàng dđau áừng bắt chúng tôi nhúng hai tay vào vôi cát
Những ngôi sao trời không bao giờ xây ngục thất cho chính mình!
Những điều bài thơ nói ra, nếu đọc lại với nhận thức về tam pháp ấn ta sẽ thấy hàm chứa ý tưởng ‘‘vạn pháp
an trú trong niết bàn’’. Ta không cần đi tìm, không cần phải thực hiện
gì cả. Khi trở về tiếp xúc được với bản thể và với tự tánh của chính
ta thì tự nhiên ta đạt tới an lạc.
Có môn học gọi là Eschastology, có thể
dịch là Mạt Thế Luận, nghiên cứu về chung cuộc của vũ trụ, của con
người (the final destination of man and of the cosmos). Trong những
truyền thống tôn giáo khác như CÒ Đốc giáo, môn này rất được quan tâm.
Người ta giả định thời gian như một đường thẳng. Thời gian và không
gian làm khung cho tất cả mọi thứ, như vậy thì mỗi vật và mỗi người đều
có một chung cuộc. Nhưng đứng trên quan điểm Tam Pháp Ấn,
chúng ta thấy rằng ý niệm về thời gian và không gian chỉ là những sản
phẩm của trí óc, của vọng tưởng. Niết bàn mà chúng ta theo đuổi, nó có
ngay trong hiện tại, bây giờ và ở đây. Thành ra danh từ ‘‘nhập niết
bàn’’ cũng dễ gây hiểu lầm. Chúng ta ai cũng đang ở trong niết bàn mà
không biết, đi tìm ở đâu, nhập vào đâu nữa? Vô tác, hay vô nguyện nghĩa
là không có đối tượng để chạy đuổi theo. Vô tác là Apranihita, nghĩa
là không đặt phía trước mình một đối tượng để chạy theo. Tiếng Pháp là Non-poursuite, tiếng Anh là Wishlessness.
Trong đạo Bụt lại có ý niệm vô đắc
(non-obtaintion: nothing to be obtained). Có thể nói một cách đơn giản
là ta đã là cái gì mà ta muốn trở thành rồi (you are already what you
want to become). Đó là tinh thần vô tác, vô nguyện, vô đắc, và đó là
giáo lý niết bàn. Là một cđau bé ba
tuổi đã là tuyệt mơy rồi, anh không cần phải chờ thành một cđau sinh
viên 22 tuổi. Là một chú sa di, đã là mầu nhiệm lắm rồi, sư chú không
cần phải trở nên một vị thượng tọa thì mới an vui. Nghe thầy Minh Đức
hỏi các sư cô ở chùa Đức Viên : ‘‘Sau khi làm đại đức, thì sẽ lên chức
gì nữa?’’ Các sư cô nói: ‘‘Lên thượng tọa’’ Thầy lại hỏi: ‘‘Sau thượng
tọa, thì lên làm gì?’’ Các sư cô nói: ‘‘Lên hòa thượng.’’ Rồi thầy hỏi:
‘‘Sau hòa thượng thì lên cấp gì nữa?’’ Các sư cô trả lời không được.
Thầy đã trả lời : ‘‘Lên ngồi trên bàn thờ!’’
Làm sa di đã mầu nhiệm lắm rồi, đâu
cần phải chờ đợi khi lên làm tỳ kheo? Làm tỳ kheo mầu nhiệm lắm rồi,
không cần chờ lên giáo thọ. Mà giáo thọ cũng mầu nhiệm lắm rồi, không
cần phải chờ làm đại giáo thọ hay hòa thượng. Khi trở về được và an trú
trong bản tính niết bàn của mình thì hạnh phúc tràn đầy, ta không cần
phải tìm kiếm gì nữa, đó là giáo lý vô tác, hay vô đắc.
Trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương (Kinh Bốn Mươi Hai Đoạn), một trong
những Kinh sớm nhất đã lưu nhập ở Việt Nam, có câu: ngã pháp hành vô
hành hạnh, tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng. Nghĩa là: Pháp của tôi là
thực hành cái vô hành, tu tập cái vô tu, chứng ngộ cái vô chứng.
Đó là tu tập theo tinh thần vô tác.
Tám chữ tháo tung
Có thể nói rằng chánh kiến là cái thấy
sâu sắc về vô thường, vô ngã và niết bàn. Đó là những chìa khóa để sử
dụng trong đời sống hàng ngày. Sau khi đã nghe về ba pháp ấn rồi ta
phải đi đứng, nói năng, ăn cơm, làm việc như thế nào để quán chiếu ba
đặc tính đó của vạn vật. Sống và tu học hàng ngày như vậy thì đúng
chánh pháp, còn nếu không thì ta sẽ phụ ơn Tam Bảo.
Chúng ta phải nhớ rằng vô thường và vô ngã, niết bàn là ba phép
quán. Sống có niệm và có định trên ba pháp ấn
này thì chúng ta sẽ chắc chắn có tuệ. Về chánh định, chúng ta nói đến
tam tam muội, tức là không, vô tướng và vô tác. Không, vô tướng và vô
tác, có khi được gọi là tam giải thoát môn (ba cánh cửa giải thoát).
Chúng ta dùng hình ảnh chìa khóa vì hình ảnh này gợi ý mở cửa giải
thoát. Sống tu học theo pháp
môn này, ta an trú trong niệm về không, niệm về vô tướng, niệm về vô
tác và cũng an trú trong định về không, định về vô tướng, và định về vô
tác. Không, vô tướng và vô tác cũng là kết quả của sự quán chiếu về vô
thường, vô ngã và niết bàn. Quán chiếu vô thường, vô ngã và niết bàn
thì chúng ta cũng bắt đầu thấy và hiểu được không, vô tướng và vô tác.
Thấy sâu vào bình diện hiện tượng là thấy được bình diện bản thể. Trong
tướng chúng ta thấy tánh, trong tánh chúng ta thấy tướng.
Niết bàn (nirvana) nghĩa là sự tắt
ngấm (extinction), sự vắng mặt(absence). Trước hết là sự tắt ngấm của
các ý niệm, những ý niệm về thường về ngã. Rồi đến những ý niệm về sinh
và diệt, về có, về không, về ta, về người, về một, về nhiều. Những ý
niệm này đều căn cứ trên ý niệm về thường và về ngã mà được tạo tác và
chúng cũng tạo tác ra bao
nhiêu khổ đau. Vượt thoát vô minh về thường và về ngã thì ta sẽ không
còn sợ sinh và sợ diệt nữa. Cho nên niết bàn giúp chúng ta phá hết
những ý niệm, bắt đầu phá từ ý niệm về thường và về ngã, nhờ tu tập
quán chiếu hàng ngày.
Đạo Bụt nói tới tám ý niệm là sinh,
diệt, thường, đoạn, tới, đi, nhiều, một. Tám phép quán chiếu để phá tan
tám ý niệm đó gọi là bát bất. Đó là giáo lý trung đạo bát bất, tám cái
chẳng phải của giáo lý trung đạo (the eight no of the middle way).
Không sinh cũng không diệt, không thường cũng không đoạn, không tới
cũng không đi, không một cũng không khác, đó là giáo lý bát bất. Có một
người tới học với Trúc Lâm Đại Sĩ. Sau khi đã được Trúc Lâm Đại Sĩ
giảng giải cho đủ rồi mà người ấy còn muốn hỏi thêm. Trúc Lâm mới đọc
hai câu thơ:
Tám chữ tháo tung trao bạn hết còn chi đâu nữa để trình bày?
Tám chữ tháo tung là bát tự đả khai. Khi những khái niệm về thường, ngã, sinh, diệt đã bị phá tan thì niết bàn hiển lộ.
Niết bàn là sự tháo tung của tất cả
những khái niệm đó, nhưng cũng là sự tháo gỡ của cả những khái niệm
ngược lại. Chúng ta phải thấy rằng niết bàn không những là sự dập tắt
của tất cả các ý niệm về thường, về ngã, mà còn là sự dập tắt của cả
những ý niệm về vô thường và vô ngã nữa. Bụt cho chúng ta những giáo lý
về tam pháp ấn
nhưng nếu chúng ta tiếp nhận rồi ôm giữ chúng như những khái niệm cố
định thì chúng ta đã làm sai lời Bụt dạy. Sử dụng vô thường như là một
chiếc chìa khóa thì được, nhưng kẹt vào ý niệm vô thường thì cũng là
sai lạc.
Vô thường cũng có hai mặt là thế gian và xuất thế gian. Ban
đầu ta học hỏi về vô thường, nói về vô thường, thực tập về vô thường.
Nhưng quán được vô thường rồi thì ta không nói về vô thường nữa, vì cái
định vô thường của ta đã trở thành định vô thường của xuất thế gian
(lokuttara). Khái niệm về thường ta cần vượt thoát, mà khái niệm về vô
thường ta cũng cần phải vượt thoát. Khái niệm về ngã ta cần vượt thoát,
mà khái niệm về vô ngã ta cũng cần phải vượt thoát. Khái niệm về duyên
sinh cũng vậy, về không cũng vậy, về trung đạo cũng vậy, ta đều cần
phải vượt thoát.
Kinh Bảo Tích có nói : Thà rằng bị kẹt
vào ý niệm có còn hơn bị kẹt vào ý niệm không. Thuốc men nếu không
được sử dụng một cách thông minh có thể gây tai hại. Bụt dạy trong Kinh
Người Bắt Rắn là phải học hỏi và hành trì giáo lý một cách thông minh.
Chấp về thường và về ngã gây khổ đau; nhưng chấp vô thường, vô ngã
cũng có thể gây khổ đau. Nếu ta không biết sử dụng vô thường và vô ngã
như những chiếc chìa khóa để quán chiếu thì các ý niệm vô thường và vô
ngã có thể sẽ là trở ngại cho bước đường tu học. Cho nên niết bàn có
nghĩa vượt thoát mọi khái niệm, cũng là vượt thoát những khổ đau và
phiền não do các khái niệm ấy gây ra. Vì vậy ta gọi là niết bàn tịch
diệt. Tịch diệt tức là sự vắng lặng. Vắng lặng gì? Sự vắng lặng của tất
cả các cặp ý niệm: sinh- diệt, có - không, thường - vô thường, ngã -
vô ngã.
Giả thử chúng ta đang ở trong một buổi
họp. Chúng ta tranh luận với nhau bằng ngôn từ, bằng ý niệm, chúng ta
mệt quá. Mở cửa bước ra ngoài, chúng ta thấy không khí mát mẻ, chim
hót, thông reo, hoa nở. Có âm thanh, có hình ảnh, có đủ tất cả, nhưng
ta rất an lạc, rất dễ chịu. Trong phòng họp có quá nhiều ý niệm lý
luận, tranh chấp và sân si, nơi ấy ta không tìm thấy an lạc. Ngoài
trời, chúng ta cũng nghe các âm thanh, cũng thấy những hình ảnh, cũng
thấy những cảnh sinh hoạt, nhưng rất khác trong phòng họp. Ở ngoài có
sự yên vắng, thảnh thơi. Niết bàn là như vậy. Niết bàn không có nghĩa
là vắng mặt sự sống, vắng mặt thực tại. Niết bàn là có sự sống, có thực
tại, nhưng sự sống và thực tại vượt thoát những khái niệm, vượt thoát
những khổ đau do các khái niệm gây ra. Niết bàn là ở đây, niết bàn là
bây giờ, đó gọi là hiện pháp niết bàn (drstà-dharma nirvana).
(Trích: Trái Tim Của Bụt)
Source: thuvienhoasen