TỰ TIẾN BỘ QUA SÁU TOÀN THIỆN
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 19/08/2011
Khi người ta đến để nghe tôi giảng, nhiều người làm
như thế với mục tiêu đón nhận một thông điệp hay một kỹ năng cho việc bảo vệ niềm
hòa bình nội tại và cho việc đạt đến một sự thành công trong đời sống.
Một
số người có thể đơn giản biểu lộ sự tò mò, nhưng điều quan trọng nên
biết là tất
cả chúng ta giống nhau, tất cả là những con người. Tôi không có gì đặc
biệt: tôi chỉ là một ông thầy tu giản dị. Chỉ là một con người. Và
tất cả chúng ta đều có khả năng cho những
điều tốt đẹp cũng như những điều xấu xí. Cũng thế, tất cả chúng ta đều có quyền để hướng dẫn những đời sống hạnh
phúc. Điều này có nghĩa là những ngày và
những đêm vui vẻ; trong cách này, đời sống chúng ta trở nên hạnh phúc.
Tôi
muốn giải thích một số điều thiết yếu.
Như quý vị biết, sự khác biệt chính giữa con người và những chúng sinh
không phải con người hay những động vật có vú
khác, tôi nghĩ, là sự thông minh của con người. Những cảm nhận về đớn đau và hạnh phúc, khao
khát cho hòa bình và vui sướng, và mong ước vượt thắng khổ đau là thông thường
trong con người và trong con vật. Ngay cả
những con côn trùng... những con côn trùng nhỏ bé cũng có những khát vọng tương
tự. Nhưng những con người chúng ta có sự
thông minh. Chúng ta cũng có những năng
lực to lớn hơn của trí nhớ và viễn kiến về những sự kiện. Vì thế, chúng ta có, như những động vật có
vú hay những con vật khác, những kinh
nghiệm vật lý của thân thể về tốt hay xấu, nhưng chúng ta có những cảm nhận phụ
thêm nữa do bởi óc thông minh của chúng ta. Trí nhớ, cái thấy và những dự đoán của chúng ta cho những tương lai xa
xôi đôi khi làm cho chúng ta băn khoăn và sợ hãi, nghi ngờ và lo lắng ngay cả
khi mọi thứ là tốt đẹp.
Do
bởi khả năng của chúng ta về việc hình dung một tương lai xa, không chỉ cho
chính chúng ta và thế hệ của chúng ta, mà cũng là cho con cháu chúng ta và cho
con cái của con cháu chúng ta, cho những thế hệ tương lai và các thế kỷ vị lai,
sự đau khổ và lo lắng tinh thần của chúng ta là tương xứng hơn. Vì chúng ta có trí thông minh và năng lực suy
nghĩ to lớn hơn những động vật có vú khác, chúng ta dễ tổn thương đối với những
trải nghiệm khổ đau tinh thần hơn chúng. Vì những khổ đau và băn khoăn tinh thần là một sản phẩm của óc thông
minh, nên phương cách duy nhất để giải quyết chúng là qua việc sử dụng trí
thông minh của chúng ta. Không có phương
pháp nào khác. Ngay những người có nhiều
tài nguyên vật chất vô kể và tùy ý sử dụng cũng có những vấn nạn và khổ
đau. Điều này cho thấy một cách rõ ràng
rằng khổ đau tinh thần là những sản phẩm của sự thông minh không thể giải quyết được bằng những
phương tiện vật chất.
Có
một nhân tố quan trọng khác nữa. Tôi cảm
thấy rằng những kinh nghiệm tinh thần là áp đảo so với những trải nghiệm thân
thể. Nếu ai đấy có những rắc rối vật lý
qua bệnh tật hay nghèo đói, nhưng nếu người ấy có tinh thần vui vẻ hạnh phúc,
khổ đau do những rắc rối vật chất có thể bị khuất phục và sẽ không quấy rầy quá
đáng. Trái lại, nếu ai đấy bị quấy rầy tinh thần, ngay cả
một sự thoải mái vật chất vô kể cũng không làm nhẹ bớt khổ đau hay rối loạn tâm
tư. Trong khi chúng ta làm mọi nỗ lực để
bảo đảm sự phát triển vật chất, thì điều quan trọng là nhìn vào bên trong. Chúng ta không được quên lãng những giá trị nội
tại.
Ngày
nay, trong nhiều phần của thế giới, chúng ta đang đối diện một sự khủng hoảng về
đạo đức. Trong khoa học và kỹ thuật, không có căn bản trong
việc phân ranh giới giữa đạo đức và vô đạo đức. Những gì vật chất chỉ là vật chất, và tiền bạc chỉ là tiền bạc. Không có căn bản cho đúng và sai ngoại trừ
người ta thực hiện một sự nối kết với những kinh nghiệm nội tại của chúng
sinh. Căn bản cho việc phán xét những gì
đúng hay sai là mức độ của sự thỏa mãn hay khổ đau mà nó mang đến cho chúng
sinh. Nếu điều đấy mang đến thỏa mãn,
chúng ta thường gọi nó là đúng bởi vì tất cả chúng ta muốn hạnh phúc và hài
lòng. Như chúng ta không muốn khổ đau, tất
cả mọi thứ làm cho chúng ta không thoải mái hay những thứ nào đem đến khổ đau
được xem là tệ hại xấu xí đối với chúng ta.
Do vậy khi chúng ta nói về đúng hay sai, sự phân ranh giới phải được thực
hiện trong việc nối kết với những cảm giác nội tại của con người. Ngoài những thứ ấy, chúng ta không thể nói về
đúng hay sai trong việc nối kết với những thứ vật chất ngoại tại. Trong thế giới ngày nay, chúng ta thường chỉ
cho điều quan trọng là những thứ vật chất. Từ quan điểm ấy, cho đến khi mà
chúng ta kiếm thêm được tiền của hay quyền lực, mọi thứ là được cho là
đúng. Những vấn đề khác không được quan
tâm, và mọi thứ căn cứ trên sự thỏa mãn của lòng tham.
Những
sự kiện mới đây ở New York vào ngày 11 tháng Chín, 2001, dĩ nhiên là thảm họa.
Một nhóm người sử dụng óc thông minh của họ để dự trù những sự kiện này
nếu không phải là hàng năm thì tồi thiểu cũng là vài tháng. Họ đã sử
dụng máy bay đầy nhiên liệu như chất nổ và cũng đầy hành khách. Do
thế, không chỉ có trí thông minh thành thạo
mà cũng là sự thù hận mãnh liệt. Vấn đề
là sự thông minh của con người ấy, sự khôn ngoan của tâm thức con người
được hướng
dẫn hay khống chế bởi bất cứ cảm xúc tiêu cực nào là một thảm họa thật
sự. Ngoại trừ chúng ta có một ý thức hạnh kiểm đạo
đức, không thì con người bị buộc phải đối
diện với những rắc rối và khó khăn. Do vậy,
khi chúng tôi nói về việc quán chiếu những nguyên tắc đạo đức nào đấy,
chúng ta
cũng phải nói về việc hướng dẫn những cảm xúc.
Vừa
mới đây, tôi đã ở Baroda trong một trong những viện của Swami Narayan[1].
Ở đấy tôi đã quán sát rằng những tu sĩ ở
trong tu viện ấy quán chiếu một hạnh kiểm đạo đức thuần khiết, thệ
nguyện và giới
điều, và cũng hỗ trợ trong việc cải thiện điều kiện xã hội. Loại tổ
chức này cũng có thể thấy ở những nơi
khác. Điều cực kỳ quan trọng rằng năng
lượng từ những tổ chức khác nhau này và từ những cá nhân nên được thống
nhất với
nhau. Đem những năng lượng tập thể tích
cực họp lại với nhau là cực kỳ quan trọng.
Giám mục Tutu đã từng nói rằng những thể chế và tổ chức tôn giáo khác
nhau nên tham gia trong lĩnh vực ấy nơi mà con người đang đối diện những
loại vấn
nạn khác nhau. Không chỉ những vấn nạn của
họ được chú ý mà những nỗ lực chung nhất cũng sẽ mang những tôn giáo
khác nhau
đến gần lại với nhau. Chúng ta phải cố gắng
thúc đẩy sự hòa hiệp trong những truyền thống tôn giáo khác nhau. Điều
quan trọng là những thành viên của mỗi truyền thống tôn giáo phải thực
hành một cách
chân thành và nghiêm chỉnh. Giả sử chúng
ta là Phật tử. Nhằm để thúc đẩy những
giá trị của con người, chúng ta trước nhất phải thực hiện mọi nổ lực để
cải thiện
chính chúng ta. Trong cách ấy, chúng ta
sẽ chứng tỏ là một tấm gương cho người khác.
Thay vì nghĩ đến chuyện đổi đạo, chúng ta sẽ nghĩ về việc chúng ta có
thể
cống hiến được bao nhiêu qua truyền thống của chúng ta.
Mỗi
chúng ta là một bộ phận của nhân loại, và mỗi chúng ta có trách nhiệm để cải
thiện nhân loại và để đem thêm hạnh phúc nhằm để làm cho nhân loại hòa bình
hơn, thân hữu hơn, và từ bi hơn. Do thế,
nếu một cá nhân thực tập từ bi và tha thứ một cách chân thành và thường xuyên,
bất cứ nơi nào người ấy sống, nơi ấy sẽ phát sinh một không khí tích cực. Đấy là một cách để cống hiến cho sự cải thiện
nhân loại. Cũng thế, qua thực hành truyền
thống của mình, người ta cuối cùng có thể có những kinh nghiệm tâm linh nội tại. Điều này có thể làm cho người ấy thấy giá trị
của những truyền thống khác. Do vậy, để thúc đẩy sự hòa hiệp tôn giáo, chúng ta
nên nhìn vào trong truyền thống cua chính mình một cách nghiêm chỉnh và thực hiện
tối đa mà chúng ta có thể.
Nhằm
để phát triển một cách nghiêm chỉnh truyền thống tín ngưỡng hay tôn giáo của
mình, chúng ta phải tìm điều gì đấy liên hệ đến đời sống hằng ngày của chúng
ta. Nếu chúng ta đi theo một truyền thống
chỉ đơn thuần như một thói quen hay tập quán, sẽ không có tác động nhiều trong
việc chuyển hóa tâm thức của chúng ta.
Thí dụ, một số người Tây Tạng, Ladakh, và Trung Hoa đã thực hành Phật
Pháp từ thời tổ tiên ông bà của họ cho đấy là điều đương nhiên rằng Đạo Phật là
một phần của truyền thống và văn hóa của họ. Họ không phát triển một tính thành khẩn về những thông điệp vốn có trong
giáo huấn của Đức Phật. Trái lại, khi một
số người vốn không sinh ra như một Phật tử, lần đầu tiên đón nhận sự hấp dẫn
trong Đạo Phật, họ tiếp thu giáo huấn của Đức Phật với sự nhiệt tình và cảm
kích. Quý vị có thể thấy sự chân thành của
họ. Vì thế thật quan trọng để học hỏi với
sự chân thành nghiêm chỉnh. Đây là chân
lý đặc biệt của Phật Pháp bởi vì nhằm để chuyển hóa cảm xúc của chúng ta, chúng
ta phải sử dụng trí thông minh của chúng ta trong một cung cách tối đa như có
thể. Để phát triển niềm tin tâm linh,
chúng ta phải dùng sự thông tuệ của mình.
Tôi nghĩ rằng đấy là đặc biệt của Đạo Phật. Đó là tại sao những tác phẩm của những đạo sư
Na Lan Đà là đầy lý trí, luận lý, tranh biện, đưa lên những loại nghi ngờ khác
nhau, và rồi giải thích, so sánh và phân tích.
Do
thế, phương cách của Đạo Phật để chuyển hóa cảm xúc của chúng ta hoạt động
không phải qua tin tưởng hay nguyện cầu mà qua việc sử dụng tối đa óc thông
minh và lý trí. Như quý vị biết, có ba cấp
độ của việc này. Trên một cấp độ, thật
khó khăn để sử dụng lý trí của chúng ta, và chúng ta phải dựa trên từ ngữ của
người nào đấy. Nhưng ở đấy cũng thế,
chúng ta phải khảo sát - kể cả chính Đức Phật - là đáng tin cậy hay không. Vì vậy, đối với hành giả Phật Giáo nghiên cứu
là rất quan trọng.
Trong
sự bố cục của những bức tranh thangka ở đây, Đức Phật ở vị trí cực Bắc
với một
vị thầy ở bên cạnh. Giống như vị ấy đang
tranh luận với Đức Phật! Đức Phật cho
chúng ta tự do để đặt câu hỏi về những lời của Ngài. Đặt vấn đề là rất
quan trọng. Không có đặt vấn đề, chúng ta không thể có những
câu trả lời thích đáng. Không có hoài
nghi, không có ngờ vực, không có khảo sát, chúng ta sẽ không có những
câu trả lời
toại nguyện. Do vậy, trong truyền thống
Đạo Phật, thông tuệ được sử dụng đến sự mở rộng tới mức tối đa của nó và
nghiên
cứu học hỏi là quan yếu.
Tôi
sẽ không liên hệ đên sự phát triển cá nhân qua sáu toàn thiện (sáu ba la mật) bây
giờ. Khi chúng tôi nói về toàn thiện,
trước tiên nhất, chúng ta phải thiết lập ý nghĩa của từ ngữ "toàn thiện"
hay "rốt ráo", có nghĩa là "vượt khỏi". "Vượt khỏi " ở đây liên hệ đến vị
trí hay con đường giác ngộ. Và vị trí
hay con đường ấy được gọi là "vượt khỏi" với sự liên hệ đến vị trí
mà chúng ta thường hiện hữu, trong hình thể thông thường của chúng ta. Trong phạm vi này, khi chúng ta nói về Bốn
Chân Lý Cao Quý, hai chân lý đầu, đấy là, chân lý về khổ đau và cội nguồn của
khổ đau, là trên phía thông thường này, và hai chân lý kia, con đường chân thật
và sự chấm dứt chân thật, là những con đường vượt khỏi. Ở đây, khi chúng ta sử dụng từ ngữ "vượt
khỏi", chúng ta liên hệ đến những loại giác ngộ chân thật. Từ ngữ liên hệ để có sự vượt khỏi thế giới
sinh tử, vòng luân hồi, và do thế, khi chúng ta nói về từ ngữ "vượt khỏi",
nó có thể liên hệ đến sự tận diệt những cảm xúc phiền não, và khổ đau, và vì thế,
là việc đạt đến giải thoát. Cũng thế, có
một hình thức giác ngộ rộng lớn hơn mà đấy là Quả Phật. Ở đây, chúng ta chủ yếu nói về ý nghĩa ấy khi
chúng ta nói về "vượt khỏi".
Tạng
ngữ cho giác ngộ là jangchub, có
nghĩa là tiếp thu những phẩm chất tích cực cần thiết toàn phần của
chúng. Do vậy, từ ngữ "giác ngộ" trong phạm
vi này có hai ý nghĩa: nó có thể liên hệ đến con đường đưa đến thể trạng
kết quả
của Quả Phật, hay nó có thể liên hệ thể trạng kết quả của chính Quả
Phật. Nên nó liên hệ cả con đường và thành quả. Vì thế, khi chúng ta
sử dụng từ ngữ
"toàn thiện" hay "vượt khỏi" có hai quan điểm từ những học
giả khác nhau.
Theo
một ý kiến, từ ngữ "toàn thiện" (rốt ráo) có thể được dùng trong việc
liên kết với lộ trình cũng như với thành quả.
Ý kiến khác nói rằng từ ngữ "toàn thiện" chỉ có thể sử dụng
trong sự liên hệ đến thành quả chứ không phải về lộ trình. Bây giờ, ở đây nếu chúng ta sử dụng
"toàn thiện" trong ý nghĩa của lộ trình đưa đến giác ngộ, nó là một loại toàn thiện xảy đến trên giai
tầng tu tập (tu tập vị[2]). Ngay cả khi chúng ta sử dụng "toàn thiện"
trong sự liên hệ đến lộ trình, chúng ta không nói về tất cả những loại
lộ trình
như những con đường toàn thiện. Thí dụ,
trong trường hợp sự thực tập về bố thí hay rộng lượng, bố thí và rộng
lượng
trong những dạng thức thông thường không thể gọi là những sự toàn
thiện. Tuy nhiên, khi bố thí và rộng lượng được tác
động bởi sự thực tập phương pháp, đó là sự phát triển tâm giác ngộ - tâm
bồ đề
hay bodhicitta. Khi được ảnh hưởng bởi tuệ trí - thực chứng tính
không, những
sự thực tập này, ngay cả nếu chúng ở trong giai đoạn học tập (hữu học),
thì
cũng có thể gọi là những sự toàn thiện.
Trong trường hợp bố thí hay rộng lượng, chúng ta có sự thực tập thấy
trong những sự thực hành của Bồ tát và cũng là một sự thực tập được
những người
không phải Phật tử thực hành, với những trường phái không phải Phật
Giáo. Thí dụ, không sát sinh. Khi không sát sinh là một sự thực hành
từ việc
sợ hãi luật pháp, nói không liên hệ gì với sự thực hành tôn giáo.
Mỗi
hành vi tùy thuộc vào động cơ, cho dù hành vi là đạo đức hay không đạo đức, và
đối với một hành vi đạo đức, cho dù nó trở thành một nguyên nhân cho giải thoát
hay không, hay cho dù nó trở thành một nguyên nhân cho Phật Quả hay không. Do vậy, nhằm để làm cho sự thực hành của
chúng ta là một trong các toàn thiện rốt ráo ba la mật, chúng ta phải có một mục
tiêu rõ ràng của giác ngộ, cùng với nguyện ước rằng sự giác ngộ của chúng ta phải
vượt khỏi sự giải thoát chỉ cho riêng chúng ta.
Khi
chúng ta hướng để đạt tới đại giác ngộ, hay Quả Phật, con đường mà chúng ta cần
để trau dồi là lòng vị tha, căn cứ trên nguyện ước để đạt đến giác ngộ vì lợi
ích của tất cả chúng sinh. Động cơ liên
hệ nhiều hành động và việc làm để làm lợi ích cho những chúng sinh khác. Thế nên, điều quan trọng là việc sở hữu một đặc
trưng của tâm mà nó có khuynh hướng hỗ trợ toàn thể chúng sinh khổ đau nhằm để
đạt đến giác ngộ.
Một khía cạnh khác nữa của đại giác ngộ hay Phật
Quả là đấy là một thể trạng tự tại khỏi tất cả những sự tạo tác. Khi chúng ta nói về một thể trạng như vậy,
chúng ta có thể có những ý nghĩa khác nhau. Nó có thể có ý nghĩa rằng khi chúng ta đạt đến thể trạng Phật Quả, nó
không có những loại đa dạng của cấu uế, nhiễm ô, khổ đau và những cảm xúc phiền
não. Giác ngộ như vậy không chỉ tự tại khỏi những loại việc này mà
cũng tự do khỏi những hiện hữu nhị nguyên đa dạng. Khi chúng ta đạt đến một thể trạng như vậy,
tháo gỡ mọi xiềng xích của tất cả mọi tạo
tác trong hình thức của nhị nguyên chủ thể - khách thể và những hiện hữu của thế
gian tục đế.
Chúng
ta không tự do bởi vì sự nhị nguyên chủ thể - khách thể hay những hiện tướng thế
gian của tục đế là những đối tượng của việc tiêu trừ trong ý nghĩa rằng chúng
là những cảm xúc tiêu cực. Đúng hơn,
chúng ta tự do bởi vì những sự tạo tác này chấm dứt hiện hữu khi chúng ta đạt đến
thể trạng giác ngộ. Trong một thể trạng
như thế, tâm giác ngộ hay toàn giác như thế hoàn toàn hòa nhập với tính không. Đối với một tâm như thế, không có sự tạo tác
tồn tại. Khi chúng ta đạt đến một thể trạng
giác ngộ có hai khía cạnh và đặc trưng. Một là sau khi đạt đến một thể trạng giác ngộ như thế, hành giả có năng
lực tự tại và không mệt mõi để hoàn thành nguyện ước của chúng sinh. Loại khả năng ấy là một kết quả của việc phát triển động cơ vị tha để đạt đến
giác ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sinh khi chúng ta ở trong giai tầng tu tập.
Một
khía cạnh khác của thể trạng giác ngộ là nó tự do khỏi tất cả những loại tạo
tác, như chúng tôi đã giải thích, và nguyên nhân cho việc đạt đến một thể trạng
như vậy là sự phát triển tuệ trí thực chứng tính không. Thể trạng toàn giác là một sản phẩm của những
nguyên nhân và nhân tố. Nó là một hiện
tượng nhân duyên. Vì thể trạng toàn giác
là một sản phẩm của những nguyên nhân và nhân tố, nó ở trong tác động của luật
nhân quả. Do vậy, hệ thống này con đường
của hiệu lực và con đường của thành quả, là ở trong phạm vi của lý duyên khởi. Những khổ đau mà chúng ta gặp phải sinh khởi
từ những nguyên nhân và điều kiện tương ứng.
Tương tự thế, hạnh phúc mà chúng ta trải nghiệm cũng tùy thuộc trên những
nhân duyên tương hợp.
Hình
thức cao nhất của hạnh phúc, trong thể trạng giác ngộ, cũng sinh khởi từ nguyên
nhân và điều kiện (nhân duyên). Những thứ
này xảy ra trong phạm vi nhân quả. Bất cứ
loại kết quả hay hoa trái nào xảy ra bởi nhân duyên trên những nguyên nhân và
điều kiện ấy có khả năng để sản sinh loại kết quả đặc thù ấy. Đấy là do bởi điều này trong một bộ kinh, Đức
Phật đề cập rằng những sản phẩm và trái cây ngọt ngào có thể sản sinh từ những
hạt giống ngọt ngào. Tương tự thế, những
sản phẩm và hoa trái chua chát kết quả từ những hạt giống chua chát. Do thế, nhưng phẩm chất cao thượng đa dạng mà
chúng ta thấy trong thể trạng Quả Phật hay giác ngộ phải đến từ những khả năng
hay tiềm năng mà chúng ta có. Trong sự vắng
bóng của chúng, không thể đạt đến thể trạng của Quả Phật hay để phát triển những
phẩm chất của Đức Phật.
Trong
thể trạng giác ngộ, chúng ta có hai thân Phật được biết như thân hình
thể và
thân chân thật, tức là sắc thân và pháp thân. Sắc thân Phật là thân tự tại và dễ dàng xuất hiện trước chúng sinh để
cứu độ họ. Pháp thân như chúng ta đã thảo luận phía trước,
là một thể trạng tự do khỏi tất cả những loại tạo tác. Nguyên nhân của
việc đạt đến sắc thân là việc
phát triển và thực hành tâm giác ngộ (bodhichitta), và nguyên nhân của
việc
thân chứng pháp thân là tuệ trí thực chứng tính không.
Nếu
chúng ta cố gắng để đơn giản hóa ý nghĩa của tuệ trí thực chứng tính không và của
tâm giác ngộ hay tâm bồ đề (bodhicitta), chúng ta có thể nói rằng tuệ trí thực
chứng tính không là hình thức tuyệt hảo nhất của thông minh, tột đỉnh của sự
phát triển của nó, và tâm giác ngộ hay tâm bồ đề là hình thức tuyệt vời nhất của
cảm xúc loài người. Chúng ta nhận ra rằng
chúng ta đã có sẳn căn bản của hai tính chất này. Chúng ta có những cảm xúc,
khả năng để phán xét, và thông minh. Do
vậy, khi chúng ta phác thảo đại cương những giáo huấn của Đức Phật, chúng ta
cũng làm thế với ba điểm chính: Chúng ta
có sự trình bày về những phẩm chất nền tảng mà chúng ta liên hệ đến quy luật tự
nhiên. Chúng ta có trình độ của con đường
nơi chúng ta dấn thân vào những sự thực hành lộ trình này phù hợp đến quy luật
tự nhiên. Và qua những sự thực hành này,
chúng ta hiện thực thành quả trong hình thức giác ngộ; điều này cũng phù hợp với
con đường. Do vậy, chúng ta sử dụng thuật
ngữ "toàn thiện" hay "rốt ráo" trong việc liên hệ đến những
sự thực hành ấy trên tầng bậc tu tập rèn
luyện tác động bởi tâm giác ngộ và tuệ trí thực chứng tính không.
Có
thể có hai loại tuệ trí thực chứng tính không. Loại thứ nhất liên hệ đến việc không thể thấy tính không một cách trực
tiếp nhưng nhận ra tính không qua một loại ý niệm chung. Loại thứ hai
là nhận thức hay thấy rõ và
không lệ thuộc qua một giai đoạn trung gian hay sự hình dung chung
chung (của phân tích). Vì thế, khi chúng ta nói về những sự thực
hành được tác động bởi tuệ trí và phương pháp, nó liên hệ đến những loại
tuệ
trí trực trực tiếp thấy rõ tính không.
Giống như thế, khi chúng ta nói về nhu cầu phát triển tâm giác ngộ
(bodhicitta), là điều mà tâm thức yêu mến ấp ủ lợi ích của những chúng
sinh
khác, chúng ta thấy rằng có thể phát triển
một loại tâm thức như vậy bởi vì trong chúng ta, chúng ta có thái độ tự
yêu mến
này. Chúng ta có thể phát triển một thái
độ như vậy bởi vì chúng ta có một cảm giác gần gũi đến chính chúng ta.
Chúng ta có một lòng tự ái, và căn cứ trên điều
này, chúng ta phát triển một loại thái độ tự yêu mến.
Tương
tự thế, nếu chúng ta phát triển một cảm giác gần gũi đến những người khác, những
chúng sinh khác, chúng ta có thể sử dụng điều ấy để phát triển một nguyện ước
mà nguyện ước ấy là yêu mến lợi ích của những người khác, của những chúng sinh
khác. Vì vậy, đầu tiên, nên có một loại
tự ái, một tâm thức yêu mến đối với chính chúng ta, bởi vì trong sự vắng bóng của
việc có thể nhận thức về chính mình, thì không thể, hay khó khăn để phát triển
một tâm tư yêu mến lợi ích của những chúng sinh khác. Một cách căn bản, tất cả chúng ta có một cảm
giác gần gũi với chính mình. Ngay cả
trong những trường hợp tự thù ghét mình biểu lộ ra bên ngoài, thì một loại thái
độ tự yêu mến nào đấy vẫn chất chứa sâu xa bên trong chúng ta.
Từ
sự yêu mến chính mình mà con người có thể dần dần mở rộng một thái độ tương tự
đến những người khác. Ngay cả thú vật
cũng có một lòng vị tha hạn chế, đặc biệt những con thú mà con cái của chúng lệ
thuộc vào chúng trong một thời gian. Một
cách tự nhiên, sẽ có một sự ràng buộc về tình thương đặc biệt. Vì thế tình thương này, cảm giác tự nhiên về
cảm kích, đến từ một nhu cầu sinh học bởi vì cấu trúc, hình thành cơ thể, khiến
chúng ta phải tùy thuộc vào tình thương. Nhằm để sống còn, chúng ta cần chăm sóc nhau. Chúng ta đã có hạt giống của từ ái và bi mẫn hay
tình cảm cho kẻ khác bởi vì chúng ta có tình thương cho chính chúng ta. Đấy là hạt giống.
Câu
hỏi phát sinh, làm thế nào để phát triển lòng vị tha vô hạn? Dường như là có thể phát triển lòng vị tha vô
hạn qua tuệ trí và óc thông minh. Một
cách thông thường, khi người ta nói về nhu cầu trau dồi từ ái và bi mẫn cho người
khác, người ta cảm thấy rằng điều này sẽ là lợi lạc và hỗ trợ đến người khác,
mà không có giúp đỡ cho chính mình, hay không liên hệ đến chính mình. Đây là một quan điểm sai lầm bởi vì khi phát
triển từ ái và bi mẫn cho người khác, chúng ta có thể phát triển sự toại nguyện
và can đảm sâu xa trong tinh thần. Như một
kết quả, chính chúng ta những hành giả được
lợi lạc. Chúng ta sẽ ít sợ hãi
hơn, nhiều năng lực ý chí hơn. Nhiều tự tin hơn. Một cách tự động, chúng ta trở nên tĩnh lặng
tinh thần hơn. Quan tâm đến việc chúng
ta biểu lộ từ ái và bi mẫn lợi lạc những chúng sinh khác bao nhiêu là tùy thuộc
trên thái độ và dung lượng của người khác.
Rõ ràng, Đức Phật và môn đệ của Ngài đã phát triển lòng vị tha vô hạn, từ
ái và bi mẫn vô biên rất năng động. Nhưng trong sự thực hành từ bi của chúng ta, chúng ta không chắc là nó sẽ
lợi lạc cho người khác hay không. Đôi
khi, nếu chúng ta cố gắng để mỉm cười với ai đấy hay thế nào đấy biểu lộ tình cảm
chân thành, người ta lại trở nên nghi ngờ!
Nhưng cho đến khi nào chính hành giả quan tâm, ngay lập tức thái độ vị
tha phát triển, thì sẽ có lợi lạc bao la.
Tôi
nghĩ rằng thực hành từ bi là điều gì chỉ tốt lành cho người khác là sai lầm. Tôi cảm thấy rằng khi chúng ta thực hành việc
quan tâm đến kẻ khác, một cách căn bản, tự chúng ta sẽ đón nhận tối đa lợi lạc. Đôi
khi tôi đùa với thính chúng rằng, "Ô, những vị bồ tát này thật sự
là ích kỷ một cách chân thành! Họ luôn luôn nghĩ về người khác." Nhiều sự khó khăn và rắc rối của chúng ta,
tôi nghĩ là, liên hệ đến sự phóng chiếu tinh thần hay vọng tưởng của chúng
ta. Nếu thái độ của ai đấy là đúng đắn,
ngay cả khi bị bao quanh bởi môi trường không thân thiện, người ấy vẫn có thể
an tịnh và vui vẻ. Đại Sư Tông Khách Ba
đã từng bình luận thích đáng về điều này.
Khi
chúng ta nói về việc thực hành những toàn thiện, đặc biệt về sự thực hành sáu
ba la mật, và cố gắng đề tìm sự liên hệ của những sự thực hành cá nhân này đến
những người khác, chúng ta khám phá ra những gì được biết như sự tập hợp những
nguyên tắc cho việc làm hoàn thiện tâm thức chúng ta. Điều này có nghĩa rằng qua việc thực hành sáu
toàn thiện, có một sự nối kết trực tiếp với việc giúp đỡ người khác.
Tuy thế, nếu chúng ta thẩm tra việc thực tập như tập trung (thiền định)
và phát triển tuệ trí thực chứng tính không (trí tuệ), chúng ta nhận thấy rằng
đây là những sự thiền quán và kỹ năng để cải thiện hay làm nổi bật tuệ trí và sự
thực chứng của chúng ta.
Khi
chúng ta liên hệ đến sự thực tập về đạo đức (trì giới), thì đấy là một loại
phương pháp tự tịnh hóa chính mình. Khi
chúng ta nói về ban cho (bố thí), chúng ta không liên hệ đến việc loại trừ
nghèo đói của người khác qua việc bố thí, nhưng đến một thể trạng tinh thần mà
trong ấy chúng ta luôn luôn sẵn sàng để bố thí thân thể, tài sản, và niềm vui
khi người khác cần đến chúng. Thật sự nó
không có nghĩa là chúng ta có thể giải quyết những vấn nạn và sự nghèo đói của
kẻ khác. Sự thực tập về ban cho và rộng
rãi có nghĩa là làm nổi bật lòng nguyện ước ban cho của chính mình đến người
khác. Cung cách này, chúng ta có thể cải
thiện và làm nổi bật lòng can đảm và quyết tâm để tự cống hiến cho việc phục vụ
người khác.
Liên
quan đến việc thực hành ban cho và rộng lượng, có ba cấp độ của việc ban cho,
được quyết định bởi phẩm chất của nó.
Thứ nhất được gọi là "ban cho những
phương tiện vật chất" hay tài thí.
Thứ
hai được gọi là "ban cho sự không sợ hãi" hay vô úy thí.
Thứ
ba được gọi là "ban cho những lời dạy của Đức Phật " hay Pháp thí.
Liên
quan đến việc thực hành ban cho phương tiện vật chất, có hai loại. Một là cung hiến những phương tiện vật chất
bên ngoài, và thứ hai là cống hiến những phương tiện vật chất bên trong, thí dụ
như dâng hiến một con mắt hay một cánh tay hay chân của mình. Nói đến sự thực hành ban cho, về phương tiện
vật chất bên ngoài hay những phần cơ thể của chúng ta, điều quan trọng là tìm
hiểu xem có đúng thời để bố thí hay không. Chúng ta phải thẩm tra một cách cẩn thận đối tượng hay con người mà
chúng ta thực hiện sự ban cho này, thời điểm được quan tâm, và động cơ của
chúng ta. Cũng thế, chúng ta phải thẩm
tra phẩm vật được ban cho. Thí dụ, không
được phép cung cấp thuốc độc hay vũ khí.
Một
cách tổng quát, những thứ gì đấy như thuốc men được xem như thích hợp để cung
dưỡng cho người khác. Tuy thế, trong những
trường hợp nào đấy, trong việc liên quan đến những người đặc biệt nào đấy, ban
cho thuốc men có thể nguy hại hơn là lợi ích, và sự thực tập bị ngã lòng. Cung cấp thực phẩm thường là thích hợp và được
hoan nghênh. Nếu quý vị cung cấp thưc ăn
cho một người ăn kiêng là không đúng. Do
vậy, khi chúng ta thực hiện việc thực hành ban cho và rộng lượng, điều quan trọng
là phải phân tích và thẩm tra xem mọi thứ có đúng hoàn cảnh hay không.
Chỗ
mà việc thực tập đạo đức (trì giới ba la mật) được quan tâm, đặc biệt trong
phạm vi của sự thực hành của bồ tát, có ba loại đạo đức (tam tụ tịnh giới). Thứ nhất gọi là "đạo đức kềm chế khỏi việc
tham gia vào những hành vi tiêu cực" (nhiếp luật nghi giới). Thứ hai là "đạo đức tích tập những phẩm
chất đạo hạnh" (nhiếp thiện pháp giới). Và thứ ba gọi là "đạo đức hoàn thành những mục tiêu của các chúng
sinh" (nhiêu ích hữu tình giới). Ba
loại đạo đức này liên kết với nhau. Nhằm
để phát triển đạo đức thứ ba, chúng ta cần phát triển đạo đức thứ hai. Ngoại trừ chúng ta có những phẩm chất đạo đức
cần thiết, bằng không thì không thể hỗ trợ những kẻ khác. Nhằm để phát triển những phẩm chất này, chúng
ta cần phát triển đạo đức thứ nhất. Ngoại
trừ chúng ta loại bỏ hay tránh khỏi những cảm xúc phiền não, bằng không chúng
ta không thể phát triển những phẩm chất đạo đức.
Với
việc quan tâm đến thực hành kiên trì (nhẫn nhục ba la mật) có ba loại. Thứ nhất là "kiên trì để có thể chịu đựng
những thử thách khó khăn và khổ đau". Thứ hai là "kiên trì tự nguyện
đón nhận những khổ đau và thử thách." Và thứ ba là "kiên trì phát triển sự xác định đối với những thực
hành Phật Pháp,"[3]
là những thứ liên hệ đến thiền tập về Tính Không.
Có
những loại phân chia trong sự toàn thiện của nổ lực và tập trung (tinh tấn và
thiền định ba la mật), nhưng tôi không nhớ chúng! Tuy nhiên, trong trường hợp của tập trung, có
một cấp độ liên hệ đến sự thực tập chân lý thế gian (tục đế), và có sự tập
trung liên hệ đến sự thực tập về khái niệm Tính Không.
Trong
việc quan tâm đến tuệ trí (bát nhã ba la mật), chúng ta có nói có hai loại tuệ
trí chính yếu: một gọi là "tuệ trí
thực chứng những hiện tượng quy ước thế gian (tục đế)," và thứ kia gọi là
"tuệ trí thực chứng thực tại tối hậu, sự thật căn bản (chân đế)". Thiền tập nhất tâm bất loạn (chỉ) hay tuệ
giác phân tích (quán) được phân biệt không phải bởi hoặc là đối tượng của tục đế
hay chân đế mà trên việc tâm thức tập trung trên đối tượng như thế nào.
Đến
đây là chấm dứt sáu toàn thiện. Sự thực
hành sáu toàn thiện có thể tóm tắt dưới hai điều: phương pháp (cho việc tích
lũy phước đức) và tuệ trí (cho việc tích tập tuệ giác). Chúng ta
phân loại sáu toàn thiện thành những sự thực tập về phương pháp và tuệ
trí bằng việc để những sự thực tập về tập trung (thiền định) và tuệ trí (bát
nhã) dưới tập hợp tuệ trí; và sự thực tập bố thí, quán chiếu về đạo đức, và một
phần của sự thực tập kiên trì dưới tập họp của phước đức. Với việc quan tâm đến sự thực tập nổ lực, một
phần của nó bao gồm trong tích tập phước đức và phần khác trong tích tập tuệ
trí.
Nỗ
lực có thể áp dụng để tích tập phước đức cũng như tuệ trí. Những thực tập đối với những điều này là hai
nguyên nhân chính có thể đáp ứng cho việc thân chứng thân sắc tướng của Đức Phật
(sắc thân) và thân chân thật của Đức Phật (pháp thân). Sự phân chia lộ trình thành phương pháp và tuệ
trí liên hệ đến thực tại căn bản của đối tượng bởi vì trong quy luật của tự
nhiên, chúng ta thấy hai đặc trưng của các hiện tượng. Một là những hiện tượng quy ước thế gian, và
thứ kia là thực tại tối hậu của những hiện tượng đó. Chúng ta nói về hai sự thật, sự thật quy ước
(thế đế) và sự thật tối hậu (chân đế). Để
có một sự thấu hiểu thích đáng về hai sự thật này, điều quan trọng là phải hiểu
sự bất tương xứng giữa những hiện tướng và thực tại.
Chúng
ta có những loại khác nhau của hiện tướng, về một phía và về phía kia, chúng ta
có một thực tại, là điều khác biệt với những hiện tướng đó. Do thế, tôi cảm thấy rằng khi chúng ta định
tiếp nhận bất cứ một tiến trình học hỏi nào, những gì chúng ta cố gắng để làm
là để giảm thiểu sự bất tương xứng giữa hiện tướng và thực tại.
Chúng
ta cố gắng để biết thực tại qua học tập, đặc biệt qua năng lực phân
tích, kể cả
thẩm nghiệm. Chúng ta không hài lòng với
những hiện tướng. Nghiên cứu học tập và
khảo sát giúp để giảm thiểu khoảng cách giữa những hiện tướng và thực
tại. Khái niệm về hai sự thật là một sự hỗ trợ vô biên trong việc giảm
thiểu khoảng
cách này. Bởi vì nhiều cảm xúc phiền não
phát triển trên căn bản của những hiện tướng, việc nhận ra thực tại
giảm thiểu
những cảm xúc tiêu cực. Do thế đó là tại sao khái niệm về tính không
là rất liên quan đến những kinh nghiệm hàng ngày. Nếu những khái niệm
này chỉ duy trì trong cấp
độ tri thức trí óc, như những thông tin đơn thuần, chúng ta sẽ chỉ có
những ảnh
hưởng nhỏ nhoi.
HỎI & ĐÁP
HỎI: Thưa Đức
Thánh Thiện, ai đấy vừa hỏi về nguyên nhân của khủng bố. Sự bạo động đối kháng có thể chinh phục những
hành vi khủng bố hay không? Và vai trò của
từ bi là gì trong thế giới khủng bố đã đưa đến một sự xung đột bạo động của những
nền văn minh?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT
MA:
Chắc chắn. Tôi nghĩ gốc rễ của khủng bố
là thù hận, thiển cận, và hẹp hòi. Tôi
nghĩ biện pháp nên ở trên hai cấp độ. Một,
phương pháp đối phó tức thời. Và thứ kia
là cho về lâu về dài. Vì thế, tôi nghĩ tất
cả mọi lãnh tụ và những người quan tâm nên thực hiện mọi nổ lực để tìm ra những
phương pháp bất bạo động đế đối phó với hoàn cảnh. Đây là mong ước cuả tôi, lời cầu nguyện của
tôi. Về mặt khác, tôi không có ý kiến về việc những thứ
này có thể xử trí như thế nào bởi vì những thể trạng tinh thần, cảm xúc, sẽ vượt
ngoài vòng kiểm soát. Về lâu về dài, tôi
nghĩ toàn thể thế giới và xã hội phải trở nên từ bi hơn. Sau đó, khi chúng ta thấy sự bất đồng hay
xung đột, chúng ta sẽ tìm kiếm những sự đáp ứng hòa bình và những giải pháp hòa
bình qua đối thoại. Tôi nghĩ chúng ta có
thể làm điều ấy. Cuối cùng, chúng ta có
thể sản sinh ra một xã hội từ bi hơn. Dĩ
nhiên, điều này không dễ dàng, nhưng tôi nghĩ là có thể.
HỎI: Ai đấy
nói, trong khái quát người phương Tây không tiến triển một cách nhanh chóng
trên lộ trình Kim Cương Thừa như người Tây Tạng làm. Ngài có đồng ý không? Nếu vâng, thì tại sao?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT
MA:
Trong xã hội Tây Tạng cũng vậy, mặc dù nhiều người thực hành mật tông, có rất
ít người thực chứng như được giải thích trong kinh luận mật thừa. Như tôi đã đề cập trước đây, một phần bởi vì
thiếu một sự nghiêm túc trong việc thực hành hàng ngày. Quý vị trì tụng cầu nguyện và thực hành trong
thái độ như thế nào đấy lập đi lập lại không có
tiến bộ. Dĩ nhiên, đây là ấn tượng
của tôi. Do vậy, tôi không nghĩ có nhiều
sự khác biệt giữa người Tây phương và người Đông phương. Tất cả đều như nhau.
HỎI: Phương
pháp và sự lựa chọn nó quan trọng như thế nào sẽ đưa chúng ta đến trình độ tâm
linh cao hơn?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT
MA:
Điều này cực kỳ quan trọng. Bởi vì nếu quý vị có thể thực hành theo
phương pháp và lựa chọn một lộ trình liên hệ và thích hợp với xu hướng tinh thần
của quý vị, nó sẽ tác động nhiều hơn. Đối
với câu hỏi trước trong việc thực hành mật tông, sự thực hành mật tông hay Kim
Cương Thừa là một sự thực hành Đại Thừa và do thế, phải được tác động bởi sự
phát triển tâm giác ngộ (bodhicitta) và tuệ trí nhận rõ tính không. Vắng bóng hai điều này - phát triển tâm giác
ngộ và tuệ trí thực chứng tính không - thì không thể tiến hành việc thực hành mật
tông. Một số người có ấn tượng rằng Tiểu
Thừa, Đại Thừa, và Kim Cương Thừa là những Thừa
hay cỗ xe khác nhau, và hoàn toàn độc lập với nhau. Điều đó hoàn toàn sai lầm.
Chúng
ta phải nhận ra rằng nhằm để thực hành Bồ Tát Thừa, cũng gọi là Đại Thừa, nền tảng
của sự thực tập căn cứ trên giáo huấn Bốn Chân Lý Cao Quý và Tám Thánh Đạo. Trên nền tảng ấy, sự thực hành bồ tát được
xây dựng. Do vậy, trong sự thiếu vắng những
sự thực tập nền tảng được dạy trong Tiểu Thừa hay Thượng Tọa bộ, thì không thể
kiến thiết những sự thực hành Đại Thừa.
Trong sự vắng bóng của những sự thực hành Đại Thừa Hiển Giáo, thì không
thể tiến hành việc thực hành Đại Thừa Mật Giáo.
Trình độ tâm linh cao hơn được xây dựng trên nền tảng của những sự thực
hành trước.
HỎI: Ấn Giáo
nói về Phạm Thiên, thượng đế phi cá nhân vượt khỏi mọi đức tính và diễn tả. Giác ngộ là để trở thành một với Phạm
Thiên. Mặc dù Đạo Phật không thừa nhận một
thượng đế, có phải Phật tính là một tư tưởng tương đồng của Phật Giáo với Phạm
Thiên không?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT
MA:
Nếu quý vị cố gắng, quý vị có thể diễn dịch nó trong cách đó đến một phạm vi
nào đấy. Trong truyền thống Ki Tô Giáo,
Thiên Chúa Ba Ngôi đôi khi được nói là tương tự với khái niệm của Phật Giáo về
Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo hay với ba thân: Pháp thân, Báo thân, và Hóa
thân. Chúng ta có thể nhận ra những
tương đồng nào đấy. Không hề gì.
HỎI: Nếu giải thoát cũng là một kết quả của nhân
quả, điều xấu trở thành điều tốt như thế nào?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT
MA:
Điều xấu có thể trở thành điều tốt bởi vì chúng ta có thể chấm dứt sự tương tục
của điều xấu. Bây giờ, ở đây, tôi nghĩ
con người, chúng sinh, có cảm giác hay năng lực nhận thức ở đấy theo Bồ tát thừa
hay đặc biệt trong quan điểm của triết lý Trung Quán, đấy là không có sự bắt đầu
(vô thỉ). Tâm thức, tâm vi tế, là không
có bắt đầu. Trong Đại Luận Mật Tông Tiệm
Tiến của Tông Khách Ba, ngài đã trích dẫn từ một mật điển giảng giải, gọi là
Kim Cương Đỉnh, trong ấy nói rằng vòng luân hồi là sự tương tục của mật tông và
niết bàn là một tantra theo sau. Khi
chúng ta nói về vòng luân hồi hay niết bàn, nó phải được giải thích trong sự
liên kết với sự tương tục của tantra, đấy là, sự tương tục của tâm thức. Nhưng cho đến khi mà có một sự tương tục của
tâm thức và những cảm xúc bất tịnh và phiền não vẫn còn thì đấy là sự luân hồi. Khi tất cả những cảm xúc tiêu cực và phiền
não - qua những sự đối trị của chúng - được tiêu trừ, tâm thức ấy được nói là ở
trong thể trạng niết bàn.
Trong
trường hợp của chính niết bàn, nó không bị điều kiện hóa, không phụ thuộc vào
những nguyên nhân và điều kiện (nhân duyên). Theo quan điểm triết lý của Cụ Duyên Trung Quán tông, hệ thống của Long
Thọ và Nguyệt Xứng, khi chúng ta nói về niết bàn, chúng ta liên hệ đến thể trạng
tối hậu, thực tại tối hậu của tâm thức, khi tâm thức được hoàn toàn tịnh hóa khỏi
những cảm xúc phiền não.
HỎI: Tôi rất
phiền muộn để thấy láng giềng của tôi vui vẻ.
Tôi biết như thế là sai, nhưng làm sao tôi vượt thắng điều này? Tôi muốn con cái của tôi là những người tốt
nhất. Điều ấy có sai không?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT
MA:
Quý vị có thích bè bạn hay không? Tôi nghĩ hầu hết mọi người yêu mến bè bạn. Nếu chúng ta có bạn bè, những người bạn chân
thành, với họ chúng ta có thể trau đổi những nụ cười và những kinh nghiệm khác
nhau với lòng tin, chúng ta cảm thấy hạnh phúc hơn, tĩnh lặng hơn. Nếu chúng ta không tin tưởng mọi người, chúng
ta cảm thấy cô đơn, và có một cảm giác không an toàn. Do vậy, tối thiểu có một cơ hội rằng láng giềng
của quý vị trở thành bạn bè của quý vị.
Có phải là tốt hơn nên có một người láng giềng là bạn của chúng ta thay
vì một người láng giềng lả kẻ thù có phải không? Cho dù ai đấy trở thành bạn hay thù tùy thuộc
trên thái độ tinh thần của chúng ta. Đầu
tiên chúng ta phải mở rộng vòng tay và biểu lộ tình bạn. Rồi thì sẽ có một cơ hội rằng cuối cùng những
thái độ sẽ thay đổi. Nếu quý vị vẫn duy
trì thái độ tiêu cực đối với ai đấy, thì việc trở thành bằng hữu là không thể
có.
Bạn
bè, thân hữu chân thành, phải hành động nhiều nhiều với trái tim nồng ấm, không
phải tiền bạc hay quyền lực. Khi chúng
ta đạt được sự giàu sang, quyền thế chính trị, hay danh thơm, chúng ta có thể
tìm thấy bạn bè của một loại khác - nhưng những người ấy không nhất thiết là những
bằng hữu chân thành. Một người bạn chân
thành xem chúng ta chỉ như một con người khác, như một người anh chị em, và biểu
lộ tình cảm trên trình độ ấy, bất chấp chúng ta giàu hay nghèo, trong một vị thế
cao hay thấp. Đấy là một người bạn chân
thành.
HỎI: Đức Thánh Thiện nói về việc giúp đở người
khác khi họ đau khổ. Trong phạm vi ấy,
ngài nghĩ thế nào về phương pháp chết không đau đớn (trợ tử), hay gia tăng lượng thuốc giảm đau
(morphine) khi ấy đang chết đi?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT
MA:
Trong phổ quát, tốt hơn là không nên thực hành việc trợ tử hay chết không đau đớn,
nhưng có thể có những ngoại lệ.
HỎI: Thái độ
của học nhân là như thế nào đối với đòi hỏi kiến thức?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT
MA:
Tôi không biết. Quý vị cần có óc sáng kiến
và thực hiện một nỗ lực nào đó.
Nói
chung, khi chúng ta đòi hỏi tri thức, có ba trình độ của tiến trình: nghe
(văn), nghĩ (tư), rồi thì thiền tập (tu).
Do vậy, chỉ nghe và kiến thức có được chỉ từ nghe mà thôi thì rất hời hợt. Chúng ta phải nghĩ về chính mình và nếu có thể,
thẩm nghiệm, thực hiện những khảo sát xa hơn, phân tích xa hơn. Trong cách ấy, chúng ta đạt được một sự tĩnh
thức sâu hơn. Rồi thì tri thức của chúng
ta sẽ hợp lý hơn, và cuối cùng có thể chuyển hóa vào trong hành động. Nếu câu hỏi ấy được hỏi bởi một Phật tử, đặc
biệt bởi một Phật tử Tây Tạng, tôi sẽ thêm rằng quý vị nên trì tụng mật ngôn
Văn Thù Sư Lợi, om ah ra pa dsa na dhi. Nếu quý vị trì tụng câu này, nó sẽ giúp cho sự
thông tuệ của quý vị. Trong trường hợp của
tôi, vì lúc ấu thời tôi đã từng trì tụng mật ngôn này - cho dù nó thật sự hỗ trợ
hay không, tôi không biết. Nhưng chắc chắn
nó sẽ không có hại gì.
HỎI: Có thể
có một tôn giáo toàn cầu cho tất cả mọi người trên toàn thế giới không?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT
MA:
Không, không thể có được. Tôi nghĩ một
"tôn giáo toàn cầu" có thể có nghĩa là trái tim con người nồng ấm,
tình cảm, một ý thức chăm nom, và tâm vị tha.
Đây có thể là một tôn giáo toàn cầu.
Khác hơn thế, tôi nghĩ là những truyền thống khác nhau còn lại. Tất cả hữu ích cho một trạng thái đa dạng muôn
màu rộng lớn của nhân loại. Chỉ một tôn
giáo.... tôi không nghĩ có nhiều lợi lạc trong ấy.
HỎI: Nếu giá
trị của nghiệp báo có giá trị? Có phải tất
cả những gì xảy ra đã được định trước?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT
MA:
Nghiệp báo không có nghĩa là "tiền định". Bằng việc tùy thuộc trên những trình độ khác
nhau của các hành vi, chúng ta có thể thay đổi tiến trình trải nghiệm của mình
trong đời sống. Tôi đang cho một thí dụ
từ đời sống hằng ngay của chúng ta: vào buổi sáng, chúng ta dự định làm việc gì
đấy, chúng ta muốn thực hiện một hành vi nào đấy, có thể, thực hiện những dự định
được tính toán từ tuần trước, nhưng rồi những sự khẩn cấp nào đấy xảy ra, và mọi
thứ thay đổi. Mặc dù kết quả của một
hành vi nào đấy đã được lên chương trình, nếu một hành động nào đấy mạnh mẽ hơn
đến, các kết quả sẽ thay đổi.
HỎI: Tại sao
quá nhiều người trẻ bị rắc rối về vấn đề tim mạch?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT
MA:
Tôi nghĩ bởi vì căng thẳng. Cũng vì, sức mạnh nội tại yếu kém và quá nhiều
dự tính từ bên ngoài. Và thêm nữa quá
nhiều hoài bão hay tham vọng. Có lẽ, rắc
rối về những cách ăn ở, ma túy và rượu chè.
Tốt hơn nên hỏi bác sĩ!
HỎI: Thưa Đức
Thánh Thiện, nhiều người hình như quá khư khư giữ lấy ngài cho riêng họ. Ngài xử trí vấn đề này như thế nào?
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT
MA:
Quý vị cứ chiếm hữu, nhưng việc ấy không
làm nên điều gì khác biệt đối với tôi. Tôi chỉ ngồi đây thôi.
HỎI: Nhưng
thưa Đức Thánh Thiện, nó tạo nên rắc rối cho những người khác.
ĐỨC ĐẠT LAI LẠT
MA:
Nếu nó tạo nên rắc rối, họ nên chấm dứt việc chiếm hữu. Có một câu hỏi tương tự như thế một lần nọ ở
Đức Quốc. Ở đấy tôi nói rằng tôi xem tôi
như được làm nên bởi những yếu tố đất, nước, gió, lửa. Bất cứ cách nào mà người khác có thể lợi lạc
từ tôi, cầu cho họ được toại ý!
Sir Shankerla
Hall, Modern School, 2002
Nguyên
tác: Self-Develpment
through the Six Perfections trích từ quyển Many Ways to Nirvana
Ẩn
Tâm Lộ ngày 25/09/2011
Bài liên hệ:
1-
Bốn Pháp Ấn của
Đạo Phật
2-
Chiến Thắng Những
Cảm Xúc Tiêu Cực
3- Trau Dồi Hành Xả
4- Bốn Chân Lý Cao
Quý
5-
Tám Đề Mục Chuyển
Hóa Tâm
[1] Một
trường phái Ấn Độ Giáo hiện đại được sáng lập bởi Swaminarayan (1781-1830), Swaminarayan được xem là hiện thân của Thượng Đế.
[2] 1-
Tư lương vị, 2- Gia hạnh vị, 3- Thông đạt vị, 4- Tu tập vị (thuộc về Hữu học),
và 5- Cứu cánh vị (là Vô học)
[3] a- “Nhẫn nhục là một trạng thái nhẫn nại tự chế khi đối diện với những hãm
hại trừng phạt của kẻ khác”. b-“Tự nguyện
gánh vác các khổ đau và ách nạn” .c- “Kham nhẫn mọi cực khổ khi dấn thân tu hành theo
giáo pháp của Phật.” (Tâm Hà Lê Công Đa dịch, “Vượt Khỏi Giáo Điều”, của Đức Đạt Lai Lạt Ma)
Source: thuvienhoasen