Ghi
Sau Khi Duyệt Địa Tạng
Nếu nói vì sự dấn thân mà được Phật đem chúng ta
ký thác, thì đó là sự đặc thù của đức Địa tạng mà Phật tử thì phải học
tập.
Đời Phật có 2 vị đại sĩ quan trọng. Một là đức Từ
thị, sẽ thay Phật làm Phật. Hai là đức Địa tạng, thay Phật mà gánh vác
chúng
sinh.
Địa tạng đề cao niệm Phật và bất sát, và xếp vào
loại bất khả tư nghị cái phước giúp người già, người bịnh và sản phụ.
Địa tạng
chú trọng cả sinh và chết. Địa tạng rất trọng thị hạnh phúc nhân loại.
Địa tạng
hay nói Phật giáo, nhưng chữ ấy không có nghĩa tôn giáo của Phật, mà là
giáo
huấn của Ngài, và cái phước là làm theo giáo huấn ấy.
Địa tạng nói đến quỉ thần. Quỉ thần thật thì không
đáng nói lắm. Hãy nói quỉ thần hình người mặt người. Quỉ thần ác có
thiện có.
Nhưng con người đa số ác nên quỉ thần ác lộng hành. Vậy đối phó với quỉ
thần ác
thì phải đừng ác.
Phật giáo có cái thuyết tam tai - Tam tai là 3 tai
nạn đao binh, tật dịch và cơ cẩn, mà tôi đã dịch là chiến tranh, nhiễm
độc và nhân
mãn. Đó là 3 điều đang là mối lo lớn nhất cho cả thế giới. Trước đây
không lâu
thì chiến tranh hạt nhân là mối lo lớn nhất, nhưng hiện nay thì mối lo
lớn nhất
là ô nhiễm môi trường và bùng nổ dân số. Mối lo ô nhiễm môi trường lại
có những
mối lo liên hệ mà vi khuẩn HIV chỉ là một. Phật giáo không nói tận thế
như các
tôn giáo khác, nhưng mô tả tam tai thì thật kinh hoàng. Và nói về Địa
tạng đại
sĩ thì tam tai được nói đến còn hơn nói đến ngũ trược.
Mồng 8 tháng tư, 2537
Trí quang
Thứ Nhất, Tiểu Dẫn Về Tài Liệu
1. Kinh này dịch và in năm 2514 (1970) một cách
bình thường. Nay được chữa lại khá kyլ
dẫu không còn để phần dịch âm.
2. Tài liệu được sử dụng là Đại tạng kinh bản Đại
chính tân tu (ký hiệu là Chính) và Tục tạng kinh bản chữ Vạn (ký hiệu là
Vạn).
3. Nguyên bản căn cứ để chữa là Chính 13/777 -
790. Nguyên bản này không chia 3 cuốn mà chia 2 cuốn thượng hạ. Bản in
riêng
của Phật giáo Trung hoa cũng được sử dụng. Địa tạng khoa chú (Vạn
35/197-336)
lại càng được tham chiếu.
4. Quan trọng đến nỗi không thể thiếu được trong
việc tìm hiểu về đức Địa tạng là kinh Thập luân (Chính 13/721-777). Bản
dịch
trước của kinh này (Chính 13/681-721) và kinh Chiêm sát (Chính
17/901-910) cũng
được tham khảo.
5. Tài liệu để soạn nghi thức sám nguyện là Tán lễ
Địa tạng bồ tát sám nguyện nghi (Vạn 129/68-71), nhưng kinh Thập luân
vẫn là tài
liệu chính.
Thứ Hai, Tìm Xét Về Dịch Chủ
Về dịch giả kinh Địa tạng, có thể có 3 thuyết. Thứ
nhất, tôi nhớ khi nhỏ có thấy 1 bản ghi ngài Pháp cự dịch. Thứ hai, 1
bản dịch
ghi là ngài Pháp đăng. Thứ ba, nhiều bản ghi là ngài Thật xoa nan đà.
Về ngài Pháp cự, niên đại dịch kinh là 290-306
(Chính 98/678). Xuất xứ này cũng ghi dịch phẩm của ngài, như những xuất
xứ
khác. Trong những dịch phẩm được ghi, không có kinh Địa tạng. Nhưng
trong Chính
49/61, cũng như mấy xuất xứ nữa, ghi dịch phẩm của ngài có 132 bộ 142
cuốn ẫ mà
không bản mục lục nào ghi được đầy đủ. Như vậy không rõ trong đó có kinh
Địa
tạng mà thất lạc, hay không?
Về ngài Pháp đăng, không thể tìm thấy tên, nên
không thể nói gì được.
Về ngài Thật xoa nan đà, niên đại dịch kinh là
695-704 (Chính 98/668). Có đến 5 xuất xứ ghi ngài là dịch giả kinh Địa
tạng:
Chính 13/777, Vạn 35/220A, Chính 99/346, Chính 99/376, và Chính
100/1010.
Phần tôi, sau khi tra cứu gần hết sử truyện và mục
lục, ghi lại như trên đây. Nhưng thấy vấn đề dịch giả kinh Địa tạng vẫn
bất ổn.
Tôi lại không có 1 bản giảng giải mới nào, nên không biết có sự tra cứu
nào
đáng kể không. Riêng ngài Thái hư thì cũng cho dịch giả kinh Địa tạng là
ngài
Thật xoa nan đà (Thái hư toàn thư, 29/2470).
Thứ Ba, Khái Lược Về Nội Dung
Như vừa nói, nguyên bản kinh này chia 2 cuốn: cuốn
thượng có các phẩm 1-6, cuốn hạ có các phẩm 7-13. Xét ra chia như vậy
mới có nghĩa.
Chia 3 cuốn thượng trung hạ chỉ để trì tụng cho thích hợp thì gian mà
thôi.
Kinh này cốt nói đại nguyện đại lực của Địa tạng đại sĩ. Cuốn thượng kể
như là
phần chính thuyết, nói đại lược đã đủ, và cuối phẩm 6 đã kết thúc bằng
sự đặt
tên kinh. Còn cuốn hạ kể như là phần bổ túc, bổ túc một số chi tiết. Nay
tóm lược
tất cả dưới đây.
Phần Chính Thuyết
Phẩm 1: Thần thông tại cung Đao lợi.- Sát với
chính văn thì phải dịch là thần thông tại cung trời Đao lợi. Cung trời
Đao lợi là
Thiện pháp đường, tức giảng đường của Đế thích, và là chỗ Phật thuyết
pháp cho
mẹ, trong pháp được thuyết có kinh Địa tạng. Thần thông là đại bộ phận
của thần
lực và nhiều lúc cũng gọi là thần lực. Vã lại chữ thần lực đủ và sát với
phẩm
này, nên phải đổi ra. Xét thần lực của phẩm này nói thì thấy có 3. Một,
thần
lực không nói mà thấy rõ, đó là biến cung Đao lợi vốn rất lớn và trang
nghiêm
lại càng lớn và trang nghiêm vô tận (như Bồ đề tràng trong Hoa nghiêm).
Hai,
thần lực ánh sáng và âm thanh mà Phật biểu hiện ở cung Đao lợi (như
phóng quang
và thần lực trong Pháp hoa). Ba, thần lực hóa độ và tác thành của đức
Địa tạng
mà tại cung Đao lợi Phật đã đề cao. Chính yếu của phẩm này là 2 thần lực
sau.
Ngoài 3 thần lực này, phẩm này cốt nói đại nguyện của đức Địa tạng, đại
nguyện
ấy cũng là một thần lực, mà là thần lực quan trọng.
Phẩm 2: Thân phân hóa qui tụ lại.- Phân thân là
phương tiện quan trọng nhất trong những phương tiện mà đức Địa tạng đã
vận dụng
để giải thoát cho bao kẻ tội khổ ẫ như đại nguyện mà phẩm 1 đã nói. Cũng
chính
vì đại nguyện nghiêng nặng về bao kẻ tội khổ, nên phân thân mà phẩm này
nói đã
nhấn mạnh phân thân ở địa ngục. Nhưng phân thân của đức Địa tạng, theo
kinh
Thập luân thì đếm được 42 loại (Chính 13/725), còn kinh này có 20 loại,
của
Phật nhưng là điển hình cho các vị đại sĩ. Phân thân như vậy có 2 loại
lớn là
hữu tình và vô tình. Trong loại vô tình, kinh Thập luân chỉ nói" hiện
những cảnh đẹp cho người vui thích", còn kinh này nói rõ hơn: hiện ra
làm
núi rừng, dòng nước, đồng bằng, sông ngòi, ao hồ, suối giếng. Nói rõ mà
không
đủ, vì ngoài núi rừng và đồng bằng, chỉ nói toàn nước -- Nói như vậy
cũng không
lạ, nếu ta biết đến vấn đề nước ở cái xứ nóng như Ấn độ. Nhưng phải nói
như
chính đức Địa tạng đã nói mới rõ và đủ hơn, dầu vắn tắt hơn, rằng thân
đức Địa
tạng là thân không biên cương, rằng tại mỗi thế giới hệ, ngài phân hóa
trăm
ngàn vạn ức thân hình. Và phân hóa thân hình là để thuyết pháp. Nhưng
thuyết pháp
ở đây không phải chỉ có một cách nói bằng lời, mà nói bằng nhiều cách:
cách nào
mà lợi người là thuyết pháp cả. Nên cảnh vật làm người vui thích, làm
người
được ích lợi, thì đó chính là sự thuyết pháp, là sự độ thoát. Đừng hiểu
rằng
hiện cảnh vật ích lợi mọi người để rồi sau đó thuyết pháp độ thoát cho
họ. Mặt
khác, vì đại nguyện và sự phân thân như vậy, nên trong phẩm này đức Địa
tạng được
đức Thế tôn đem chúng sinh, trong đó có chúng ta, ký thác cho ngài.
Phẩm 3: Quán sát nghiệp quả chúng sinh.- Nghiệp
quả, hay nghiệp cảm, là hành vi và kết quả của hành vi. Nói quán sát
nghiệp quả
của chúng sinh, nhưng thật ra phẩm này lấy người Diêm phù chúng ta làm
điển
hình mà nói. Vì đại nguyện của đức Địa tạng chú trọng chúng sinh tội
khổ, nên
phân thân của ngài đã nhấn mạnh phân thân địa ngục, và bây giờ nói quán
sát
nghiệp quả, nhưng thật ra chỉ quán sát nghiệp quả địa ngục ẫ đặc biệt
địa ngục
vô gián, nơi nghiệp dữ nhất và quả khổ nhất. Điều rất đáng tiếc là trong
phần
nói về nghiệp dữ nhất ấy đã không nói đến nghiệp dữ hơn hết, ấy là những
chủ
thuyết độc hại nhân loại mà chữ tà kiến hay ác kiến không diễn đạt hết
được.
Phản bội Phật pháp, đi theo các chủ thuyết ấy, cũng là nghiệp dữ nhất mà
kinh
này đã không nói đến.
Phẩm 4: Nghiệp quả của người Diêm phù.- Phẩm này
tiếp tục phẩm trước, lấy người Diêm phù chúng ta làm điển hình mà nói về
nghiệp
quả của chúng sinh, nhưng nói rộng hơn: Một, về nghiệp quả, không phải
chỉ nói
nghiệp quả vô gián, nhưng vẫn chú trọng nghiệp quả đường dữ. Hai, nói về
đại
thệ (lời thề thực hiện đại nguyện) của đức Địa tạng. Ba, nói về cách
giải thoát
nghiệp quả cho chúng sinh của đức Địa tạng; trong cách này, ở đây đưa ra
cách
nói về nhân quả, nhưng chữ nói ấy không phải chỉ là nói, khuyên và răn,
mà là
nói bằng sự "vận dụng hàng trăm hàng ngàn phương tiện". Hai phần đại
thệ và cách nói như vậy là vài phương tiện của đức Địa Tạng.
Phẩm 5: Danh xưng địa ngục.- Danh xưng địa ngục là
tên của các địa ngục. Chính tên của mỗi địa ngục biểu thị hình cụ và cực
hình
của địa ngục ấy. Phẩm này chỉ bổ túc cho phẩm 4, nói về các địa ngục,
nơi
nghiệp dữ phải chịu quả báo, sau khi chịu hoa báo và trước khi chịu dư
báo.
Nhưng đến đây, sau 3 phẩm 3, 4 và 5 nói về nghiệp quả, những điểm chính
yếu sau
đây phải được nhận rõ: địa ngục thật khổ, và ai làm nghiệp dữ thì người
ấy tự
chịu, chứ không ai có thể chịu thay cho; như vậy địa ngục là thật, nếu
thật có
nghiệp dữ; nhưng cũng không thật, nếu nghiệp dữ không có hay có mà được
trừ bỏ;
sự trừ bỏ cũng vẫn có thể hy vọng, nếu biết qui y đức Địa tạng và làm
theo kinh
này chỉ dẫn; và đức Địa tạng trừ bỏ cứu vớt cho cũng không phải chỉ trừ
bỏ cứu
vớt nơi cái nhân mà còn ngay nơi cái quả: Đó là sự đặc biệt, bất khả tư
nghị
của đức Địa tạng và kinh Địa tạng.
Phẩm 6: Thế tôn tuyên dương.- Các phẩm trước đã
nói về thệ nguyện, phương tiện và sở độ của đức Địa tạng, phẩm này nói
về sự
ích lợi nhân thiên của ngài. Ích lợi nhân thiên là đem lại cho nhân
thiên và
mọi loài sự ích lợi mà phần chính là ở chính trong nhân thiên. Sự ích
lợi ấy
gọi là sự yên vui tuyệt diệu (thắng diệu lạc). Sự ích lợi ấy ích lợi cả
nhân và
quả, cả hiện tại và vị lai. Ích lợi này còn được nói đến trong phẩm 12
và rải
rác ở các phẩm khác. Và, như đã nói, đến đây kể như đã lược đủ về đại
nguyện và
đại lực của đức Địa tạng, nên Phật đặt tên cho kinh này, tên ấy biểu thị
đại
nguyện và đại lực đã nói.
Phần Bổ Túc
Phẩm 7: Lợi ích người còn kẻ mất.- Phẩm này bổ túc
cho chi tiết ích lợi kẻ mất: làm cách nào để kẻ mất được ích lợi mà
người còn
cũng được. Trong cách ấy, hại nhất cho kẻ mất, cái hại phải cố mà tránh,
ấy là
sự sát sinh cúng tế.
Phẩm 8: Chúa tôi Diêm la xưng tụng.- Diêm la là
Diêm la thiên tử, cũng gọi là Diêm vương, thuộc loài quỷ, thống lãnh quỉ
chúng
và tổng quản địa ngục. Phẩm này bổ túc những chi tiết sau đây: Thứ nhất,
bổ túc
sự đại tinh tiến, cứu độ không chán mệt của đại nguyện đức Địa tạng. Thứ
hai,
bổ túc uy thần của đức Địa tạng đối với thế giới quỉ -- thế giới rất
mạnh và đa
dạng, mạnh nên gây họa mạnh bao nhiêu thì giúp phước cũng mạnh bấy
nhiêu, khi
có uy thần của đức Địa tạng. Thứ ba, bổ túc ích lợi khi chết, nhất là
lúc sinh.
Trong chi tiết này có vài chi tiết nhỏ: Một, lúc sinh không được sát
sinh tiệc
tùng (phẩm trước mới nói khi chết không được sát sinh cúng tế); còn khi
chết thì
phẩm này nói đến một trong những cái gọi là "cách ấm mê": sự bị mê
hoặc dẫn dụ khi chết. Hai, chúa quỉ Chủ sinh mạng, vị bổ túc chi tiết
thứ ba
này được Phật gọi là một vị đại bồ tát và thọ ký cho: quan trọng biết
bao. Điều
cần phải đặc biệt nói thêm, là kinh này hết sức răn việc sát sinh (để
cúng tế
khi chết và tiệc tùng lúc sinh), coi việc sát sinh cùng loại với tội vô
gián
(chính văn : ... ngoại trừ 5 thứ nghiệp dữ vô gián với nghiệp dữ sát
sinh, còn
những nghiệp dữ tương đối nhỏ hơn...).
Phẩm 9: Xưng tụng danh hiệu chư Phật.- Phẩm này bổ
túc chi tiết nghe hay niệm danh hiệu Phật đà. Điều cần ghi chú, là mục
đích bổ túc,
cũng như lời kết thúc, tuy có vẻ nhấn mạnh giành cho sự chết -- sắp
chết, chết,
sau khi chết; nhưng, những hiệu năng của mỗi hiệu Phật được nói đến lại
không
phải chỉ như vậy. Vậy mới biết, khi sắp chết, cái an ủi người chết, cái
để cho
người chết bám víu là danh hiệu của Phật, nhưng danh hiệu ấy cũng là,
trước hết
đã là, cái cho người sống bám víu, và từ đó thấy rõ cái phước được biết
Phật và
được niệm Phật cần thiết đến mức nào trong đời sống.
Phẩm 10: Trắc lượng công đức bố thí.- Phẩm này bổ
túc nhân tố thánh thiện, đặc biệt còn chỉ cách biến nhân tố ấy từ hữu
lậu thành
vô lậu.
Phẩm 11: Thần đất hộ trì.- Phẩm này bổ túc chi
tiết phụng thờ đức Địa tạng. Cách thức và ích lợi của sự phụng thờ ấy,
phẩm này
nói rõ. Trong phần ích lợi, sự đất đai được màu mỡ (thứ 1) và hay gặp
dịp làm
phước (thứ 10) đã đáng chú ý, nhưng đáng chú ý hơn nữa là ở phẩm này
người nói
về đức Địa tạng là một vị Địa thần: 2 chữ Địa như vậy không phải ngẫu
nhiên mà
trùng hợp.
Phẩm 12: Ích lợi của sự thấy nghe.- Thấy nghe là
thấy hình tượng hay nghe danh hiệu của đức Địa tạng. Ích lợi của sự thấy
nghe như
vậy là bổ túc cho sự ích lợi nhân thiên của đức Địa tạng. Trước khi nói
ích lợi
ấy, Phật phóng ánh sáng đặc biệt, và vị phát khởi là chính đức Quan âm:
như thế
cũng đủ thấy sự ích lợi ấy bất khả tư nghị đến mức nào. Nên sự ích lợi
nhân
thiên chính là sự bất khả tư nghị: siêu việt và khác thường, tư tưởng và
ngôn
ngữ bình thường không thể tư duy và mô tả sự ích lợi ấy, nhất là tư duy
mô tả
theo cách thức bình thường.
Phẩm 13: Thế tôn ký thác.- Chính văn là chúc lụy
nhân thiên: đem nhân loại và chư thiên, và bao chúng sinh tội khổ mà
chúc lụy.
Chúc, hay phó chúc, là giao phó, căn dặn. Lụy là mối lụy, trách nhiệm
nặng nề.
Chúc lụy là căn dặn mà giao phó trách nhiệm nặng nề. Nên tôi đổi ra chữ
ký thác
cho dễ hiểu. Nội dung phẩm này tổng kết sự ích lợi bất khả tư nghị của
đức Địa
tạng, nhưng quan trọng nhất là một lần nữa Phật lại đem chúng ta và
chúng sinh
ký thác cho ngài. Sự ký thác này thật đặc biệt: một là chỉ ký thác cho
ngài,
hai là chỉ kinh này có sự ký thác như vậy. Ngay như kinh Pháp hoa, sự ký
thác ở
đó cũng không như ở đây.
Source: thuvienhoasen