Chánh tông phần
Nguyên văn:
此菩提心,諸善中王,必有因緣,方得發起。今言因緣,略有十種。何等為十?一者念佛重恩故;二者念父母恩故;三者念師長恩故;四者念施主恩故,五者念眾生恩故,六者念生死苦故,七者尊重己靈故,八者懺悔業障故,九者求生淨土故,十者為念正法得久住故。
Âm Hán Việt:
Thử Bồ đề tâm, chư thiện trung vương, tất hữu
nhân duyên, phương đắc phát khởi. Kim ngôn nhân duyên, lược hữu
thập chủng. Hà đẳng vi thập? Nhất giả niệm Phật trọng ân cố, nhị
giả niệm phụ mẫu ân cố, tam giả niệm sư trưởng ân cố, tứ giả
niệm thí chủ ân cố, ngũ giả niệm chúng sanh ân cố, lục giả niệm
sanh tử khổ cố, thất giả tôn trọng kỷ linh cố, bát giả sám hối
nghiệp chướng cố, cửu giả cầu sanh Tịnh độ cố, thập giả vị
niệm chánh pháp đắc cửu trụ cố.
Dịch:
Tâm Bồ đề này là vua trong các pháp lành, phải có
nhân duyên mới phát khởi được. Nhân duyên ấy, nay nói tóm
lược thì có mười thứ là : 1 là nhớ ơn sâu nặng của Ðức
Phật, 2 nhớ ơn cha mẹ, 3 nhớ ơn sư trưởng, 4 nhớ ơn thí chủ, 5
nhớ ơn chúng sanh, 6 nhớ khổ sanh tử, 7 vì tôn trọng linh tánh của
mình, 8 sám hối nghiệp chướng, 9 cầu sanh Tịnh độ, 10 vì mong muốn
làm cho Phật pháp tồn tại lâu dài.
Giảng:
Thử Bồ đề tâm, chư thiện trung vương : Tâm Bồ
đề này, là tâm trí huệ mà mọi người chúng ta đang tìm cầu. Bồ
đề là giác đạo, giác đạo thì trái ngược với không giác
đạo. Chúng ta là chúng sanh thì không giác, nếu giác rồi thì sẽ
phát tâm Bồ đề ; không giác thì sẽ không biết phát tâm Bồ đề.
Tâm Bồ đề này là Vua trong các pháp lành, bất luận chúng ta làm
bất cứ việc lành nào cũng không quan trọng bằng việc phát tâm
Bồ đề. Vậy thì phát tâm Bồ đề, nhất định phải có nhân duyên
mới phát khởi được, cho nên nói tất hữu nhân duyên, phương
đắc phát khởi : nhân là nhân của hột giống, duyên là trợ
duyên giúp đỡ tâm Bồ đề. Nhân là chánh nhân quan trọng, duyên
là trợ duyên giúp đỡ cho chánh nhân này phát triển.
Tại sao cần phải phát tâm Bồ đề ? Kim ngôn nhân
duyên, lược hữu thập chủng : Nay nói nhân duyên ấy có mười
thứ. Hà đẳng vi thập : Mười thứ nhân duyên ấy là gì ?
Nhất giả niệm Phật trọng ân cố : Chúng sanh không
biết ân đức từ bi hỷ xả của Ðức Phật đối với chúng ta, ân
này không thể nào hình dung được, không có ngôn ngữ nào có
thể diễn tả được, vì thế ân này "trọng" nhất, sâu nặng
nhất. Bạn xem, Ðức Phật tu phước huệ trong ba tăng kỳ kiếp, trăm
kiếp vun trồng các tướng tốt, chỉ là muốn cứu độ chúng ta là
những chúng sanh hiện tiền lìa khổ được vui, cho nên trước tự
mình phải lấy thân làm gương tu hành, trải qua các thứ khổ cực
gian nan, đủ thứ cảnh giới không thể nhẫn, khó chịu đựng, cho
nên ân đức của Phật là sâu nặng nhất.
Nhị giả niệm phụ mẫu ân cố : Ân đức của Phật
không dễ đáp đền, chúng ta cần phải phát tâm Bồ đề để đền
đáp ân đức của Phật ; còn cha mẹ đối với chúng ta cũng có
ân đức sâu dày, cha mẹ sanh ta ra, mười tháng mang thai, ba năm bú
mớm, sau đó lại nuôi dưỡng chúng ta lớn lên thành người, đó
cũng là ân trọng không dễ dàng báo đáp.
Tam giả niệm sư trưởng ân cố : Ân đức thứ ba
chính là phải nhớ ơn Sư trưởng. Sư là những bậc Thầy mà chúng
ta theo học pháp, học trí huệ. Thầy từ từ dẫn dắt, dạy dỗ chỉ
bảo chúng ta, ân này chúng ta cũng cần phải báo đáp.
Tứ giả niệm thí chủ ân cố : Thí chủ là những
người hộ pháp ; chúng ta xuất gia tu hành học đạo, thí chủ hộ
pháp hộ trì chúng ta tu hành học đạo, ân này cũng rất nặng. Nếu
chúng ta không phát tâm Bồ đề, thì "tam tâm bất liễu thủy nan
tiêu", nếu không quét sạch ba tâm, thì dù có uống một miếng
nước của thí chủ cúng dường cho, thì cũng không dễ tiêu được,
nên nhân duyên thứ bốn là phải nhớ ân thí chủ.
Ngũ giả niệm chúng sanh ân cố : Chúng sanh đối
với ta cũng đều có ân, tất cả chúng sanh hoặc là có mối quan
hệ tương đương với chúng ta, cho nên chúng ta cũng cần phải báo
ân.
Lục giả niệm sanh tử khổ cố : Thứ sáu là nhớ
khổ sanh tử chúng ta cũng cần phải phát tâm Bồ đề.
Thất giả tôn trọng kỷ linh cố : Tất cả chúng sanh
đều có Phật tánh, đều có thể làm Phật. Chúng ta đã có Phật
tánh thì nên phát tâm Bồ đề, viên mãn thành tựu Phật tánh của
chúng ta, cho nên cần phải tôn trọng giác tánh linh minh vốn có của
mình.
Bát giả sám hối nghiệp chướng cố : Nhân duyên
thứ tám phát Tâm Bồ đề là phải sám hối nghiệp chướng của
mình, khiến cho nghiệp chướng tiêu trừ.
Cửu giả cầu sanh Tịnh độ cố : Cầu sanh thế giới
Tây phương Cực Lạc, được gặp Ðức Phật A Di Ðà.
Thập giả vị niệm chánh pháp đắc cửu trụ cố :
Chúng ta phát tâm Bồ đề tu hành học đạo, lại có thể chân chánh
tu đạo, đó chính là chánh pháp tồn tại lâu dài ; nếu không phát
Tâm Bồ đề tu hành học đạo, thì chánh pháp không thể trụ thế
lâu dài.
Có mười loại nhân duyên như thế, cho nên bất luận
là người nào cũng nên phát tâm Bồ đề, khiến cho tâm Bồ đề
sanh ra. Không nên cho rằng chúng ta tu hay không tu, không có quan hệ gì
đến người khác ; chúng ta cùng với khắp cả thế giới đều có
mối quan hệ lẫn nhau. Cho nên nếu chúng ta phát tâm
Bồ đề, thì Phật pháp sẽ tồn tại lâu dài ở thế gian này ;
không phát tâm Bồ đề thì Phật pháp sẽ mất đi.
I. NIỆM PHẬT TRỌNG ÂN
Nguyên văn:
云何念佛重恩?
謂我釋迦如來最初發心,為我等故,行菩薩道,經無量劫,備受諸苦。我造業時,佛則哀憐,方便教化;而我愚癡,不知信受。我墮地獄,佛復悲痛,欲代我苦;而
我業重,不能救拔。我生人道,佛以方便,令種善根;世世生生,隨逐於我,心無暫捨。佛初出世,我尚沈淪;今得人身,佛已滅度。何罪而生末法?何福而預出
家?何障而不見金身?何幸而躬逢舍利?如是思惟,向使不種善根,何以得聞佛法!不聞佛法,焉知常受佛恩!此恩此德,丘山難喻。自非發廣大心,行菩薩道,建
立佛法,救度眾生,縱使粉骨碎身,豈能酬答?是為發菩提心第一因緣也。
Âm Hán Việt:
Vân hà niệm Phật trọng ân? Vị ngã Thích Ca Như Lai
tối sơ phát tâm, vị ngã đẳng cố, hành Bồ Tát đạo, kinh vô
lượng kiếp, bị thọ chư khổ. Ngã tạo nghiệp thời, Phật tắc ai
lân, phương tiện giáo hóa, nhi ngã ngu si, bất tri tín thọ. Ngã đọa
địa ngục, Phật phục bi thống, dục đại ngã khổ, nhi ngã nghiệp
trọng, bất năng cứu bạt. Ngã sanh nhân đạo, Phật dĩ phương tiện,
linh chủng thiện căn. Thế thế sanh sanh, tùy trục ư ngã, tâm vô tạm
xả. Phật sơ xuất thế, ngã thượng trầm luân, kim đắc nhân thân,
Phật dĩ diệt độ. Hà tội nhi sanh mạt pháp? Hà phước nhi dự xuất
gia? Hà chướng nhi bất kiến kim thân? Hà hạnh nhi cung phùng Xá
lợi? Như thị tư duy, hướng sử bất chủng thiện căn, hà dĩ đắc
văn Phật pháp! Bất văn Phật pháp, yên tri thường thọ Phật ân!
Thử ân thử đức, khâu sơn nan dụ! Tự phi phát quảng đại tâm,
hành Bồ Tát đạo, kiến lập Phật pháp, cứu độ chúng sanh, túng
sử phấn cốt toái thân, khởi năng thù đáp! Thị vi phát Bồ đề
tâm đệ nhất nhân duyên dã.
Dịch:
Thế nào là nhớ ơn nặng của Phật? Ðức Phật Thích
Ca Như Lai của ta, lúc mới phát tâm, đã vì chúng ta mà tu Bồ tát
đạo, trải qua vô lượng kiếp chịu đủ các thứ khổ cực. Khi ta
tạo nghiệp, Ðức Phật xót thương, phương tiện giáo hóa, mà ta ngu
si, không chịu tin theo. Ta đọa địa ngục, Phật càng thương xót, muốn
thay ta chịu lấy khổ sở, nhưng vì nghiệp ta quá nặng, không thể cứu
vớt. Ta sinh làm người, Phật dùng phương tiện khiến cho ta gieo trồng
căn lành.
Ðời đời kiếp kiếp, Phật luôn theo ta, lòng không
tạm bỏ chốc lát. Khi Phật xuất thế ta còn trầm luân, nay được
thân người Phật đã diệt độ. Tội lỗi gì mà sinh vào thời mạt
pháp, phước đức nào lại được dự vào hàng ngũ xuất gia,
nghiệp chướng gì mà không thấy được thân vàng của Phật, may
mắn nào lại được cung nghinh xá lợi của Ngài. Suy nghĩ như vậy
mới thấy, nếu đời quá khứ không gieo trồng căn lành thì làm sao
được nghe Phật pháp, không nghe Phật pháp thì làm sao được biết
thường thọ ân đức của Phật. Ân đức này, núi non cũng khó
sánh bằng. Nếu không phát tâm quảng đại, hành Bồ tát đạo, xây
dựng hộ trì Phật pháp, cứu độ chúng sanh, thì dù cho tan xương
nát thịt cũng không thể đền đáp được. Ðó là nhân duyên thứ
nhất của sự phát Tâm Bồ đề.
Giảng:
Vân hà niệm Phật trọng ân? Nhân duyên thứ
nhất, ở trên đã nói sơ lược về ý nghĩa nhớ ơn sâu nặng của
Phật. Sao gọi là nhớ ơn sâu nặng của Phật ? Dưới đây sẽ trình
bày rõ ràng. Vị ngã Thích Ca Như Lai tối sơ phát tâm, vị ngã
đẳng cố, hành Bồ Tát đạo : Vị là nói, là những điều
được nói. Nói cái chi ? Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni của chúng ta,
nguyên nhân ban đầu phát Tâm Bồ đề là gì ? Chính là muốn cứu
độ chúng ta là những chúng sanh hiện đời, Ngài mới hành Bồ
tát đạo ; hành Bồ tát đạo chính là muốn lợi người, đời
đời kiếp kiếp đều vì làm lợi ích cho người. Kinh vô lượng
kiếp, bị thọ chư khổ : trải qua thời gian dài đăng đẳng vô
lượng kiếp, nhiều kiếp đếm khôn xiết, trong thời
gian ba tăng kỳ kiếp tu phước tu huệ, chịu đựng các thứ khổ cực
đắng cay.
Ngã tạo nghiệp thời : khi chúng ta tạo nghiệp, Phật
tắc ai lân, phương tiện giáo hóa : Ðức Phật thương xót chúng
ta, cho nên Phật muốn thay chúng sanh chịu khổ, Phật muốn đem cái khổ
của chúng sanh làm cái khổ của mình. Ðối với nghiệp mà chúng ta
đã tạo, Phật đều thương xót tha thứ cho chúng ta, Ngài dùng các
thứ phương tiện quyền xảo, thí dụ thuyết minh để giáo hóa chúng
ta, khiến chúng ta sửa ác làm lành, sửa lỗi làm mới cuộc đời,
phát Tâm Bồ đề. Nhi ngã ngu si, bất tri tín thọ : Phật từ bi
đối với chúng ta như thế, mà chúng ta quá ngu si, rất dại khờ,
không hiểu rõ ân đức của Phật đối với chúng ta, vì thế không
tiếp nhận sự giáo hóa của Ngài.
Ngã đọa địa ngục : Khi ta mới đọa địa ngục, Phật
phục bi thống, dục đại ngã khổ : Phật nhìn thấy chúng sanh đọa
địa ngục, đau khổ bi thương giống như chính mình đọa địa ngục vậy ;
cho nên Phật nguyện xuống địa ngục để thay chúng ta chịu khổ. Nhi
ngã nghiệp trọng, bất năng cứu bạt : Nhưng vì nghiệp chướng
của chúng ta quá nặng nề, thậm chí ngay cả Ðức Phật cũng không
cách nào cứu vớt.
Ngã sanh nhân đạo : Ðức Phật dùng đủ cách
cứu chúng ta ra khỏi địa ngục, chúng ta nay lại được sanh vào cõi
người. Phật dĩ phương tiện, linh chủng thiện căn : Bấy giờ
Phật lại dùng đủ thứ pháp môn phương tiện quyền xảo dạy chúng
ta gieo trồng thiện căn. Thế thế sanh sanh, tùy trục ư ngã, tâm vô
tạm xả : trong kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát vì giáo hóa một chúng sanh,
chúng sanh đọa vào địa ngục, Bồ tát cũng theo đó mà vào địa
ngục ; chúng sanh vào cõi súc sanh, Bồ tát cũng theo đó mà làm
súc sanh, chúng sanh chuyển vào đường ngạ quỷ, Bồ tát cũng theo
đó mà làm ngạ quỷ, ảnh hưởng Bồ tát phát Tâm Bồ đề, ảnh
hưởng Bồ tát tu hành ; chúng sanh làm người, Bồ tát cũng theo
chúng sanh làm người. Cứ như thế đi theo chúng sanh mà chịu khổ,
theo chúng ta, trong tâm một giờ một khắc cũng không bỏ chúng ta.
Phật sơ xuất thế, ngã thượng trầm luân : Ðức
Phật Thích Ca Mâu Ni khi mới xuất thế, ta còn trầm luân ở địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Thượng có nghĩa là vẫn còn. Kim đắc
nhân thân, Phật dĩ diệt độ : Nay ta nương nhờ oai đức của
Phật được làm người, thì Phật đã vào Niết bàn.
Hà tội nhi sanh mạt pháp? Chúng ta nhất định có
tội rất lớn, nên mới sanh vào thời mạt pháp ; nếu không phải
tội lỗi lớn như thế, thì chúng ta lẽ ra đã được gặp Phật nghe
pháp. Hà phước nhi dự xuất gia? Nhưng nay chúng ta lại được
xuất gia – Bài "Văn phát Tâm Bồ đề" này là nói cho
người xuất gia, cho nên chúng ta cũng rất là có phước. Tuy có
tội nhưng cũng là có phước ; vì có phước, nên hôm nay chúng ta
mới được xuất gia.
Hà chướng nhi bất kiến kim thân? Chúng ta nay nay
có nghiệp chướng gì mà không nhìn thấy thân vàng của Phật ? Hà
hạnh nhi cung phùng Xá lợi? Chúng ta lại có may mắn nào, ở trong
thời mạt pháp này lại có thể nhìn thấy Xá lợi của Phật.
Như thị tư duy, hướng sử bất chủng thiện căn, hà
dĩ đắc văn Phật pháp! Hướng là xưa kia. Có sự suy nghĩ như
thế này, nếu như xưa kia, trong kiếp quá khứ không gieo trồng căn
lành, ngày nay chúng ta nhất định không thể nghe được Phật pháp.
Bất văn Phật pháp, yên tri thường thọ Phật ân!
Nếu chúng ta không nghe được Phật pháp, không hiểu được Phật
pháp, thì chúng ta cũng không biết được ân đức lớn lao của
Phật đối với chúng ta. Thử ân thử đức, khâu sơn nan dụ!
Ðức lớn ân sâu của Phật đối với chúng ta, núi cao cũng không
thể sánh nổi ; biển cả cũng không sâu rộng bằng.
Tự phi phát quảng đại tâm, hành Bồ Tát đạo :
Vì ân đức của Phật đối với ta lớn lao như thế, nếu chúng ta
không phát tâm quảng đại, hành Bồ tát đạo, kiến lập Phật
pháp, cứu độ chúng sanh : kiến lập Phật pháp, cứu độ chúng
sanh. Túng sử phấn cốt toái thân, khởi năng thù đáp! Nếu
không hoằng dương Phật pháp, không xây dựng Phật pháp, không hộ
trì Phật pháp, thì dù có tan xương nát thịt cũng không đền đáp
được ân đức của Phật.
Thị vi phát Bồ đề tâm đệ nhất nhân duyên dã :
Vì thế nhân duyên thứ nhất trong mười nhân duyên chính là nhớ
ân sâu của Ðức Phật mà cần phải phát Tâm Bồ đề.