Bồ-Tát Giới
Hòa Thượng Thích Trí Quang dịch giải
---o0o---
Bồ tát giới Phạm võng phải được gọi
là Đại thừa giới. Đại thừa giới là bản nguyên của chúng sinh, là
Phật tánh đầy phẩm chất Phật. Đại thừa giới xác nhận thân là
thân chúng sinh, tâm là tâm chúng sinh, nhưng thân ấy tâm ấy đều
nhập cả vào giới pháp Phật tánh: đều đem ra mà thọ và trì Đại
thừa giới. Đại thừa giới căn cứ quan điểm hiếu thuận: hiếu thuận
với tất cả chính là giữ giới. Đại thừa giới lại xác định là cái
Phật đi, cái Phật làm, nên thọ giới ấy là nhập vào cương vị của
Phật.
Căn bản của Đại thừa giới là gì?
Một là tự tín mình sẽ là Phật, như Phật là Phật đã thành. Hai là
tôn thờ vị thầy gọi là pháp sư đại thừa (để được dạy cho Đại
thừa giới, truyền cho giới ấy, hướng dẫn, khuyến tiến và giám hộ
sự giữ giới ấy).
Đại thừa giới đã tạo ra bao nhiêu
tập tục tốt đẹp: hiếu thuận, phóng sinh, nuôi bịnh, chữa bịnh...
Đại thừa giới đặc biệt nghiêm khắc
răn dạy sự trung thành với Phật pháp tăng: cấm xu phụ quyền thế,
cấm phỉ báng đồng đạo, cấm thuyết pháp hại đạo, cấm không cứu
chuộc đồng đạo, cấm nạp tăng tịch cho chính quyền, cấm mặc cho
đồng đạo bị chính quyền sai sử... Đại thừa giới lại cấm trở ngại
sự xuất gia hành đạo, sự kiến thiết tự viện, sư tạo lập đạo
tràng... Đặc biệt hơn nữa, Đại thừa giới cấm hại nước hại dân:
làm gián điệp, nhất là gián điệp ngoại giao... Chỉ có thế mà
thôi, Đại thừa giới cũng đã là 1 vị Hộ pháp.
Mục Lục
I. Phần I: Dịch Giải
A.
Chương 1: Dẫn Nhập
1. Tiết 1: Tài Liệu Sử Dụng
2. Tiết 2: Các Bản Bồ tát Giới
3. Tiết 3: Giải Thích Đầu Đề
4. Tiết 4: Phẩm 10 Với Phẩm Pháp
Môn Tâm Địa
5. Tiết 5: Thế Giới Phạm võng
6. Tiết 6: Sự Liên Hệ Của Phạm võng
7. Tiết 7: Giới Hạn Tụng Bồ tát
Giới Phạm võng
8. Tiết 8: Đặc Chất Của Bồ tát Giới
Phạm võng
9. Tiết 9: Bồ tát Giới Phạm võng
Đối Với Người Tại Gia
B. Chương 2: Dịch Giải Nghi Thức Tụng Bồ tát Giới Phạm võng
1. Tiết 1: Qui Kính Khuyến Khích
2. Tiết 2: Sách Tiến Tu Tập
3. Tiết 3: Làm Phương Tiện Trước
4. Tiết 4: Lời Tựa Mở Đầu
5. Tiết 5: Chất Vấn Thanh Tịnh
C. Chương 3: Dịch Giải Chính Văn Bồ tát Giới Phạm võng
1. Tiết 1: Mở Đầu Về Bồ tát Giới
Phạm võng
2. Tiết 2: Nói Về Giới Điều Bồ tát
Giới Phạm võng
3. Tiết 3: Kết Thúc Và Khuyến Cáo
Thọ Trì Bồ tát Giới Phạm võng
II. Phần 2: Trì Tụng
A. Chương 1: Phụ Lục Nghi Thức Tụng
Bồ tát Giới Phạm võng
B. Chương 2: Chính Văn Bồ tát Giới
Phạm võng
1. Xuất Xứ Gián Tiếp Của Bồ tát
Giới Phạm võng
2. Xuất Xứ Trực Tiếp Của Bồ tát
Giới Phạm võng
3. Xuất Xứ Của Bồ tát Giới Phạm
võng Bằng Văn Chỉnh Cú
4. Qui Định Mấy Điều Cốt Yếu Về Bồ
tát Giới Phạm võng
5. 10 Giới Nặng Của Bồ tát Giới
Phạm võng
6. 48 Giới Nhẹ Của Bồ tát Giới Phạm
võng
7. Kết Thúc Về Phần Bồ tát Giới
Phần Giới Pháp Vô Tận
8. Kết Thúc Toàn Bộ Phẩm Bồ tát Tâm
Địa Giới Phẩm Pháp Môn Tâm Địa
9. Phụ Lục Kết Thúc Bồ tát Giới
Bằng Văn Chỉnh Cú
III. Phần 3: Phụ Lục
A. Phụ Lục 1: Danh Sách Bồ tát Giới
Phạm võng
B. Phụ Lục 2: Phân Loại Bồ tát Giới
Phạm võng Đối Với Xuất Gia Tại Gia
Ghi Sau Khi
Duyệt Bồ tát Giới Phạm võng
Thành thực mà nói, tôi chưa có được
niềm tin rằng mỗi khi có thể bị tai nạn gì thì nên tụng Bồ tát
giới Phạm võng, nhưng có một điều rõ rệt là mỗi khi làm gì cho
giới ấy thì đang bịnh cũng thư thái thấy rõ. Từ trước đến nay đã
có 5 lần như vậy.
Tôi tự ghi tiểu truyện để sau Bồ
tát giới Phạm võng là cố ý. Khi được bổn sư là ngài Phổ Minh
truyền cho giới ấy, thì từ đó đến nay thật sự tôi chưa có một
nỗi xúc động nào tương tự. Thế rồi gần 50 năm nay, tôi có gì
đáng gọi là làm, là biểu diện của cái nỗi xúc động ấy. Và lời
ghi này chính là lòng biết ơn của tôi.
Bồ tát giới Phạm võng phải được gọi
là Đại thừa giới. Đại thừa giới là bản nguyên của chúng sinh, là
Phật tánh đầy phẩm chất Phật. Đại thừa giới xác nhận thân là
thân chúng sinh, tâm là tâm chúng sinh, nhưng thân ấy tâm ấy đều
nhập cả vào giới pháp Phật tánh: đều đem ra mà thọ và trì Đại
thừa giới. Đại thừa giới căn cứ quan điểm hiếu thuận: hiếu thuận
với tất cả chính là giữ giới. Đại thừa giới lại xác định là cái
Phật đi, cái Phật làm, nên thọ giới ấy là nhập vào cương vị của
Phật.
Căn bản của Đại thừa giới là gì?
Một là tự tín mình sẽ là Phật, như Phật là Phật đã thành. Hai là
tôn thờ vị thầy gọi là pháp sư đại thừa (để được dạy cho Đại
thừa giới, truyền cho giới ấy, hướng dẫn, khuyến tiến và giám hộ
sự giữ giới ấy).
Đại thừa giới đã tạo ra bao nhiêu
tập tục tốt đẹp: hiếu thuận, phóng sinh, nuôi bịnh, chữa bịnh...
Đại thừa giới đặc biệt nghiêm khắc
răn dạy sự trung thành với Phật pháp tăng: cấm xu phụ quyền thế,
cấm phỉ báng đồng đạo, cấm thuyết pháp hại đạo, cấm không cứu
chuộc đồng đạo, cấm nạp tăng tịch cho chính quyền, cấm mặc cho
đồng đạo bị chính quyền sai sử... Đại thừa giới lại cấm trở ngại
sự xuất gia hành đạo, sự kiến thiết tự viện, sư tạo lập đạo
tràng... Đặc biệt hơn nữa, Đại thừa giới cấm hại nước hại dân:
làm gián điệp, nhất là gián điệp ngoại giao... Chỉ có thế mà
thôi, Đại thừa giới cũng đã là 1 vị Hộ pháp.
Mười sáu tháng tư, 2537
Trí Quang
Lời Nói Đầu
Bồ tát giới Phạm võng tôi đã dịch
giải năm 2.505 (1961), do Giáo hội Tăng già Thừa thiên ấn hành.
Nay sửa chữa lại, cẩn trọng hơn nhiều lắm. Làm xong việc ấy rồi,
tôi xin ghi ở đây, ghi đầu tiên để thấy quan trọng, về 2 điều
trong sự kính giữ Bồ tát giới Phạm võng.
Một là khi gặp nghịch cảnh thì nên
nghĩ đến Phật, tưởng nhớ đến ngài. Điều này Pháp Hoa (phẩm 13)
và Ưu bà tắc (Chính 24/1051) đều nói đến.
Hai là riêng người tại gia còn phải
học việc đời (nghề nghiệp) cho tinh thông rồi kiếm của một cách
hợp với Phật pháp. Ưu bà tắc dạy rõ như vậy (Chính 24/1048).
Rằm tháng 3, 2531 (1987)
Trí Quang
Chương I: Dẫn Nhập
Tiết 1: Tài Liệu Sử Dụng
Năm 2505 (1961), tôi dịch giải Bồ
tát giới Phạm võng chỉ có 6 tài liệu để sử dụng, và sử dụng
nhiều nhất là bản chú thích của ngài Hoằng Tán (Vạn 60/387 462).
Nay thì tài liệu khá nhiều, và tất cả đều nằm trong Đại tạng
kinh bản Đại chính tân tu (ký hiệu là Chính) và Tục tạng kinh
bản chữ Vạn (ký hiệu là Vạn). Về chính văn, vẫn lấy Chính
24/1003 1010 làm căn bản; phụ vào là bản khắc in riêng của Phật
giáo Bắc, mang tên Bồ tát giới kinh, bản này nay được tụng theo
nếu tụng nguyên Hoa văn. Nhưng xin nói rõ rằng chính văn Bồ tát
giới Phạm võng không phải chép như nhau. Đối chiếu thấy các bản
tương đối xưa và bảo đảm hơn thì chép như nhau, trong đó có
Chính 24/1003 1010, khác với các bản tương đối nay, trong đó có
bản Bồ tát giới kinh vừa nói. Sự lựa chọn tất nhiên nghiêng về
các bản xưa và bảo đảm hơn, nhưng không phải hoàn toàn theo các
bản ấy, mà là chọn cách chép nào xét có lý hơn. Rất may sự khác
nhau không nhiều lắm, cũng không quan trọng bao nhiêu, và tôi sẽ
ghi rõ những chỗ cần thiết trong khi dịch giải. Còn tài liệu
tham khảo thì quan trọng nhất là toàn văn Phạm võng (Chính
24/997 1010) và kinh Anh lạc (Chính 24/1010 1023), kế đó là 19
bản chú thích về Phạm võng: 17 bản nằm trong Vạn 59/192 đến Vạn
61/182; 1 bản nằm trong Vạn 95/1; 1 bản nằm trong Vạn 107/196,
bản này là nghi thức sám hối về Bồ tát giới Phạm võng; 1 bản nằm
trong Chính 62/4 262, tác phẩm của Nhật, tổng hợp rất đáng khen
về các chú giải Bồ tát giới Phạm võng. Tài liệu tham khảo tuy
nhiều như vậy, nhưng khi sử dụng thì cố đơn giản càng nhiều càng
tốt.
Tiết 2: Các Bản Bồ tát Giới
Bồ tát giới có 4 bản. Bản 1 là của
kinh Phạm võng, do ngài La Thập dịch. Bản 2 và 3 đều của luận Du
Dà, nhưng do ngài Đàm Vô Sấm và ngài Huyền Trang dịch khác nhau.
Bản 4 là của Ưu bà tắc giới kinh, cũng do ngài Đàm Vô Sấm dịch.
Bản 1 phổ cập nhất. Các bản 2 và 3 ít phổ cập nhưng khá đặc biệt
và vẫn có người thọ trì. Bản 4 không phổ cập.
Tiết 3: Giải Thích Đầu Đề
Dịch chủ La Thập chỉ dịch phẩm thứ
10 của kinh Phạm võng. Nay gọi là kinh Phạm võng chỉ là phẩm ấy.
Phẩm ấy có cái tên mà chép đầy đủ thì như sau: Phật thuyết Phạm
võng kinh, Lô Xá Na Phật thuyết Bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập:
phẩm Tâm địa giới Bồ tát của đức Lô Xá Na nói, phẩm thứ 10 của
kinh Phạm võng do đức Thích Ca tuyên thuyết.
Phạm võng là tràng lưới của Đại
phạn thiên vương. Tràng lưới ấy các mắt kết ngọc, khác nhau mà
ảnh hiện lẫn nhau, trùng trùng điệp điệp. Nhìn tràng lưới như
vậy, Phật nói mọi thế giới cũng vậy, các pháp môn cũng vậy, vô
cùng vô tận. Thích Ca là đức Phật bổn sư của chúng ta. Lô Xá Na
nghĩa là chiếu soi khắp cả, danh hiệu của bản thân đức Thích Ca.
Tâm địa giới Bồ tát là 30 tâm, 10 địa và 58 giới của Bồ tát tu
tập thọ trì, và toàn là những pháp môn y như mắt lưới của tràng
lưới Đại phạn thiên vương. Nội dung phẩm Tâm địa giới Bồ tát ấy
có 2 phần thành 2 cuốn: cuốn trên là Bồ tát tâm địa (còn có tên
là phẩm Pháp môn tâm địa) do đức Thích Ca nói bằng cách đưa
thính chúng đến đức Lô Xá Na, hỏi để đức Lô Xá Na nói; cuốn dưới
là Bồ tát giới (còn có tên là phần Giới pháp vô tận) do đức
Thích Ca tụng lại giới pháp mà đức Lô Xá Na đã tụng khi nói về
Bồ tát tâm địa. Như vậy là gián tiếp do đức Thích Ca tuyên
thuyết cả.
Tiết 4: Phẩm 10 Với Phẩm Pháp Môn
Tâm Địa
Trong chính văn, tên gọi phẩm 10 là
Pháp môn tâm địa. Pháp môn tâm địa là 40 pháp môn, tức 30 tâm và
10 địa (cuốn trên, Chính 24/998). Nhưng sau 30 tâm và 10 địa,
phẩm Pháp môn tâm địa còn có 10 giới nặng và 48 giới nhẹ, nghĩa
là còn có phần Giới pháp vô tận (cuốn dưới, Chính 24/1009), vì
đó "là giới pháp duy nhất mà đức bản thân Lô Xá Na của ta đã nói
trong phẩm Pháp môn tâm địa của ngài, giới pháp mà từ khi mới
phát tâm ngài vẫn thường tụng" (Chính 24/1003), là giới pháp mà
"nay ta cứ nửa tháng nửa tháng tụng lại... Các người, những vị
Bồ tát mới phát tâm cho đến những vị Bồ tát 10 phát thú 10
trưởng dưỡng 10 kim cang và 10 địa, cũng phải tụng y như vậy" (Chính
24/1004).
Liên quan điều này, rất nên nhìn
sang kinh Anh lạc. Kinh ấy, sau khi nói về Bồ tát vị (Bồ tát tâm
địa) cũng nói về Bồ tát giới. Trong Bồ tát giới, mỗi giới pháp
vô tận (giới nặng) đều nói nếu phạm thì không còn là Bồ tát, mất
hết 42 pháp hiền thánh (Bồ tát vị) (Chính 24/1020). Như vậy có
nghĩa minh bạch nói Bồ tát giới là căn bản từ đầu đến cuối của
Bồ tát vị. Điều này phụ cho Phạm võng khá nhiều: không những
chứng minh sau Bồ tát vị nói Bồ tát giới mà còn giải thích vì
sao.
Tiết 5: Thế Giới Phạm võng
Thắng ứng thân của Phật tên Lô Xá
Na, hóa chủ Hoa tạng thế giới, tượng trưng bằng 1 hoa sen. Hoa
tạng thế giới ấy có 1000 đại thiên thế giới, như hoa sen có 1000
cánh; hóa chủ 1000 đại thiên thế giới này là 1000 đức Thích Ca
liệt thắng ứng thân, do thắng ứng thân của Phật hóa ra. Mỗi đại
thiên thế giới có trăm ức tiểu thế giới, thành 1000 lần trăm ức
tiểu thế giới; và hóa chủ là 1000 lần trăm ức đức Thích Ca liệt
ứng thân, do 1000 liệt thắng ứng thân của Phật hóa ra. Đức Thích
Ca bổn sư của chúng ta là 1 trong số 1000 lần trăm ức này. Và ức
đây là ngàn vạn, trăm ức là 1 tỷ: là số lượng của đại thiên thế
giới. Kinh Phạm võng, trong đó quan trọng và tổng kết là phẩm
10, phẩm Pháp môn tâm địa, được Phật nói với Phật và Phật nói
cho chúng sinh, khắp trong thế giới Phạm võng như vậy.
Điều nên nói liền ở đây, là nói về
thân Phật và cõi Phật như vậy, chỉ là nói thân và cõi của đức
Thích Ca, chưa phải đã nói tất cả thân và cõi của chư Phật. Ngay
thân và cõi của đức Thích Ca mà nói như vậy cũng chưa đủ: trên
chưa thấu tự thọ dụng thân độ, dưới chưa gồm Phật hiện thân từ
Bồ tát đến địa ngục, lại càng chưa gồm Phật hiện thân làm cảnh
vật. Lại nữa, đây chỉ là nói thân và cõi Phật theo số lượng. Mà
Phật thì siêu việt số lượng. Ngay đức Thích Ca bổn sư và cõi
Phật của ngài mà thôi, ta thấy là liệt ứng thân, là tiểu thế
giới nhỏ và bẩn, nhưng đối với Bồ tát đại căn thì là thắng ứng
thân độ (tha thọ dụng thân độ): thân là vi trần tướng hải thân,
độ là hoa tạng thế giới hải. Thế giới Phạm võng là như vậy.
Tiết 6: Sự Liên Hệ Của Phạm võng
Liên hệ sát và quan trọng nhất là
với kinh Anh lạc, tài liệu mà tôi đã kê và đã nói đến phần nào
trong tiết 1. Kế đó, Phạm võng là đồng bộ với Hoa nghiêm (Vạn
60/300B). Sau hết, bóng dáng kinh Phạn động (hay Phạm võng) của
Trường a hàm cũng có đối với kinh Phạm võng ở đây. Chỉ khác là ở
kia nói giới không bằng tuệ, khen Phật qua giới pháp không bằng
hiểu Phật qua tuệ giác siêu việt 62 kiến chấp; ở đây trái lại,
nói thật tướng bát nhã là căn bản của giới pháp và do giới pháp
thể hiện. Nhưng sự liên hệ này chỉ do tôi đề cập. Một sự liên hệ
khác cũng do tôi nghĩ, ấy là giới pháp Phạm võng rất gần với
giới pháp Tỳ kheo; riêng sự ái hộ Tam bảo và Tăng bảo ái hộ lẫn
nhau thì giới pháp Phạm võng nói rõ ràng, thực tế và thiết tha
hơn. Do vậy mà giới pháp Phạm võng đặc biệt răn sự phản bội Phật
pháp, chạy theo bạo quyền mà hại đạo và đồng đạo.
Tiết 7: Giới Hạn Tụng Bồ tát Giới
Phạm võng
Bồ tát giới Phạm võng xưa chỉ bắt
đầu từ văn chỉnh cú. Còn kết thúc thì có bản chỉ đến cây hỷ dược
thọ trì (hoan hỷ và phấn chấn mà thọ trì), có bản hết trọn cuốn
dưới. Có người phân khoa giải thích Phạm võng, mở đầu phần Bồ
tát giới từ câu Nhĩ thời Thích Ca Mâu Ni Phật tùng sơ hiện Liên
hoa đài tạng thế giới (Bấy giờ đức Thích Ca Mâu Ni từ Hoa tạng
thế giới mà khởi đầu ngài đã hiện ra ở đó). Lấy trọn từ đầu đến
cuối cuốn dưới thì chỉ có một ít nhà chú thích Phạm võng và Bồ
tát giới kinh được tụng hiện nay. Nay bản dịch này cũng làm như
vậy. Dẫu rằng xét ra lấy từ văn chỉnh cú và kết thúc ở câu hỷ
dược thọ trì thì gọn và xác hơn.
Đó là nói về chính văn. Còn nghi
thức mở đầu tụng Bồ tát giới thì cũng chỉ Bồ tát giới kinh sau
này mới có. Ngài Hoằng tán có chú thích nghi thức ấy (Vạn 60/457
461), nhưng cũng nói không biết do ai soạn, chỉ "xét tìm thì
thấy phần nhiều trích ra từ Bồ tát giới bản kinh (của luận Du dà,
do ngài Đàm Vô Sấm dịch) và giới bản của Hữu bộ". Nói tổng quát,
nghi thức mở đầu ấy biến thể nghi thức tụng giới Tỳ kheo, nên
biến thể thế nào cũng có bất ổn. Nhưng mở đầu Bồ tát giới Phạm
võng thì không có lời lẽ mở đầu nào quan trọng và đặc biệt cho
bằng trong chính văn đã tự có. Do đó, thiết nghĩ nghi thức mở
đầu dùng cũng được, không cũng không thiếu sót gì, lại tránh
được những sự miễn cưỡng và bất ổn. Trường hợp không dùng nghi
thức mở đầu thì tụng bài kệ khai kinh rồi đi ngay vào chính văn
là được.
Tiết 8: Đặc Chất Của Bồ tát Giới
Phạm võng
Ở đây tôi bỏ hết mọi sự đặc biệt
của Bồ tát giới Phạm võng mà tôi đã nói đến trong bản in năm
2505, chỉ nói lại 1 chi tiết mà thôi. Ấy là tính chất ái hộ Tam
bảo, trong đó có sự ái hộ lẫn nhau của Tăng bảo. Ái hộ trước bạo
lực và quyền lực đã đành, lại còn ái hộ trong đời sống và trong
quyền lợi, nhất là ái hộ trong sự đối xử, ái hộ bằng cách không
phản bội Phật pháp, chạy theo bạo quyền mà hại đạo và đồng đạo,
thì Bồ tát giới Phạm võng đã biến mọi lời khuyên thành những
điều luật, nhưng là điều luật đầy đạo tình và chính hướng giải
thoát. Chỉ có đặc chất này mới giữ được đạo tình trong Tăng bảo,
nhất là trong những lúc đạo tình ấy bạo lực và quyền lực không
muốn có. Cảm khái nhất khi tụng Bồ tát giới Phạm võng là điều
này đây.
Tiết 9: Bồ tát Giới Phạm võng Đối
Với Người Tại Gia
Trong tiết 6 đã nói Bồ tát giới
Phạm võng rất gần Tỳ kheo giới, vậy tại sao cho người tại gia
thọ trì, mà lại cho khá rộng rãi như đã nói trong chính văn qui
định điều kiện lãnh thọ? Vấn đề chưa thấy ở đâu nêu lên và giải
thích. Nay xét thẳng chính văn thì thấy Bồ tát giới Phạm võng
tuy phần nhiều nói cho xuất gia, nhưng có những giới nói chung
cho cả tại gia xuất gia, có những giới nói chung mà tại gia
nhiều hơn, có những giới chỉ nói cho tại gia (như giới 1 và giới
47 trong 48 giới nhẹ). Chính ở 2 giới nói cho tại gia này, cùng
tất cả giới khác riêng cho xuất gia hay chung cho cả xuất gia
tại gia, đều biểu thị rõ rệt sự duy trì Phật pháp. Giả sử chỉ có
người xuất gia thọ trì Bồ tát giới Phạm võng để thực hiện sự duy
trì ấy, còn người tại gia không thọ trì Bồ tát giới Phạm võng,
nghĩa là không duy trì Phật pháp, thì sự xuất gia đã bị họ
chướng ngại rồi, còn đâu để thực hiện được sự duy trì ấy! Nên,
chính trong sự duy trì Phật pháp mà không những thấy người tại
gia phải thọ trì Bồ tát giới Phạm võng, lại còn ngạc nhiên thấy
sao Phật biết trước đến như vậy.
Chương 2: Dịch Giải Nghi Thức Tụng Bồ tát Giới Phạm võng
Trước khi tụng, vị tụng giới lạy và
quì mà thưa: Con là Tỳ kheo XX, kính bạch Đại đức tăng, Đại đức
tăng bảo con tụng giới, nhưng con e có sự lầm lẫn trong khi tụng,
vậy kính xin Đại đức tăng từ bi chỉ bảo cho con.
Đây là lời tác bạch trước khi đi
vào nghi thức, và là lời của vị Tăng sai tụng giới. Nếu tụng
giới là vị thượng tọa trong buổi bố tát thì không cần tác bạch
lời này. Điều kiện của sự tụng giới là tụng rõ ràng, và tụng ở
đây là đọc một cách trang trọng, chứ không phải tụng như tụng
kinh. Tụng rõ ràng là âm thanh rõ ràng, âm điệu đúng với mạch
lạc giới văn.
Nghi thức tụng Bồ tát giới có 5
tiết.
Tiết 1: Qui Kính Khuyến Khích
Chúng Bồ tát giới lắng nghe!
Qui y kính lạy
đức Lô Xá Na,
và Kim cang Phật
khắp cả mười phương;
lại lạy phân thân
đức Lô Xá Na
là ngàn trăm ức
các đức Thích Ca.
Nay tôi kính tụng
về Bồ tát giới
mà đại cương là
ba loại tịnh giới;
chúng Bồ tát giới
hãy cùng lắng nghe!
Giới như ngọn đèn
đã sáng lại lớn,
có thể xua tan
bóng tối đêm dài;
giới như đài gương
trong sáng quí báu,
hiện rõ các pháp
đủ cả không sót;
giới lại y như
ngọc báu ma ni,
tuôn ra của cải
giúp kẻ khốn cùng.
Siêu thoát thế gian,
chóng thành Phật đà,
làm được như vậy
giới này hơn cả!
Vì lý do ấy
chúng Bồ tát giới
cần phải nỗ lực
kính cẩn mà giữ!
Đoạn chỉnh cú này lấy của Bồ tát
giới Du dà, do ngài Đàm Vô Sấm dịch, nội dung kính Phật kính
Giới và khuyến khích kiên trì. Kim cang Phật là các vị sau kim
cang đạo thì phá dị thục thức, chứng bất hoại tánh, tức các vị
viên mãn báo thân như đức Lô Xá Na. Các câu 5 - 8 là đổi cho
đúng trường hợp Bồ tát giới Phạm võng. Trong đó câu là ngàn trăm
ức có nghĩa một ngàn và một ngàn lần trăm ức. Nếu không đổi mà
theo chính văn, thì phải dịch "lại xin kính lạy luận chủ Du dà,
là Phật đương lai Từ thị Thế Tôn". Ba loại tịnh giới là "kết mọi
giới pháp lại làm 3 môn: nhiếp thiện pháp giới là tám vạn bốn
ngàn pháp môn; nhiếp chúng sinh giới là từ bi hỷ xả phổ cập
chúng sinh, làm cho tất cả đều được an lạc; nhiếp luật nghi giới
là mười giới pháp nặng làm chính yếu" (Anh lạc, Chính 24/1020).
Tiết 2: Sách Tiến Tu Tập
Chư
đại đức, hôm nay bốn tháng của mùa xuân đã qua mất nửa tháng mà
chỉ thiếu một đêm, còn lại chỉ thừa một đêm và ba tháng rưỡi.
Già bịnh đã gần, Phật pháp sắp ẩn. Chư
đại đức, và ưu bà tắc ưu bà di, muốn được đạo quả, các vị phải
nhất tâm nỗ lực mà tinh tiến. Tại sao, vì đến như chư Phật cũng
phải nhất tâm nỗ lực mà tinh tiến mới thành tựu vô thượng Bồ đề,
huống chi những kẻ khác đang còn tu tập các thiện pháp khác. Các
vị nghe như vậy thì trong lúc còn khỏe mạnh phải nỗ lực mà siêng
tu thiện pháp, đâu được không cấp tốc cầu đạo mà đợi đến tuổi
già. Đợi đến tuổi già là các vị còn muốn vui thú nỗi gì?
Ngày nay đã qua,
mạng sống cũng bớt,
như cá thiếu nước,
đâu có vui gì!
Đoạn này trừ 4 câu chỉnh cú cuối
cùng, toàn lấy của giới bản Hữu bộ, nội dung nói sự vô thường để
thúc dục cấp bách tu tập. Mùa xuân mới hết nửa tháng, còn đến 3
tháng rưỡi, nhưng không nói mới hết, còn đến, mà nói đã qua mất,
chỉ còn lại, là dụng ngữ có ý. Sau đây là những chỗ cần ghi chú.
Ấn độ có 3 mùa, mùa xuân từ 16/12
đến 15/4, mùa hè từ 16/4 đến 15/8, mùa đông từ 16/8 đến 15/12.
Tháng của Ấn độ lấy trăng bắt đầu tàn làm đầu tháng (tức đêm 16
mỗi tháng âm lịch) và lấy trăng thật tròn sáng làm cuối tháng
(tức đêm rằm mỗi tháng âm lịch), không như âm lịch trăng bắt đầu
có là đầu tháng, trăng đã tối hẳn là cuối tháng. Nhưng nửa tháng
trăng sáng và nửa tháng trăng tối thì như nhau: nói theo ngày âm
lịch thì 1 15 là trăng sáng, 16 30 hay 29 là trăng tối. Bố tát
tụng giới thì nửa tháng 1 kỳ, cử hành vào ngày cuối cùng nửa
tháng (tức rằm và ba mươi hay hâm chín) và thường cử hành ban
ngày, như vậy còn 1 đêm mới hết nửa tháng; 1 đêm ấy đối với nửa
tháng trước là thiếu mà đối với nửa tháng sau là thừa. Lời trong
tiết 2 này là nói trong kỳ bố tát tụng giới đầu năm lịch Ấn, tức
cuối năm âm lịch. Những kỳ sau đó có 4 chỗ phải đổi mà ai cũng
phải biết. Chỗ 1, bốn tháng phải thêm "và 1 tháng nhuận" nếu có
tháng ấy; nhưng tháng nhuận ấy vẫn gọi theo tháng chính chứ
không gọi riêng. Chỗ 2, mùa xuân tùy đó mà đổi: 16/4 15/8 đổi
nói mùa hạ, 16/8 15/12 đổi nói mùa đông. Chỗ 3, nửa tháng tùy đó
mà đổi theo bảng kê dưới đây, kê theo ngày tháng âm lịch cho dễ
đổi, và chỉ lấy mùa xuân làm mẫu, 2 mùa hạ và đông so theo mà
đổi.
hết tháng chạp: nửa tháng
rằm tháng giêng: một tháng
hết tháng giêng: một tháng rưỡi
rằm tháng hai: hai tháng
hết tháng hai: hai tháng rưỡi
rằm tháng ba: ba tháng
hết tháng ba: ba tháng rưỡi
rằm tháng tư: bốn tháng
Chỗ 4, ba tháng rưỡi thì tùy đó mà
đổi theo bản kê dưới đây, cũng kê theo ngày tháng âm lịch và chỉ
lấy mùa xuân làm mẫu.
hết tháng chạp: ba tháng rưỡi
rằm tháng giêng: ba tháng
hết tháng giêng: hai tháng rưỡi
rằm tháng hai: hai tháng
hết tháng hai: một tháng rưỡi
rằm tháng ba: một tháng
hết tháng ba: nửa tháng rằm
tháng tư: thừa một đêm
Tiết 3: Làm Phương Tiện Trước
Tăng tụ tập không?
Tăng hòa hợp không?
Tăng tụ tập hòa hợp để làm gì?
Những người chưa thọ Bồ tát giới,
hay thọ mà không thanh tịnh, đã ra khỏi đây chưa?
Có bao nhiêu người thọ Bồ tát giới
không đến tụ tập mà có dặn nhờ nói muốn và thanh tịnh?
Đây là kiểm điểm Tăng chúng, chuẩn
bị và quyết định cho sự bố tát tụng giới cử hành được hay không.
Sự kiểm điểm này, như vậy, rất quan trọng, và chỉ quan trọng cho
Tỳ kheo tăng hay Tỳ kheo Bồ tát tăng.
Kiểm điểm bằng 5 câu hỏi, nhưng cần
nhất là 2 câu đầu. Tăng chúng ở một chỗ, khi kiết ma bố tát tụng
giới, phải đầy đủ 2 yếu tố thì việc ấy mới thành, ấy là tụ tập
đông đủ, không ai vắng mặt mà không nói muốn và thanh tịnh; là
hòa hợp với nhau, không ai tụ tập để chống phá. Nói cách khác,
muốn kiết ma bố tát tụng giới thì Tăng chúng ở một chỗ phải thân
và tâm cùng họp lại và ưng muốn; thân không họp lại mà tâm ưng
muốn thì được, thân họp lại mà tâm không ưng muốn thì hỏng.
Nói muốn và thanh tịnh là dặn nhờ
một hay hơn một vị khác, bạch với Tăng chúng, rằng mình ưng muốn
việc kiết ma bố tát tụng giới và mình cũng thanh tịnh. Như vậy
chỉ được phép nói muốn và thanh tịnh với lý do vì bận việc Tam
bảo, vì bịnh hay vì coi bịnh, và với điều kiện là trong nửa
tháng vừa qua không có phạm giới (mình tự biết không phạm giới,
Tăng chúng cũng không ai thấy, nghe hay nghi mình phạm giới).
Lời dặn nhờ có thể nói thông thường như sau, "Bạch đại đức, tôi
là Tỳ kheo XX, vì lý do XX nên không thể tụ tập kiết ma bố tát
tụng giới, nhưng đối với việc ấy tôi ưng muốn, và tôi cũng thanh
tịnh. Xin nhờ đại đức bạch lại với Đại đức tăng như vậy". Dặn
nhờ như vậy, nếu không nói được thì có thể ra dấu. Lời bạch lại
cũng có thể nói thông thường như sau, "Bạch đại đức tăng, con là
Tỳ kheo XX, có nhận lời dặn nhờ của Tỳ kheo XX, vắng mặt vì lý
do XX, nhưng nửa tháng vừa qua vị ấy không có phạm giới. Vị ấy
dặn nhờ con bạch lại với Đại đức tăng rằng, đối với việc kiết ma
bố tát tụng giới hôm nay của Đại đức tăng, vị ấy nói muốn và
thanh tịnh".
Cả 5 câu hỏi là của vị tụng giới,
người trả lời là vị tri sự hay vị nào biết rõ tình trạng của
Tăng chúng cùng ở một chỗ. Câu 1, không có ai vắng mặt, ai vắng
mặt có nói muốn và thanh tịnh, thì trả lời "Tăng tụ tập". Câu 2,
không có ai tụ tập với dụng ý để phá, cãi, thì trả lời "Tăng hòa
hợp". Câu 3, trả lời "Để kiết ma bố tát tụng Bồ tát giới Phạm
võng". Câu 4, có thì bảo ra và trả lời "Người chưa thọ Bồ tát
giới, hay người thọ rồi mà không thanh tịnh, đã ra cả rồi"; nếu
không có thì trả lời "Trong Tăng chúng đây không có người chưa
thọ Bồ tát giới hay thọ rồi mà không thanh tịnh". Câu 5, có ai
dặn nhờ nói muốn và thanh tịnh thì người được dặn nhờ bước ra mà
bạch lại, không thì trả lời "Trong Tăng chúng đây không có người
thọ Bồ tát giới không đến tụ tập mà có dặn nhờ nói muốn và thanh
tịnh".
Tiết 4: Lời Tựa Mở Đầu
Chư Phật tử, hãy chắp tay lắng
nghe. Nay tôi sắp nói đến lời mở đầu giới pháp rộng lớn của chư
Phật, các vị tụ tập, yên lặng mà lắng nghe. Và tự xét có tội lỗi
thì phải sám hối; sám hối thì yên vui, không sám hối thì tội lỗi
càng sâu nặng. Không có tội lỗi thì yên lặng; do sự yên lặng ấy
mà tôi biết các vị thanh tịnh.
Chư
đại đức, và ưu bà tắc ưu bà di, hãy nghe cho kỹ. Sau khi đức Thế
Tôn nhập diệt, trong thời kỳ Phật pháp cuối cùng, càng phải tôn
kính Ba la đề mộc xoa. Ba la đề mộc xoa là giới pháp này đây.
Phụng trì giới pháp này thì như đêm tối mà gặp ánh sáng, như
nghèo nàn mà được vàng ngọc, như bịnh tật mà được lành mạnh, như
tù đày mà thoát lao ngục, như đi xa mà được về nhà. Phải biết
giới pháp này là đức thầy cao cả của các vị. Đức Thế Tôn còn ở
đời cũng không khác gì giới pháp này.
Lòng sợ tội lỗi khó mà sinh được,
tâm có đức lành khó mà phát ra. Nên trong khế kinh đã dạy:
Đừng khinh tội lỗi nhỏ,
cho là không tai họa;
giọt nước tuy là ít,
chảy mãi đầy hồ lớn.
Tội lỗi gây chốc lát,
họa ở vô gián ngục;
một khi mất thân người,
muôn kiếp khó được lại.
Sự khỏe đẹp không bền,
qua mau như ngựa chạy;
mạng người vốn vô thường,
quá hơn nước núi đổ:
hôm nay dẫu còn đó,
ngày mai khó bảo tồn.
Các vị phải nhất tâm mà nỗ lực tinh
tiến, cẩn thận đừng giải đải, đừng biếng nhác, đừng ham ngủ,
đừng phóng ý. Thâu đêm cũng phải tập trung tâm ý lại mà tưởng
niệm Phật pháp tăng. Đừng để đời mình trôi qua một cách trống
rỗng, mệt nhọc một cách vô ích, để rồi sau đó phải hối hận sâu
xa.
Các vị hãy nhất tâm, kính cẩn mà
phụng hành cho thật chính xác đối với giới pháp này. Phải học
như vậy.
Lời tựa này có trong Chính 24/1003.
Có lẽ trước khi có nghi thức, sự mở đầu tụng Bồ tát giới Phạm
võng chỉ có lời tựa này mà thôi. Lời tựa này kết hợp cả kinh Di
giáo và Pháp cú, nhưng không có gì gượng ép vì chắp vá và biến
thể như các tiết trước và sau tiết này. Lời tựa này được soạn
khá sớm, vì câu thời kỳ Phật pháp cuối cùng, chính văn vốn là
thời kỳ Phật pháp tương tự. Phật pháp tồn tại có 3 thời kỳ:
nguyên chất (chánh pháp) tương tự (tượng pháp) và cuối cùng (mạt
pháp). Mỗi thời kỳ có 1000 năm. Nay kỷ nguyên Phật giáo đã 2527
năm, là đã hơn một nửa thời kỳ cuối cùng.
Vô gián ngục là địa ngục kết quả
của 5 tội nghịch (cũng gọi là 5 tội vô gián, 5 nghiệp vô gián).
Năm tội nghịch là giết cha, giết mẹ, giết La hán, làm chảy máu
thân Phật, phá Tăng hòa hợp. Thêm giết Hoà thượng và giết Xà lê
vào nữa thì gọi là 7 tội nghịch, được nói đến trong giới nhẹ 40.
Nhưng xét 5 tội nghịch còn như kinh Địa tạng nói, cho người xuất
gia nhiều hơn nằm trong phẩm 3 của kinh ấy. Ở đó, sự phỉ báng
Tam bảo và khinh thường kinh pháp cũng là làm chảy máu thân
Phật. Trong 5 tội nghịch, tội phá Tăng hòa hợp nặng nhất, xét ra
vì lẽ tội này làm rã Tăng hòa hợp mà thực chất là biệt lập giáo
phái để làm giáo lãnh. Năm tội nghịch còn 1 pháp số nữa, của
kinh Ni kiền tử: Một là phá hủy chùa tháp, đốt phá kinh tượng,
chiếm đoạt của Tam bảo. Hai là phỉ báng tiểu thừa và đại thừa,
phá hoại và trở ngại, làm cho các pháp ấy khuất lấp. Ba là bắt
bớ, tù đày, tra tấn, hành hung, khinh khi, làm nhục, buộc hoàn
tục hay hại tính mạng đối với người xuất gia. Bốn là làm 1 trong
5 tội nghịch thông thường (mà đã nói ở trên). Năm là bài bác
nhân quả thiện ác, thường làm 10 ác nghiệp, không sợ đời sau, tự
làm và xúc sử người làm mà ngoan cố không bỏ.
Kết quả của 5 tội nghịch là đọa vô
gián ngục. Vô gián là không cách hở. Tuệ viễn đại sư, trong Đại
thừa nghĩa chương, cuốn 7, nói 5 tội nghịch làm cho đọa vô gián
ngục thì có 4 sự không cách hở. Một, nhân quả không cách hở:
thân này chết rồi thì thân kế tiếp đọa vô gián ngục mà chịu liền
quả báo của 5 tội nghịch, không có đời nào hay nghiệp gì làm cho
cách hở nữa. Hai, chịu khổ không cách hở: đọa vô gián ngục thì
trong một thời kỳ dài, khổ khổ liên tục, không có sự vui nào xen
vào làm cho cách hở. Ba, sinh mạng không cách hở: đọa vô gián
ngục thì trong một thời kỳ dài, chết đi sống lại liền liền mà
sinh mạng không chết hẳn. Bốn, thân hình không cách hở: đọa vô
gián ngục thì ai cũng thấy thân mình tràn đầy cả ngục, không
chướng ngại cách hở lẫn nhau. Bốn sự này bao gồm đủ cả 5 sự đã
nói trong phẩm 3 của kinh Địa tạng. Trong 4 sự, sự đầu rất quan
trọng, Thành thật luận và Câu xá luận đều nói, chứng tỏ 5 tội
nghịch rất khó cầu cho siêu độ.
Một khi mất thân người muôn kiếp
khó được lại là nói thân người rất quí. Nói theo trường hợp Bồ
tát giới Phạm võng thì có thân mới thọ và trì được giới pháp ấy.
Do vậy, đem thân người làm những việc mệt nhọc một cách vô ích,
có hại, đã đành đáng trách, nhưng lối thuyết pháp thóa mạ, khinh
thị thân thể, cũng không phải là thái độ hợp ý với Phật.
Tiết 5: Chất Vấn Thanh Tịnh
Chư
đại đức, hôm nay là ngày mười lăm của nửa tháng trăng tối, ngày
bố tát tụng Bồ tát giới. Các vị hãy nhất tâm mà nghe cho khéo.
Ai có lỗi thì xin nói ra, ai không lỗi thì xin yên lặng. Yên
lặng nên biết chư vị đại đức thanh tịnh, có thể tụng Bồ tát
giới. Như vậy là tôi đã nói lời mở đầu Bồ tát giới. Nay xin hỏi,
chư đại đức, trong các vị có thanh tịnh cả không?
Chư
đại đức, các vị thanh tịnh cả, vì các vị cùng yên lặng. Việc ấy
tôi xin ghi nhận như vậy.
Đây là biến thể lời tác bạch kiết
ma bố tát tụng giới mà thành sự chất vấn thanh tịnh. Nay xin
hỏi, chư đại đức, trong các vị có thanh tịnh cả không, là hỏi
trong nửa tháng vừa qua, có ai phạm giới không. Không ai phạm
giới mới có thể tụng giới.
Việc này tôi xin ghi nhận như vậy,
chính văn là thị sự như thị trì. Chữ trì nghĩa đen là nắm giữ, ở
đây là nắm giữ trong trí, tức là nói về sự ghi nhớ, về ký ức, và
ở đây là xác nhận. Nên chữ ấy đi đôi với chữ thọ thì thọ trì
nghĩa là tiếp nhận và ghi nhớ. Nghĩa chữ trì như vậy nên đã được
cắt nghĩa là liễu đạt bất vong (thấu hiểu không quên). Thị sự
như thị trì, dịch sát là việc ấy tôi nắm chắc như vậy (nghĩa là
hiểu và nhớ như vậy). Nhưng chữ nắm chắc rất nên chuyển ra chữ
ghi nhận cho sát việc và dễ hiểu hơn. Chủ từ tôi phải thêm, vì
đây là lời của vị tụng giới. Nói giản dị, vị tụng giới nói, "các
ngài thanh tịnh, vì các ngài yên lặng: việc này tôi xin ghi nhận
như vậy".
Tiết này có vài chỗ cần chú ý. Một,
hết tháng thì nói trăng tối, rằm thì nói trăng sáng; trăng tối
thì ngày 15 có khi phải đổi ra 14 nếu tháng ấy thiếu. Hai, câu
nay tôi xin hỏi, chư đại đức, trong các vị có thanh tịnh cả
không, phải nói 3 lần, sau mỗi lần phải đợi vài ba giây.
Tụng giới xong, vị tụng giới đứng
dậy mà thưa, Bạch Đại đức tăng, con là Tỳ kheo XX, xin kính tạ
lỗi Đại đức tăng; Đại đức tăng bảo con tụng Bồ tát giới, nhưng
thân miệng ý của con không tinh cần, tụng giới văn không thông
suốt, làm cho chư vị ngồi lâu hơn lên, không khỏi phát phiền.
Con xin chư vị từ bi hoan hỷ cho con.
Cũng như lời tác bạch đầu tiên, lời
tác bạch này, nếu vị tụng giới là thượng tọa trong buổi bố tát
thì không cần nói.
Chương 3: Dịch Giải Chính Văn Bồ tát Giới Phạm võng
Bồ tát giới Phạm võng
là giới pháp vô thượng,
trăm ngàn vạn ức kiếp
vẫn khó mà gặp được;
nay con đã thấy nghe
lại còn được thọ trì,
nguyện cầu sớm thành tựu
pháp tánh thân thường trú.
Kính lạy đức Lô Xá Na Như Lai. Kính
lạy đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Kính lạy kho tàng Bồ tát giới
Phạm võng.
Đây là bài kệ khai kinh và kính lạy
giáo chủ Bồ tát giới Phạm võng. Bài kệ khai kinh này là bài
thông thường mà tôi đổi và dịch cho đúng với trường hợp tụng Bồ
tát giới Phạm võng. Pháp tánh thân thường trú là như chính văn
sau đây nói, "Hết thảy chúng sinh đều có Phật tánh, nên toàn bộ
thân tâm của chúng sinh, thân ấy tâm ấy đều nhập vào trong giới
pháp Phật tánh, và đương nhiên có cái nhân như vậy thì đương
nhiên thực hiện pháp thân thường trú". Chú thích: nhập vào trong
giới pháp Phật tánh là thọ và trì giới pháp ấy.
Bài kệ khai kinh này, Bồ tát giới
kinh để nguyên và đặt trước nghi thức mở đầu. Để và đặt như vậy
không thích hợp ý nghĩa mà cũng không thích hợp nghi thức.
Kinh Phạm võng, phẩm thứ 10
"Tâm địa giới Bồ tát của
đức Lô Xá Na tuyên thuyết", phần
dưới
Đầu đề này đã giải thích trong
chương dẫn nhập. Nay chỉ giải thích chính văn.
Tiết 1:
Mở Đầu Về Bồ tát Giới Phạm võng
Số 1: Đức Lô Xá Na Tổng Kết Về Phẩm
Pháp Môn Tâm Địa
Khi ấy đức Lô Xá Na đã vì đại chúng
mà khai thị một cách tóm tắt, chỉ bằng đầu sợi lông, về pháp môn
tâm địa, một trong các pháp môn nhiều đến số lượng không thể nói
hết, như cát của trăm ngàn sông Hằng. Và kết thúc rằng, pháp môn
tâm địa ấy hết thảy chư Phật quá khứ đã nói, chư Phật vị lai sẽ
nói, chư Phật hiện tại đang nói, tất cả Bồ tát trong quá khứ vị
lai và hiện tại đã học sẽ học và đang học. Như Lai đã trải qua
cả trăm vô số kiếp tu hành tâm địa ấy, kết quả thành Phật, danh
hiệu Lô Xá Na. Chư vị Phật đà, các ngài hãy chuyển pháp môn của
Như Lai đã nói cho hết thảy chúng sinh, khai thị tâm địa cho họ.
Bấy giờ trên Sư tử tòa sáng chói rực rỡ ở Liên hoa đài, tức Hoa
tạng thế giới, đức Lô Xá Na phóng ra ánh sáng, khuyến cáo một
ngàn đức Thích Ca trên một ngàn cánh hoa, rằng các ngài hãy đem
phẩm Pháp môn tâm địa của Như Lai mà đi, nói lại một cách tuần
tự phẩm ấy cho một ngàn lần trăm ức đức Thích Ca, và hết thảy
chúng sinh, với lời khuyến cáo rằng các người hãy thọ trì, đọc
tụng, nhất tâm mà phụng hành.
Đây là đức Lô Xá Na tổng kết về
phẩm Pháp môn tâm địa mà trong đó có phần Giới pháp vô tận (Bồ
tát giới) khuyến cáo chư Phật hóa thân chuyển dạy pháp môn ấy
cho chúng sinh.
Sư tử tòa là Phật như sư tử, Phật
ngồi ở đâu chỗ ấy cũng gọi là sư tử tòa. Sư tử tòa ở đây của đức
Lô Xá Na, và chư Phật hóa thân của ngài, là ở Hoa tạng thế giới.
Hoa tạng thế giới tượng trưng như Liên hoa đài (đài sen), nên
gọi đủ là Liên hoa đài tạng thế giới. Tách ra, chuyển dịch "Liên
hoa đài, tức Hoa tạng thế giới" là để ăn liền với ngàn cánh hoa
ở câu dưới. Liên hoa đài cũng là từ ngữ dùng trong văn chỉnh cú
ở dưới.
Đưa đại chúng đến hỏi để đức Lô Xá
Na nói về pháp môn tâm địa là ngàn lần trăm ức đức Thích Ca,
nhưng đức Lô Xá Na gọi ngàn đức Thích Ca mà nói, ấy là Phật nói
với Phật về tâm địa; còn ngàn đức Thích Ca nói với ngàn lần trăm
ức đức Thích Ca, ấy là Phật nói với Phật về cách nói tâm địa cho
chúng sinh. Nói một cách tuần tự cho ngàn lần trăm ức đức Thích
Ca, và hết thảy chúng sinh, câu này nói tắt, nói rõ thì phải là
nói cho ngàn lần trăm ức đức Thích Ca để chư Phật ấy dạy lại cho
hết thảy chúng sinh, khuyến cáo chúng sinh thọ trì tâm địa. Nói
một cách tuần tự là nói bằng 10 chỗ thuyết pháp.
Số 2: Chư
Phật Chuyển Dạy Phẩm Pháp Môn Tâm Địa Cho Chúng Sinh
Khi ấy một ngàn đức Thích Ca trên
một ngàn cánh hoa, và một ngàn lần trăm ức đức Thích Ca, đều
đứng dậy từ Sư tử tòa rực rỡ ở Hoa tạng thế giới. Ngài nào cũng
cáo thoái bằng cách khắp mình phóng ra ánh sáng bất khả tư nghị,
cùng hóa hiện vộ lượng đức Phật nữa, và cùng trong một lúc dùng
vô số sắc hoa xanh vàng đỏ trắng hiến cúng đức Lô Xá Na, tiếp
nhận và ghi nhớ trọn vẹn phẩm Pháp môn tâm địa mà ngài đã tuyên
thuyết. Rồi các ngài từ Hoa tạng thế giới ẩn đi. Aẫn rồi nhập
định tên Bông hoa ánh sáng của thể tánh thanh tịnh in như hư
không, trở về dưới cây Bồ đề ở châu Diêm phù của thế giới mình,
xuất định nói trên, ngồi trên Kim cang tòa đầy bông hoa ánh sáng,
và tại Diệu quang đường nói về mười biển cả thế giới, lại rời
chỗ ấy đến Đế thích cung nói về mười trú, đến Diệm thiên nói về
mười hành, đến Đâu suất thiên nói về mười hướng, đến Hóa lạc
thiên nói về mười định, đến Tha hóa thiên nói về mười địa, đến
Sơ thiền nói về mười kim cang, đến Nhị thiền nói về mười nhẫn,
đến Tam thiền nói về mười nguyện, đến cung Đại tự tại thiên
vương thuộc Tứ thiền nói lại phẩm Pháp môn tâm địa mà bản thân
là đức Lô Xá Na ở Hoa tạng thế giới đã nói. Toàn thể một ngàn
lần trăm ức đức Thích Ca đều làm như vậy, không khác gì nhau,
như phẩm Hiền kiếp đã nói.
Đây là chư Phật hóa thân chuyển dạy
phẩm Pháp môn tâm địa cho chúng sinh bằng cách thị hiện 8 tướng
thành đạo và 10 chỗ thuyết pháp.
Định tên Bông hoa ánh sáng của thể
tánh thanh tịnh in như hư không, nói vắn tắt và nói cách khác,
là diệu dụng của bản tánh thanh tịnh; diệu dụng ấy là thị hiện 8
tướng thành đạo và 10 chỗ thuyết pháp. Nhập định rồi xuất định
ấy là từ bản tánh thanh tịnh mà hiện khởi diệu dụng như vậy. Trở
về dưới cây Bồ đề ở châu Diêm phù của thế giới mình, xuất định
nói trên, ngồi trên Kim cang tòa là nói tắt về sự thị hiện 8
tướng thành đạo.
Trong 10 chỗ thuyết pháp, Kim cang
tòa đầy bông hoa ánh sáng, cũng có thể dịch Kim cang tòa rực rỡ
hoa myծ Kim cang tòa này ở dưới Bồ đề thọ của Tịch diệt tràng.
Cách 3 dặm về phía đông nam của Tịch diệt tràng là Diệu quang
đường (Phổ quang minh điện). Tại chỗ thứ 1 này chư Phật nói về
10 biển cả thế giới, là nói về vi trần thế giới nói về vô tận
Hoa tạng thế giới, thế giới Phạm võng. Còn 8 chỗ kế tiếp nói về
Bồ tát hạnh vị. Hạnh vị ấy tuy có 8 số 10, nhưng chính yếu là 30
tâm (10 trú 10 hạnh 10 hướng) và 10 địa, còn những hạnh vị khác
chỉ chuẩn bị (10 tín, chính văn này lược đi) hay bổ túc. Đến chỗ
thứ 10 nói lại phẩm Pháp môn tâm địa mà, như đã nói, trong đó có
Bồ tát giới. Ngang đây lẽ đáng còn phải có câu như chính văn số
2 của đoạn 2 sau đây nói, "Rồi từ cung thiên vương ấy trở xuống
ngồi dưới cây Bồ đề của châu Diêm phù, vì hết thảy chúng sinh
phàm phu mê ám trên đất này, nói lại giới pháp duy nhất mà đức
bản thân Lô Xá Na đã nói trong phẩm Pháp môn tâm địa của ngài".
Và như vậy, Bồ tát giới được từ đức
Phật bản thân đến chư Phật hóa thân đều nói, tại Liên hoa đài,
tại Đại tự tại thiên cung, tại Bồ đề thọ.
Về pháp đã thuyết qua 10 chỗ, cuối
Bồ tát giới Phạm võng tổng kết như sau, "Nói tóm, ngàn lần trăm
ức thế giới, Hoa tạng thế giới, và các Hoa tạng thế giới khác
nhiều như vi trần, cũng diễn về tất cả kho tàng chánh pháp của
chư Phật là kho tàng tâm, kho tàng địa, kho tàng giới, kho tàng
vô lượng hạnh nguyện và kho tàng nhân quả Phật tánh thường trú".
Số 3: Đức Thích Ca Bổn Sư Tự Thuật
Ngài Cũng Chuyển Dạy Phẩm Pháp Môn Tâm Địa Như Chư Phật
Bấy giờ đức Thích Ca Mâu Ni từ Hoa
tạng thế giới mà khởi đầu ngài đã hiện ra ở đó, hướng về phía
đông, đi vào cung thiên vương, nói xong kinh Ma vương chịu giáo
hóa, rồi hạ sinh ở nước Ca di la thuộc châu Diêm phù, mẹ là
hoàng hậu Ma da, cha là hoàng đến Bạch tịnh, "Như Lai tên Tất
đạt, bảy năm xuất gia, thành đạo lúc ba mươi tuổi, danh hiệu
Thích Ca Mâu Ni, đầu tiên ngồi Kim cang tòa đầy bông hoa ánh
sáng tại Tịch diệt tràng, cuối cùng đến cung Đại tự tại thiên
vương, tuần tự thuyết pháp cả mười chỗ". Trong khi thuyết pháp
tại cung Đại tự tại thiên vương, đức Thích Ca Mâu Ni nhìn tràng
lưới của các Đại phạn thiên vương, nhân đó nói với họ, rằng vô
lượng thế giới in như mắt lưới, mỗi mỗi khác nhau, vô cùng vô
tận; pháp môn đức Lô Xá Na dạy cũng y như vậy. Như Lai nay đến
thế giới này đã tám ngàn lần, vì cả thế giới Sa bà mà ngồi Kim
cang tòa đầy bông hoa ánh sáng, nói về mười biển cả thế giới,
cho đến đến cung Đại tự tại thiên vương này, tóm tắt khai thị
hoàn tất phẩm Pháp môn tâm địa cho đại chúng ở đây.
Đây là đức Thích Ca bổn sư tự thuật
ngài cũng chuyển dạy phẩm Pháp môn tâm địa cho chúng sinh bằng 8
tướng thành đạo và 10 chỗ thuyết pháp; nói cách khác, ngài cũng
thể hiện diệu dụng của định Bông hoa ánh sáng của thể tánh thanh
tịnh.
Thích Ca Mâu Ni, hay Thích Ca, ở
đây là đức Thích Ca bổn sư. Ngài cũng thị hiện 8 tướng thành đạo
và 10 chỗ thuyết pháp. Tám tướng thành đạo là giáng thần, nhập
thai, trú thai, xuất thai, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp
luân, nhập niết bàn. Sự tích như sau. Giáng thần là từ nội viện
Đâu suất, Phật giáng thần bằng hình tướng cỡi voi trắng mà xuống
vương cung Bạch tịnh. Nhập thai là Phật nhập vào hông trái của
hoàng hậu Ma da. Trú thai là Phật ở trong thai mà không hôn mê,
vẫn thuyết pháp cho chư thiên. Xuất thai là ngày trăng tròn
tháng tư, từ hông phải của hoàng hậu Ma da, Phật sinh ra ở hoa
viên Lâm tỳ ni. Xuất gia là 25 (23?) tuổi, Phật thoát vương
cung, vào núi học đạo. Thành đạo là sau 6 năm khổ hạnh, và sau
khi ngồi trên tòa Kim cang, hàng phục ma vương, Phật thành chánh
giác dưới gốc Bồ đề. Chuyển pháp luân là Phật thuyết pháp, quảng
độ chúng sinh trong 50 năm. Nhập niết bàn là 80 tuổi, Phật nhập
diệt dưới cây Sa la song thọ. Cả 8 tướng như vậy đều là sự thị
hiện, và nói thị hiện, hay nói đức Lô Xá Na hóa ra đức Thích Ca,
là như thế đó, chứ không phải như là ảo thuật. Cả 8 tướng như
vậy toàn là tác dụng độ sinh, chứ không phải chỉ có thuyết pháp
mới độ sinh. Và cả 8 tướng như vậy hợp thành một đức Phật liệt
ứng thân, nói cách khác, toàn là "bông hoa ánh sáng của thể tánh
thanh tịnh". Chính văn trên đây, 8 tướng này nói đã lược, lại
lược luôn cả chữ thị hiện.
Hướng về phía đông là vì Sa bà thế
giới ở về phía đông Hoa tạng thế giới. Vào cung thiên vương là
cung Đại tự tại thiên vương (Vạn 60/334B) Tịch diệt tràng là Bồ
đề tràng; ở đó hóa thân của Phật thị hiện chứng hữu dư niết bàn
nên gọi là Tịch diệt tràng, thị hiện chứng vô thượng Bồ đề nên
gọi là Bồ đề tràng.
Nói thế giới và pháp môn mà ví dụ
như Phạm võng, là nói đạo lý trùng trùng duyên khởi. Thị hiện 8
tướng thành đạo ở Diêm phù, 1 trong 1 tỷ thành phần của đại
thiên thế giới Sa bà, mà nói "vì cả thế giới Sa bà mà thuyết
pháp 10 chỗ", thì biết đức Thích Ca bổn sư không phải chỉ là một
chiều thuộc về số lượng ngàn lần trăm ức đức Thích Ca hóa thân,
thế giới ngài giáo hóa cũng không phải là một chiều thuộc về số
lượng ngàn lần trăm ức tiểu thế giới. Tóm tắt khai thị hoàn tất
phẩm Pháp môn tâm địa tức là cũng đã tóm tắt tụng lại Bồ tát
giới (phần Giới pháp vô tận trong phẩm Pháp môn tâm địa) cho các
vị đại căn đương cơ ở Đại tự tại thiên cung, chứ không phải chỉ
nói Bồ tát tâm địa còn Bồ tát giới về Diêm phù mới nói.
Số 4: Đức Thích Ca Bổn Sư Nói Sẽ
Nói Lại Bồ tát Giới Phạm võng
Rồi từ cung thiên vương ấy, Như Lai
trở xuống, ngồi dưới cây Bồ đề của châu Diêm phù, vì hết thảy
chúng sinh phàm phu mê ám trên đất này, nói lại giới pháp duy
nhất mà đức bản thân Lô Xá Na của Như Lai đã nói trong phẩm Pháp
môn tâm địa của ngài, giới pháp mà từ khi mới phát tâm ngài đã
thường tụng. Giới pháp ấy như ngọc kim cang sáng chói, và là bản
nguyên của chư Phật, của Bồ tát, là hạt giống Phật tánh. Hết
thảy chúng sinh đều có Phật tánh, nên toàn bộ thân tâm của chúng
sinh, thân ấy tâm ấy đều nhập vào trong giới pháp Phật tánh, và
đương nhiên có cái thân như vậy thì đương nhiên thực hiện pháp
thân thường trú. Về mười Ba la đề mộc xoa mà Như Lai sẽ nói lại
sau đây, khi xuất hiện ở thế giới này, thì đó chính là giới pháp
của Phật pháp, là giới pháp mà hết thảy chúng sinh trong quá khứ
vị lai và hiện tại nên kính phụng thọ trì. Như Lai sắp sửa vì cả
đại chúng ở đây mà trùng tuyên phần Giới pháp vô tận giới pháp
của hết thảy chúng sinh, bản nguyên là tự tánh thanh tịnh.
Đây là đức Thích Ca bổn sư nói sẽ
nói lại Bồ tát giới Phạm võng (Giới pháp vô tận) cho chúng sinh
Diêm phù, Bồ tát giới mà bản thân Lô Xá Na của ngài đã nói trong
phẩm Pháp môn tâm địa và đã tụng từ khi mới phát tâm, cho đến
thành Phật rồi cũng vẫn thường tụng.
Như Lai trở xuống, ngồi dưới cây Bồ
đề của châu Diêm phù, vì hết thảy chúng sinh phàm phu mê ám trên
đất này, nói lại giới pháp duy nhất mà đức bản thân Lô Xá Na của
Như Lai đã nói trong phẩm Pháp môn tâm địa của ngài, giới pháp
mà từ khi mới phát tâm ngài vẫn thường tụng là nói Bồ tát giới
là giới pháp mà thánh phàm cùng được truyền thọ và thọ trì. "Nói
lại giới pháp duy nhất..." chính văn là thuyết ngã bản Lô Xá Na
Phật tâm địa trung sơ phát tâm trung thường sở tụng nhất giới.
Tâm địa ở đây không phải là nhân địa để dịch tu nhân, mà là gọi
tắt tên phẩm Pháp môn tâm địa như đã gọi như vậy ở đoạn đầu và
còn gọi như vậy ở đoạn cuối Bồ tát giới Phạm võng. Phật tụng
giới, không phải chỉ tụng trong khi tu nhân, lại càng không phải
chỉ tụng lúc mới phát tâm. Cả chính văn chỉnh cú và trường hàng
trong đoạn 1 mục 2 và đoạn 2 mục 3 sau đây sẽ chứng tỏ từ khi
mới phát tâm cho đến lúc thành Phật rồi, Phật vẫn thường tụng.
Chưa thành Phật thì tụng để được thành, thành Phật rồi thì tụng
để truyền thọ như Phật bản thân tụng lại và Phật hóa thân tụng
lại nữa, tụng thành Bồ tát giới Phạm võng này đây.
Phật tánh ở đây vừa có nghĩa bản
thể vừa có nghĩa khả năng: bản thể là Phật, và khả năng làm
Phật, gọi là Phật tánh. Bản thể và khả năng ấy, chính là thân
tâm chúng ta đây. Như vậy, vì chúng sinh có Phật tánh, nên thân
là thân chúng sinh, tâm là tâm chúng sinh, mà thân tâm ấy vẫn có
thể thọ và trì được giới pháp Phật tánh, nên chính văn nói "Hết
thảy chúng sinh đều có Phật tánh, nên toàn bộ thân tâm của chúng
sinh, thân ấy tâm ấy đều nhập vào trong giới pháp Phật tánh".
Câu trên đây, chính văn là nhất thế
chúng sinh giai hữu Phật tánh, nhất thế ý thức sắc tâm, thị tình
thị tâm giai nhập Phật tánh giới trung. Trước hết, phải hiểu các
chữ ý, thức, sắc, tâm, tình, tâm. Ý, thức, tâm, 3 chữ ấy chỉ là
"một nghĩa mà khác tên", vậy có thể và cần phải gồm lại mà chỉ
nói là tâm, cho rõ và đủ hơn. Còn sắc ở đây là 5 sắc căn, tức
nhãn căn cho đến thân căn; 5 căn này ngài La Thập cũng hay dịch
là ngũ tình. Việc này không những thấy trong Pháp hoa (như phẩm
24), mà Trí độ luận (như cuốn 40) nói càng rõ, "5 tình là mắt
vân vân, gọi là nội thân; 5 trần là sắc vân vân, gọi là ngoại
thân". Như vậy thì chữ sắc ở đây cũng chính là chữ tình ở đây.
Và sắc hay tình là 5 căn, là chính cái thân tổng hợp 5 giác
quan, vậy có thể và cần phải gồm lại mà chỉ nói là thân, cho rõ
và sát hơn. Sát hơn, vì lẽ Bồ tát giới cũng như bao nhiêu giới
pháp khác, không có thân như chư thiên Vô sắc giới thì không thọ
được, nên chính văn đoạn 3 mục 3 sau đây kể ai cũng được thọ Bồ
tát giới mà không kể chư thiên Vô sắc giới. Vậy thì biết thân là
yếu tố cần nhất trong việc thọ và trì giới pháp Phật tánh, thân
là Phật tánh.
Nên nói thêm chút nữa. Nói Phật
tánh mà chỉ nói tâm thì không ai lạ gì, nhưng nói thân vào (nói
sắc vào) thì có nhiều người lúng túng. Lúng túng đến nỗi phải
lướt bỏ chữ sắc đi, lại hiểu chữ tình là tình thức. Lúng túng
như vậy là quên đi rằng, nói Phật tánh thì đúng là nói tâm,
nhưng tâm ấy là tâm tánh, gồm cả thân tâm và ngoại cảnh: toàn bộ
thân tâm và ngoại cảnh của tâm tánh đều bản thể là Phật, đều
thành khả năng làm Phật, nên gọi là Phật tánh cả. Phải hiểu như
vậy về chữ Phật tánh, nhất là chữ ấy ở đây. Và hiểu như vậy thì
thấy chữ sắc trong 6 chữ ý, thức, sắc, tâm, tình, tâm, chữ sắc
ấy đúng là sắc căn (nội sắc), nhưng nếu hiểu thêm rằng chữ sắc
ấy cũng chỉ cho cả trần cảnh (ngoại sắc), thì dẫu quá xa cũng
vẫn đúng. Đúng, vì không cần luận đến bản thể mà chỉ nói sự
dụng, thì ngoại cảnh cũng là phương tiện và khả năng giúp cho sự
thọ trì Bồ tát giới, thực hiện Phật tánh.
Sau hết, chính văn chỗ này có một
định thức: có Phật tánh thì có thể thọ trì Phật giới, thọ trì
Phật giới thì thành tựu Phật quả là pháp thân thường trú.
Mười ba la đề mộc xoa là 10 giới
nặng. Nói về Bồ tát giới, phần nhiều hay nói 10 giới nặng ấy, vì
10 giới nặng ấy là căn bản, còn 48 giới nhẹ toàn là đẳng lưu.
Nói 10 giới nặng xuất hiện thế gian là nói Bồ tát giới xuất
hiện, và 10 giới nặng ấy cũng gọi là 10 giới pháp vô tận hay
phần Giới pháp vô tận.
Về 10 giới pháp vô tận, kinh Anh
lạc cũng gọi như vậy, và cũng có ý như Phạm võng, chỉ thứ tự có
xê xích chút ít. Gọi là giới pháp vô tận, vì giới pháp ấy thọ
rồi, đời này đời khác, vẫn thường không mất, đi theo hành giả
cho đến thành Phật, lại nữa, giới pháp ấy lấy tâm làm thể, tâm
vô tận nên giới vô tận (Anh lạc, Chính 24/1020).
Giới pháp của Phật pháp, chính văn
chỉ là pháp giới. Nhưng do từ ngữ Phật pháp trung giới tạng
(giới tạng trong Phật pháp, kho tàng giới pháp trong Phật pháp)
trong đoạn 3 mục 2 sau đây, và từ ngữ chư Phật pháp giới (giới
pháp của Phật pháp) ở đầu đoạn 2 mục 3 sau đây nữa, mà biết pháp
giới là gọi tắt những từ ngữ ấy, nên phải dịch rõ ràng như vậy.
Giới pháp của hết thảy chúng sinh, bản nguyên là tự tánh thanh
tịnh là gián tiếp định nghĩa về giới: giới là tự tánh thanh
tịnh, nên giới là của chúng sinh. Vì giới là của chúng sinh như
vậy, nên chúng sinh có thể và nên thọ trì. Và giới là tự tánh
thanh tịnh của chúng sinh, đó cũng là một cách nói về xuất xứ
của Bồ tát giới Phạm võng.
Đọan 1: Đức Thích Ca Bổn Sư Thuật
Lời Đức Phật Bản Thân Tụng Bồ tát Giới
Như Lai Lô Xá Na
an tọa Liên hoa đài,
xung quanh Liên hoa đài
có cả một ngàn cánh.
Trên ngàn cánh hoa ấy
Như Lai hiện ngàn Phật,
tất cả đồng một hiệu
hiệu Thích Ca Thế Tôn.
Mỗi cánh hoa nói trên
có trăm ức thế giới,
mỗi thế giới lại có
một đức Thích Ca nữa;
các đức Thích Ca này
cùng trong một thì gian
ngồi dưới Bồ đề thọ
thành tựu vô thượng giác.
Ngàn và ngàn trăm ức
đức Thích Ca nói trên,
toàn thể chỉ là một
bản thân Lô Xá Na.
Một ngàn lần trăm ức
đức Thích Ca như vậy
cùng tiếp dẫn đại chúng
số lượng như vi trần,
tất cả đều đưa đến
chỗ Như Lai an tọa,
để nghe Như Lai tụng
giới pháp của chư Phật.
Như Lai tụng hoàn tất
giới pháp của chư Phật
là cửa ngõ Cam
lộ
tức thì được khai mở.
Các câu 21 - 28 là nói ngàn trăm ức
đức Thích Ca đưa đại chúng đến chỗ đức Lô Xá Na, hỏi để ngài nói
phẩm Pháp môn tâm địa, lại nghe ngài tụng Bồ tát giới thành phần
Giới pháp vô tận của phẩm Pháp môn tâm địa. Đối với tâm địa thì
nói Phật nói, đối với giới pháp thì nói Phật tụng, chữ tụng ấy
đưa Bồ tát giới Phạm võng lên tột đỉnh của sự quan trọng. Cửa
ngõ Cam lộ là niết bàn: niết bàn là thần dược bất tử, nên cũng
có tên Cam lộ.
Đoạn 2: Đức Thích Ca Bổn Sư Thuật
Sự Tụng Lại Bồ tát Giới Của Chư Phật Hóa Thân
Bấy giờ ngàn trăm ức
đức Thích Ca Thế Tôn
về lại Bồ đề tràng
ngồi dưới Bồ đề thọ,
cùng tụng lại giới pháp
của đức Phật bản thân,
gồm có mười giới nặng
và bốn tám giới nhẹ.
Giới pháp ấy in như
vầng thái dương sáng chói
ánh trăng rằm quang rạng
và chuổi ngọc quí báu;
hết thảy các Bồ tát
nhiều như số vi trần,
đều do giới pháp này
mà thành Đẳng chánh giác.
Tám câu cuối cùng là tán dương năng
lực của Bồ tát giới: giới ấy thực hiện trí tuệ như nhật nguyệt
và viên mãn phước đức như chuổi ngọc, nên làm cho vi trần Bồ tát
được thành Phật đà. Đó là lý do vì sao đức Phật bản thân đã tụng
ra và chư Phật hóa thân còn tụng lại về Bồ tát giới. Đẳng chánh
giác hay chánh biến tri, là tuệ giác của Phật chứng ngộ một cách
như sở hữu tánh về bản thể và tận sở hữu tánh về hiện tượng.
Đoạn 3: Đức Thích Ca Bổn Sư Mở Đầu
Để Tụng Lại Bồ tát Giới Y Như Chư Phật Hóa Thân
Giới pháp đức bản thân
Lô Xá Na đã tụng,
Như Lai cũng tụng lại
hoàn toàn y như vậy.
Nên tất cả các người
Bồ tát mới tu học,
hãy hết lòng tôn kính
thọ trì giới pháp ấy.
Các người đã thọ trì
giới pháp như vậy rồi,
lại đem giới pháp ấy
chuyền trao cho chúng sinh.
Vậy tất cả các người
hãy chú ý lắng nghe
Như Lai tụng chính xác
giới tạng trong Phật pháp.
Giới tạng ấy chính là
Ba la đề mộc xoa,
nên hết thảy đại chúng
chí tâm mà thâm tín;
thâm tín rằng chính mình
là đức Phật sẽ thành
y như Như Lai đây
là đức Phật đã thành,
thường thâm tín như vậy,
giới pháp đã đầy đủ.
Bất cứ là loài nào
hễ vốn có tâm tánh,
thì đều nên lãnh thọ
giới pháp của chư Phật.
Chúng sinh mà lãnh thọ
giới pháp của chư Phật,
thì kẻ ấy tức thì
nhập vào cương vị Phật;
cương vị đã đồng thể
với chư Phật đại giác,
thì người ấy đích thực
là con của chư Phật.
Vậy tất cả đại chúng
cung kính mà lắng nghe,
Như Lai sẽ tụng lại
giới pháp của chư Phật.
Đức Thích Ca bổn sư mở đầu tụng lại
Bồ tát giới với 4 cách. Một, khuyên Bồ tát tự mình thọ trì, lại
truyền thọ cho chúng sinh. Bồ tát mới tu học là mới phát đại Bồ
đề tâm học tập làm Phật. Nói Bồ tát mới tu học không có nghĩa
chỉ các vị Bồ tát này mới cần thọ trì và truyền thọ Bồ tát giới,
mà là nói ngay như các vị này đã phải làm như vậy, huống chi các
vị trên nữa. Hai, nói muốn có giới pháp đại thừa thì phải có đức
tin đại thừa. Đức tin ấy là tin mình sẽ làm Phật. Ba, vừa khuyên
vừa nói yếu tố thọ trì giới pháp. Yếu tố ấy là có tâm tánh thì
có thể và nên thọ trì. Tâm tánh là thể tánh của cả thân tâm và
ngoại cảnh. Bốn, nói hiệu lực của giới pháp. Là chúng sinh,
nhưng thọ Phật giới thì nhập Phật vị và được gọi là Phật tử.
Cương vị Phật là Phật vị: cương vị của các đấng đại giác. Cương
vị ấy kể từ khi mới phát đại Bồ đề tâm cho đến lúc đã thành vô
thượng Bồ đề. Cắt nghĩa như vậy là nói về tiệm nhập (vào dần).
Nhưng thật ra cũng có trường hợp đốn nhập (vào ngay). Văn khí
chỗ này nói tuy có vẻ đốn nhập, nhưng nói để khuyến khích, chứ
không phải chỉ đề cao và thừa nhận sự đốn nhập.
Đoạn 1: Qui Định Hiếu Là Giới
Bấy giờ đức Thích Ca Mâu Ni ngồi
dưới cây Bồ đề, thành tựu tuệ giác vô thượng rồi, bắt đầu qui
định về Bồ tát giới, rằng sự hiếu thuận đối với cha mẹ, đại sư,
chư tăng, đối với Tam bảo sự hiếu thuận phù hợp chánh pháp chí
thượng, sự hiếu thuận ấy gọi là giới, cũng gọi là năng lực chế
ngự đình chỉ mọi sự tội lỗi. Đức Thế Tôn liền từ miệng vàng
phóng ra ánh sáng vô lượng. Lúc ấy đại chúng có đến trăm vạn ức,
các vị Bồ tát, các vị Phạn thiên trong mười tám tầng trời cõi
Sắc, các vị thiên nhân trong sáu tầng trời cõi Dục, các vị quốc
vương của mười sáu nước cường đại, đều chắp tay, khuynh tận tâm
trí, lắng nghe đức Thế Tôn tụng lại giới pháp đại thừa của hết
thảy chư Phật.
Bấy giờ đức Thích Ca Mâu Ni ngồi
dưới cây Bồ đề, thành tựu tuệ giác vô thượng rồi, bắt đầu qui
định về Bồ tát giới, nói như vậy là nói tắt; rõ thì phải nói thị
hiện thành đạo, tuần tự thuyết pháp 10 chỗ, rồi trở lại ngồi
dưới Bồ đề thọ, tụng lại Bồ tát giới, bằng cách trước hết qui
định về giới ấy. Hiếu thuận đối với cha mẹ, đại sư, chư tăng,
trong chữ cha mẹ gồm có chúng sinh, vì lẽ hiếu thuận ở đây là
coi tất cả chúng sinh đều đã là sẽ là và đang là cha mẹ bà con
của mình. Còn đại sư là 2 vị đại sư: đại sư hòa thượng (vị thầy
truyền giới) và đại sư xà lê (vị thầy chỉ dạy cách nói và làm
trong sự thọ giới). Không dịch đại sư hòa thượng và đại sư xà
lê, chỉ dịch đại sư, là vì Bồ tát giới thì 1 vị mà làm 2 nhiệm
vụ này (đến giới nhẹ 41 sẽ nói rõ hơn), nên nhiều chỗ chính văn
sau đây hay nói là vị pháp sư (đặc biệt trong giới nhẹ 23). Hiếu
thuận đối với cha mẹ, đại sư, chư tăng, đối với Tam bảo, sự hiếu
thuận ấy căn bản phù hợp Phật pháp tối thượng. Sự hiếu thuận như
vậy chính là giới pháp, có sức mạnh ngăn chận và loại bỏ tội ác.
Các pháp số 18 tầng trời cõi Sắc, 6 tầng trời cõi Dục, 16 nước
cường đại, đều dễ tra cứu.
Sau hết, nên nói lại từ ngữ tuệ
giác vô thượng. Từ ngữ ấy chính văn là vô thượng giác. Do chữ
này của chính văn ở đây mà biết không phải ngài La Thập chỉ dịch
tắt A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề là vô thượng đạo, mà cũng
dịch tắt là vô thượng giác. Chữ Bồ đề, ngài cũng dịch là giác,
chứ không phải chỉ dịch là đạo.
Đoạn 2: Qui Định Tất Cả Bồ tát Vị
Phải Tụng Bồ tát Giới Phạm võng
Đức Thế Tôn dạy các vị Bồ tát, nay
Như Lai cứ nửa tháng nửa tháng đích thân tụng lại giới pháp của
Phật pháp. Các người, những vị Bồ tát mới phát tâm cho đến những
vị Bồ tát mười phát thú mười trưởng dưỡng mười kim cang và mười
địa, cũng phải tụng y như vậy. Vì lý do ấy mà ánh sáng giới pháp
từ miệng Như Lai tuôn ra. Ánh sáng ấy có lý do chứ không phải
không có. Nhưng ánh sáng ấy không phải xanh vàng đỏ trắng đen,
không phải vật lý tâm lý, không phải khái niệm có không, không
phải tính cách nhân quả; mà là bản nguyên của chư Phật, là căn
bản của Bồ tát, căn bản của chính đại chúng Phật tử các người.
Vì vậy, đại chúng Phật tử các người phải thọ trì, phải đọc tụng,
phải khéo học.
Bồ tát vị, như đã nói, ngoài sơ
phát tâm và thập tín trước đó, chính yếu gồm có thập trú (phát
thú) thập hạnh (trưởng dưỡng) thập hướng (kim cang) và thập địa.
Hoa nghiêm nói thập trú thập hạnh thập hướng và thập địa, còn
Phạm võng nói 30 tâm và 10 địa, ý nghĩa thì đồng, chỉ danh từ có
khác (Vạn 60/305B). Tất cả Bồ tát vị này đều phải bố tát tụng Bồ
tát giới, vì giới ấy căn bản là thật tướng bát nhã (biểu thị
bằng ánh sáng siêu việt của Phật).
Đoạn 3: Qui Định Điều Kiện Lãnh Thọ
Bồ tát Giới Phạm võng
Phật tử, lắng nghe cho kỹ. Muốn
lãnh thọ giới pháp của chư Phật thì không cứ quốc vương, vương
tử, tể tướng, bách quan, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, phạn thiên mười
tám tầng trời cõi Sắc, thiên nhân sáu tầng trời cõi Dục, tất cả
dân chúng, những kẻ hoàng môn, dâm nam dâm nữ, nô bộc tỳ thiếp,
quỉ thần trong tám bộ, thần Kim cang, súc sinh, cho đến những kẻ
biến hóa, hễ ai hiểu được tiếng nói của vị pháp sư truyền giới,
thì đều có thể thọ giới và được giới đều có thể trở thành người
thanh tịnh bậc nhất.
Điều kiện thọ Bồ tát giới chỉ là và
phải hiểu rõ tiếng nói của vị thầy truyền giới. Chính văn trên
đây kể ra khá nhiều kẻ mà đối với Tỳ kheo giới không được thọ,
vậy mà những kẻ ấy được thọ Bồ tát giới, chứng tỏ giới pháp này
cực kỳ bao dung và quảng đại. Tuy nhiên, những loài không có sắc
thân như Vô sắc giới, hay những kẻ có sắc thân mà thân ấy đi đôi
với tâm quá dữ, quá đần, vô tín ngưỡng (như giới nhẹ 42 nói) thì
cũng không thọ được Bồ tát giới. Dầu vậy, việc thọ Bồ tát giới
vẫn tương đối dễ dàng. Nhưng dễ thọ không có nghĩa Bồ tát giới
không tôn, không nghiêm, không khó như Tỳ kheo giới; chỉ vì Tỳ
kheo giới là bản thể Tăng bảo nên điều kiện thọ giới ấy phải
tương đối khó hơn mà thôi.
Tiết 2:
Nói Về Giới Điều Của Bồ tát Giới Phạm võng
Đoạn 1: Mở Đầu Nói Về Giới Nặng Của
Bồ tát Giới Phạm võng
Đức Thế Tôn dạy, các Phật tử, giới
pháp nặng có mười điều. Nếu thọ Bồ tát giới mà không tụng mười
giới pháp nặng ấy thì không phải Bồ tát, không phải hạt giống
làm Phật. Vì chính Như Lai cũng tụng như vậy, hết thảy Bồ tát
thì đã học sẽ học và đang học. Và như vậy là Như Lai đã vắn tắt
nói đến tướng mạo Bồ tát giới. Các người phải học, kính cẩn mà
phụng trì.
Như đã nói, nói 10 giới nặng là nói
về Bồ tát giới. Vì lẽ 10 giới nặng là phần căn bản của Bồ tát
giới, còn 48 giới nhẹ chỉ là phần đẳng lưu của phần căn bản ấy.
Tướng mạo Bồ tát giới là thọ giới ấy rồi thì phải nửa tháng 1
lần bố tát tụng giới ấy: hình thức của giới ấy, trước tiên, là
điều này.
Số 1: Không Được Tàn Sát
Phật tử nếu tự mình tàn sát, bảo
người tàn sát, tàn sát bằng phương tiện, bằng cách tán dương sự
tàn sát, bằng sự tán đồng khi thấy kẻ khác tàn sát, cho đến tàn
sát bằng chú thuật tàn sát với nguyên nhân, trợ duyên, phương
pháp và động tác của sự tàn sát; nhưng, đối với bất cứ loài nào,
hễ có sinh mạng thì không được cố ý tàn sát. Là Bồ tát thì phải
phát khởi lòng từ bi và lòng hiếu thuận thường trú, phương tiện
cứu giúp và che chở cho hết thảy mọi loài sinh vật, vậy mà đảo
ngược lại, mặc sức khoái ý mà tàn sát, thì đó là tội Ba la di
của Bồ tát.
Bảo người tàn sát, chữ bảo ở đây,
và những chỗ khác sau đây, tùy trường hợp và địa vị người sử
dụng mà có nghĩa là hạ lịnh, chỉ thị, sai khiến, khuyên bảo, xúi
dục, xúc sử, bày vẻ, huấn luyện, gợi ý, nói khích... Tàn sát
bằng phương tiện, bằng cách tán dương sự tàn sát, Chính 24/1004
chép khác, theo đó thì phải dịch "tàn sát bằng cách dùng mọi
phương tiện mà tán dương sự tàn sát". Nếu nói tàn sát bằng
phương tiện, thì phương tiện ấy là mưu mô, khí giới, và những
việc làm trước khi giết chết. Nếu nói dùng mọi phương tiện mà
tán dương sự tàn sát, thì phương tiện ấy là mọi sách lược, thể
thức, khen thưởng... Tàn sát bằng sự tán đồng khi thấy kẻ khác
tàn sát, sự tán đồng, chính văn là tùy hỷ, nghĩa đen là mừng
theo, là sự thích thú thỏa mãn như chính mình làm. Tàn sát với
nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự tàn sát,
nguyên nhân của sự tàn sát là ý muốn tàn sát, trợ duyên của sự
tàn sát là những yếu tố làm cho ý muốn tàn sát được liên tục,
phương pháp của sự tàn sát là sự sử dụng các phương tiện, động
tác của sự tàn sát là ý muốn tàn sát được thực hiện. Giải thích
này làm mẫu để hiểu các giới sau. Hễ có sinh mạng là cơ thể tổ
chức thế nào, hay trình độ tri thức ra sao đi nữa, hễ có sự sống
mà giết chết sự sống ấy đi là tàn sát. Cố ý tàn sát là tàn sát
một cách có ý thức, không phải chỉ do bản năng, thác loạn, lầm
lẫn... Lòng từ bi và lòng hiếu thuận thường trú, thường trú ở
đây vừa có nghĩa bất biến vừa có nghĩa thường trực. Ba la di,
ngài La Thập dịch ý là đọa bất như ý xứ, ngài Huyền tráng dịch ý
là tha thắng xứ, đều có nghĩa là sự bị thua, bị cái khác chiến
thắng; cái khác ấy là tội ác, cái bị thua là giới thể.
Số 2: Không Được Trộm Cướp
Phật tử nếu tự mình trộm cướp, bảo
người trộm cướp, trộm cướp bằng phương tiện, bằng chú thuật trộm
cướp với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự
trộm cướp; nhưng, cho đến tài vật quỉ thần, tài vật có chủ, tài
vật đạo tặc, tài vật công cọng, dẫu bằng cây kim ngọn cỏ mà
thôi, cũng không được cố ý trộm cướp. Là Bồ tát thì phải phát
sinh tâm hiếu thuận và tâm từ bi của Phật tánh, thường xuyên
giúp người làm phước đức và được yên vui, vậy mà đảo ngược lại,
đã không làm như trên mà còn trộm cướp tài vật của người, thì đó
là tội Ba la di của Bồ tát.
Cho đến tài vật quỉ thần, tài vật
có chủ, tài vật đạo tặc, tài vật công cọng, chính văn câu này có
lắm cách giải thích; tôi dịch như vậy là theo ý Vạn 59/359B, ý
này sát hơn cả. "Cho đến" là nói lược tài vật thuộc Tam bảo, tài
vật của loài người, của các loài khác. Giúp người làm phước đức
và được yên vui, như vậy trộm cướp là trộm cướp phước đức và yên
vui của người.
Số 3: Không Được Dâm Dục
Phật tử nếu tự mình dâm dục, bảo
người dâm dục; nhưng, đối với bất cứ nữ nhân nào, cho đến giống
cái trong súc vật, phái nữ trong chư thiên và quỉ thần, hoặc
những chỗ không phải bộ phận sinh thực, đều không được cố ý dâm
dục dâm dục với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác
của sự dâm dục. Là Bồ tát thì phải sinh tâm hiếu thuận, cứu độ
tất cả, bằng cách đem pháp thanh tịnh mà cho người, vậy mà đảo
ngược lại, đã không làm như trên mà còn nổi dậy sự dâm dục đối
với mọi người, không chừa cả súc vật, đến nỗi đối với mẹ, con
gái, chị, em gái, bà con nội ngoại, cũng hành dâm cả, không còn
gì gọi là lòng từ bi, thì đó là tội Ba la di của Bồ tát.
Chính văn này lấy người nam làm
điển hình mà nói, nên đối tượng dâm dục là nữ, như vậy nói người
nữ thì đối tượng phải đổi ra nam cả. Lại nữa, vấn đề phải nêu
lên trước, ấy là giới này đối với người xuất gia thọ Bồ tát giới
thì đúng. Đối với người xuất gia, nói tổng quát, tất cả động tác
gây nhục cảm và nhục dục đều cấm chỉ. Nhưng đối với người tại
gia thọ Bồ tát giới, thì giới này cũng không nói chỉ cấm tà dâm.
Như vậy, đối với họ, chỉ còn đem ngũ giới ra mà nói họ chỉ bị
cấm chỉ tà dâm, và ở Bồ tát giới thì họ nên mong ước và cố mà đi
đến sự cấm chỉ dâm dục. Trong sự cấm chỉ tà dâm, dâm với người
khác đã đành cấm chỉ, và không cần phải nói đến. Điều phải nói
đến, là đối với bản thân và đối với vợ chồng, cũng có những sự
cấm chỉ nghiêm ngặt. Đối với bản thân mà ý dâm, thủ dâm, cho
dâm, thì không những là tà dâm mà còn chính là dâm dục. Đối với
vợ chồng mà dâm dục không phải bộ phận (là ngoài bộ phận sinh
thực) không phải nơi chỗ (là ngoài phòng ngủ) không phải thì
gian (là những ngày đáng kính, nên làm phước, những lúc trai
giới, bị bịnh, có thai...) không phải chừng mực (là ham dâm) đều
là tà dâm cả. Luyến ái và dâm dục với 5 loại bất nam, hay đồng
tính luyến ái, lại càng bị coi là tà dâm và dâm dục nặng nề.
Không phải bộ phận sinh thực, chính
văn là phi đạo (không phải đường tiểu), nhưng dịch đúng hơn nữa
là phi chi (không phải bộ phận sinh thực). Pháp thanh tịnh là
phạm hạnh, trái lại, dâm dục là phi phạm hạnh, và danh từ này
mới thật là điển ngữ của sự dâm dục. Nổi dậy sự dâm dục đối với
mọi người, nếu sát chính văn hơn, và nếu đối chiếu với chính văn
các giới thứ 4 và thứ 5 sau đây mà dịch, thì phải là "làm nổi
dậy sự dâm dục nơi mọi người": đã không cho mọi người pháp thanh
tịnh mà lại làm cho mọi người nổi thói ô nhiễm. Như vậy, làm nổi
dậy sự dâm dục nơi mọi người là không những làm những cách khiêu
dâm khác, mà trước hết là đem ngay thói dâm dục của mình khích
động thói ấy nơi mọi người, bất kể người đó là người nào, loài
nào. Mọi cách khiêu dâm khác là tình ca, tình sử, nhạc loạn,
tranh ảnh, hóa chất, dược phẩm...
Số 4: Không Được Vọng Ngữ
Phật tử nếu tự mình vọng ngữ, bảo
người vọng ngữ, vọng ngữ bằng phương tiện, vọng ngữ với nguyên
nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự vọng ngữ, cho
đến không thấy nói thấy, thấy nói không thấy, vọng ngữ cả thân
thể lẫn tâm trí; nhưng Bồ tát thì phải thường tự phát sinh ngôn
ngữ chân chính và kiến thức chân chính, lại phát sinh cho người
hai thứ ngôn ngữ chân chính và kiến thức chân chính ấy, vậy mà
đảo ngược lại, đã không làm như trên mà còn làm nổi dậy nơi mọi
người những thứ ngôn ngữ bất chính, kiến thức bất chính và hành
động bất chính, thì đó là tội Ba la di của Bồ tát.
Vọng ngữ ở đây bao gồm cả 4 khẩu
nghiệp là vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu. Lại bao gồm
những ngôn ngữ bất chính, là trong mọi sự thấy nghe hay biết của
6 giác quan, có nói không, không nói có. Không thấy nói thấy,
thấy nói không thấy là nói 1 sự thấy để làm tiêu biểu; đủ và tắt
thì phải nói không thấy nghe hay biết mà nói có, có thấy nghe
hay biết mà nói không. Ngoài ra, vọng ngữ ở đây còn bao gồm cả
sự đại vọng ngữ là dối trá rằng mình hiện đã tu chứng. Cái nhân
gây vọng ngữ (ngôn ngữ bất chính) là kiến thức bất chính, cái
quả vọng ngữ là hành động bất chính, và mình vọng ngữ chính là
một trong những nguyên nhân mạnh nhất tạo ra 3 thứ bất chính ấy
nơi kẻ khác. Vọng ngữ cả thân thể lẫn tâm trí là từ ý nghĩ cho
đến cử động không có gì thành thực cả.
Số 5: Không Được Buôn Rượu
Phật tử nếu tự mình buôn rượu, bảo
người buôn rượu buôn rượu với nguyên nhân, trợ duyên, phương
pháp và động tác của sự buôn rượu; nhưng hết thảy loại rượu đều
không được mua bán, vì lẽ rượu là yếu tố gây ra mọi thứ tội lỗi.
Là Bồ tát thì phải phát sinh cho chúng sinh cái tuệ minh đạt,
vậy mà đảo ngược lại, đã không làm như trên mà còn phát sinh cho
người cái tâm thác loạn, thì đó là tội Ba la di của Bồ tát.
Buôn rượu, chính văn là cô tửu, cô
nghĩa là mua bán.
Số 6: Không Được Nói Xấu Đồng Đạo
Phật tử nếu tự mình nói xấu những
sự lầm lỡ của những người xuất gia tại gia thọ Bồ tát giới, hay
của các vị Tỳ kheo Tỳ kheo ni, lại bảo người khác nói xấu, nói
xấu với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự
nói xấu; nhưng Bồ tát nghe những kẻ ác tâm trong hàng ngũ ngoại
đạo và nhị thừa công kích sự phi giáo pháp và phi giới luật
trong tổ chức Phật giáo, thì thường sinh tâm từ bi, giáo hóa
những kẻ ác tâm ấy, làm cho họ có được đức tin đại thừa, vậy mà
đảo ngược lại, đã không làm như trên mà còn tự mình nói xấu
những sự lầm lỡ của trong tổ chức Phật giáo, thì đó là tội Ba la
di của Bồ tát.
Nói xấu là huyên truyền, tố giác.
Nói không đúng là giới vọng ngữ, không phải giới này. Giới này
nói có phần đúng sự thực, nhưng sự thực ấy chỉ được cử tội đúng
luật, chứ không được nói với cách nói xuyên tạc, bừa bãi, nói
với dụng ý triệt hạ cá nhân, gây hậu quả tổn thương đạo pháp.
Nói như vậy không phải là cử tội đúng luật. Cử tội đúng luật là
nếu mình thấy, nghe hay nghi đồng đạo có lỗi, thì phải nghiêm
chỉnh nói ra, nhắm mục đích bảo tồn giới đức cho đồng đạo và bảo
trì mạng sống của đạo pháp. Nhưng, nói ra với hảo ý như vậy mà
nói ở chỗ nào, nói với người nào, nói bằng cách nào, nói vào lúc
nào, nhất nhất phải đúng luật. Không nói ra thì phạm giới nhẹ
thứ 5, mà nói không đúng luật thì phạm tội nói xấu này.
Tiểu thừa công kích đại thừa, ngoại
đạo công kích cả hai, sự công kích ấy dẫu vì bất đồng lý thuyết,
vì tranh thủ danh lợi, hay vì bất mãn cá nhân, cũng tan biến cả
khi có đức tin đại thừa, tin rằng mình sẽ làm Phật, nhất là khi
đức tin ấy được giúp cho phát sinh bởi lòng từ bi chân thành.
Số 7: Không Được Khen Mình Chê
Người
Phật tử nếu tự tán dương mình mà
phỉ báng người khác, lại bảo kẻ khác phỉ báng phỉ báng với
nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và động tác của sự phỉ báng;
nhưng Bồ tát thì phải thay thế hết thảy chúng sinh mà chịu lấy
bao nhiêu sự phỉ báng và tủi nhục, việc xấu thì xoay về nơi
mình, việc tốt thì đưa cho người khác, vậy mà đảo ngược lại, tự
khoe cái hay của mình, dấu cái tốt của người, làm cho họ phải
chịu mọi sự phỉ báng, thì đó là tội Ba la di của Bồ tát.
Tổn đức và giết chết chí tiến thủ
của người nhất chính là sự phỉ báng. Không có cái đức nào hơn
cái đức chịu nhục cho người, không có sự nâng đỡ nào hơn sự tán
dương ưu điểm của họ.
Số 8: Không Được Tiếc Lẫn Tài Pháp
Phật tử nếu tự mình tiếc lẫn, bảo
người tiếc lẫn, tiếc lẫn với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp
và động tác của sự tiếc lẫn; nhưng Bồ tát thì bất cứ người nghèo
thiếu nào đến cầu xin, cũng phải tùy nhu cầu của họ mà cung cấp
những thứ mình có, vậy mà đảo ngược lại, vì tâm địa không tốt,
tâm lý hờn giận, nên đến nỗi một đồng tiền, một cây kim, một
ngọn cỏ, cũng không cho ai; có ai đến cầu xin Phật pháp, đã
không nói cho họ được một câu đủ nghĩa, một bài chỉnh cú, một
chút bằng hạt bụi, lại còn nhục mạ họ nữa, thì đó là tội Ba la
di của Bồ tát.
"Không được tiếc lẫn tài pháp" là
răn sự tiếc lẫn tài vật và tiếc lẫn Phật pháp mà còn nhục mạ
những người cầu xin. Làm mất giống Phật là do sự tiếc lẫn Phật
pháp, làm đứt thiện duyên đối với chúng sinh là do sự tiếc lẫn
tài vật. Một câu đủ nghĩa, chính văn là nhất cú, là 1 câu có
nghĩa, đủ nghĩa, như câu ai cũng có Phật tánh. Một bài chỉnh cú,
chính văn là nhất kệ, chỉ cho bất cứ 1 bài 4 câu nào trong thể
loại chỉnh cú của các kinh, lại chỉ cho bất cứ 4 câu 8 chữ
(thành 32 chữ) nào liên tiếp với nhau, thuộc mọi thể loại trong
các kinh. Một chút như hạt bụi là nói mà không đủ 1 câu hay 1
bài như trên, hoặc chỉ lộ 1 ý niệm hay phác 1 cử chỉ tốt đẹp, ý
nghĩa.
Số 9: Không Được Giận Dữ Không
Nguôi
Phật tử nếu tự mình giận dữ, bảo
người giận dữ giận dữ với nguyên nhân, trợ duyên, phương pháp và
động tác của sự giận dữ; nhưng Bồ tát thì phải phát sinh cho
người mọi thứ thiện căn, nhất là đức tính hòa bình, thường phát
sinh nơi mình tâm từ bi và tâm hiếu thuận, vậy mà đảo ngược lại,
đã không làm như trên mà, đối với chúng sinh, thậm chí đối với
phi chúng sinh, còn nhục mạ bằng miệng tiếng độc dữ, da thêm sự
đánh đập bằng tay chân và khí cụ, lòng vẫn chưa nguôi, người ta
cầu xin sám hối, tạ tội bằng ngôn ngữ khả ái, cũng vẫn giận dữ
không thôi, thì đó là tội Ba la di của Bồ tát.
"Không được giận dữ không nguôi",
rõ thì phải thêm không cho sám hối. Đức tính hòa bình, chính văn
là vô tránh: không tranh cãi, đấu đá. Phi chúng sinh là cảnh
vật, là người và vật do biến hóa hay ảo thuật mà có, là các vị
đã giải thoát. Đánh đập bằng tay chân và khí cụ, dịch sát là
đánh đập bằng tay, bằng dao, gậy, nói tóm là sự hành hung.
Số 10: Không Được Phỉ Báng Tam Bảo
Phật tử nếu tự mình phỉ báng Tam
bảo, bảo người phỉ báng phỉ báng với nguyên nhân, trợ duyên,
phương pháp và động tác của sự phỉ báng; nhưng Bồ tát nghe cái
tiếng của những kẻ ngoại đạo hay những người ác tâm buông một
lời phỉ báng đến Phật thì đã thấy như tim mình bị ba trăm mũi
nhọn đâm vào, huống chi chính miệng mình phỉ báng; đã không phát
sinh sự tín ngưỡng và lòng hiếu thuận cho mọi người mà còn đảo
ngược lại, giúp thêm vào sự phỉ báng của những kẻ ác tâm, những
người tà kiến, thì đó là tội Ba la di của Bồ tát.
Phật tử mà phỉ báng Tam bảo là hết
lẽ rồi, nhất là sự phỉ báng bằng cách qui y Tam bảo rồi lại theo
phe phái hay thủ lãnh khác. Vậy mà việc này vẫn thấy xảy ra,
không những nơi tín đồ mà nơi tăng sĩ cũng có, và lỗi không phải
chỉ ở đệ tử, mà ở chính vị bổn sư thiếu kiến thức, thiếu giáo
huấn, thiếu cả gương mẫu.
Đoạn 3: Kết Thúc Về 10 Giới Nặng
Của Bồ tát Giới Phạm võng
Các nhân giả khéo học, như thế đó
là mười giới pháp nặng của Bồ tát, các nhân giả phải học. Trong
đó nhất nhất không được phạm vào bằng một hạt bụi, huống chi
phạm đủ cả mười giới pháp. Ai phạm thì người đó thân hiện tại
không thể phát Bồ đề tâm, phẩm vị quốc vương và luân vương đã
mất, lại mất phẩm vị Tỳ kheo Tỳ kheo ni, mất các Bồ tát vị mười
phát thú mười trưởng dưỡng mười kim cang và mười địa, bao nhiêu
thành quả vi diệu và thường trú của Phật tánh cũng mất tất cả,
sa vào ba đường dữ, đến nỗi hai kiếp ba kiếp không nghe được cái
tiếng Cha Mẹ hay danh hiệu Phật Pháp Tăng. Vì lẽ ấy, nhất nhất
không nên phạm. Bồ tát các người đang học bây giờ, sẽ học về
sau, đã học trong quá khứ, đối với mười giới pháp nặng như vậy
phải cung kính phụng trì, như Như Lai sẽ nói rộng rãi trong phẩm
Tám vạn uy nghi.
Đây là kết thúc 10 giới nặng, tức
là kết thúc Bồ tát giới phần căn bản. Kinh Anh lạc nói, phạm 10
giới này thì 10 trú, 10 hạnh, 10 hướng và 10 địa đều mất cả. Nên
10 giới này là căn bản của hết thảy Phật đà, Bồ tát. Hết thảy
Phật đà, Bồ tát không do 10 giới này mà thu hoạch đạo quả hiền
thánh là điều không thể có được. Mười giới này ở sơ trú rồi lần
lên 9 trú thì dần dần rộng thêm ra, cho đến lần lên 10 hạnh, 10
hướng và 10 địa thì dần dần rộng thêm ra nữa cho đến trên cả tầm
nghĩ bàn (Chính 24/1012). Rộng thêm ra là đẳng lưu ra, thành
phần đẳng lưu của Bồ tát giới. Như vậy phần ấy, ở đây, nói 48
giới nhẹ chỉ là rộng thêm ra ở địa vị phàm phu mà thôi.
Chính văn nói mất phẩm vị quốc
vương luân vương và phẩm vị Tỳ kheo Tỳ kheo ni, là nói phạm 10
giới nặng thì không còn tư cách để đảm nhận những nghĩa vụ cầm
quyền hay làm người xuất gia. Không nghe được cái tiếng Cha Mẹ
hay danh hiệu Phật Pháp Tăng: cái tiếng khêu gợi cảm tình cuối
cùng là tiếng Cha hay tiếng Mẹ, cái tiếng khêu gợi lòng hướng
thiện nhất là các tiếng Phật Pháp Tăng. Quả báo mà đến 2 hay 3
kiếp không được nghe các tiếng như vậy mới nặng đến tột bực. Khổ
nhiều chưa nặng; cái yếu tố khêu gợi cảm tình tốt đẹp và lòng
hướng thiện mà mất đi, đến nỗi những danh từ cuối cùng của các
tác dụng ấy cũng không còn được nghe đến, ấy mới thật quá vô
phước. Qui định "hiếu là giới", rồi nói quả báo cực nặng của sự
phạm giới là không được nghe đến các tiếng Cha mẹ, lại đưa các
tiếng ấy lên ngang danh hiệu Phật pháp tăng, điều này quả thật
là đặc thù của Bồ tát giới Phạm võng.
Đoạn 1: Mở Đầu Nói Về 48 Giới Nhẹ
Của Bồ tát Giới Phạm võng
Đức Thế Tôn dạy các vị Bồ tát, Như
Lai đã nói mười giới pháp nặng rồi, bốn mươi tám giới pháp nhẹ
bây giờ Như Lai sẽ nói.
Đã nói 10 giới nặng là nói phần căn
bản của Bồ tát giới Phạm võng rồi, bây giờ nói 48 giới nhẹ là
nói phần đẳng lưu của phần căn bản ấy. Nói bằng cách chia ra 3
lần 10 và 2 lần 9, chỉ để dễ nhớ mà thôi.
Số 1: Không Được Bất Kính Thầy Bạn
Phật tử nếu sắp nhận địa vị quốc
vương, địa vị luân vương, địa vị bách quan, thì trước đó phải
lãnh thọ Bồ tát giới. Những người như vậy sẽ được quỉ thần hộ
trì, được chư Phật hoan hỷ. Lãnh thọ Bồ tát giới rồi, phải sinh
tâm hiếu thuận và tâm tôn kính; khi thấy các vị thượng tọa, hòa
thượng, xà lê, các vị đại đức, thấy các người cùng một sở học,
cùng một kiến giải, cùng một sở hành, thì hãy đứng lên, đón
tiếp, thi lễ, hỏi han. Là Bồ tát mà đảo ngược lại, sinh tâm kiêu
ngạo, tâm khinh lờn, tâm ngoan cố, tâm giận dữ, không chịu đứng
lên, đón tiếp, thi lễ, hỏi han, mọi sự nhu cầu cũng không cung
phụng đúng với chánh pháp; trong khi lẽ đáng nên hy sinh cả bản
thân, địa vị, con cái, của báu và tài vật linh tinh mà hiến cúng
các ngài. Nếu không làm như vậy thì phạm tội khinh cấu.
Trước khi đảm nhận địa vị cầm quyền
mà phải thọ giới là vì địa vị cầm quyền dễ phạm tội ác. Địa vị
ấy càng cao thì tội ác càng dễ có và có nhiều, nên phải thọ giới
để răn mình cho xã hội và dân chúng khỏi tai họa. Trong những sự
răn mình ấy có sự lễ độ.
Trong khi lẽ đáng nên hy sinh cả
bản thân, địa vị, con cái, của báu và tài sản linh tinh mà hiến
cúng các ngài, câu này nên chú ý 3 điều. Một, câu này tôi chuyển
văn mà dịch cho rõ như vậy. Dịch sát là "tự bán thân thể, quốc
thành, con trai, con gái, 7 thứ quí báu, trăm vật, mà cung cấp
các ngài". Hai, ý câu này là nói lẽ đáng như vậy, chứ không phải
sự việc phải đến như vậy. Sau này, những cách nói như vậy, hay
tương tự như vậy, thì cũng phải hiểu như vậy. Ba, tự bán là hy
sinh. Hy sinh bản thân là đem tư tưởng và sức lực của mình mà
hiến cúng. Hy sinh địa vị, chính văn là quốc thành, là vương
quốc và hoàng thành, nhưng ý chính là hy sinh địa vị vua chúa
quan quyền đối với quốc thành, chứ không phải hy sinh quốc
thành. Ở đây chỉ có nghĩa nếu phải hy sinh địa vị mới hiến cúng
được thì cũng không từ nan. Sự hy sinh con cái cũng chỉ có nghĩa
như vậy. Nhưng sự hiến cúng phải đúng chánh pháp. Một trong sự
đúng chánh pháp ấy là chỉ hiến cúng những thứ và những số lượng
theo nhu cầu đúng chánh pháp.
Số 2: Không Được Uống Các Thứ Rượu
Phật tử nếu cố ý uống rượu, mà rượu
thì dẫn ra vô số lầm lỗi; tự tay mình trao rượu cho người khác
uống mà năm trăm đời kiếp cánh tay không có, huống chi chính
mình tự uống. Cũng không được chỉ bảo cho mọi người uống rượu
hay luyện tập cho các sinh vật khác uống, huống chi chính mình
uống lấy. Nên bất cứ rượu gì cũng không được uống. Nếu cố ý tự
uống hay bảo người khác uống thì phạm tội khinh cấu.
Đưa rượu cho người khác uống, quá
hơn nữa, chỉ cách cho người khác uống, luyện tập cho sinh vật
uống, thì tội còn nặng hơn chính mình tự uống lấy.
Số 3: Không Được Ăn Các Thứ Thịt
Phật tử nếu cố ý ăn thịt, nhưng
thịt nào cũng không được ăn. Ăn thịt thì hỏng mất hạt giống Phật
tánh vốn rất từ bi, mọi loài sinh vật thấy thì bỏ chạy. Vì lý do
ấy, tất cả Bồ tát không được ăn dùng bất cứ thứ thịt gì của sinh
vật nào. Ăn thịt thì tội lỗi vô lượng. Nếu cố ý ăn thì phạm tội
khinh cấu.
Không được ăn thịt là vì ăn thịt
thì mất giống Phật tánh từ bi và chúng sinh kinh sợ, ác cảm. Tất
cả Bồ tát không được ăn dùng bất cứ thịt gì của sinh vật nào thì
không còn phân biệt tại gia xuất gia, không còn nói đến không
thấy không nghe không nghi.
Số 4: Không Được Ăn Đồ Cay Nồng
Phật tử thì không được ăn năm loại
cay nồng là tỏi, kiệu, hành, nén, hẹ. Năm loại ấy, trong bất cứ
thức ăn nào cũng không được ăn. Nếu cố ý ăn thì phạm tội khinh
cấu.
Đồ cay nồng là 5 thứ thường gọi là
ngũ vị tân. Ăn 5 thứ này thì tụng kinh trì chú không linh nghiệm
mà còn tai họa. Nhưng 5 thứ này có lắm giải thích, và rốt cuộc
có người cho là tế toái, không đáng bàn kyծ Giải thích thì có 2
ý kiến đáng ghi. Một, trong 5 thứ, thứ hưng cừ ở Tàu không có,
còn 4 thứ kia là tỏi, hành, hẹ, nén. Hai, 5 thứ là tỏi, kiệu,
hành, nén và hẹ. Xét cách dùng chữ của ngài La Thập thì ngoài
thứ đầu là đại toán (tỏi) và thứ cuối là hưng cừ (?), 3 thứ giữa
toàn là thông: các thông, từ thông, lan thông. Thông là hành, và
như vậy thì tất cả loại hành, và cùng loại với hành, đều cấm
dùng. Hưng cừ có hay không có ở Tàu, không quan trọng, quan
trọng là trong 5 thứ tất phải có kiệu như giải thích thứ hai đã
kể. Kiệu không những cay nồng, mà còn tệ là sinh đàm chứ không
có giá trị dược liệu. Dịch tỏi, kiệu, hành, nén và hẹ, là theo ý
kiến Vạn 59/207B.
Số 5: Không Được Không Khuyên Sám
Hối
Phật tử nếu thấy ai phạm tám giới,
năm giới, mười giới, các giới khác, bảy tội nghịch, và những
tôểi ác bị tám tai nạn, thấy tất cả tội phạm giới như vậy đều
phải khuyên và chỉ cho họ cách thức sám hối. Là Bồ tát mà không
khuyên và chỉ cho họ cách thức sám hối, lại cùng họ cư trú, cùng
họ nhận đồ hiến cúng, cùng họ bố tát và đồng chúng thuyết giới
mà không cử tội để khuyên và chỉ cách cho họ sám hối, thì phạm
tội khinh cấu.
Sám hối, nguyên nghĩa là xin sự
chịu đựng, sự tha thứ ở người mình phạm lỗi, diễn thành nghĩa tự
ghét việc mình làm, nghĩa ăn năn chừa bỏ. Sám hối có cách thức
mà luật đã ấn định. Nếu thấy ai phạm giới, đã không khuyên và
chỉ cách sám hối, lại còn ở chung, hưởng chung đồ hiến cúng,
chung nhau bố tát mà không cử tội, thì đó là nguyên nhân làm bại
hoại Tam bảo. Nhưng cử tội phải đúng luật, nếu không thì phạm
giới nặng thứ 6.
Số 6: Không Được Không Cầu Chánh
Pháp
Phật tử nếu thấy các vị pháp sư đại
thừa, các vị cùng học cùng hiểu và cùng làm về đại thừa, đến
tăng phường, đến nhà cửa, thành thị, thôn ấp của mình, và dẫu ở
xa cách trăm dặm ngàn dặm mà đến đi nữa, cũng tức thì đứng lên,
đón rước, tiễn đưa, kính lạy, hiến cúng. Mỗi ngày hiến cúng ba
lần, và giả sử tốn đến vài ba lạng vàng đi nữa, hết thảy đồ uống
đồ ăn, đồ nằm, đồ ngồi, đồ mặc, thầy thuốc, thuốc, đều cung đốn
cho vị pháp sư. Mọi sự nhu cầu của vị ấy cung phụng đủ cả. Mỗi
ngày ba lần, phải thường thỉnh cầu vị pháp sư thuyết pháp cho.
Mỗi ngày kính lạy ba lần mà vẫn không nỗi dậy trong lòng sự giận
dữ, phiền bực. Vì pháp mà mất mạng đi nữa cũng vẫn cầu pháp
không chán. Nếu không như vậy thì phạm tội khinh cấu.
"Không được không cầu chánh pháp",
có người thêm không cúng pháp sư, nhưng xét cốt ý và kết thúc
thì thấy giới này cốt răn sự không thỉnh cầu chánh pháp. Trong
chính văn nói sự hiến cúng vị pháp sư, chỉ là nói giả sử, không
phải nói thật sự hay nói bắt buộc. Tinh thần giới này là "vì
pháp mà mất mạng" cũng không từ, huống chi từ chối vì mệt nhọc
và hao tốn. Tinh thần như vậy là tinh tiến mà cầu pháp. Nhưng đó
là nói người hiến cúng và cầu pháp, còn vị pháp sư thì thế nào?
Pháp sư ở đây là pháp sư đại thừa. Pháp sư đại thừa ở đây, xét
ra, là chỉ cho vị có thể làm 2 nhiệm vụ hòa thượng và giáo thọ
trong việc truyền thọ Bồ tát giới. Vị pháp sư đại thừa này phải
có tư cách đúng với Bồ tát giới, nhất là các giới 15, 16, 17,
18, 23, 30, 40 và 41 sau đây, liên quan đến tư cách ấy. Nói tối
thiểu, vị pháp sư đại thừa cũng phải biết tinh tiến chỉ dạy
chánh pháp và biết thiểu dục tri túc. Nhác, xa hoa, hoặc làm khó
trong việc chỉ dạy chánh pháp, thì không còn là pháp sư, huống
chi là pháp sư đại thừa, pháp sư đáng hiến cúng.
Tăng phường: khu vức cư trú của chư
Tăng, nói hẹp lại thì Tăng phường là Tăng xá, tự viện.
Số 7: Không Được Không Đi Nghe Pháp
Phật tử thì bất cứ chỗ nào có diễn
giảng kinh luật nói về giới pháp, chỗ ấy dầu là nhà to cửa lớn
mà có đặt chỗ diễn giảng, các vị Bồ tát mới học cũng phải đem
kinh luật đến mà lắng nghe, tiếp nhận và thưa hỏi nơi vị pháp
sư. Trong núi rừng, dưới đại thọ, nơi tăng địa, trong tăng
phường, bất cứ chỗ nào có giảng thuyết giới pháp thì càng đến để
lắng nghe, tiếp nhận. Nếu không đến thì phạm tội khinh cấu.
Nhà to cửa lớn là nhà cửa giàu sang
của thế gian. Kinh luật nói về giới pháp, chính yếu là Bồ tát
giới Phạm võng. Không có chỗ nào diễn giảng giới pháp đại thừa
thì phải vận động tổ chức cho có, huống chi có chỗ như vậy mà
không đến để nghe, học.
Câu "kinh luật nói về giới pháp" có
bản chép hơi khác, theo đó thì phải dịch kinh luật nói về giáo
pháp và giới luật. Câu "chỗ nào giảng thuyết giới pháp" cũng
phải dịch theo, rằng chỗ nào giảng thuyết giáo pháp và giới
luật. Nhưng tôi chọn cách chép như đã dịch, vì rõ ràng ở đây
kinh luật là kinh mà nội dung nói về luật.
Số 8: Không Được Phản Đại Thừa Giới
Phật tử nếu tư tưởng phản bội kinh
luật thường trú của đại thừa, cho rằng kinh luật ấy không do Như
Lai tuyên thuyết, và đảo ngược lại, thọ trì những kinh luật của
nhị thừa thanh văn và ngoại đạo ác kiến mà nội dung gồm có giới
pháp và lý thuyết phủ nhận Phật tánh, thì phạm tội khinh cấu.
Kinh luật thường trú của đại thừa
là Bồ tát giới Phạm võng mà bản nguyên là Phật tánh thường trú,
nên gọi là kinh luật thường trú. Nhị thừa thanh văn, ở đây thanh
văn là cỗ xe cấp hai, thứ yếu, nên gọi là nhị thừa thanh văn,
chứ không phải như ở chỗ khác nhị thừa là Duyên giác và Thanh
văn.
Không phản bội giới pháp đại thừa
bằng cách thọ trì cấm giới và sách vở của ngoại đạo thì điều ấy
khỏi phải nói đến. Điều phải nói đến là giới này bảo thọ trì cấm
giới của thanh văn cũng là phản bội đại thừa giới. Cách nói này
phải quyết trạch. Giới pháp thanh văn là Tỳ kheo giới. Giới pháp
ấy là bản thể của Tăng bảo. Như vậy không thọ Tỳ kheo giới thì
quyết định không phải là Tăng. Nhưng thọ Tỳ kheo giới mà cố chấp
giới ấy mới là Phật chế và bài xích Bồ tát giới thì đó là điều
mà giới thứ 8 này gọi là phản bội và cấm chỉ. Trái lại, thọ Tỳ
kheo giới và thọ Bồ tát giới để thành Tỳ kheo Bồ tát tăng, thì
đó là điển hình mà Bồ tát giới Phạm võng cố tạo ra. Và đó là nói
hàng xuất gia. Hàng tại gia mà thọ Bồ tát giới thì đối với tam
qui ngũ giới cũng phải hiểu như vậy. Không thọ tam qui ngũ giới
thì nhất định không phải Phật tử tại gia. Không có cái vụ thọ Bồ
tát giới mà không thọ tam qui ngũ giới. Thọ tam qui ngũ giới mà
thọ Bồ tát giới thì đó là Tại gia Bồ tát mà Bồ tát giới Phạm
võng cố tác thành.
Số 9: Không Được Không Giúp Bịnh
Tật
Phật tử nếu thấy bất cứ người bịnh
tật nào cũng phải giúp đỡ thường xuyên y như phụng sự Phật đà.
Bởi lẽ trong tám đám ruộng sinh trưởng phước đức, sự chăm sóc
bịnh tật là đám ruộng tốt nhất. Nếu cha mẹ, đại sư, chư tăng,
hay đệ tử bị bịnh tật, bị thiếu các bộ phận nơi cơ thể, bị hàng
trăm thứ bịnh dày vò, thì mình phải chăm nuôi cho lành mạnh. Là
Bồ tát mà vì tâm lý tàn nhẫn, tâm lý giận ghét, nên không chăm
sóc bịnh tật cho người, đến nỗi nơi tăng phường, nơi thành thị,
thôn ấp, nơi hoang dã, núi rừng, nơi đường sá, thấy bịnh nhân
cũng không cứu giúp thì phạm tội khinh cấu.
Nỗi khổ con người không chi phiền
hơn bịnh tật, nên sự chăm sóc bịnh tật được giới này đưa lên
ngang với sự phụng sự Phật. Thấy bịnh mà bỏ đi, nhất là đối với
những người mình có bổn phận mà bịnh tật không chăm sóc cho lành
mạnh, thì tâm địa tàn nhẫn đó còn chi gọi là người, huống chi
gọi là người thọ Bồ tát giới.
Số 10: Không Được Tàng Trữ Khí Cụ
Phật tử thì không được tàng trữ
dao, gậy, cung, tên, giáo, búa, và những khí giới chiến đấu
khác. Bao nhiêu dụng cụ để bẫy lưới săn bắt, sát hại sinh vật,
cũng không được tàng trữ. Là Bồ tát thì đến nỗi kẻ giết cha mẹ
mình, mình cũng không giết lại để báo thù, huống chi đối với
người khác và vật khác. Nên không được tàng trữ khí giới và dụng
cụ tàn sát. Nếu cố ý tàng trữ thì phạm tội khinh cấu.
Chữ tàng trữ, ngoài sự sắm cất còn
có sự buôn bán. Tàng trữ khí giới chiến tranh và dụng cụ tàn
sát, thì không những phạm tội sát sinh mà còn chính mình làm cho
kẻ khác phạm vào tội ác này.
Sự trả thù không có giá trị đình
chỉ tội ác. Nên phải thay vì sự trả thù bằng sự cảm hóa. Đó là
giải thích vì sao không giết lại kẻ đã giết cha mẹ mình; chứ
không phải không giết lại kẻ ấy là vì vô tình đối với cha mẹ.
Mười giới pháp nhẹ như vậy các
người phải học, phải cung kính phụng trì, như trong sáu phẩm sau
Như Lai sẽ nói rõ.
Kết thúc 10 giới nhẹ thứ nhất. Sáu
phẩm sau, có bản chép khác, theo đó thì phải dịch phẩm Sáu ba la
mật sau đây.
Số 11: Không Được Làm Kẻ Quốc Tặc
Phật tử thì không được vì lợi lộc
hay vì ác ý, làm sứ thần cho quốc gia mà liên minh quân sự, động
binh đánh nhau, tàn hại vô số sinh mạng. Là Bồ tát thì sự qua
lại trong quân binh còn không được có, huống chi cố ý làm tên
quốc tặc. Nếu cố ý làm thì phạm tội khinh cấu.
Làm sứ thần gây chiến tranh là làm
gián điệp ngoại giao, là làm sứ thần cho chính thể gây hấn: là
làm quốc tặc. Chiến tranh do những tên quốc tặc này gây ra, dầu
là giữa quốc gia mình với quốc gia khác, dầu là giữa các quốc
gia khác, đều là những cuộc chiến tội ác. Và như vậy, những tên
quốc tặc còn là những tên giặc quốc tế. Nhưng đó là nói sứ thần
gây chiến. Sứ thần vận động hòa bình thì giới này không nói đến.
Số 12: Không Được Buôn Bán Tàn Nhẫn
Phật tử nếu cố ý buôn bán lương
dân, buôn bán nô bộc tỳ thiếp, buôn bán súc vật, buôn bán quan
quách và những dụng cụ tẩn liệm; nhưng mọi sự buôn bán ấy chính
mình còn không được làm, huống chi chỉ bảo người khác. Nếu cố ý
tự làm hay chỉ bảo người khác thì phạm tội khinh cấu.
Buôn người, buôn súc vật, là sống
trên sinh mạng. Buôn đồ tẩn liệm là sống trên cái chết.
Số 13: Không Được Phỉ Báng Không
Thật
Phật tử nếu vì tâm địa độc ác mà,
một cách không có sự thật, phỉ báng những người hiền lương,
những vị thiện đức, những bậc pháp sư, đại sư hòa thượng, đại sư
xà lê, quốc chúa, quí nhân, rằng phạm bảy tội nghịch, mười giới
nặng... Nhưng, đối với những người nên coi như cha mẹ chú bác
anh em trong hàng lục thân ấy, mình phải phát sinh tâm hiếu
thuận, tâm từ bi, vậy mà đảo ngược lại, đã không làm như trên,
lại còn da thêm sự trái ý, sự tổn thương, khiến họ hảm vào tình
trạng khổ tâm, thì phạm tội khinh cấu.
Đã coi tất cả đều là bà con, nhất
là "bà con Phật pháp", mà lại làm cho họ khổ tâm, thì còn gì gọi
là từ bi, gọi là hiếu thuận. "Không thật" hay không có sự thật,
là không có tội lỗi mình thấy, nghe hay nghi, mà vu khống, phỉ
báng là có. Nếu thật có tội lỗi mà mình thấy, nghe hay nghi thì
phải cử tội đúng luật, không được dung túng, cũng không được rêu
rao.
Số 14: Không Được Cố Ý Thiêu Đốt
Phật tử nếu vì tâm địa tàn ác mà
phóng lửa lớn, đốt cháy núi rừng, đồng nội; tháng tư đến tháng
chín cũng phóng lửa; phóng lửa đến nỗi có thể cháy lan đến cả
nhà cửa, phòng ốc, thành thị, thôn ấp, tăng phường, ruộng vườn
và cây cối của người, cháy lan đến vật quỉ thần, vật công hữu.
Nhưng hết thảy đều là vật có chủ, không được cố ý thiêu đốt. Nếu
cố ý thiêu đốt thì phạm tội khinh cấu.
Vật quỉ thần, vật công hữu. Nhưng
hết thảy đều là vật có chủ, chính văn tôi chọn để dịch là "quỉ
thần quan vật. Nhất thế hữu chủ vật". Trong cách dịch này, "hết
thảy đều là vật có chủ", dịch sát là"hết thảy vâểt có chủ". Nếu
nói hết thảy vật có chủ thì có nghĩa còn có vật vô chủ và có thể
thiêu đốt vật ấy. Nhưng giới này đã kể vật quỉ thần và vật công
hữu, thì không còn nhận có vật gì là vô chủ, nên phải dịch như
đã dịch. Chưa hết, chính văn câu này có những bản chép hữu chủ
vật ra hữu sinh vật, theo đó thì phải dịch "những chỗ có sinh
vật"; lại có những bản chép quan vật ra cung vật, hữu chủ vật ra
hữu sinh vật, theo đó thì phải dịch "cung miếu và tài vật của
quỉ thần; nhưng tất cả những chỗ có sinh vật". Giới này, xét kỹ
thì thấy răn sự đốt phá vô trách nhiệm nhiều hơn răn sự đốt phá
tàn hại sinh mạng, nên Vạn 60/87B nói chữa hữu chủ ra hữu sinh
là sai. Tinh thần giới văn cấm chỉ nhất là đốt rừng. Xét đến bao
nhiêu tác dụng trọng đại không thể thay thế của rừng rú mới thấy
sự quan trọng của giới này.
Tháng tư đến tháng chín là những
tháng ở Ấn độ thảo mộc côn trùng sinh sản nhiều hơn và bị cấm
thiêu đốt nhiều hơn, chứ không phải chỉ cấm những tháng ấy mà
thôi. Sau hết, giới này là cấm đốt kẻo cháy lan đến của cải và
tánh mạng của người và vật; nếu cốt đốt cháy của cải và tánh
mạng của người và vật thì phạm tội trộm cướp và tàn sát.
Số 15: Không Được Chỉ Dạy Sai Lệch
Phật tử thì với những người cùng là
Phật tử như mình, với ngoại đạo, với kẻ ác, với bà con, với
những người quen biết tốt, với ai cũng hướng dẫn cho họ thọ trì
kinh luật đại thừa, hướng dẫn cho họ lý giải được nghĩa ý của
kinh luật ấy, làm cho họ phát Bồ đề tâm; mười tâm phát thú, mười
tâm trưởng dưỡng, mười tâm kim cang, ba mươi tâm ấy nhất nhất
hướng dẫn cho họ hiểu rõ pháp dụng thứ tự. Nếu là Bồ tát mà vì
tâm lý xấu xa, tâm lý hiềm ghét, một cách rất vô lý chỉ dạy cho
người kinh luật của nhị thừa thanh văn và học thuyết của ngoại
đạo tà kiến thì phạm tội khinh cấu.
"Không được chỉ dạy sai lệch", cũng
có thể nói không được không dạy đại thừa. Đối với bất cứ ai,
nhưng với sự cẩn trọng tuyệt đối, người thọ Bồ tát giới phải
hướng dẫn cho họ 3 điều: học hiểu Bồ tát giới, phát Bồ đề tâm,
học hiểu Bồ tát vị. Dạy khác đi là sai lệch. Pháp dụng: cái dụng
trừ mê lầm chứng chân lý của các pháp phải học ở trên.
Về việc dạy Tỳ kheo giới (kinh luật
của nhị thừa thanh văn) hay tại gia giới, thì tinh thần và sự
việc đã nói trong khi giải thích giới nhẹ số 8.
Số 16: Không Được Nói Pháp Rối Loạn
Phật tử thì bằng một tâm nguyện tốt
đẹp, trước tiên học tập uy nghi và giới pháp của kinh luật đại
thừa, lý giải một cách sâu rộng nghĩa lý và ý vị của uy nghi và
giới pháp ấy. Rồi thấy các vị Bồ tát mới học mà có người từ trăm
dặm ngàn dặm đến cầu học kinh luật đại thừa, thì phải nói cho
họ, một cách đúng như chánh pháp, về những khổ hạnh như thiêu
đốt thân phần, cánh tay, ngón tay. Nếu thấy họ tỏ ý e ngại sự
thiêu đốt ấy, mặc dầu đã được bảo là thiêu đốt để hiến lên chư
Phật đi nữa, thì biết không phải là Bồ tát xuất gia. Bồ tát xuất
gia thì dẫu đến hổ lang, sư tử và quỉ thần đang đói, cũng nên xả
thịt hay tay chân của mình mà cung cấp. Sau khi nói những pháp
khổ hạnh rồi, nhất nhất tuần tự nói cho họ về giới pháp chính
yếu, làm cho tâm của họ mở rộng, ý của họ giải tỏa. Nếu là Bồ
tát mà vì ý niệm lợi lộc nên điều đáng giải đáp không giải đáp,
nói một cách rối loạn văn nghĩa của kinh luật đại thừa, không có
thứ tự trước sau, nói tóm, nói một cách phỉ báng Tam bảo, thì
phạm tội khinh cấu.
"Không được nói pháp rối loạn" là
phải nói một cách tuần tự. Trước hết phải thử nghiệm và nung nấu
tâm chí cho người học đạo bằng cách trình bày các pháp khổ hạnh,
sau đó ngó được mới dạy Bồ tát giới. Uy nghi và giới pháp của
kinh luật đại thừa là chi tiết và giới điều của Bồ tát giới Phạm
võng. Thiêu đốt nằm trong nghĩa hy sinh, phóng xả. Thiêu đốt để
hiến lên chư Phật là hiến lên chư Phật cái chí nguyện kiên cố
như trong sự thiêu đốt. Nhưng đây là nói để thử. Thử coi nói đến
hiến lên chư Phật mà họ có mạnh mẽ tâm chí không. Không thì phải
dạy bảo từ từ, cốt sao cho họ có được tâm chí kiên cường để thọ
trì Bồ tát giới. Đối với thân thể, nói tổng quát, Bồ tát giới
Phạm võng bảo trọng (như giới 37 nói) hay khinh xả (như giới này
nói) đều cốt để học tập Bồ tát giới.
Số 17: Không Được Ỷ Thế Ham Cầu
Phật tử nếu tự mình vì đồ ăn, vì
thức uống, vì tiền của, vì quyền lợi, vì danh vọng, thân cận với
quốc vương, vương tử, tể tướng, bách quan, rồi ỷ thế làm oai,
yêu sách, hành hung, chiếm đoạt tiền tài sản vật của người một
cách ngang ngược; nhưng mọi sự cầu lợi như vậy là ham cầu tàn
ác, ham cầu quá đáng, vậy mà còn chỉ bảo kẻ khác ham cầu nữa,
không còn gì là từ bi, là hiếu thuận, thì phạm tội khinh cấu.
Trong những cách ham cầu mà giới
này nói còn thiếu mấy sự thường thấy, nhất là đem kinh pháp ra
nói sao cho vừa lòng phụ nữ và chính quyền. Yêu sách, hành hung,
dịch sát là xin, đòi, đánh, tát, lôi, kéo.
Số 18: Không Được Mù Mờ Làm Thầy
Phật tử nếu học và tụng Bồ tát giới
thì ngày đêm sáu buổi nắm giữ giới ấy trong trí, lý giải ý nghĩa
giới ấy, nghĩa là lý giải về tánh của Phật tánh. Là Bồ tát mà
không lý giải được một câu đủ nghĩa, một bài chỉnh cú, lý do của
giới pháp cũng không rành, lại nói dối trá rằng lý giải được,
như vậy là tự lừa đảo mình và lừa đảo người khác. Nên, nhất nhất
mù mờ, giới pháp giáo pháp nào cũng không hiểu, vậy mà làm pháp
sư truyền thọ giới pháp cho kẻ khác, thì phạm tội khinh cấu.
Đầu giới này có bản chép thêm, theo
đó thì phải dịch "nếu Phật tử thì phải học tập 12 thể loại khế
kinh, hằng ngày 6 buổi trì tụng Bồ tát giới"... Học và tụng Bồ
tát giới là học hiểu và tụng thuộc lòng giới ấy. Ngày đêm sáu
buổi: ở chỗ khác là cách nói 24 giờ trên 24 giờ, nhưng ở đây là
buổi đầu, buổi giữa và buổi cuối, của ngày và đêm. Nắm giữ trong
trí, chính văn là trì, là lấy 1 pháp hạnh để nói 5 pháp hạnh:
thọ trì, đọc tụng, chánh ức niệm, giải nghĩa thú, như thuyết
hành (hoặc: thọ trì, độc, tụng, giải thuyết, viết chép). Lý giải
ý nghĩa giới ấy, nghĩa là lý giải về tánh của Phật tánh là lý
giải Bồ tát giới, và sự lý giải Bồ tát giới có nghĩa lý giải về
bản nguyên của giới ấy là tánh của Phật tánh. Tánh của Phật tánh
là những đức tính của Phật tánh, trong đó có từ bi hiếu thuận
diễn thành Bồ tát giới. Lý do của giới pháp là nguyên nhân,
trường hợp, chi tiết và tương quan của mỗi giới điều. Người thọ
Bồ tát giới, khoan nói để làm thầy truyền giới ấy cho ai, mà
chính mình phải học cho thật hiểu và thật thuộc về giới ấy.
Số 19: Không Được Phỉ Báng Giữ Giới
Phật tử nếu vì tâm lý xấu và ác,
thấy vị Tỳ kheo giữ giới tay nâng lư hương thực tập Bồ tát hạnh,
mà đâm thọc bên này bên kia, phỉ báng vu khống người thánh
thiện, không từ điều xấu nào mà không dựng đứng lên, thì phạm
tội khinh cấu.
"Không được phỉ báng giữ giới", rõ
hơn thì phải thêm không được phỉ báng sự giữ giới bằng cách thực
tập Bồ tát hạnh, nhất là sự phỉ báng ấy dùng lưỡng thiệt mà vu
khống và ly gián. Tay nâng lư hương thực tập Bồ tát hạnh là nói
tắt đến 2 lớp: nói tắt về sự hiến hương, lễ bái, trì niệm, và
mọi sự này chỉ là nói một chút về sự thực tập Bồ tát hạnh. Thực
tập Bồ tát hạnh là giữ Bồ tát giới. Ai thực tập như vậy mình
cũng tùy hỷ cả, không nên đố kỵ mà tổn đức.
Số 20: Không Được Không Cứu Phóng
Sinh
Phật tử thì phải đem tâm từ bi mà
thực hành sự phóng sinh. Phải nghĩ như vầy: tất cả nam tính là
cha ta, tất cả nữ tính là mẹ ta, ta đời đời kiếp kiếp không khi
nào không sinh ra từ cha mẹ ấy. Nên sáu đường chúng sinh đều là
cha mẹ của ta, ta giết mà ăn là giết mà ăn cha mẹ của mình. Lại
cũng giết mà ăn chính thân cũ của mình, vì lẽ hết thảy thể cứng
thể lỏng và sức nóng sức động toàn là thân thể cũ của ta. Vì
nghĩ như vậy nên thường phóng sinh. Đời đời thọ sinh, đó cũng là
một sự thực có tính cách bất biến, nên càng phải chỉ bảo khuyến
khích mọi người phóng sinh. Khi thấy thế nhân tàn sát sinh vật
thì phải tìm cách cứu hộ, giải thoát khổ nạn cho chúng. Rồi thời
thường phải giáo hóa, giảng nói Bồ tát giới cho người để cứu hộ
chúng sinh. Gặp ngày chết của cha mẹ anh em thì phải cung thỉnh
pháp sư diễn giảng kinh luật của Bồ tát giới. Cái phước ấy giúp
cho người chết được thấy chư Phật, hoặc sinh trong nhân loại hay
trên chư thiên. Nếu không làm như vậy thì phạm tội khinh cấu.
"Không được không cứu phóng sinh"
là phải cứu sinh (cứu thoát sinh vật) và phóng sinh (phóng thả
sinh vật). Đời đời thọ sinh là chúng ta không phải chỉ có đời
này mà đã có vô lượng đời kiếp, và đời kiếp nào cũng chịu sự
sinh ra bởi cha mẹ và tứ đại. Do vậy mà sinh vật nào cũng đã là
cha mẹ cũ của ta, và tứ đại nơi sinh vật nào cũng đã là thân cũ
của ta. Tứ đại là 4 thể lực tạo ra cơ thể và vũ trụ vật lý, tức
cứng, lỏng, nóng, động (kiên, thấp, noãn, động: cố thể, dịch
thể, nhiệt lực, động lực); 4 thể lực này mới là tứ đại, còn đất
nước lửa gió (địa thủy hỏa phong) chỉ là tứ đại tùy tăng: cứng
nhiều hơn là đất, cho đến động nhiều hơn là gió, và mỗi thứ
trong tứ đại tùy tăng ấy đều có đủ cả tứ đại.
Vì đời đời thọ sinh nên phải cứu
sinh và phóng sinh. Cứu sinh có 2 cách: tìm cách mà cứu khi sinh
vật bị bắt (cách đó, phóng sinh là một) và tìm cách khuyên người
đừng bắt sinh vật nữa (cách đó, giảng Bồ tát giới là một). Cách
sau cứu được cả người bắt và sinh vật bị bắt, nên gọi là cứu hộ
chúng sinh.
Gặp ngày chết của cha mẹ anh em,
ngày chết là ngày mới chết và ngày kỵ. Việc giảng Bồ tát giới có
ích lợi lớn lao trong việc cứu hộ chúng sinh, nên gặp ngày chết
mà giảng Bồ tát giới thì người chết phi sinh tịnh độ (thấy Phật)
cũng sinh nhân thiên. Giảng Bồ tát giới là giảng giới ấy với
những cách thức thích nghi, chứ không phải chỉ giảng giải chính
văn.
Thông thường Phật tử phóng sinh chỉ
vì thương sinh vật theo lời Phật dạy và muốn được phước như lời
Phật dạy. Nhưng lý thuyết phóng sinh nói trong giới này còn bác
bỏ cái thuyết cho sinh vật với người đều do thượng đế tạo ra, và
thượng đế tạo ra sinh vật là để cho người ăn.
Mười giới pháp nhẹ như vậy các
người phải học, phải cung kính phụng trì, như trong phẩm Diệt
trừ tội lỗi Như Lai sẽ nói rộng rãi về mỗi một giới pháp ấy.
Kết thúc 10 giới pháp nhẹ thứ hai.
Số 21: Không Được Giận Dữ Báo Thù
Phật tử thì không được đem sự giận
dữ trả lại sự giận dữ, không được đem sự đánh đập trả lại sự
đánh đập, cũng không được giữ tâm niệm trả thù những kẻ tàn sát
cha mẹ anh em bà con của mình hay những kẻ sát hại quốc chúa.
Tàn sát sự sống để trả thù sự sống là điều không thuận với đạo
hiếu. Không nuôi nô bộc tỳ thiếp mà đánh đập mắng chưởi, ngày
ngày ba nghiệp bùng dậy, nhất là tội lỗi khẩu nghiệp lại càng vô
lượng, huống chi cố làm đến bảy tội nghịch. Là Bồ tát xuất gia
mà không có tâm từ bi, cố giữ ý niệm trả thù đến nỗi trong hàng
bà con cũng quyết không tha, thì phạm tội khinh cấu.
Cái khác của người học đạo với
người thế gian là ở chỗ trả thù hay cảm hóa. Câu chót hết, chính
văn là "nhi xuất gia Bồ tát vô từ tâm, báo thù, nãi chí lục thân
trung cố báo giả, phạm khinh cấu tội". Chính văn này có một cách
hiểu mà theo đó thì phải dịch "nếu Bồ tát xuất gia mà không có
từ tâm, cố ý báo thù, cho đến vì lục thân mà cố ý báo thù, thì
phạm tội khinh cấu". Hiểu như vậy là cố ép chính văn cho đúng
với đoạn trên đã nói không được trả thù kẻ giết cha mẹ thân
nhân. Nhưng chính văn này rõ ràng muốn nói, là Bồ tát, lại là Bồ
tát xuất gia, mà quyết tâm trả thù (bất cứ trả thù cho ai) đến
nỗi không những đối với người ngoài mà đối với bà con cũng không
tha, thì phạm giới này. Về chữ Bồ tát xuất gia, có bản chép và
có người nói không có, nhưng tìm xét thì có đúng hơn (Chính
62/202). Có điều nói như vậy không có nghĩa giới này chỉ răn cấm
người xuất gia, mà là có nghĩa răn cấm người xuất gia hơn.
Số 22: Không Được Kiêu Ngạo Không
Học
Phật tử nếu mới xuất gia, chưa lý
giải gì, mà tự thị thông minh, tự thị cao sang, tự thị tuổi tác,
tự thị dòng họ, tự thị giai cấp, kiến thức to lớn, phước đức to
lớn, giàu có to lớn, đủ cả thất bảo, ỷ thị những thứ ấy mà kiêu
ngạo, không chịu học hỏi kinh luật với các vị pháp sư đã học hỏi
trước mình. Các vị pháp sư ấy có thể có người dòng họ nhỏ, tuổi
tác nhỏ, giai cấp nhỏ, nghèo nàn, thấp thỏi, các giác quan không
hoàn chỉnh, nhưng thật là người có đức, lý giải thấu đáo hết
thảy kinh luật. Nếu các vị Bồ tát mới học mà dòm ngó dòng họ và
giai cấp, không chịu đến học hỏi đệ nhất nghĩa nơi vị pháp sư
ấy, thì phạm tội khinh cấu.
Đệ nhất nghĩa là chân lý tuyệt đối,
tức Phật tánh thường trú. Nếu kiêu ngạo mà không thỉnh cầu học
hỏi giáo pháp và giới pháp Phật tánh, thì thế là để sự kiêu ngạo
vùi lấp cả một kiếp làm người.
Số 23: Không Được Không Truyền Kinh
Giới
Phật tử nếu, sau khi Như Lai nhập
niết bàn rồi, muốn đem tâm nguyện tốt đẹp lãnh thọ Bồ tát giới
mà bằng cách tự nguyện lãnh thọ giới ấy trước hình tượng Phật
đà, hình tượng Bồ tát, thì phải bảy ngày sám hối trước hình
tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát, hễ thấy được tướng tốt thì thọ
giới là được giới. Nếu chưa thấy được tướng tốt, thì phải hai
lần hay ba lần bảy ngày, cho đến một năm, phải sám hối cho thấy
được tướng tốt. Thấy được tướng tốt rồi thì có thể thọ giới
trước hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát. Nếu không thấy được
tướng tốt, thì dẫu thọ giới trước hình tượng Phật đà, hình tượng
Bồ tát, cũng không thể gọi là được giới. Nếu lãnh thọ Bồ tát
giới bằng cách hiện diện đối trước vị pháp sư đã thọ giới ấy
trước mình, thì không cần phải thấy được tướng tốt, tại sao, vì
vị pháp sư ấy đã do các vị pháp sư trước nữa truyền giới cho
nhau, và nay truyền lại cho mình, nên không bắt buộc phải thấy
tướng tốt. Và thọ giới trước vị pháp sư như vậy thì được giới
liền, được bởi cái tâm cùng cực cẩn trọng phát sinh trong lúc
ấy. Nếu trong vòng ngàn dặm, không ai có thể làm vị pháp sư
truyền thọ Bồ tát giới, thì người muốn thọ giới ấy có thể tự
nguyện mà lãnh thọ trước hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát,
nhưng với điều kiện phải sám hối thấy được tướng tốt. Nếu là vị
pháp sư mà tự thị sự lý giải của mình đối với kinh luật và giới
pháp đại thừa, chỉ làm bạn với quốc vương, vương tử và bách
quan, còn các vị Bồ tát mới học đến xin hỏi hoặc nghĩa ý của khế
kinh, hoặc nghĩa ý của giới luật, vị pháp sư ấy vì tâm lý khinh
miệt, tâm lý xấu xa, tâm lý kiêu ngạo, không nhất nhất giải đáp
một cách tốt đẹp những câu của họ thưa hỏi, thì phạm tội khinh
cấu.
Không truyền kinh giới là không
truyền dạy và truyền thọ cho hậu học về khế kinh và giới luật,
chủ yếu là Bồ tát giới Phạm võng; và như vậy là chính mình làm
cho giống Phật đứt đoạn. Giới văn công kích sự xu phụ quyền quí
mà khinh miệt hậu học, không chu toàn nhiệm vụ của mình. Nhiệm
vụ ấy, như vừa nói, là truyền dạy và truyền thọ Bồ tát giới.
Phần người thọ giới, nếu trong vòng ngàn dặm không có vị thầy
xứng đáng thì có thể tự nguyện thọ Bồ tát giới trước tượng Phật
và cũng có thể được giới, với điều kiện trước đó phải sám hối
cho đến lúc thấy được tướng tốt mà giới 41 sẽ nói. Còn nếu thọ
Bồ tát giới với thầy truyền giới thì phải là vị thầy đã do các
vị thầy trước truyền lần, và nay làm cả 2 nhiệm vụ đại sư Hòa
thượng và đại sư Xà lê mà truyền giới cho mình, nhưng mình chỉ
được giới nếu có cái tâm cùng cực cẩn trọng trong lúc thọ giới
(và tiếp sau đó trong lúc trì giới). Vị thầy tự nguyện thọ giới
dĩ nhiên không được truyền giới, nhưng vị thầy do các vị thầy
trước truyền lần cũng chỉ được truyền giới với điều kiện ít nhất
là biết quí trọng tương lai của Phật pháp mà không xu phụ quyền
quí, là lãnh thọ và truyền trao đúng với sự qui định của Bồ tát
giới Phạm võng.
Kinh Anh lạc nói thọ Bồ tát giới có
3: đối trước Phật đà Bồ tát mà thọ là thượng phẩm, đối trước
pháp sư thọ trước mà thọ là trung phẩm, nếu trong vòng ngàn dặm
không có vị pháp sư ấy nên đối trước tượng Phật đà và Bồ tát mà
thọ là hạ phẩm (Chính 24/1020). Vì sao thọ giới trước vị pháp sư
hơn thọ giới trước tượng Phật thì xét thấy (a) trong hình thức,
thọ giới với vị pháp sư thì có vị thầy không hiện diện là Phật,
có vị thầy hiện diện là pháp sư, (b) trong sự việc, thọ giới với
vị pháp sư thì trước, trong và sau khi thọ giới, vị pháp sư
thường dạy bảo, khuyến khích, nhất là kiểm tra.
Số 24: Không Được Học Các Sách Khác
Phật tử nếu có chánh pháp đại thừa
trong kinh luật Như Lai đã dạy, chánh pháp đủ cả chánh kiến,
chánh tánh, chánh pháp thân, mà không nỗ lực học hỏi tu tập, lại
bỏ chánh pháp quí báu như thất bảo ấy mà học tập sách vở phủ
nhận Phật tánh của nhị thừa, ngoại đạo và thế tục, như các bộ a
tỳ đàm, các luận thuyết hỗn tạp, những thi văn truyện ký, thì
thế là làm mất Phật tánh, làm cản đạo nghiệp, chứ không phải
thực hành Bồ tát đạo. Nếu cố ý học tập thì phạm tội khinh cấu.
Chánh pháp đại thừa trong kinh luật
Như Lai đã dạy là trong kinh luật Phật dạy có kinh luật đại
thừa. Các kinh luật Phật dạy khác cũng có chánh pháp đại thừa ít
nhiều trong đó. Chánh pháp đại thừa là chánh kiến: kiến giải về
Phật tánh, là chánh tánh: thực hành đức tánh của Phật tánh, và
là chánh pháp thân: thành tựu Phật tánh (thành tựu pháp thân:
thực hiện bản thể đầy đủ đức tánh). Ba điều này bao gồm tất cả
nội dung về lý, hạnh và quả của đại thừa. So với sách vở của
tiểu thừa, ngoại đạo, và thế tục, thì đại thừa như vậy quí như
thất bảo, nhưng thông đạt đại thừa rồi, muốn biết những sách vở
ấy để tiện việc hóa độ, thì lại là việc khác. Sách vở phủ nhận
Phật tánh, chính văn là tà kiến, chữ ấy ở đây có nghĩa là những
kiến thức phủ nhận Phật tánh, không có căn bản Phật tánh ấy. Tà
kiến như vậy bao gồm cả nhị thừa, ngoại đạo và thế tục. Nhưng
nhị thừa ở đây, là các bộ a tỳ đàm, nói như vậy là chỉ nói thời
kỳ bộ phái, không nói thời kỳ nguyên thỉ, lại càng không nói về
giới luật. Do vậy mà người xuất gia thọ Bồ tát giới càng phải
lãnh thọ, học hỏi và tuân giữ cho nghiêm về Tỳ kheo giới. Còn
ngoại đạo ở đây là các chủ thuyết phức tạp và hỗn tạp của hết
thảy học phái cùng tôn giáo khác. Thế tục là những thi văn
truyện ký của thế tục, nhưng có người chú giải ký là toán học,
bao gồm cả toán pháp, lý số và thiên văn, có người còn dẫn luận
Du dà mà chứng minh cho chú giải ấy.
Số 25: Không Được Lạm Dụng Gây Rối
Phật tử nếu, khi Như Lai nhập niết
bàn rồi, làm chủ sự thuyết pháp, làm chủ sự hành đạo, làm chủ
nơi tăng phường, làm chủ sự giáo hóa, làm chủ sự tọa thiền, làm
chủ sự đi lại, thì phải phát sinh tâm từ bi, khéo hòa giải mọi
sự mâu thuẫn, khéo hộ vệ vật của Tam bảo, đừng sử dụng vô độ như
là của riêng. Nếu trái lại, làm cho Tăng chúng rối loạn vì sự
tranh chấp, mặc sức sử dụng của Tam bảo, thì phạm tội khinh cấu.
Các chức vị làm chủ trong giới văn
này, tùy qui chế và định nghĩa mà xưa nay gọi bằng những tên
hoặc đồng hoặc khác, như làm chủ sự thuyết pháp gọi là pháp sư,
cho đến làm chủ sự đi lại gọi là tri khách. Nhưng làm pháp sư
hay làm trú trì, bất cứ chức vị gì mà nắm trọn phần hay nắm một
phần quyền hành trong Tăng chúng, thì phần tự lợi không được lạm
dụng, phần lợi tha phải khéo điều giải mâu thuẫn. Nếu lạm dụng
và gây rối thì chính mình là tên giặc phá hoại Tăng chúng.
Số 26: Không Được Không Đãi Khách
Tăng
Phật tử nếu đã ở trước trong tăng
phường, sau thấy các vị Tỳ kheo hay Tỳ kheo Bồ tát, đến nơi tăng
phường, đến nơi nhà cửa, thành thị hay thôn ấp của mình, đến nơi
nhà của quốc vương thiết lập, đến nơi chỗ đang kiết hạ an cư,
hay nơi chỗ đang thiết lập đại hội cầu phước, thì mình là chư
tăng ở trước, phải đón rước, tiễn đưa, và hiến cúng ẩm thực;
phòng ở, đồ nằm, giường giây hay giường cây, mọi sự đều cung
cấp. Nếu không có sẵn, thì dẫu phải bán mình, bán cả con cái,
cũng gắng mà cung phụng những thứ các vị ấy cần dùng. Rồi nếu có
thí chủ đến thỉnh chư tăng, thì các vị khách tăng ấy cũng có
đồng phần, nên vị chủ tăng phường phải y theo thứ tự mà mời các
vị khách tăng ấy thọ thỉnh. Nếu chư tăng ở trước chỉ thọ thỉnh
riêng, không mời các vị khách tăng, thì vị chủ tăng phường tội
lỗi vô lượng, không khác gì loài vật, không phải sa môn, không
phải dòng giống họ Thích. Nếu cố ý làm như vậy thì phạm tội
khinh cấu.
Giới này cốt nói cho người xuất gia
thọ Bồ tát giới, nhất là các vị tri sự hay trú trì mà trong giới
văn gọi là vị chủ tăng xá. Nhưng trong chi tiết lại có vài chỗ
nói chung hoặc nói riêng cho cả người tại gia thọ Bồ tát giới.
Nhà cửa, thành thị hay thôn ấp của mình là nói chung cho cả xuất
gia tại gia mà nói cho tại gia nhiều hơn. Nhà của quốc vương
thiết lập là thời xưa ở Ấn, vua chúa hay làm những nhà cửa nghỉ
chân cho tu sĩ, du khách. Phòng ở, đồ nằm, giường cây hay giường
giây, toàn là nói về đồ nằm, nhưng sự hiến cúng thường có 4, là
đồ ăn, đồ mặc, đồ nằm và dược phẩm. Bán mình, bán cả con cái, có
bản chép thêm cắt thịt thân mình mà bán, nhưng nhiều bản không
có, và không có thì đúng hơn. Câu này nói riêng cho người tại
gia thọ Bồ tát giới, và đó là nói cái tình đãi sư tăng và đồng
đạo cực kỳ chí thiết, nên nói như vậy có nghĩa giả sử nhiều hơn.
Tuy nhiên, cách nói ấy cũng nên hiểu. Nói bán mình và bán con
như kiểu đi ở thì xưa và nay hay có. Nói bán mình và bán con là
bán sức lao động chân tay và trí thức thì ở đâu và thời nào cũng
có và có dưới nhiều hình thức. Nhưng nói bán thịt mình, nếu thật
giới này có nói, thì chỉ là giả sử, trừ ra bán thịt có nghĩa như
bán mình. Y theo thứ tự mà mời các vị khách tăng ấy thọ thỉnh,
cách thức này quan trọng, sẽ được giải thích trong giới 28 sau
đây. Nếu khách tăng bị kỳ thị, không được tiếp đãi chu tất,
không được lợi hòa đồng quân đúng luật, thì sự kỳ thị ấy bị Phật
kết án gần như chưa từng thấy.
Số 27: Không Được Thọ Thỉnh Riêng
Biệt
Phật tử thì trường hợp nào cũng
không được thọ thỉnh riêng biệt, thu đồ hiến cúng về cả nơi
mình. Đồ hiến cúng là thuộc về chư tăng mười phương. Nếu thọ
thỉnh riêng biệt thì ấy là lấy vật của chư tăng mười phương thu
về nơi mình; lại xâm phạm đến vật của Phật đà, thánh giả, đại
sư, chư tăng, cha mẹ và bịnh nhân trong tám ruộng phước, vì lẽ
mình chỉ dùng cho mình mà thôi, nên phạm tội khinh cấu.
Đồ hiến cúng là thuộc về chư tăng
mười phương, chư tăng mười phương là các vị Tỳ kheo và Tỳ kheo
thọ Bồ tát giới trong mọi phương hướng, bất cứ ở đâu. Đồ hiến
cúng, theo luật, là của chung chư tăng như vậy. Nói nôm na, theo
luật, không có chùa riêng và đồ riêng của chư tăng ở trước trong
mỗi chùa, mà tất cả chùa chiền, và đồ vật được hiến cúng đã lâu
hay mới có, trong đó có sự trai tăng, đều là của chư tăng 10
phương mà chư tăng ở trước chỉ là một bộ phận, một số đại diện.
Tám ruộng phước là Phật đà, thánh giả (Bồ tát, Duyên giác, La
hán), đại sư Hòa thượng (vị truyền giới), đại sư Xà lê (vị dạy
cách thọ giới), chư tăng, cha, mẹ và bịnh nhân; 8 bậc và người
này là những đám ruộng tốt mọc lên và nuôi lớn phước đức cho
người, nên gọi là 8 ruộng phước. Đồ hiến cúng, theo luật, cũng
là của chung 8 ruộng phước như vậy. Nếu không thọ thỉnh theo thứ
tự như giới 28 sau đây nói, mà thọ thỉnh riêng biệt, lại sử dụng
một mình, thì thế là chiếm đoạt 2 lớp: chiếm đoạt của chư tăng
10 phương và của 8 ruộng phước. Thọ thỉnh riêng biệt, nói nôm
na, là nhận lời mời trai tăng riêng, nhận đồ hiến cúng riêng,
chứ không lợi hòa đồng quân cho chư tăng, nhất là cho khách
tăng. Thu đồ hiến cúng về nơi mình, mình chỉ dùng riêng cho
mình, những chữ mình trong 2 câu này chỉ cho vị trú trì hay tri
sự, lại chỉ cho chư tăng ở trước trong mỗi ngôi chùa. Nếu người
thỉnh tăng mà thỉnh riêng, nếu tăng thọ thỉnh mà thọ riêng, thì
không được gọi là thỉnh tăng hiến cúng và không được cái phước
ấy. Hãy coi kỹ giới 28 dưới đây.
Số 28: Không Được Thỉnh Tăng Riêng
Biệt
Phật tử thì dầu xuất gia thọ Bồ tát
giới, dầu tại gia thọ Bồ tát giới, hay vị trí thí chủ nào, khi
muốn thỉnh chư tăng để hiến cúng cầu nguyện, cũng phải đến tăng
phường, hỏi vị tri sự mà bạch rằng muốn theo thứ tự thỉnh chư
tăng để hiến cúng cầu nguyện. Như vậy là thỉnh được Hiền thánh
tăng mười phương. Nếu thỉnh riêng biệt như thế nhân, thì thỉnh
năm trăm vị tăng La hán và Bồ tát, cũng không bằng thỉnh một vị
tăng phàm phu trong thứ tự của chư tăng. Thỉnh riêng là nề nếp
của ngoại đạo, bảy đức Phật không có qui chế thỉnh riêng. Sự ấy
không thuận với đạo hiếu. Nếu cố ý thỉnh riêng thì phạm tội
khinh cấu.
Thỉnh tăng riêng biệt, nói nôm na
là mời các Thầy ăn riêng, cho riêng; ý riêng thích ai thì mời
thì cho người ấy. Như vậy không được gọi là thỉnh tăng và không
có cái phước thỉnh tăng. Do đó, giới 27 trên đã cấm tăng thọ
thỉnh riêng biệt, giới 28 này lại cấm người thỉnh tăng riêng
biệt, mà thỉnh và thọ thỉnh đều phải theo thứ tự của chư tăng.
Thỉnh và thọ thỉnh theo thứ tự của chư tăng là thế này. Chư tăng
cùng ở 1 trú xứ, vốn phải phân thứ tự theo năm thọ Tỳ kheo giới
mà giới 38 sẽ nói. Có thể phân thứ tự ấy bằng 1 bảng danh sách.
Và thứ tự phân theo năm thọ giới như vậy gọi là thứ tự của chư
tăng. Các vị khách tăng cũng vậy, ngay khi mới đến, sẽ ở lại mau
hay lâu, hay vô hạn định, vị trú trì hay tri sự phải hỏi năm thọ
Tỳ kheo giới của các vị ấy mà đưa vào thứ tự của chư tăng trong
trú xứ. Rồi ai muốn thỉnh thì hãy đến trú xứ ấy mà bạch với vị
trú trì hay tri sự, rằng xin thỉnh tăng theo thứ tự, lại phải
bạch rõ thỉnh cúng được mấy vị. Nếu người thỉnh không biết cách
thỉnh tăng theo thứ tự thì vị trú trì hay tri sự phải hỏi và
phải chỉ cho họ. Đến lượt chư tăng thọ thỉnh theo thứ tự là vị
trú trì hay tri sự bạch chư tăng rõ ý nguyện của người thỉnh, và
chư tăng cùng thọ thỉnh theo ý nguyện ấy. Vị trú trì hay tri sự
lại coi cái số mà người thỉnh có thể cúng, nếu đủ cả chư tăng
thì bạch chư tăng đi dự cả, nếu không đủ thì vị trú trì hay tri
sự theo thứ tự của chư tăng mà cử đi. Cử số này cho lần này rồi
cử đến số khác cho lần khác, khi chư tăng ai cũng đi rồi thì bắt
đầu trở lại mà cử. Như vậy, không kể thỉnh và thọ thỉnh là bao
nhiêu vị, mà ý nguyện người thỉnh là thỉnh Hiền thánh tăng mười
phương, còn tăng thọ thỉnh thì một hay mấy vị, và là phàm phu
tăng đi nữa, cũng là thay mặt Hiền thánh tăng mười phương mà thọ
thỉnh. Do đó mà người thỉnh dầu chỉ thỉnh cúng được một vị, và
là một vị phàm phu tăng mà thôi, cũng vẫn gọi là thỉnh tăng, và
vẫn được cái phước thỉnh tăng ấy. Nếu người thỉnh tăng cũng như
tăng thọ thỉnh mà không theo sự thỉnh và thọ thỉnh thứ tự, lại
thỉnh và thọ thỉnh riêng biệt, thì đó là ngoại đạo, không phải
qui chế của Phật, và người thỉnh dầu thỉnh hàng trăm vị, và toàn
là thánh tăng cả, cũng vẫn không được gọi là thỉnh tăng, và
không có cái phước của sự thỉnh tăng. Tuy nhiên, trên đây là nói
thỉnh và thọ thỉnh trong sự hiến cúng cầu nguyện, ngoài sự đó
thì không phải là điều mà giới này nói đến.
Câu phải đến tăng phường, hỏi vị
tri sự mà bạch rằng muốn theo thứ tự thỉnh chư tăng để hiến cúng
cầu nguyện, như vậy là thỉnh được Hiền thánh tăng mười phương,
có bản chép thêm mấy chữ mà theo đó thì phải chuyển văn nhiều
hơn một chút mới dịch rõ được: Phải đến tăng phường, hỏi vị tri
sự mà bạch rằng muốn thỉnh chư tăng để hiến cúng cầu nguyện; vị
tri sự trả lời hãy thỉnh theo thứ tự. Người ấy y lời mà thỉnh
theo thứ tự. Như vậy là thỉnh được Hiền thánh tăng mười phương.
Cách chép này kém, nhưng rõ hơn được chút nữa cho giới này, lại
làm cho giới này dạy được cả người thí chủ và vị tri sự.
Số 29: Không Được Sống Bằng Tà Mạng
Phật tử nếu vì độc ác và vụ lợi mà
buôn bán dâm nam dâm nữ, tự tay làm đồ ăn, tự xay tự giã, coi
tướng nam nữ, đoán mộng tốt xấu, đoán thai trai gái, làm các chú
thuật, xảo thuật, luyện tập chim săn thú săn như luyện chim ưng,
pha chế thuốc độc bằng trăm thứ ngàn thứ độc hợp lại, độc rắn,
độc vàng bạc sống, độc sâu cổ, không còn gì là từ bi, hiếu
thuận. Nếu cố ý làm thì phạm tội khinh cấu.
Tà mạng, là sống bằng những cách
sống thiếu uy nghi, thiếu tư cách, thiếu từ tâm. Người xuất gia
thì "hoằng pháp thị gia vụ, lợi sinh vi sự nghiệp" nên phải sống
bằng sự giúp đỡ của tín đồ, còn người tại gia thì "như lý cầu
tài" kiếm của một cách hợp lý mà sống, ngoài ra đều là tà mạng
cả. Tự tay làm đồ ăn, tự xay tự giã là nói sự thiếu uy nghi của
vị Tỳ kheo. Độc sâu cổ là bắt cả trăm thứ sâu bỏ vào 1 cái hộp
cho chúng ăn nhau, con nào còn sống gọi là sâu cổ. Đem phân sâu
cổ ấy tán ra mà đầu độc thì phát điên cuồng hay bị cổ trướng.
Lấy phân cả trăm thứ sâu nuôi chung mà đầu độc, cũng gọi là độc
sâu cổ.
Số 30: Không Được Bất Kính Hảo Thời
Phật tử nếu vì tâm lý bất lương,
chính mình phỉ báng Tam bảo bằng cách tỏ ra thiết cốt với Tam
bảo, nhưng, mở miệng ra là nói về không mà việc làm thì toàn ở
trong có: kinh lý cho thế nhân, vì thế nhân mà mai mối nam nữ,
kết hợp sắc dục, tạo ra đủ thứ hệ lụy; sáu ngày chay trong mỗi
tháng, hay ba tháng chay trong mỗi năm, cũng sát sinh, trộm
cướp, phá trai, phạm giới, thì phạm tội khinh cấu.
Hảo thời là những thì gian quí báu,
cần phải da tăng sự cẩn trọng, như những ngày lục trai hàng
tháng (8, 14, 15, 23, 29 và 30) và ba tháng trường trai hàng năm
(giêng, năm và chín), hay các ngày kỷ niệm Phật đà, Bồ tát.
Những thì gian quí báu như vậy mà phá giới phạm trai, thì đã
phạm những tội phá giới phạm trai mà còn phạm giới này nữa. Giới
này răn sự xảo trá đối với Tam bảo, răn sự nói và làm nghịch
nhau, sự kinh lý cho thế nhân, và như vậy là răn tà nghiệp, răn
thêm tà mạng, nhất là răn cấm đích thân phỉ báng Tam bảo bằng
những sự ấy, nên các bản chú thích đặt tên khác nhau theo những
sự răn như vậy. Kinh lý cho thế nhân, ngoài sự mai mối nam nữ
còn có lắm việc, như kinh tài, môi giới chính trị...
Mười giới pháp nhẹ như vậy, các
người phải học, phải cung kính phụng trì, như trong phẩm Thiết
chế giới luật Như Lai đã giải thích đầy đủ.
Kết thúc 10 giới nhẹ thứ ba.
Số 31: Không Được Không Cứu Không
Chuộc
Phật tử nếu, sau khi Như Lai nhập
niết bàn, trong thời kỳ dữ dội, thấy ngoại đạo và những kẻ tàn
ác, những kẻ đạo tặc, chiếm đoạt và đem bán hình tượng Phật đà,
hình tượng Bồ tát, những hình tượng mà mình tôn thờ như cha mẹ,
bán kinh bán luật, bán các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, bán Bồ tát
mới phát Bồ đề tâm, cho quan lại sai sử hay cho kẻ khác làm nô
bộc tỳ thiếp Nếu là Bồ tát thì thấy những sự tình ấy phải phát
sinh tâm từ bi, tìm mọi phương cách mà cứu hộ, đi khắp nơi
khuyến hóa mọi người để kiếm tiền của mà chuộc hình tượng của
Phật đà và Bồ tát, chuộc các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni và Bồ tát
mới phát tâm, chuộc kinh chuộc luật. Nếu không chuộc như vậy thì
phạm tội khinh cấu.
Giới văn này nói đã quá rõ về tình
trạng đau buồn của đạo pháp, đã xảy ra và chắc chắn còn xảy ra.
Bổn phận của người thọ Bồ tát giới là phải duy trì ngôi Trú trì
tam bảo, nên tự mình vô lực thì phải cực lực khuyến hóa mọi
người, cùng nhau cứu chuộc về cho đạo pháp những vật và những
người đã bị bức đoạt một cách bất lương và bẩn thỉu. Bán các vị
Tỳ kheo, Tỳ kheo ni và Bồ tát mới phát tâm, cho quan lại sai sử
hay cho kẻ khác làm nô bộc tỳ thiếp, câu này ngày xưa có thể là
nghĩa đen cả, nhưng ngày nay thì sự thể biến ảo vô lường, ý
nghĩa đen đúa hơn mà danh từ lại rất bóng nhoáng, và chẳng phải
chỉ bán Phật tử, lại cũng chẳng phải chỉ bán cho kẻ khác làm lao
công mà thôi. Hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát, những hình
tượng mà mình tôn thờ như cha mẹ, Vạn 60/57A giải thích là hình
tượng của Phật đà, của Bồ tát và của cha mẹ, nhưng xét ra không
đúng với câu kết của giới này. Tuy nhiên, nói như vậy không phải
bảo Phật tử đừng quan tâm đến cha mẹ, thân nhân và ân nhân.
Số 32: Không Được Tổn Hại Chúng
Sinh
Phật tử thì không được cất chứa
buôn bán dao gậy cung tên, buôn bán bình thường mà dùng dụng cụ
cân lường nhẹ và nhỏ, dựa vào uy thế của quan quyền mà chiếm
đoạt tài vật của người, giam cầm và phá hoại sự thành công của
người bằng tâm địa độc hại, nuôi lớn những loài mèo chồn heo
chó. Nếu cố ý làm những việc như vậy thì phạm tội khinh cấu.
Tổn hại chúng sinh bằng cách với
người thì buôn bán bất lương, ỷ thế cướp của, giam cầm và phá
hoại sự thành công; với vật thì nuôi để ăn để bán, nuôi những
vật săn bắt tàn hại vật khác. Đến như buôn bán vũ khí thì khỏi
nói.
Số 33: Không Được Tà Dâm Làm Quấy
Phật tử thì không được bằng tâm lý
đen tối mà xem sự đấu sức nam nữ, của quân trận, của tướng sĩ,
của giặc cướp... Không được xem nghe ca vũ, không được cờ bạc,
không được bói toán, không được làm liên lạc cho đạo tặc. Những
việc như vậy nhất nhất không được làm. Nếu cố ý làm thì phạm tội
khinh cấu.
Ngoại trừ đam mê thanh sắc, cờ bạc,
du hý, là các thứ mới răn ở đây, ở đây vẫn còn răn thêm về tà
mạng và tà nghiệp (bói toán và làm việc cho giặc).
Xem nghe ca vũ là dịch tắt cho rõ
và đủ hơn. Dịch sát là nghe thổi ốc, đánh trống, đánh mõ sừng
(chính văn là giác, có người nói thổi còi sừng), đàn cầm, đàn
sắt, đàn tranh, thổi sáo (có bản tiếp đây chép thêm thổi sanh),
đàn không hầu, nam nữ ca hát, ngâm vịnh (chính văn là kiếu, có
sự giải thích đó là huân, một nhạc khí bằng đất, hay đi đôi với
trì, một nhạc khí khác bằng tre), và mọi thứ tiếng diễn tấu các
nhạc khí khác.
Cờ bạc cũng là dịch tắt cho rõ và
đủ. Dịch sát là đánh sư bồ (cờ ngũ mộc), cờ vây, cờ tướng (ba la
tắc hý), cờ đạn (vật tròn chọi vào lỗ hay chọi vào nhau), lục
bác, phách cúc (hay cầu, là đánh bóng, đá bóng), ném đá, gieo
hồ, và khiên đạo bát đạo hành thành (còn gọi là bát đạo hành
thành, chỉ có ở Ấn).
Bói toán, chính văn là bốc thệ
(bốc: bói bằng mai rùa, thệ: bói bằng cỏ thi), nhưng ở đây tôi
dùng chữ này để dịch tắt cho đủ và rõ về mọi sự bói toán. Dịch
sát là móng kính (luyện thuốc bôi vào móng tay hay ngón tay cho
bóng như kính, làm hiện lên điềm tốt xấu, bôi trên kính trên
vách cũng vậy, nên Tàu gọi là phép bói sáng ngời), cỏ thi (như
bói dịch), nhánh dương (bói bằng nhánh dương liễu), bát bồn (bát
phải viết trên chữ hữu là bạn, dưới chữ mãnh là đồ sành, bát bồn
là bói nước đựng trong chén bát), đầu lâu (lấy đầu lâu luyện cho
linh rồi nghe mách thầm bên tai về sự tốt xấu). Trong loại bói
toán này, kinh Niết bàn còn cấm coi tướng tay, chân, mặt, mắt.
Các loại ca vũ, cờ bạc và bói toán
trên đây, nếu dịch sát thì Ấn khác Tàu khác, xưa khác nay khác,
xưa nay ở nước ta với các nước lại càng khác hơn nữa, nên dịch
sát và cắt nghĩa chỉ như nói chuyện đồ cổ của một địa phương,
chỉ làm cho khó hiểu, và loảng đi về ca vũ, cờ bạc và bói toán
hiện hành tại mỗi xứ mà chủ ý giới này răn cấm.
Số 34: Không Được Rời Bồ đề Tâm
Phật tử thì phải nghiêm trì giới
pháp, bằng cách trong mọi cử động đi đứng nằm ngồi và ngày đêm
sáu buổi đều phải đọc tụng giới pháp ấy, và giữ với lòng bền
chắc như ngọc kim cương, giữ như giữ chiếc phao nổi khi bơi qua
biển cả, giữ với quyết chí của vị Tỳ kheo bị buộc bằng cỏ, vĩnh
viễn phát sinh nơi mình đức tin cao đẹp của đại thừa, là tự biết
chắc mình là Phật sẽ thành như chư Phật là Phật đã thành, tâm Bồ
đề không một thoáng nào rời khỏi tâm trí. Như vậy mà nếu nổi lên
một ý niệm của tâm lý nhị thừa hay ngoại đạo thì phạm tội khinh
cấu.
Không rời Bồ đề tâm là thể hiện
thường xuyên đức tin đại thừa và hành trì thường xuyên giới pháp
đại thừa. Nếu tâm lý có ý niệm tự lợi hay nghi hoặc xen vào là
rời Bồ đề tâm, là tiểu thừa và ngoại đạo. Bằng cách mọi cử động
đi đứng nằm ngồi, và ngày đêm sáu buổi, đều phải đọc tụng giới
pháp, đọc tụng ở đây không phải là bố tát tụng giới, mà là nói
tắt về 5 pháp hạnh đối với Bồ tát giới: thọ trì, độc tụng, chánh
ức niệm, giải nghĩa thú, như thuyết hành (hoặc thọ trì, độc,
tụng, giải thuyết, sao chép). Vị Tỳ kheo bị buộc bằng cỏ, sự
tích nằm trong Đại trang nghiêm kinh luận, nói vị Tỳ kheo vì
tuân lời Phật dạy không được bứt cỏ, nên bị giặc trói bằng cỏ mà
vẫn cố chịu chứ không chịu làm trái lời Phật.
Số 35: Không Được Không Phát Đại
Nguyện
Phật tử thì phải thường phát khởi
mọi lời nguyện, như nguyện hiếu thuận cha mẹ, đại sư, chư tăng,
Tam bảo; nguyện gặp được vị pháp sư tuyệt hảo và các vị thiện
tri thức đồng một sở học, để luôn luôn dạy cho mình kinh luật
đại thừa và các Bồ tát vị là mười phát thú, mười trưởng dưỡng,
mười kim cang và mười địa, làm cho mình lý giải và thực hành
chính xác; nguyện kiên trì giới pháp của Phật, dầu phải mất tánh
mạng đi nữa, một thoáng cũng không để rơi mất khỏi tâm trí cái
niệm kiên trì ấy. Nếu là Bồ tát mà không phát khởi mọi lời
nguyện như vậy thì phạm tội khinh cấu.
Mọi lời nguyện ở đây là nguyện được
hiếu thuận với cha mẹ và Tam bảo, nguyện được thầy bạn tuyệt hảo
để học và hành Bồ tát giới và Bồ tát vị, và căn bản là nguyện
được cái chí kiên trì giới pháp của Phật. Tóm tắt thì như vậy,
kê ra thì có 10 lời nguyện như sau: nguyện hiếu thuận với cha
mẹ, đại sư, chư tăng và Tam bảo, nguyện được thầy tuyệt hảo,
nguyện được bạn đồng sở học, nguyện được chỉ dạy cho kinh luật
đại thừa là Bồ tát giới Phạm võng, nguyện được hiểu thập trú,
nguyện được hiểu thập hạnh, nguyện được hiểu thập hướng, nguyện
được hiểu thập địa, nguyện được thực hành chính xác, nguyện kiên
trì giới pháp.
Số 36: Không Được Không Phát Đại
Thệ
Phật tử thì phát khởi mười lời
nguyện rộng lớn rồi, để kiên trì giới pháp của Phật, lại có
những lời thề như sau. Thà đem thân này gieo xuống hố lửa, núi
dao, quyết không phá hủy giới pháp của tam thế chư Phật bằng
cách làm sự bất tịnh với bất cứ nữ nhân nào. Lại thề rằng thà bị
lưới sắt nóng ngàn lớp quấn lấy thân thể, quyết không đem cái
thân phá giới mà mặc y phục của tín đồ hiến cúng; thề rằng thà
miệng phải nuốt viên sắt nóng hay dòng lửa dữ đến cả trăm ngàn
đời, quyết không đem cái miệng phá giới mà ăn thực phẩm của tín
đồ hiến cúng; thề rằng thà thân này phải nằm trong lưới sắt đỏ
hay trên đất sắt nóng, quyết không đem cái thân phá giới mà nằm
ngồi giường ghế của tín đồ hiến cúng; thề rằng thà thân này một
đời vài đời chịu hàng trăm mũi giáo đâm vào, quyết không đem cái
thân phá giới mà dùng dược phẩm của tín đồ hiến cúng; thề rằng
thà thân này gieo vào vạc sắt nóng đến cả trăm ngàn đời, quyết
không đem cái thân phá giới mà ở phòng ốc, nhà cửa, vườn tược và
đất đai của tín đồ hiến cúng. Lại thề rằng thà thân này bị chùy
sắt giáng đập từ đầu đến chân nát như bụi nhỏ, quyết không đem
cái thân phá giới mà nhận sự cung kính lễ bái của tín đồ. Lại
thề rằng thà bị cả trăm cả ngàn khí cụ bằng sắt nóng móc mất đôi
mắt đi, quyết không đem đôi mắt ấy với tâm phá giới mà nhìn vào
sắc đẹp; thề rằng thà một đời hai đời bị cả trăm cả ngàn dùi sắt
đâm vào hai tai, quyết không đem hai tai ấy với tâm phá giới mà
nghe đến tiếng hay; thề rằng thà bị cả trăm cả ngàn dao bén cắt
mất mũi đi, quyết không đem cái mũi ấy với tâm phá giới mà ngửi
đến hơi thơm; thề rằng thà cái lưỡi bị cả trăm cả ngàn dao bén
cắt đứt, quyết không đem cái lưỡi ấy với tâm phá giới mà nếm vào
mùi ngon; thề rằng thà thân này bị chặt bị xả bởi búa sắc, quyết
không đem cái thân ấy với tâm phá giới mà chạm vào chỗ ưa thích.
Lại phát khởi lời thề như sau, thề làm cho hết thảy chúng sinh
đều thành Phật đà. Nếu là Bồ tát mà không phát khởi những lời
thề như vậy thì phạm tội khinh cấu.
Để hoàn thành 10 lời nguyện mà quan
trọng là nguyện kiên trì giới pháp của Phật, phải có những lời
thề như sau. Thứ nhất, thề không làm sự bất tịnh; giới này lấy
nam làm điển hình mà nói đến nên đối tượng là nữ, như vậy nữ thì
đối tượng là nam, và chứng tỏ sinh lý làm cho phá giới hơn cả.
Thứ hai, thề nếu phá giới thì không nhận đồ mặc, đồ ăn, đồ nằm,
dược phẩm và chỗ ở, chứng tỏ nhu cầu hay làm cho phá giới. Thứ
ba, thề nếu phá giới thì không nhận sự tôn kính lễ bái, chứng tỏ
sự không biết hổ thẹn hay làm cho phá giới. Thứ tư, thề 5 căn
không tiếp xúc 5 cảnh bằng tâm phá giới, chứng tỏ giác quan hay
làm cho phá giới. Thứ năm, thề làm cho chúng sinh được làm Phật
cả, lời thề này là tổng quát và căn bản, chứng tỏ thệ nguyện lớn
lao thì khó mà có sự phá giới. Mười lời nguyện rộng lớn, ai cũng
nói là 10 lời nguyện nói trong giới nhẹ 35 ở trên, nhưng có
người dẫn kinh Phát Bồ đề tâm mà đưa ra pháp số khác, và không
ai đồng ý (Vạn 60/96A và 231A). Dòng lửa dữ, chính văn là đại
lưu mãnh hỏa, là nhỏ thì như nước đồng sôi mà rót ra, lớn thì
như thác lửa tuôn ra khi hỏa diệm sơn phun lửa.
Số 37: Không Được Mạo Hiểm Tai Nạn
Phật tử thì thường mỗi năm phải có
hai kỳ thực hành đầu đà, mùa đông mùa hạ phải tọa thiền an cư.
Thực hành đầu đà thì thường dùng nhánh dương để làm tăm, đậu để
rửa, ba pháp y, bình, bát, tọa cụ, tích trượng, lư hương, đãy
lọc nước, khăn tay, con dao, đồ lấy lửa, nhíp, giường giây, kinh
luật Bồ tát giới và tượng Phật Bồ tát. Là Bồ tát thì khi thực
hành đầu đà và khi đi du hóa, dầu đi lại cả trăm dặm ngàn dặm đi
nữa, mười tám vật ấy vẫn thường mang theo mình. Hai kỳ đầu đà là
từ rằm tháng giêng đến rằm tháng ba, từ rằm tháng tám đến rằm
tháng mười, trong hai kỳ ấy, mười tám vật cũng thường mang theo
mình như hai cái cánh với con chim. Bố tát tụng giới thì các vị
Bồ tát mới học đã phải nửa tháng nửa tháng bố tát, tụng mười
giới nặng và bốn mươi tám giới nhẹ; khi tụng thì đối trước tượng
Phật Bồ tát mà tụng; một người bố tát thì một người tụng, mà hai
ba cho đến hàng trăm hàng ngàn người cũng chỉ một người tụng;
người tụng ngồi cao, người nghe ngồi thấp, ai cũng mang pháp y
chín điều bảy điều hay năm điều. Kiết hạ an cư thì nhất nhất
phải làm cho đúng phép. Khi thực hành đầu đà thì đừng đến chỗ
tai nạn; chỗ nguy hiểm, chỗ quốc chúa tàn bạo, chỗ đất quá cao
thấp, chỗ cây cỏ rậm rạp, chỗ cọp beo sư tử, chỗ hay bị nạn nước
lửa gió, chỗ có đạo tặc, chỗ đường sá đầy rắn độc, những chỗ tai
nạn như vậy đều không được đến đó. Thực hành đầu đà, cho đến
kiết hạ an cư, đều không được đến ở những chỗ tai nạn như vậy.
Nếu cố ý đến thì phạm tội khinh cấu.
Trừ ra sự du hóa phải tìm hết cách
mà thâm nhập quần chúng, với sự đề phòng càng cẩn thận càng tốt;
lại trừ ra sự bố tát tụng giới chỉ cần thì gian ngắn và luật đã
dạy cách ứng phó; còn 2 sự này không được đến ở những chỗ tai
nạn: đầu đà và an cư. Giới văn dạy các hạnh du hóa, đầu đà, bố
tát, an cư, nhưng đầu đà và bố tát được nói đến nhiều hơn.
Về đầu đà (đập rủ sự tham lam về
ăn, mặc, ở) có 12 hạnh và 18 vật. Mười hai hạnh như sau, kê theo
Đại bát nhã mà Vạn 60/231B và 438B trích dẫn và tôi xếp lại thứ
lớp: ăn có 5 hạnh, là thường khất thực chứ không thọ thỉnh, khất
thực theo thứ tự không lựa chọn giàu nghèo quen lạ hay cùng đạo
khác đạo, mỗi ngày ăn 1 bữa và ngồi ăn 1 lần, ăn chừng mực là
đáng ăn 3 phần mới no thì ăn 2 phần thôi, và sau đứng bóng thì
nước vắt trái cây cũng không dùng; mặc có 2 hạnh, là mặc 3 pháp
y thứ vải thô mà chắp vá, và chỉ mặc 3 pháp y mà thôi; ở có 5
hạnh, là ở chỗ thanh vắng mà cách làng xóm bò rống lớn mới nghe,
chỗ tha ma để dễ quán bất tịnh và sự chết, chỗ dưới gốc cây chứ
không che cất chòi thất, chỗ đất trống để đêm trăng thanh dễ
nhập Không tam muội, và thường ngồi mà ngồi ngay thẳng chứ không
nằm. Du dà luận nói sự tham lam về ăn mặc ở không thuận lợi cho
phạm hạnh; như lông không đập thì không thể làm thảm, đầu đà đập
rủ sự tham lam ấy để thành tựu phạm hạnh. Trí độ luận nói, Phật
pháp chỉ lấy tuệ giác làm căn bản, không lấy khổ hạnh làm ưu
tiên, nhưng 12 hạnh đầu đà giúp cho tuệ giác nên Phật thường ca
tụng. Còn 18 vật của hạnh đầu đà thì cũng là của hạnh du hóa, và
chính văn kê đã rõ. Tựu trung, bát là nói về sự ăn, 3 pháp y là
nói về sự mặc, và tọa cụ là liên quan sự ở. Ngoài ra, nhánh
dương để làm tăm mà xỉa răng và nhấm, nay là tăm và đồ đánh
răng; đậu để rửa vốn dùng các thứ đậu và hạt, hoặc nước tro, bồ
kết, bồ hòn, nay là xà phòng; tích trượng phòng rắn và thú dữ,
lại để báo hiệu trong khi đi khất thực; đồ lấy lửa là dùng cây,
đá, thủy tinh mà lấy lửa, nay là diêm, quẹt; giường giây là lòng
giường đan mây, đan giây, là võng; nhíp để nhổ gai vì đi chân
trần.
Về du hóa, càng đi xa càng phải
mang theo 18 vật như đầu đà. Về an cư, nói nhất nhất phải làm
cho đúng phép là đúng như trong Luật đã qui định. Về bố tát, nói
ai cũng mang pháp y 9 điều 7 điều hay 5 điều là nói cho người
xuất gia thọ Bồ tát giới. Nói Bồ tát mới học là nói ngay các vị
này đã phải tụng giới, không phải nói chỉ các vị này mới phải
tụng giới còn các vị trên nữa thì khỏi. Trong sự bố tát tụng
giới, điều quan trọng là phải ngồi theo thứ tự mà giới 38 sau
đây sẽ nói; còn người tụng giới thì cũng theo thứ tự ấy mà chọn
người có khả năng nhất trong chúng cao nhất của các chúng đồng
bố tát. Không có cái phép trong chúng cao mà không có người có
khả năng tụng giới đến nỗi phải chọn người trong chúng dưới; nói
cách khác, bất cứ ai thọ Bồ tát giới rồi, không có cái phép
không thể tụng giới ấy: đoạn 2 mục 3 của tiết 1 Phật đã qui định
như vậy.
Thực hành đầu đà cho đến kiết hạ an
cư đều không được đến ở những chỗ tai nạn, "cho đến" là nói lược
về du hóa và bố tát. Du hóa thì cần thâm nhập mọi nơi, bố tát
thì chỉ cần thì gian ngắn, nên có thể không cần tránh những chỗ
tai nạn; nhưng chỉ có thể, không phải hoàn toàn không cần. Còn
đầu đà và an cư thì phải tránh. Trong những chỗ tai nạn phải
tránh, chỗ nguy hiểm, chính văn là ác quốc giới: nước dữ, có bản
chép quốc nạn: tai nạn cả nước, như vậy cũng có nghĩa là chỗ
đang bị tai nạn như chiến tranh, khủng hoảng..., nhưng Vạn
60/440A nói ác quốc giới là chỗ mà người và cảnh đều không hiền,
vậy thì chỗ nguy hiểm còn là nơi nhân tâm hung dữ. Nghĩa này đủ
và quan trọng hơn. Sự cấm mạo hiểm tai nạn của giới này cho thấy
đối với thân người, Phật pháp khinh là khinh như thế nào mà quí
là quí như thế nào.
Sau hết, bố tát thì các vị Bồ tát
mới học đã phải nửa tháng nửa tháng thường bố tát, tụng 10 giới
nặng và 48 giới nhẹ; khi tụng thì đối trước tượng Phật Bồ tát mà
tụng; một người bố tát thì một người tụng..., có bản chép gọn
hơn, theo đó thì phải dịch: ngày bố tát, khi các vị Bồ tát mới
học nửa tháng nửa tháng bố tát tụng 10 giới nặng và 48 giới nhẹ,
thì đối trước Phật Bồ tát, 1 người bố tát 1 người tụng... Những
chỗ tai nạn như vậy không được đến đó. Thực hành đầu đà cho đến
kiết hạ an cư đều không được đến ở những chỗ tai nạn như vậy.
Nếu cố ý đến thì phạm tội khinh cấu, có bản chép hơi khác, theo
đó thì phải dịch: những chỗ tai nạn như vậy đều không được đến
đó. Vì đó là những chỗ tai nạn cho hạnh đầu đà. Kiết hạ an cư mà
những chỗ tai nạn ấy cũng không được đến, huống chi thực hành
đầu đà. Thấy chỗ tai nạn mà có ý đến thì phạm tội khinh cấu.
Số 38: Không Được Ngồi Không Thứ Tự
Phật tử thì sự ngồi phải có thứ tự
đúng như chánh pháp, nghĩa là ai thọ giới trước thì ngồi trước,
ai thọ giới sau thì ngồi sau. Không kể già trẻ, Tỳ kheo Tỳ kheo
ni, quí nhân quốc vương vương tử, cho đến hoàng môn nô bộc tỳ
thiếp, tất cả đều nên ai thọ giới trước thì ngồi trước, ai thọ
giới sau thì tuần tự mà ngồi. Đừng như ngoại đạo ngu si, già
cũng như trẻ không trước không sau, ngồi hỗn tạp như binh nô.
Trong chánh pháp của Như Lai, người trước ngồi trước, người sau
ngồi sau. Nếu là Bồ tát mà ai nấy không ngồi theo thứ tự đúng
như chánh pháp, thì phạm tội khinh cấu.
Không phải chỉ một sự ngồi, mà mọi
sự cư xử, bình thường cũng như nghi lễ, đều phải căn cứ thứ tự.
Thứ tự ấy có 2, tóm tắt theo Vạn 60/373B 376B, như sau.
Một là thứ tự giữa các chúng. Các
chúng có 9, chia ra 2 bộ. Khi 2 bộ ngồi riêng, thì bên tăng bộ
thứ tự như sau: Tỳ kheo đứng đầu, kế đến sa di, đến cận trú nam,
đến cận sự nam; bên ni bộ thứ tự như sau: Tỳ kheo ni đứng đầu,
kế đến thức xoa, đến sa di ni, đến cận trú nữ, đến cận sự nữ.
Khi 2 bộ ngồi chung thì thứ tự như sau: hết Tỳ kheo đến Tỳ kheo
ni, hết Tỳ kheo ni đến thức xoa, hết thức xoa đến sa di, hết sa
di đến sa di ni, hết sa di ni đến cận trú nam, hết cận trú nam
đến cận trú nữ, hết cận trú nữ đến cận sự nam, hết cận sự nam
đến cận sự nữ.
Hai là thứ tự trong các chúng. Thứ
tự này cũng có 2. Thứ nhất, 2 chúng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni phải
lấy tuổi Tỳ kheo giới làm thứ tự, vì giới ấy là bản thể của Tăng
bảo. Thọ Bồ tát giới trước Tỳ kheo giới mấy năm cũng không kể,
vì giới ấy không biến thành Tỳ kheo giới; nhưng thọ Bồ tát giới
sau Tỳ kheo giới thì Tỳ kheo giới biến thành Bồ tát giới, nên
tuổi Bồ tát giới bấy giờ được kể theo tuổi Tỳ kheo giới. Thứ 2,
7 chúng còn lại thì y theo tuổi Bồ tát giới mà làm thứ tự (khi
tụng Bồ tát giới).
Riêng thứ tự lấy theo tuổi Tỳ kheo
giới thì gọi là "thứ tự của chư tăng" mà các giới nhẹ 26, 27 và
28 đã nói.
Thứ tự như trên đây là ý niệm bình
đẳng có lý: ý niệm bình đẳng theo tư cách giới pháp. Nếu thứ tự
kể theo giai cấp và tuổi tác, nếu bình đẳng một cách hỗn tạp,
thì đó là binh nô: chỉ lấy sức mạnh mà giành phần.
Nếu là Bồ tát mà ai nấy không ngồi
theo thứ tự đúng như chánh pháp, có bản chép gọn hơn, theo đó
thì chỉ dịch: Nếu là Bồ tát mà không ngồi theo thứ tự...
Số 39: Không Được Không Làm Lợi Lạc
Phật tử thì thường khuyến hóa mọi
người kiến thiết tăng phường, tạo lập núi rừng, ruộng vườn, xây
dựng tháp Phật, thiết lập những chỗ để mùa đông mùa hạ tọa thiền
an cư, nói tóm, tất cả những cơ sở hành đạo đều nên kiến thiết.
Là Bồ tát thì lại phải diễn giảng cho mọi người về kinh luật đại
thừa. Nhưng lúc tật bịnh, quốc nạn, giặc giã, những ngày mạng
vong của cha mẹ, anh em, của đại sư hoà thượng và đại sư xà lê
thì từ ngày ấy cho đến ngày tam thất và chung thất, cũng nên trì
tụng và diễn giảng kinh luật đại thừa. Những lúc làm chay cầu
phước, đi lại làm ăn mà có thể bị lửa dữ thiêu đốt, nước lớn
trôi chìm, gió bão thổi bạt thuyền bè nguy khốn trong sông to
biển cả đầy nạn la sát, thì trước đó cũng nên đọc tụng giảng nói
kinh luật đại thừa. Cho đến hết thảy khổ báo là ba ác, bảy
nghịch, tám nạn, gông cùm, xiềng xích, trói buộc, đa dâm, đa
sân, đa si, đa bịnh, đều nên giảng nói kinh luật đại thừa. Nếu
vị Bồ tát mới học không làm như vậy thì phạm tội khinh cấu.
Thường khuyến hóa mọi người kiến
thiết, nếu là tại gia thọ Bồ tát giới thì phải thêm: thường tự
mình và khuyến hóa... Ngoài việc tạo lập các cơ sở hành đạo,
giới pháp này đặc biệt khuyến khích tụng và giảng Bồ tát giới
Phạm võng trong mọi trường hợp cầu an, cầu siêu, cầu nguyện, cầu
diệt khổ nhân, cầu trừ khổ báo. Như vậy Bồ tát giới Phạm võng có
thể bao gồm hết thảy công năng các kinh Dược sư, Phổ môn, Di đà,
Bát nhã. Tạo lập núi rừng, là tạo lập những khu vườn lớn, cây có
nước có, có đủ tăng xá. Từ ngày mạng vong cho đến ngày tam thất
và chung thất, nói như vậy không phải các ngày và các tuần khác
không cần cầu siêu, mà chỉ nói quan trọng nhất là ngày mới chết,
ngày tam thất và ngày chung thất, chứ không phải chỉ ngày chung
thất mới quan trọng như ta thường làm. Gió bão, chính văn là hắc
phong (gió đen), là cuồng phong vùng tâm bão, vùng gió mưa mây
nước tạo thành bầu trời đen tối. Khổ báo 3 ác là 3 đường dữ địa
ngục, ngạ quỉ, súc sinh; nhưng có người thấy có bản chép 3 báo
nên giải thích là khổ báo chịu trong đời này (hiện báo) đời sau
(sinh báo) hay những đời sau nữa (hậu báo). Khổ báo 7 nghịch là
vô gián ngục.
Chín giới pháp nhẹ như vậy các
người phải học, phải cung kính phụng trì, như Như Lai sẽ nói rõ
trong phẩm Phạn đàn.
Kết thúc 9 giới nhẹ thứ nhất.
Số 40: Không Được Chọn Lựa Truyền
Giới
Phật tử thì khi cho người thọ Bồ
tát giới không được chọn lựa. Hết thảy quốc vương vương tử, tể
tướng bách quan, Tỳ kheo Tỳ kheo ni, thiện nam tín nữ, dâm nam
dâm nữ, phạn thiên mười tám tầng trời cõi Sắc, thiên nhân sáu
tầng trời cõi Dục, những kẻ vô căn, hai căn, hoàng môn, nô bộc,
tỳ thiếp, tất cả quỉ thần, ai cũng được thọ Bồ tát giới cả. Phải
dạy người thọ Bồ tát giới nhuộm pháp y bằng hoại sắc cho hợp với
chánh pháp. Hoại sắc là nhuộm tất cả pháp y và ngọa cụ bằng màu
sắc phá hủy các màu sắc chính là xanh vàng đỏ trắng đen tía. Mọi
thứ y phục khác cũng nhuộm hoại sắc như vậy. Nói tổng quát, tại
bất cứ quốc độ nào, dân chúng ở đó ăn mặc ra sao thì vị Tỳ kheo
ăn mặc phải khác với lối ăn mặc ấy. Khi sắp thọ Bồ tát giới, vị
pháp sư Bồ tát phải xét hỏi người ấy, rằng thân hiện tại có làm
bảy tội nghịch không? Vị pháp sư Bồ tát không được cho những
người thân hiện tại làm bảy tội nghịch được thọ Bồ tát giới. Bảy
tội nghịch là làm cho thân Phật xuất huyết, giết cha, giết mẹ,
giết hòa thượng, giết xà lê, phá kiết ma tăng và pháp luân tăng,
giết thánh giả. Nếu có bảy tội nghịch thì kẻ ấy thân hiện tại
không thể được Bồ tát giới. Ngoài ra, ai cũng có thể thọ và được
giới ấy. Cái phép của người xuất gia là không lạy quốc vương,
không lạy cha mẹ, không lạy bà con, không lạy quỉ thần, nên
không thiên vị hoặc khước từ ai hết, hễ ai hiểu được tiếng nói
của vị pháp sư Bồ tát, từ trăm dặm ngàn dặm vẫn đến cầu Bồ tát
giới, mà vị pháp sư ấy vì tâm lý xấu xa, tâm lý ghét giận, không
truyền ngay cho họ giới pháp mà tất cả chúng sinh đều có phần
thì phạm tội khinh cấu.
Bồ tát giới là của chúng sinh; trừ
những kẻ phạm 7 tội nghịch thì thân đời này của họ không thể thọ
và được giới ấy, còn bất cứ ai hảo tâm cầu giới ấy cũng đáng
được truyền ngay. Hãy coi lại và đối quán chính văn này với
chính văn đoạn 3 mục 3 tiết 1.
Bảy tội nghịch là ngoài 5 tội
nghịch còn thêm 2 tội giết hòa thượng và giết xà lê. Làm thân
Phật xuất huyết là tội nghịch 1. Xưa kia, Đề bà lăn đá hại Phật,
nhưng thân Phật không thể hại được, chỉ làm chảy máu ngón chân
của ngài. Nay thì đốt phá kinh Phật tượng Phật là cùng loại.
Giết cha, giết mẹ là tội nghịch 2 và 3. Ấy là giết 2 người sinh
ra sinh thân của mình. Giết hòa thượng, giết xà lê là tội nghịch
4 và 5. Ấy là giết 2 vị sinh ra giới thân cho mình. Giết thánh
giả, nói hẹp là giết La hán, là tội nghịch 6. Ấy là giết các vị
giải thoát. Phá tăng là tội nghịch 7. Tội này phân ra có 2: phá
kiết ma tăng và phá pháp luân tăng. Phá kiết ma tăng: mở đầu, Đề
bà dụ dổ một số Tỳ kheo tách ra kiết ma thuyết giới riêng; sau
đó, chỉ cần tối thiểu 8 vị Tỳ kheo cùng ở 1 chỗ, 1 kẻ trong đó
dụ dổ 3 người cùng kẻ ấy là 4, tách ra làm 1 nhóm mà kiết ma
thuyết giới hay làm những sự kiết ma khác, là cùng loại. Phá
pháp luân tăng: mở đầu, Đề bà lập ra tam bảo giả trá để chống
phá Tam bảo chân thật; sau đó chỉ cần tối thiểu 9 vị Tỳ kheo
không cần cùng ở 1 chỗ, 1 kẻ trong đó dụ được 4 người cùng kẻ ấy
tách ra, kẻ ấy tự xưng giáo lãnh, lập giáo pháp và họp 4 kẻ kia
làm giáo đoàn riêng, là cùng loại. Cả 2 tội trên đây chung lại
gọi là phá tăng hay phá tăng hòa hợp, có nghĩa làm tan rã sự
cùng sống với nhau bằng giới pháp và giáo pháp của chư tăng. Nói
cách khác là phá hoại Phật giáo. Do vậy mà nay bất cứ chủ trương
và hành động nào phá hoại Phật giáo, là cùng loại. Tất cả 6 tội
trước trong 7 tội nghịch là sát sinh cực nặng (dầu làm thân Phật
xuất huyết chỉ là phần da hành của tội ấy), còn tội thứ bảy là
vọng ngữ cực nặng. Bảy tội nghịch là tội đọa vô gián ngục, nhất
là tội phá pháp luân tăng, vì làm thương tổn pháp thân của Phật
(Câu xá, Chính 28/92 94).
Ở đây, đối với Bồ tát giới thì chỉ
những kẻ phạm 7 tội nghịch mới không thể thọ và không thể được
giới ấy. Do đó, 7 tội ấy có bản chép là 7 sự cản trở (thất giá).
Ngoài những kẻ phạm 7 tội nghịch, mọi người ai cũng phải được
cho thọ Bồ tát giới, không được lựa chọn, khước từ. Thế nhưng,
những kẻ trà trộn hay mai phục để phá hoại Phật giáo thì đó cũng
là 1 trong 6 loại tặc trú, không thể không tra xét cho kyՍ mà cứ
cho thọ Bồ tát giới. Lại nữa, giới này cấm là cấm lựa chọn theo
tà ý, còn vị truyền giới phải xét người cầu giới có xứng đáng
không, người cầu giới phải xét vị truyền giới có xứng đáng
không, thì lại là sự răn dạy phải làm của Bồ tát giới du dà (mà
Vạn 60/378B trích dẫn). Cho nên lựa chọn hay không lựa chọn theo
tà ý thì toàn là cung cách làm cho Phật pháp suy tàn.
Sau hết, đây là mấy chỗ cần giải
thích. Vô căn: không có cả 2 bộ phận sinh thực. Hai căn: ngược
với vô căn. Hoàng môn: gọi chung 5 loại người lại cái. Phải dạy
người thọ Bồ tát giới nhuộm pháp y bằng hoại sắc: do chính văn
liên tiếp dưới câu này nói rõ mà biết đây là dạy cho Tỳ kheo (và
mọi người xuất gia). Ngọa cụ ở đây là những thứ đồ nằm. Mọi thứ
y phục khác là mọi thứ khác nữa thuộc về y phục, trong đó có các
thứ khăn. Cái phép của người xuất gia là không lạy..., câu này
cho thấy rõ vị truyền Bồ tát giới phải là người xuất gia.
Số 41: Không Được Vụ Lợi Làm Thầy
Phật tử nếu giáo hóa cho người phát
sinh đức tin đại thừa rồi, mình là Bồ tát làm vị pháp sư chỉ bảo
cho người, thì thấy người ấy muốn thọ Bồ tát giới, mình phải chỉ
bảo cách thỉnh hai vị đại sư là hòa thượng và xà lê. Hai vị đại
sư phải hỏi người ấy có hay không có phạm bảy tội nghịch là bảy
tội cản trở sự thọ và được Bồ tát giới. Nếu thân hiện tại phạm
bảy tội nghịch thì vị pháp sư không được cho người ấy thọ Bồ tát
giới; nếu không phạm bảy tội nghịch thì được cho họ thọ. Nếu
người nào phạm mười giới pháp nặng thì phải chỉ bảo người ấy sám
hối bằng cách đối trước hình tượng Phật đà, hình tượng Bồ tát,
ngày đêm sáu buổi tụng mười giới pháp nặng và bốn mươi tám giới
pháp nhẹ, cực kỳ khẩn thiết lễ bái ba ngàn đức Phật thuộc ba thì
gian quá khứ hiện tại và vị lai, cầu cho thấy được tướng tốt.
Dầu một lần bảy ngày hay ba lần bảy ngày, cho đến một năm, cũng
phải làm sao cho thấy được tướng tốt. Tướng tốt là thấy được
Phật đến xoa trên đỉnh đầu, thấy ánh sáng của Phật, thấy hoa sen
của Phật, hoặc thấy các tướng kỳ lạ khác, thì tội lỗi tức thì
tan biến. Nếu không thấy được những tướng tốt như vậy thì dẫu
sám hối cũng không có cái ích lợi làm cho người ấy thân hiện tại
được lại giới pháp, nhưng có cái lợi ích thọ lại giới pháp ấy.
Nếu ai phạm bốn mươi tám giới pháp nhẹ thì chỉ bảo người ấy sám
hối bằng cách đối diện mà phát lộ, thì tội lỗi tức thì tan biến.
Phạm giới nặng hay nhẹ đều không như bảy tội nghịch. Làm pháp sư
chỉ bảo thì trong các cách trên đây nhất nhất phải thấu hiểu.
Nếu không thấu hiểu sự đúng sai và tội nặng nhẹ của giới pháp
đại thừa, không lý giải đệ nhất nghĩa đế, tập chủng tánh, trưởng
dưỡng tánh, bất hoại tánh, đạo chủng tánh, chánh pháp tánh,
trong tất cả các tánh của Bồ tát vị như vậy không thấu rõ quán
hạnh nhiều ít và ra vào như thế nào, cho đến mười thành phần
thiền định và bao nhiêu quán hạnh khác, cũng nhất nhất không
thấu hiểu nghĩa ý trong đó; mà, là Bồ tát, lại vì quyền lợi, vì
danh vọng, vì ham hố đồ đệ với tâm lý ham cầu xấu xa và quá
đáng, làm ra như thấu hiểu tất cả, thì ấy là tự lừa dối mình lại
lừa dối kẻ khác. Vậy mà cố ý truyền Bồ tát giới cho người thì
phạm tội khinh cấu.
Giới này nối tiếp các giới 16, 40,
nhất là giới 23, răn dạy cách làm pháp sư. Pháp sư này trước đây
đã gọi là pháp sư đại thừa, pháp sư Bồ tát, nay đây gọi là pháp
sư chỉ bảo. Pháp sư chỉ bảo là đại sư giáo thọ. Nhưng sự chỉ bảo
này không phải chỉ có lúc sắp thọ giới hay lúc thọ giới, mà là
trước nữa, phải giáo hóa làm sao cho người có thể thọ và giữ Bồ
tát giới. Giới 41 này gần như tổng hợp cách làm pháp sư như vậy.
Cách ấy có 4: một, dạy cho người phát sinh đức tin đại thừa,
hai, dạy cách thọ giới, ba, dạy cách sám hối phạm giới, bốn,
thấu hiểu về Bồ tát giới và Bồ tát vị.
Một, dạy cho người phát sinh đức
tin đại thừa là tin mình sẽ làm Phật. Nhưng nói như vậy là nói
tắt về những sự khác nữa, ấy là dạy cho người biết đại thể về Bồ
tát giới, dạy cho người có chí nguyện và khả năng để thọ và giữ
giới ấy, như đã nói trong các giới nhẹ trước liên quan đến những
việc này.
Hai, dạy cách thọ Bồ tát giới. Là
xét và không truyền giới ấy cho người phạm 7 tội nghịch, nhưng
càng phải giáo hóa sao cho người này có những cái phước khác.
Còn ai không phạm 7 tội nghịch thì cho thọ Bồ tát giới bằng cách
dạy thỉnh 2 vị đại sư hòa thượng và đại sư xà lê. Nhưng xét Phạm
võng (giới 23) Anh lạc (Chính 24/1020) Thiện giới (Chính
30/1014) Du dà (Chính 24/1104) và Địa trì (Chính 30/912) đều
thấy Bồ tát giới chỉ do 1 vị thầy truyền thọ. Chính 1 vị thầy
ấy, trước khi truyền giới thì làm pháp sư chỉ bảo, khi truyền
giới thì làm 2 nhiệm vụ đại sư hòa thượng và đại sư xà lê. Giới
văn nói chỉ bảo cách thỉnh 2 vị đại sư là hòa thượng và xà lê,
là vị thầy chỉ bảo cho người xin thọ giới biết cách thức thỉnh
mình làm cả 2 nhiệm vụ hòa thượng và xà lê mà truyền giới cho
người ấy. Giới văn nói 2 vị đại sư phải hỏi người ấy có hay
không có phạm 7 tội nghịch, là vị thầy ấy, bây giờ, với tư cách
hòa thượng và xà lê, hỏi để xác định người xin thọ giới có hay
không có phạm vào những tội cản trở sự thọ giới và sự được giới.
Việc này giới 40 đã hỏi, nhưng hỏi để tra xét, nay chỉ hỏi theo
nghi thức. Nghi thức mà 1 vị thầy phải nói và phải làm trong
việc kiết ma truyền Bồ tát giới thì Chính 24/1104 và 1105 chỉ
dẫn rất rõ. Nhất là lời kiết ma, xin lược dịch như sau: Vị thầy
truyền giới đối trước tượng Phật lạy và bạch, rằng kính bạch vô
lượng Phật đà và Bồ tát hiện tại vô lượng thế giới, hiện thời ở
đây có Bồ tát tên XX, đối trước con là Bồ tát XX, 3 lần nói thọ
Bồ tát giới, con đã tác chứng cho. Con thỉnh cầu vô lượng Phật
đà và Bồ tát cũng tác chứng cho Bồ tát XX thọ Bồ tát giới. Bạch
lần thứ 2 và lần thứ 3 cũng như vậy. Như vậy là kiết ma thọ Bồ
tát giới được hoàn tất (chính 24/1105). Thế nhưng đối với câu
"thỉnh 2 vị đại sư", các vị chú thích có nhiều ý kiến, xin tóm
tắt ghi lại như sau. Có vài người lướt qua, rõ ràng có ý thận
trọng; có vài ba người nói vị pháp sư chỉ cách thỉnh đức Thích
Ca làm hòa thượng, thỉnh mình làm xà lê; có người nói chỉ cách
thỉnh mình làm hòa thương, thỉnh 1 vị khác là kiết ma xà lê; có
người nói mình làm giáo thọ xà lê, chỉ cách thỉnh đức bổn sư
Thích Ca làm hòa thượng, chỉ cách thỉnh đức đương lai Di Lặc làm
xà lê. Ấy là chỉ kể những ý kiến đáng chú ý. Những ý kiến này
gợi lên sự xét lại cách truyền Bồ tát giới. Cách ấy trong lý
thuyết và thực tế thấy có 2. Thứ nhất là cách 1 thầy truyền cho
1 trò. Cách này nên lấy sự chỉ dẫn của luận Du dà làm chính
(Chính 24/1104 1105). Tham khảo thì có thể coi thêm Vạn 59/197A
và 198B. Đặc biệt nếu truyền cho cận sự nam và cận trú nam theo
Ưu bà tắc giới kinh thì có thể làm theo kinh ấy (Chính 24/1047
1049). Thứ hai là cách tổ chức giới đàn truyền cho nhiều người
như nghi thức hiện hành, thì có 2 lớp tam sư thấy được và không
thấy. Lớp tam sư không thấy là đức Thích Ca làm hòa thượng, đức
Văn thù làm kiết ma, đức Di Lặc làm giáo thọ; lớp này căn cứ
kinh Thiện giới và Phổ hiền, và "từ lớp này mà được giới là do
sức trợ phát của đức Phổ hiền" (Chính 62/246). Lớp tam sư thấy
được là hòa thượng, kiết ma và giáo thọ trong giới đàn; lớp này
dạy thỉnh và đứng thỉnh lớp trước kiết ma hoàn tất. Cách truyền
giới 1 thầy 1 trò có cái ưu điểm là nghĩa vụ của vị thầy rất
quan trọng cho người thọ giới, còn cách truyền giới trong giới
đàn thì nhược điểm ở chỗ thọ giới rồi thầy trò hầu như chẳng còn
biết gì đến nhau nữa.
Ba, dạy cách sám hối phạm giới.
Trước hết, phạm 7 tội nghịch thì đời này không được thọ Bồ tát
giới, còn gì nữa mà nói đến sám hối. Nếu thọ Bồ tát giới rồi mới
phạm 7 tội nghiểch thì đời này mất giới pháp ấy, không thể sám
hối để được lại hay thọ lại gì hết. Nhưng nói không thể sám hối
là đối với giới pháp, chứ sự sám hối về 7 tội nghịch thì vẫn có.
Đó là chuyện A Xà Thế vương sám hối tội giết cha, ngay trong
thời Phật còn và được ngài chấp nhận (Chính 1/109). Làm vị pháp
sư thì phải biết như vậy để đừng ruồng bỏ người phạm tội nghịch,
làm họ tuyệt vọng, lại phủ nhận năng lực Phật pháp đối với tội
ấy.
Ngoài kẻ phạm 7 tội nghịch, ai cũng
có thể thọ và được Bồ tát giới. Nhưng thọ và được rồi, nếu phạm
10 giới nặng thì vị pháp sư dạy cho họ phải sám hối thấy tướng
tốt mới được phục hồi giới pháp, khỏi phải thọ lại. Sám hối mà
không thấy tướng tốt thì được thọ lại, vì người này không phạm 7
tội nghịch. Giới văn nói nếu không thấy được những tướng tốt như
vậy thì dẫu sám hối cũng không có cái ích lợi làm cho người ấy
thân hiện tại được lại giới pháp, nhưng có cái ích lợi thọ lại
giới pháp ấy, chính văn là nhược vô tướng hảo, tuy sám vô ích,
thị nhân hiện thân diệc bất đắc giới, nhi đắc tăng ích thọ giới.
Tăng ích thọ giới, có bản chỉ chép tăng thọ giới, có nghĩa là
thọ giới lại. Câu chính văn này có nhiều ý kiến. Ý kiến có nhiều
nhất, điển hình như ngài Pháp tạng (Vạn 60/100A) là sám hối thấy
tướng tốt thì phục hồi giới pháp, không cần thọ lại, còn sám hối
không thấy tướng tốt thì không phục hồi giới pháp nhưng được thọ
lại giới pháp ấy. Có vài ý kiến thêm chữ "sau này" vào trước chữ
thọ lại, có 1 ý kiến thêm chữ "đời sau". Ý kiến như chính văn là
đời này có thể thọ lại, ý kiến thêm chữ sau này là đời này hay
đời sau có thể thọ lại, ý kiến thêm chữ đời sau là đời sau mới
thọ lại. Nay xét thọ Bồ tát giới là xuất gia hay tại gia thọ
giới ấy, vậy Bồ tát giới tùy thuộc Tỳ kheo giới và tại gia giới.
Như vậy, sự phạm giới nặng, nhất là phạm cả 3 phần da hành, căn
bản và hậu khởi của mỗi giới, thì dẫu nói Bồ tát giới có thể sám
hối mà phục hồi hay thọ lại đi nữa, Tỳ kheo giới và tại gia giới
cũng không có cái sự phục hồi hay thọ lại ấy. Trên lý thuyết,
nếu có trường hợp chỉ thọ Bồ tát giới thì được thọ lại hay
không, thọ lại trong đời này hay đời sau, phải hoàn toàn do vị
pháp sư Bồ tát, vị thầy rất xứng đáng, có trách nhiệm quyết
định, như đã quyết định lúc mới cho họ thọ.
Sau hết, ai phạm 48 giới nhẹ thì
dạy cho họ sám hối theo cách đối diện bộc bạch mà sám hối là
được tiêu trừ. Cách này luận Du dà (Chính 24/1106) cũng dạy rất
rõ. Đối diện, chính văn là đối thủ, có nghĩa đối diện, giáp đầu
mặt mà bộc bạch sám hối. Có người đọc đối thú, có nghĩa đối diện
mà thú tội, ý nghĩa như đọc đối thủ. Phạm giới nặng hay nhẹ đều
không như 7 tội nghịch, sát chính văn thì chỉ "không như 7 tội
nghịch", nên phải bổ túc như trên.
Bốn, thấu hiểu về Bồ tát giới và Bồ
tát vị. Thấu hiểu về Bồ tát giới là hiểu làm như thế nào thì
đúng, làm như thế nào thì sai, phạm như thế nào thì nặng, phạm
như thế nào thì nhẹ, lại còn phải hiểu lý do và nội dung của Bồ
tát giới, hiểu cách truyền thọ, cách lãnh thọ và cách sám hối.
Thấu hiểu về Bồ tát vị là hiểu căn bản của Bồ tát vị, hiểu chủng
tánh của Bồ tát vị, hiểu pháp hạnh của Bồ tát vị. Căn bản của Bồ
tát vị là đệ nhất nghĩa đế, tức Phật tánh, cũng gọi là thật
tướng bát nhã. Chủng tánh của Bồ tát vị thì kinh Anh lạc nói có
6, và phối hợp rõ như sau: 1, tập chủng tánh là 10 trú, 2, tánh
chủng tánh là 10 hạnh, 3, đạo chủng tánh là 10 hướng, 4, thánh
chủng tánh là 10 địa, 5, đẳng giác tánh là đẳng giác, 6, diệu
giác tánh là diệu giác (Chính 24/1012). Còn ở đây, kinh Phạm
võng nói thì ngài Pháp tạng chép có 5 và phối hợp như sau: 1,
tập chủng tánh là 10 phát thú (10 trú), 2, trưởng dưỡng tánh là
10 trưởng dưỡng (10 hạnh), 3, bất hoại tánh là 10 kim cang (10
hướng), 4, đạo chủng tánh là 10 địa, 5, chánh pháp tánh là Phật
địa (Vạn 60/99B 100B). Nay xét chính văn Phạm võng và Anh lạc,
thấy 10 trú 10 hạnh và 10 hướng thì 2 kinh ấy và thông thường
nói như nhau, "ý nghĩa thì đồng, danh từ thì khác" (Trí húc, Vạn
60/314A). Nhưng 10 địa thì Anh lạc cũng như thông thường tách
đẳng giác và diệu giác ra làm 2 chủng tánh nữa; còn 10 địa trong
Phạm võng thì xét thấy bao gồm cả 10 địa và 2 giác. Vậy nên phối
hợp lại như sau: một, tập chủng tánh là 10 phát thú (10 trú),
hai, trưởng dưỡng tánh là 10 trưởng dưỡng (10 hạnh), ba, bất
hoại tánh là 10 kim cang (10 hướng), bốn, đạo chủng tánh và 5,
chánh pháp tánh là 10 địa (10 địa và 2 giác). Ý nghĩa 5 danh từ
Bồ tát tánh và 4 danh từ Bồ tát vị như trên có thể lược giải như
sau. Một, tập chủng tánh: phẩm cách luyện tập, là xuất phát đi
mau đến (phát thú), nghĩa là vững vàng trong Bồ tát vị (trú).
Hai, trưởng dưỡng tánh: phẩm cách bồi dưỡng, là bồi dưỡng hơn
lên nữa (trưởng dưỡng), nghĩa là đi tới về Bồ tát vị (hành). Ba,
bất hoại tánh: phẩm cách kiên cố, là kiên cố như kim cương (kim
cang), nghĩa là đã hướng đến chân như (hướng). Bốn, đạo chủng
tánh: phẩm cách bát nhã, và Năm, chánh pháp tánh: phẩm cách chân
như, là sinh trưởng mọi diệu dụng và đã gần như là Phật (địa và
đẳng giác diệu giác). Cũng nên ghi chú thêm rằng có bản chép 6
chủng tánh: sau trưởng dưỡng tánh thêm tánh chủng tánh, nhưng
xét thấy bất ổn không ít.
Pháp hạnh của Bồ tát vị là các quán
hạnh và pháp hạnh. Quán hạnh có 3, là không quán, giả quán và
trung quán: 10 phát thú thì từ giả quán vào không quán, không
quán còn ít; 10 trưởng dưỡng thì ra không quán vào giả quán,
không quán thì nhiều mà giả quán còn ít; 10 kim cang thì xoay
không quán giả quán vào trung quán, giả quán thì nhiều mà trung
quán còn ít; 10 địa thì trung quán mới nhiều. Không quán là thể
hội thật tướng, siêu việt các phạm trù tư duy; giả quán là hoạt
dụng thật tướng, lợi ích cho hết thảy chúng sinh; trung quán là
dung hóa thật tướng, vô công dụng hạnh đã nhiệm vận hiện tiền.
Pháp hạnh thì ở đây đưa ra 10 thiền chi (10 thành phần thiền
định). Pháp số này là 10 nhất thế xứ. Trí độ luận nói như sau,
trong cuốn 21, "bội xả làm cửa đầu, thắng xứ là đi giữa, nhất
thế xứ là hoàn thành, 3 loại này của thiền quán mà đầy đủ thì
bản thể thiền quán thành tựu". Vậy là 10 thiền chi (nhất thế xứ,
biến xứ) còn lược 2 pháp số nữa, đó là 8 bội xả (giải thoát) và
8 thắng xứ.
Vị pháp sư truyền Bồ tát giới thì
căn bản là phải nghiêm trì giới ấy, lại phải hiểu rõ và chỉ dạy
được 4 điều trên đây. Nhưng nếu truyền Bồ tát giới với tâm lý
ham danh lợi và ham đồ đệ thì hiểu mà truyền cũng vẫn phạm giới
này, huống chi không hiểu. Giới văn câu chót làm ra như thấu
hiểu tất cả, có bản chép thêm "để được hiến cúng", thêm như vậy
vừa thừa vừa thiếu.
Số 42: Không Được Thuyết Giới Ác
Nhân
Phật tử thì không được vì quyền lợi
mà nói giới pháp vĩ đại của hàng ngàn đức Phật trước những kẻ
chưa thọ Bồ tát giới, những kẻ ngoại đạo và ác nhân. Trước những
kẻ phủ nhận Phật tánh cũng không được nói. Trừ quốc vương, không
được nói với ai cả. Những kẻ ngoại đạo và ác nhân không lãnh thọ
giới pháp của chư Phật thì như loài vật, đời đời sinh ra ở đâu
cũng không gặp được Phật pháp tăng, như cây như đá không có tâm
hồn, nên gọi là ngoại đạo và ác nhân. Còn những kẻ phủ nhận Phật
tánh thì khác gì đầu gỗ. Là Bồ tát mà trước những kẻ như vậy nói
đến giáo pháp và giới pháp của bảy đức Phật đà thì phạm tội
khinh cấu.
Không phải lúc nào, ở đâu, với ai
cũng thuyết Bồ tát giới một cách cẩu thả. Nhất là đối với những
kẻ không có tâm hồn, những kẻ không có giống Phật, những kẻ
ngoan cố, vô tín ngưỡng, nghe Bồ tát giới thì chỉ phỉ báng,
không thể lãnh thọ mà cũng không chịu lãnh thọ. Còn đối với quốc
vương, tức đối với các vị nguyên thủ quốc gia, thì không phải
được nói mà là phải nói; địa vị ấy, quyền sinh sát ở cả trong
tay, không cố mà nói cho họ, bằng cách này hay cách khác, về Bồ
tát giới, thì không còn sự răn đe nào khác nữa.
Giới 39 nói phải diễn giảng Bồ tát
giới trong mọi trường hợp, vậy tránh sao cho khỏi có những kẻ mà
giới này hạn chế? Nên người diễn giảng phải xét người nghe, để
có khi có thể diễn giảng đủ cả, có khi chỉ nên trích giảng mà
thôi.
Giới pháp vĩ đại của hàng ngàn đức
Phật, nói rõ là của 3 ngàn đức Phật thuộc 3 thời kỳ quá khứ hiện
tại và vị lai. Ấy là lấy 3 ngàn đức Phật liên tiếp, gần gũi và
của quốc độ này, trong đó có đức Bổn sư, mà nói sự trọng đại của
Bồ tát giới. Của 7 đức Phật đà là lấy 7 đức Phật gần nhất trong
số 3 ngàn đức Phật mà đức Bổn sư là vị Phật hiện tại, để nói sự
trọng đại của Bồ tát giới. Như loài vật, 1 nhà giải thích nói vì
không thọ Bồ tát giới thì sống cũng như chết chỉ là sống chết vô
ích.
Số 43: Không Được Cố Tâm Phạm Giới
Phật tử nếu đã đem đức tin đại thừa
mà xuất gia và lãnh thọ giới pháp chính yếu của chư Phật rồi,
lại cố ý sinh tâm vi phạm giới pháp phát sinh tuệ giác vô lậu
như vậy, thì không nên nhận mọi sự hiến cúng của thí chủ, không
đáng đi đất của quốc gia, uống nước của quốc gia. Cả năm ngàn
quỉ dữ thường án trước mặt kẻ ấy mà bảo với nhau, rằng đó là tên
giặc lớn. Vào phòng ốc, thành thị, thôn ấp, nhà cửa, thì bọn quỉ
thường quét dấu chân của người ấy đi. Thế nhân ai cũng nhục mạ,
rằng đó là tên giặc trong Phật pháp. Chúng sinh không ai muốn
nhìn. Kẻ phạm giới có khác gì loài vật, đầu gỗ. Nếu cố ý vi phạm
giới pháp chính yếu của chư Phật thì phạm tội khinh cấu.
Hoặc là vô ý, hoặc là phiền não quá
nặng mà phạm giới, thì dầu sao cũng còn hơn kẻ phạm giới bằng sự
cố ý. Lại còn không sám hối mà nhận lãnh của tín đồ hiến cúng,
thì đó là kẻ không còn chút tàm quí nào trong lòng. Kẻ ấy đất
tuy rộng cũng không đáng có một chỗ để đi, nước tuy nhiều cũng
không đáng có một giọt để uống. Đất của quốc gia, nước của quốc
gia, quốc gia, chính văn là quốc vương, chữ này không những có
nghĩa là vua mà còn chỉ cho tất cả nguyên thủ quốc gia dưới
những danh từ khác nữa. Nói đất nước của nguyên thủ quốc gia là
nói của quốc gia, của cả nước. Quỉ án trước mặt thì vì vậy mà
họa không ít và phước khó toàn.
Số 44: Không Được Không Trọng Kinh
Luật
Phật tử thì thường phải nhất tâm mà
thọ trì đọc tụng kinh luật đại thừa, lột da làm giấy, thích
huyết làm mực, rút tủy làm nước, chẻ xương làm bút, để sao chép
giới pháp của chư Phật. Lại sao chép mà giữ bằng giấy vỏ cây như
giấy gió, giấy dạ, bằng lụa, lụa trắng, lụa tơ trần, bằng thẻ
tre. Rồi thường đem bảy thứ quí báu, hay những thứ tạp ngọc vô
giá, thơm và đẹp, làm hộp làm đãy mà tôn trí kinh luật đại thừa
ấy. Nếu không hiến cúng đúng cách như vậy thì phạm tội khinh
cấu.
Kinh luật phải hiến cúng, phần
chính vẫn là kinh luật đại thừa, tức Bồ tát giới Phạm võng. Hiến
cúng bằng cách ấn hành mà truyền bá, trang sức mà thờ cất. Phật
tánh nằm trong đó, nên phải hiến cúng như hiến cúng Phật. Lột da
làm giấy, thích huyết làm mực, rút tủy làm nước, chẻ xương làm
bút, là nói tinh thần vị pháp vong thân, không phải nói thực sự.
Sao chép (thư tả) là xưa chỉ viết tay, chưa in. Nay thì in chứ
không phải viết.
Số 45: Không Được Không Có Giáo Hóa
Phật tử thì tâm đại bi phải thường
xuyên nổi dậy, khi vào những nơi thành thị, thôn ấp hay nhà cửa,
thấy bất cứ ai cũng đều nói lên như thế này: các người nên lãnh
thọ ba qui y và mười giới pháp. Nếu thấy tất cả cầm thú thì bất
cứ bò ngựa heo dê, đều nên tâm nghĩ miệng nói như sau: cầm thú
các con, các con nên phát Bồ đề tâm. Là Bồ tát thì đến bất cứ
chỗ nào, dầu là núi non, rừng rú hay khe suối, đồng nội, cũng
làm cho hết thảy chúng sinh phát Bồ đề tâm. Nếu Bồ tát mà không
giáo hóa chúng sinh như vậy thì phạm tội khinh cấu.
Chủ đích của sự giáo hóa là làm cho
tất cả phát Bồ đề tâm. Cách giáo hóa mà giới này dạy chính là
cái điển hình Thường bất khinh trong Pháp hoa. Cách này không
mấy ai không cho là tầm thường, lố lăng, nên không mấy ai không
phạm giới này. Nhưng cách này không những đem sức mạnh của tâm
nguyện ảnh hưởng đến đối tượng, mà còn tự huân tập và hiện hành
thường xuyên nơi bản thân về tâm đại bi. Lãnh thọ ba qui y và
mười giới pháp là như truyền thọ Bồ tát giới rồi đó. Nhưng câu
giới văn dạy nói lên khi gặp người thì không phải chỉ làm theo
một cách máy móc và giản dị như vậy. Phải coi đó là đầu đề mà
cách trình bày phải sao cho thích hợp, hiệu quả. Riêng câu giới
văn dạy nói lên khi gặp vật thì làm theo dễ hơn: hãy luôn luôn
chú nguyêển cho chúng như vậy. Nhưng phải chú ý chữ tâm nghĩ:
phải vận dụng và tập trung tất cả sự chân thành của tâm đại bi
mà chú nguyện.
Số 46: Không Được Thuyết Không Đúng
Phép
Phật tử thì thường đi giáo hóa với
tâm niệm đại bi mà mình thường phát khởi. Nhưng, dẫu vào nhà tín
đồ hay nhà quyền quí, đối với bất cứ tập thể nào, người xuất gia
cũng không được đứng mà thuyết pháp cho người tại gia. Phải ngồi
lên chỗ cao, ở trước mặt họ. Pháp sư Tỳ kheo thì dẫu thuyết pháp
cho cả bốn chúng, cũng không được đứng đất mà nói. Khi thuyết
pháp thì vị pháp sư phải được mời ngồi chỗ cao, hương hoa hiến
cúng; còn bốn chúng thính giả thì ngồi chỗ thấp, bằng ý niệm như
hiếu thuận đối với cha mẹ mà kính thuận những lời giáo huấn của
vị pháp sư, lại kính thuận liên tục như các đạo sĩ thờ lửa giữ
lửa không tắt. Nếu người thuyết pháp mà thuyết không đúng phép
như vậy thì phạm tội khinh cấu.
Thuyết không đúng phép là thuyết
pháp không đúng nghi lễ thuyết pháp. Dẫu phải giáo hóa mọi người
phát Bồ đề tâm, nhưng chính vì để họ quí trọng chánh pháp mà
phát Bồ đề tâm, nên phải thuyết pháp cho đúng nghi lễ. Dầu thân
như nhà tín đồ hay sang như nhà quyền quí, ở đâu cũng không được
dễ dãi hay hạ mình, sao cũng nói được, bộc lộ tinh thần thị
thường chánh pháp ngay khi chưa nói và khi đang nói. Như vậy thì
phải ngồi, lại ngồi chỗ cao và trước mặt người nghe. Nhưng nếu
trường hợp cũng theo nghi lễ, người nói phải đứng nói mới tôn
nghiêm thì lại khác. Khi thuyết pháp thì vị pháp sư... giữ lửa
không tắt, dịch sát thì như sau, dầu không đúng ý và việc: Nếu
khi thuyết pháp, pháp sư ngồi cao, hương hoa hiến cúng; bốn
chúng thính giả ngồi thấp như hiếu thuận cha mẹ, kính thuận lời
thầy như Bà la môn thờ lửa.
Số 47: Không Được Kềm Chế Phi Lý
Phật tử như quốc vương, thái tử,
bách quan hay bốn bộ, đã đem đức tin đại thừa lãnh thọ giới pháp
của chư Phật rồi, lại tự thị quyền quí cao sang mà phá hoại giáo
pháp và giới pháp của Như Lai, bằng cách đặt ra qui chế để kềm
chế bốn bộ đệ tử của Như Lai, không cho họ xuất gia, hành đạo,
cũng không cho họ tạo lập hình tượng, chùa tháp, và truyền bá
kinh luật. Lại đặt chức thống quản để chế ngự chư tăng, lập sách
tịch để kiểm kê chư tăng. Tỳ kheo Bồ tát thì để cho đứng đất,
bạch y cư sĩ lại tự ngồi chỗ cao, làm nhiều điều phi chánh pháp,
tạo thành tình trạng như bắt binh nô thờ chủ. Nhưng Tỳ kheo Bồ
tát chính là bậc để cho mọi người kính trọng, có đâu lại bị đem
làm kẻ sai sử của quan quyền một cách trái với giáo pháp, trái
với giới pháp. Nếu hàng quốc vương bách quan đã đem tâm lý tốt
đẹp lãnh thọ giới pháp của chư Phật rồi, thì đừng làm những tội
lỗi phá hoại Tam bảo như vậy. Nếu cố ý làm những biện pháp phá
hoại Tam bảo thì phạm tội khinh cấu.
Giới này tự nói đã rõ, một cách
không ngờ, về những sự kềm chế phi pháp, và đã mệnh danh những
sự ấy là phá hoại Tam bảo. Một quốc độ mà cường quyền lấn áp đạo
đức, buộc đạo đức và những người tiêu biểu cho đạo đức phải phục
dịch mình bằng những qui chế phi lý, nhất là qui chế ấy có tính
cách kềm chế, giám sát người và việc của một tôn giáo như Phật
pháp, thì đó là "nước của quỉ la sát". Nhưng cường quyền ở đây,
ngoài chính quyền mà chính sách căn bản không dung Phật pháp,
còn là chính quyền mà cầm đầu hoặc nội bộ có những kẻ bất trung
của Phật pháp, tự làm hoặc chịu làm tay sai, lợi dụng ngay sự
làm Phật tử mà làm những việc hại đạo của Phật, thì đó là điều
mà giới này muốn nói đến: nói đến Phật tử tại gia phản bội Phật
pháp. Bốn bộ, bốn bộ đệ tử, ở đây là ưu bà tắc, ưu bà di, đồng
nam, đồng nữ. Câu lại đặt chức thống quản... phá hoại Tam bảo
như vậy, được biết có bản bị vua quan xưa đục bỏ.
Số 48: Không Được Phá Hoại Đạo Pháp
Phật tử nếu đã đem tâm lý tốt đẹp
mà xuất gia rồi, lại vì danh vọng và quyền lợi nên trước mặt
quốc vương và bách quan, nói về giới pháp của chư Phật mà lại
nói một cách rất phi lý, làm cho các vị Tỳ kheo Tỳ kheo ni và
những người thọ Bồ tát giới bị trói buộc bằng những hình thức
lao tù, những biện pháp quân dịch. Như thế đó là con sâu trong
thân sư tử tự ăn thịt sư tử, không phải con sâu ở ngoài: chính
những kẻ Phật tử như trên tự phá Phật pháp, không phải ngoại đạo
ma vương mà phá được. Nên người lãnh thọ giới pháp của chư Phật
thì phải ái hộ giới pháp ấy như người mẹ thương đứa con một, như
người con thờ cha mẹ, không được vi phạm. Là Bồ tát thì khi nghe
cái tiếng của ngoại đạo và ác nhân đem lời nói ác phỉ báng phá
hoại giới pháp của chư Phật, lúc ấy khác nào tim mình bị ba trăm
mũi nhọn đâm vào, thân mình bị ngàn lưỡi dao vạn cây gậy đánh
đập chém chặt. Thà là chính mình vào trong địa ngục cả trăm
kiếp, chứ không muốn một lần phải nghe cái tiếng của kẻ ác đem
lời ác phỉ báng phá hoại giới pháp của chư Phật, huống chi chính
mình tự phá hoại giới pháp của chư Phật bằng cách tạo điều kiện
khuyến khích kẻ khác phá hoại Phật pháp, không còn gì gọi là tâm
hiếu thuận. Nếu cố ý làm như vậy thì phạm tội khinh cấu.
Giới 47 phần nhiều nói Phật tử tại
gia mà phản bội Phật pháp, giới 48 này phần nhiều nói sự phản
bội ấy của Phật tử xuất gia. Sự phản bội tàn tệ nhất là chính
mình giải thích giáo pháp và giới pháp, đem ngay sự giải thích
ấy mà gây ra hay công nhận sự bị nguy khốn đày ải cho đồng đạo,
nhất là đồng đạo xuất gia. Cường quyền, tay sai của ma vương hay
chính ma vương hiện thân, phá hoại Phật pháp được là do hành
động này tạo cơ hội hay tạo điều kiện. Trong kinh Thắng man, bà
hoàng này bạch đức Thế Tôn, hằng sa đại nguyện đều nên nhập vào
một đại nguyện, ấy là nguyện hộ trì chánh pháp. Hộ trì chánh
pháp là đại nguyện cực kỳ lớn lao... Đức Thế Tôn dạy, Thắng man,
đúng như vậy; chút ít của sự hộ trì chánh pháp cũng làm cho ma
vương cả sợ. Như Lai không thấy có một việc thiện nào làm cho ma
vương cả sợ bằng một chút của sự hộ trì chánh pháp (Chính
12/218). Câu bằng những hình thức lao tù, những biện pháp quân
dịch, được biết có bản cũng bị đục bỏ.
Chín giới pháp nhẹ như vậy, các
người phải học, phải cung kính phụng trì.
Kết thúc 9 giới nhẹ thứ hai.
Đoạn 3: Kết Thúc 48 Giới Nhẹ Bồ tát
Giới Phạm võng
Các Phật tử, bốn mươi tám giới pháp
nhẹ như trên đây, các người hãy thọ trì như chư Bồ tát quá khứ
đã tụng, chư Bồ tát vị lai sẽ tụng, chư Bồ tát hiện tại đang
tụng.
Tổng kết 48 giới nhẹ đã nói bằng 3
lần 10 và 2 lần 9, tức kết thúc phần đẳng lưu của Bồ tát giới.
Tiết 3:
Kết Thúc Và Khuyến Cáo Thọ Trì
Bồ Tát Giới Phạn Võng
Mục 1: Kết Thúc Phần Bồ Tát Giới
(Phần Giới Pháp Vô Tận)
Các Phật tử, hãy nghe cho kỷ Giới
pháp gồm có mười điều nặng và bốn mươi tám điều nhẹ như trên
đây, các đức Phật đà trong ba thì gian đã tụng sẽ tụng và đang
tụng. Như lai nay cũng tụng y như vậy. Đại chúng các người,
không cứ quốc vương, vương tử, bách quan, tỷ kheo, tỷ kheo ni,
thiện nam, tín nữ, hễ lãnh thọ Bồ tát giới thì phải thọ trì,
đọc, tụng, giảng thuyết và viết chép đối với cuốn kinh nói về
giới pháp của Phật tánh thường trú, truyền bá cho chúng sinh
trong tất cả thì gian, làm cho sự cảm hóa của giới pháp này được
liên tục mãi, không bao giờ đứt đoạn. Như vậy thì các người sẽ
được thấy ngàn đức Phật, đức Phật nào cũng trao tay cho, đời đời
không sa vào đường dữ, tám nạn, thường sinh trong nhân loại hay
chư thiên. Và như vậy là hôm nay, ở dưới cây bồ đề này, Như lai
đã tóm tắt khai thị giới pháp của cả bảy đức Phật. Đại chúng các
người hãy nhất tâm mà học giới pháp ấy, và hoan hỷ mà phụng
hành, như Như lai đã nhất nhất khai thị phong phú trong phần
Khuyến học của phẩm Vô tướng thiên vương. Bấy giờ ba ngàn người
học tập Bồ tát đạo trong số thính giả hiện diện lúc ấy, nghe đức
Thế tôn tự tụng lại giới pháp như vậy, ai cũng tâm tâm kính
thuận, hoan hỷ phấn chấn mà thọ trì.
Đây là kết thúc về toàn thể Bồ tát
giới Phạn võng, tức kết thúc phần Giới pháp vô tận trong phẩm
Pháp môn tâm địa. Kết thúc bằng cách khuyên thực hành 5 pháp
hạnh đối với giới pháp ấy, và nói về kết quả của 5 pháp hạnh
này. Về 5 pháp hạnh, thọ trì là tiếp nhận ghi nhớ, đọc là đọc
xét văn nghĩa, tụng là tụng được thuộc lòng, giảng thuyết là
giảng nói cho người, viết chép là sao chép ấn hành. Nhưng thọ
trì còn có nghĩa tiếp nhận kính giữ, vì chữ trì nghĩa là giữ cho
còn trong trí, giữ cho còn giữa đời. Giảng nói cho người, trước
hết còn là giới thiệu, loan báo cho người biết về Bồ tát giới
Phạn võng. Và 5 pháp hạnh trên đây cũng còn bao gồm các pháp
hạnh chánh ức niệm (nhớ nghĩ chính xác), giải nghĩa thú (lý giải
ý nghĩa), như thuyết hành (làm đúng kinh dạy).
Thực hành 5 pháp hạnh thì Bồ tát
giới sẽ tồn tại lâu dài và rộng rãi, do đó mà người thực hành
được kết quả là thấy ngàn đức Phật, và khi lâm chung thì thấy
ngàn đức Phật trao tay cho. Pháp hoa cũng có kết quả này. Được
thấy ngàn đức Phật là như người niệm Phật, lúc gần lâm chung,
đức A di đà phật và vô số chư Phật hóa thân, cùng với Thánh
chúng hiện ra trước mắt của họ. Khi lâm chung được ngàn đức Phật
trao tay cho là như người niệm Phật thì khi lâm chung thân không
bịnh khổ, tâm không lưu luyến, ý không thác loạn, y như nhập
định, đức A di đà phật cùng vô số đức Phật hóa thân và Thánh
chúng bưng đài kim cang, đưa tay đón dắt. Thường sinh trong nhân
loại hay chư thiên, nói cách khác thì như Đại bát nhã đã nói "từ
nước Phật này sinh ở nước Phật khác" - tức như người niệm Phật
tuy ở trong thế giới ngũ trược này mà cũng như ở trong thế giới
Cực lạc, và chết rồi sinh ra ở thế giới này hay ở thế giới nào
cũng như ở trong thế giới Cực lạc ấy.
Trọn đoạn văn mục này là trả lời 2
câu hỏi: kính giữ Bồ tát giới bằng cách nào ? kính giữ Bồ tát
giới thì khi chết sẽ thế nào, chết rồi sinh ra ở đâu?
Ba ngàn người học tập Bồ tát đạo
... phấn chấn mà thọ trì, 3.000 ở đây chỉ là một số trong đại
hội mà thọ trì Bồ tát giới Phạn võng ngay khi Phật thuyết xong
giới ấy. Thọ trì ở đây không phải chỉ là nghe nhớ: tiếp nhận nắm
giữ cho còn trong trí, cũng không phải chỉ là truyền bá: tiếp
nhận nắm giữ cho còn trong đời, mà chính yếu là thọ trì Bồ tát
giới Phạn võng: tiếp nhận giữ gìn giới ấy cho thật nghiêm cẩn.
Và đó là cách thượng phẩm thọ Bồ tát giới Phạn võng. Kinh Anh
lạc nói thọ Bồ tát giới có 3 cách: đối trước Phâểt đà hay Bồ tát
mà thọ là thượng phẩm, đối trước vị pháp sư thọ trước mình mà
thọ là trung phẩm, nếu trong vòng ngàn dặm không có vị pháp sư
ấy nên đối trước tượng Phật đà và Bồ tát mà thọ là hạ phẩm
(Chính 24/1020).
Mục 2: Kết Thúc Phẩm Bồ Tát Tâm Địa
Giới
(Phẩm Pháp Môn Tâm Địa)
Bấy giờ đức Thích ca mâu ni nói
xong phần Giới pháp vô tận trong phẩm Pháp môn tâm địa của đức
bản thân Lô xá na ở Hoa tạng thế giới đã nói, thì một ngàn và
một ngàn lần trăm ức đức Thích ca khác cũng nói y như vậy. Sự từ
cung Đại tự tại thiên vương xuống đến cây bồ đề, trải qua mười
chỗ thuyết các pháp phẩm cho hết thảy Bồ tát, và cho đại chúng
nhiều đến số lượng không thể nói hết, được thọ trì, đọc tụng và
giảng nói, cũng như nhau. Nói tóm, một ngàn và một ngàn lần trăm
ức thế giới, Hoa tạng thế giới, và các Hoa tạng thế giới khác
nhiều như vi trần, cũng diễn về tất cả kho tàng chánh pháp của
chư Phật là kho tàng tâm, kho tàng địa, kho tàng giới, kho tàng
vô lượng hạnh nguyện, kho tàng nhân quả Phật tánh thường trú. Và
như vậy là chư Phật đã nói hoàn tất về tất cả kho tàng chánh
pháp. Hết thảy chúng sinh trong một ngàn và một ngàn lần trăm ức
thế giới đều thọ trì, hoan hỷ và phụng hành. Nếu khai thị một
cách rộng lớn các nghĩa tướng của tâm địa thì phải như trong
phẩm Phật hoa quang vương đã nói.
Đây là kết thúc phẩm Pháp môn tâm
địa mà trong đó có phần Giới pháp vô tận, tức là kết thúc trọn
phẩm thứ 10 của kinh Phạn võng. Phần Giới pháp vô tận, chính văn
là thập vô tận giới phẩm, phẩm ở đây là phần, là phần dưới của
phẩm Pháp môn tâm địa; 10 giới pháp vô tận hay Giới pháp vô tận
là 10 giới nặng, và như đã nói, nói 10 giới ấy là nói về Bồ tát
giới. Các pháp phẩm là nội dung của 10 chỗ thuyết pháp đã kê
trong số 2 mục 1 của Tiết 1. Nhưng 10 chỗ ấy đáng lẽ phải nói
tắt rằng từ dưới cây bồ đề lên đến cung Đại tự tại thiên vương;
nói từ cung Đại tự tại thiên vương xuống đến cây bồ đề là nói
ngược thứ tự một chút. Nội dung 10 chỗ thuyết pháp ở đây: tâm là
30 tâm, địa là 10 địa, và cả 2 là nói về Bồ tát vị; giới là 10
giới nặng và 48 giới nhẹ, là nói về Bồ tát giới; vô lượng hạnh
nguyện là nói về các Bồ tát hạnh và Bồ tát vị khác mà 10 chỗ
thuyết pháp cũng đã kê; nhân quả Phật tánh thường trú thì 4 kho
tàng trên là nhân, pháp thân là quả. Các Hoa tạng thế giới khác
nhiều như vi trần là dịch rõ chính văn vi trần thế giới. Chúng
sinh trong 1 ngàn và 1 ngàn lần trăm ức thế giới đều thọ trì,
hoan hỷ và phụng hành, là nói chúng sinh thuộc Hoa tạng thế giới
này để làm điển hình. Phật hoa quang vương, có bản chép thêm: 7
hạnh của Phật hoa quang vương.
Mục 3: Phụ Lục Kết Thúc Phần Bồ Tát
Giới Bằng Thể Chỉnh Cú
Mục này dĩ nhiên không thể cho là
chính văn của Bồ tát Phạn võng như có nhà chú thích cho như vậy.
Có thể nguyên thỉ tụng Bồ tát giới Phạn võng chỉ có bài tựa mở
đầu và bài văn chỉnh cú này làm lời mở và lời kết. Văn và ý của
mục chỉnh cú này kết hợp văn và ý của luận Du dà và luận Trung
quán. Do vậy, chỉ nên gọi là phụ lục mà thôi. Tuy nhiên, mục
chỉnh cú này thật đặc biệt, nói đến căn bản quan trọng của Bồ
tát giới là thật tướng bát nhã. Thật tướng bát nhã là ánh sáng
giới pháp mà đoạn 2 mục 3 của tiết 1 đã nói. Thật tướng bát nhã
ấy là tư tưởng căn bản của dịch chủ La thập.
Mục này có 3 đoạn: đoạn 1 nói về
yếu tố và hiệu quả của Bồ tát giới, đoạn 2 nói về căn bản thật
tướng bát nhã của Bồ tát giới, đoạn 3 khuyến cáo và hướng nguyện
về Bồ tát giới.
Đoạn 1: Nói Về Yếu Tố Và Hiệu Quả
Của Bồ Tát Giới
Những người thông minh thật
thì đức tính nhẫn nhịn
và khả năng tuệ giác
cả hai đều mạnh mẽ.
Nhờ đó thọ trì được
giới pháp Bồ tát này,
từ nay đến thành Phật
thường được năm lợi ích:
Một là được chư Phật
thương tưởng hộ trì luôn.
Hai là khi lâm chung
chánh kiến, tâm hoan hỷ.
Ba là sinh chỗ nào
cũng làm bạn Bồ tát.
Bốn là công đức tụ
giới độ thành tựu cả.
Năm là trong đời này
và các đời sau nữa
đủ cả phước và tuệ
của giới pháp tự tánh.
Đoạn này lấy văn ý luận Du dà, nói
về yếu tố và hiệu quả của sự thọ trì Bồ tát giới. Yếu tố ấy là
đức tính nhẫn nhịn và khả năng tuệ giác. Còn hiệu quả ấy là 5
lợi ích mà luận Du dà nói rõ hơn: Cho đến chưa chứng vô thượng
bồ đề, nhờ nỗ lực tu tập một cách chính xác đối với vô lượng Bồ
tát giới, nên thường được 5 lợi ích vượt bậc. Một là thường được
mười phương chư Phật giữ gìn. Hai là khi sắp bỏ thân mạng thì
lòng rất hoan hỷ. Ba là sau khi thân mạng kết thúc, sinh ra chỗ
nào cũng thường cùng các vị Bồ tát giới hạnh thanh tịnh hoặc
bằng hoặc hơn mình làm đồng phận, đồng pháp hữu và thiện tri
thức. Bốn là thành tựu kho tàng vô lượng công đức to lớn, có thể
viên mãn tịnh giới ba la mật. Năm là đời này và các đời sau
thường thành tựu được tịnh giới của tự tánh, tịnh giới thành ra
cá tính (Chính 30/522). Những lợi ích này cho thấy thọ trì Bồ
tát giới thì ở đâu cũng là nước Phật.
Sau đây là mấy từ ngữ cần chú
thích. Chánh kiến, ở đây, khi sắp chết, là như người niệm Phật
thì khi ấy tâm trí không hôn mê, thác loạn, thấy Phật đưa tay
đón dắt. Công đức tụ: cái đống công đức. Giới độ: tịnh giới ba
la mật.
Đoạn 2: Nói Về Căn Bản Thật Tướng
Bát Nhã Của Bồ Tát Giới
Giới pháp như thế này
là sở hành của Phật,
với chỗ sở hành ấy
trí giả hãy khéo nghĩ:
Tâm hạnh như ngoại đạo
trước tướng và chấp ngã,
thì giới pháp như vầy
không thể nào tín thọ.
Tuệ giác của Thanh văn
diệt tận chứng niết bàn,
cũng không phải là chỗ
gieo giống giới pháp này.
Muốn nuôi lớn mầm mống
lúa tuệ giác bồ đề
để ánh sáng tuệ ấy
chiếu tỏa cả thế gian,
thì cần phải thường xuyên
yên tịnh tâm trí mình
mà quán sát thật tướng
của tất cả các pháp
siêu việt mọi khái niệm
đối lập nhau như sau:
phát sinh với tiêu diệt
vĩnh cửu với hư vô
đồng nhất với mâu thuẫn
xuất hiện với biệt dạng.
Bằng sự quán sát ấy
nỗ lực mà trang hoàng:
việc Bồ tát phải làm,
phải tuần tự học tập.
Với tất cả các vị
tu học còn tiếp tục
tu học đã hoàn tất
đừng sinh tâm phân biệt,
thì đó: đệ nhất nghĩa,
ũng gọi là đại thừa.
Mọi hý luận lầm lỗi
đều bặt dấu ở đây,
và từ đây xuất phát
trí toàn giác của Phật.
Đoạn này lấy văn ý của Trung luận,
của Bát nhã, và của chính Phạn võng (đoạn 2 mục 3 tiết 1). Giới
pháp như thế này là sở hành của Phật, chính văn là thử thị Phật
hành xứ, một số bản chép thử thị chư Phật tử, chép như vậy là
sai đến nỗi rất đáng ngạc nhiên. Sở hành của Phật là cái của
Phật biết và Phật làm. Sở hành ấy chính là thật tướng bát nhã,
Bồ tát giới xuất phát từ căn bản ấy. Tâm hạnh như ngoại đạo ...
gieo giống giới pháp này là nói Bồ tát giới thì ngoại đạo và nhị
thừa không kham thọ trì. Nhưng nói như vậy chỉ để đề cao Bồ tát
giới, và là nói trong 1 lúc nên đối với Bồ tát giới có người có
thể thọ trì, có người không thể thọ trì, còn nói trong nhiều lúc
thì lúc này có người còn không thể mà lúc khác người ấy đã có
thể, do vậy nên nói ai cũng có thể thọ trì Bồ tát giới và trở
thành Phật đà, đó mới là tư tưởng chính yếu của Bồ tát giới Phạn
võng. Muốn nuôi lớn mầm mống ... của tất cả các pháp : Tuệ giác
bồ đề là thật tướng bát nhã: tuệ giác thể nhập thật tướng của
các pháp. Mầm mống của tuệ giác bồ đề thì chính là tuệ tâm sở
trong 5 tâm sở biệt cảnh; sử dụng tâm sở này thì tập quán sát
được về thật tướng. Siêu việt mọi khái niệm ... xuất hiện với
biệt dạng: Thật tướng là gì? là bản chất thật: bản chất siêu
việt mọi khái niệm mà thực chất chỉ là đối lập nhau mà hình
thành. Mọi khái niệm ấy, ở đây đưa ra 4 phạm trù thành 8 khái
niệm để làm tiêu biểu. Tất cả 6 câu này nếu dịch sát chính văn
đến gần như không dịch thì phải là không sinh với không diệt,
không thường với không đoạn, không nhất với không dị, không lai
với không khứ. Bằng sự quán sát ấy, nỗ lực mà trang hoàng: việc
Bồ tát phải làm, phải tuần tự học tập : Bằng sự quán sát ấy,
chính văn là như thị nhất tâm trung, nhất tâm là sự quán sát
thật tướng, chỉ lấy thật tướng làm chủ đề duy nhất (chứ chưa thể
nói là đồng nhất với thật tướng). Nỗ lực mà trang hoàng, trang
hoàng (trang nghiêm) là nói tắt, nói đủ là trang hoàng quốc độ
bằng cách giáo hóa chúng sinh (thành ngữ: trang nghiêm quốc độ,
thành thục chúng sinh). Và đó là việc phải làm của Bồ tát. Việc
phải làm ấy - mà chính yếu là Bồ tát giới - là xuất phát từ thật
tướng bát nhã. Nên người thọ Bồ tát giới thì, với sự quán sát
thật tướng bát nhã, phải nỗ lực mà học và hành. Với tất cả các
vị ... cũng gọi là đại thừa: Tu học còn tiếp tục là hữu học, tu
học đã hoàn tất là vô học. Đối với các vị ấy - mà người thọ Bồ
tát giới sống với - người thọ Bồ tát giới không phân biệt để
khinh trọng, thì đó là một bước biểu hiện của bát nhã. Hý luận
lầm lỗi, hý luận ở đây là hết thảy tư duy và mô tả theo các phạm
trù đối lập nhau; đối với thật tướng bát nhã thì tư duy mô tả
như vậy đã là hý luận, mà là hý luận lầm lỗi. Trí toàn giác của
Phật, trí toàn giác, chính văn là tát bà nhã.
Đoạn 3: Khuyến Cáo Và Hướng Nguyện
Về Bồ Tát Giới
Thế nên các Phật tử
hãy nổi đại dũng mãnh:
đối với giới của Phật
giữ như giữ ngọc sáng.
Các Bồ tát quá khứ
đã học về giới ấy,
vị lai thì sẽ học,
như hiện tại đang học.
Giới ấy chư Phật làm,
giới ấy chư Phật khen,
và tôi hôm nay đây
đã kính theo chư Phật
mà tụng lại giới pháp
phước đức vô lượng ấy
hồi hướng cho chúng sinh
để cùng nhau xoay về
trí toàn giác của Phật,
cầu nguyện cho các vị
được nghe giới pháp này
chóng thành đạt trí Phật.
Và tôi hôm nay đây, tôi là vị tụng
giới tự xưng. Mà tụng lại giới pháp phước đức vô lượng ấy, chính
văn là thuyết phước đức vô lượng tụ, có người hiểu là nói về
giới pháp, sự nói ấy được vô lượng phước đức; nay xét phước đức
vô lượng tụ - mà ở trên nói là công đức tụ - nghĩa đen là cái
đống phước đức vô lượng, cái đống ấy chính là giới pháp Bồ tát
của Phạn võng.
Kính lạy đức Lô xá na như lai. Kính
lạy đức Thích ca mâu ni như lai. Kính lạy kho tàng Bồ tát giới
Phạn võng.
Cả 3 danh hiệu này là của nghi thức
tụng giới. Vị tụng giới niệm 3 danh hiệu này trước khi nói lời
tác bạch cuối cùng.