Back To Top

  • Trang Chính
  • Tin Tức
  • Văn hóa Phật giáo
    • Tam Tạng Kinh Điển
      • Kinh
      • Luật
      • Luận
      • Đại Tạng Tiếng Việt
    • Nghi Lễ
    • Nghiên Cứu Phật Học
    • Chuyên Đề
      • Tịnh Độ Tông
      • Thiền Tông
      • Mật Tông
      • Xuân
      • Phật Đản
      • Vu Lan
    • Sách Phật Học PDF
    • Nhân Vật Phật Giáo
    • Địa Chỉ Tự Viện
    • Từ Điển Phật Học
  • Văn Học
    • Trang Thơ
    • Trang Văn
    • Điển Tích
    • Sách Văn Học PG
      • Lịch Sử
      • Hành Hương
      • Lối Về Sen Nở
    • Sách Văn Học PDF
  • Hình Ảnh
    • Slide Show
    • Mô Tả
  • Media
    • Nghe Tụng Kinh
      • TT Thích Huệ Duyên
      • TT Thích Trí Thoát
      • TT Thích Nguyên Tạng
      • ĐĐ Thích Chiếu Túc
      • ĐĐ Thích Chiếu Niệm
      • ĐĐ Thích Hạnh Tuệ
      • Giọng tụng khác
      • For Phone & Download
    • Nghe Thuyết Pháp
      • For Phone & Download
      • HT Thích Thanh Từ
      • HT Thích Huyền Vi
      • HT Thích Nhất Hạnh
      • HT Thích Tâm Thanh
      • HT Thích Như Điển
      • HT Thích Nguyên Hạnh
      • HT Thích Nguyên Siêu
      • HT Thích Phước Tịnh
      • TT Thích Chân Tính
      • TT Thích Nguyên Tạng
      • TT Thích Thông Triết
      • ĐĐ Thích Thiện Thuận
      • ĐĐ Thích Phước Tiến
      • ĐĐ Thích Pháp Hòa
      • ĐĐ Thích Hạnh Tuệ
      • Giảng Sư Khác
      • Lectures in English
    • Sách nói
      • Kinh
      • Luật
      • Luận
      • Sách Văn Học PG
    • Truyện Đọc
    • Âm nhạc
      • Nhạc Thần Chú
      • Nhạc Phật Giáo
      • Nhạc PG Album
      • Ân Cha Nghĩa Mẹ
      • Quê Hương
      • Trữ Tình
      • Nhạc Xuân
      • Ngâm Thơ
      • Cổ Nhạc
      • Hòa Tấu
      • Nhạc Trẻ
      • Nhạc Nước Ngoài
    • Album Music
    • Video Clip
    • Phim
  • Hoằng Pháp
  • Site Map
  • Khoa Học - Đời Sống
  • English Articles
  • Thư Mục Tác Giả
  • Tủ Sách PDF
  • Hướng Dẫn Download
  • Liên lạc
  • Web Links
Việt Ngữ English
Hội nhập | Ghi Danh RSS
Bộ gõ tiếng Việt
  • Kinh
  • Luật
  • Luận
  • Đại Tạng Tiếng Việt
Bài Mới
Đại Tạng Việt Nam (Xem: 5983)
Đại Tạng Việt Nam bao gồm 2372 bộ Kinh, Luật và Luận chữ Hán trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh.
Xem thêm
● Bát kỉnh pháp (Xem: 6027)
Sự kiện Đức Phật chấp nhận thành lập giáo hội Tỳ kheo ni, nâng vị trí người nữ đến mức quan trọng nhất, là việc làm duy nhất và chưa từng thấy trong lịch sử tôn giáo...
● Uy lực của giới (Xem: 5819)
Cách tốt nhất để mang lại sự an ổn cho bản thân là hướng về điều thiện, và quy y Tam bảo là nền tảng đầu tiên cho một cuộc sống hướng thiện.
● Tìm hiểu về giới luật trong đạo Phật (Xem: 4923)
Là Phật tử có nghĩa là tự nguyện theo Tam quy (ti-sarana), Ngũ giới (pañca-sila), tức là nương tựa vào Tam bảo (ti-ratana) và giữ gìn năm giới căn bản của đạo Phật.
● Nền tảng đạo đức Phật giáo xây dựng xã hội chân thiện mỹ (Xem: 4592)
Đức Phật thấy rõ bản chất của phiền não tham, sân, si là nguồn gốc khổ đau, Ngài chế ra ba phương thuốc Giới-Định-Tuệ để chữa tâm bệnh tham, sân, si cho chúng sinh...
Khách Thăm Viếng
Số lượt truy cập
1,051,095
Số người online :
42
Thành viên :
0
Khách :
42
Văn hóa Phật giáo | Tam Tạng Kinh Điển | Luật 
Giới luật tu sĩ
(Xem: 2910)
Tác giả : Bình Anson

GIỚI LUẬT TU SĨ
Vài ghi nhận về Đại hội Kết tập đầu tiên
Bình Anson

Sau khi Đức Phật nhập diệt, Trưởng lão Māhakassapa (Ma-ha Ca-diếp) triệu tập 500 vị Tỳ-khưu A-la-hán để trùng tụng Pháp và Luật. Các vị Tỳ-khưu quyết định trùng tụng trong dịp an cư mùa mưa tại Rājagaha (Vương Xá) vì “thành Rājagaha đúng là nơi có tiềm năng về vật thực và có nhiều chỗ trú ngụ”. Trước khi an cư, các vị bỏ ra một tháng để sửa chữa nơi trú ngụ.

Trong thời gian trùng tụng, ngài Māhakassapa thẩm vấn ngài Upāli về Luật Tỳ-khưu và Tỳ khưu-ni, và ngài Ānanda về Kinh.


Tiếp theo đó, ngài Ānanda trình bày, trích bản Việt dịch của Tỳ-khưu Indacanda
(Tạng Luật, Tiểu phẩm, http://budsas.110mb.com/uni/u-luat-tieupham/tp-11.htm ):

(….)


- Thưa các ngài, vào thời điểm Vô Dư Niết Bàn đức Thế Tôn đã nói với tôi như vầy:
“Này Ānanda, khi ta không còn, hội chúng nếu muốn có thể bỏ đi các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.” [Ghi chú: Câu này cũng có ghi trong Đại kinh Bát-niết-bàn, Tụng phẩm VI, Trường bộ 16]

- Này sư đệ Ānanda, vậy ngươi có hỏi đức Thế Tôn: “Bạch ngài, vậy các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng là các điều nào?” không?


- Thưa các ngài, tôi đã không hỏi đức Thế Tôn: “Bạch ngài, vậy các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng là các điều nào?”


Một số trưởng lão đã nói như vầy:


- Giữ lại bốn điều pārājika (bất cộng trụ), các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.


Một số trưởng lão đã nói như vầy:


- Giữ lại bốn điều pārājika (bất cộng trụ), giữ lại mười ba điều saṅghādisesa (tăng tàn), các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.


Một số trưởng lão đã nói như vầy:


- Giữ lại bốn điều pārājika (bất cộng trụ), giữ lại mười ba điều saṅghādisesa (tăng tàn), giữ lại hai điều aniyata (bất định), các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.


Một số trưởng lão đã nói như vầy:


- Giữ lại bốn điều pārājika (bất cộng trụ), giữ lại mười ba điều saṅghādisesa (tăng tàn), giữ lại hai điều aniyata (bất định), giữ lại ba mươi điều nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị), các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.


Một số trưởng lão đã nói như vầy:


- Giữ lại bốn điều pārājika (bất cộng trụ), giữ lại mười ba điều saṅghādisesa (tăng tàn), giữ lại hai điều aniyata (bất định), giữ lại ba mươi điều nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị), giữ lại chín mươi hai điều pācittiya (ưng đối trị), các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.


Một số trưởng lão đã nói như vầy:


- Giữ lại bốn điều pārājika (bất cộng trụ), giữ lại mười ba điều saṅghādisesa (tăng tàn), giữ lại hai điều aniyata (bất định), giữ lại ba mươi điều nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị), giữ lại chín mươi hai điều pācittiya (ưng đối trị), giữ lại bốn điều pātidesanīya (ưng phát lộ), các điều còn lại là các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.


*

Khi ấy, đại đức Mahākassapa đã thông báo đến hội chúng rằng:

- Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Có các điều học của chúng ta có liên quan đến hàng tại gia và hàng tại gia cũng biết rằng:
“Điều này là được phép đối với các sa-môn Thích tử, điều này là không được phép.” Nếu chúng ta bỏ đi các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng, sẽ có những người nói rằng: “Các điều học đã được Sa-môn Gotama quy định cho các đệ tử đến lúc người được hỏa táng. Khi nào bậc Đạo Sư của họ còn tồn tại khi ấy họ còn học tập các điều học. Bởi vì bậc Đạo Sư của họ đã Vô Dư Niết Bàn nên giờ đây họ không còn học tập các điều học nữa.” Nếu là thời điểm thích hợp cho hội chúng, hội chúng không nên quy định thêm điều chưa được quy định và không nên bỏ đi điều đã được quy định, hội chúng nên thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định. Đây là lời đề nghị.

Này các sư đệ, xin hội chúng hãy lắng nghe tôi. Có các điều học của chúng ta có liên quan đến hàng tại gia và hàng tại gia cũng biết rằng:
“Điều này là được phép đối với các sa-môn Thích tử, điều này là không được phép.” Nếu chúng ta bỏ đi các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng, sẽ có những người nói rằng: “Các điều học đã được Sa-môn Gotama quy định cho các đệ tử đến lúc người được hỏa táng. Khi nào bậc Đạo Sư của họ còn tồn tại khi ấy họ còn học tập các điều học. Bởi vì bậc Đạo Sư của họ đã Vô Dư Niết Bàn nên giờ đây họ không còn học tập các điều học nữa.” Hội chúng không quy định thêm điều chưa được quy định và không bỏ đi điều đã được quy định, hội chúng thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định. Đại đức nào đồng ý việc không quy định thêm điều chưa được quy định, việc không bỏ đi điều đã được quy định, việc thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định xin im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.

Hội chúng không quy định thêm điều chưa được quy định và không bỏ đi điều đã được quy định, hội chúng thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định. Sự việc được hội chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.


*


Khi ấy, các tỳ khưu trưởng lão đã nói với đại đức Ānanda điều này:


- Này sư đệ Ānanda, đây là tội dukkata (tác ác) cho ngươi về việc ngươi đã không hỏi đức Thế Tôn rằng:
“Bạch ngài, vậy các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng là các điều nào?” Ngươi hãy sám hối tội dukkata (tác ác) ấy.

- Thưa các ngài, vì không lưu ý nên tôi đã không hỏi đức Thế Tôn rằng:
“Bạch ngài, vậy các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng là các điều nào?” Tôi không thấy được tội dukkata (tác ác) ấy, nhưng vì niềm tin đối với các đại đức tôi xin sám hối tội dukkata (tác ác) ấy.

(…)


* * *

Vài ghi nhận:


1) Đại hội Kết tập này được tổ chức vào mùa an cư sau khi Đức Phật diệt độ, nghĩa là 2 tháng sau ngày Bát-niết-bàn. Trong thời gian 2 tháng giữa Rằm tháng Tư (Vesākha) và Rằm tháng Sáu (Asālha), chư Tăng sửa soạn nơi trú ngụ.


2) Địa điểm kết tập là thành Vương Xá, không thấy nói gì đến hang Thất Diệp.


3) Trong giờ phút cuối trước khi nhập diệt, Đức Phật nói với ngài Ānanda rằng khi Ngài không trên thế gian nữa, chư Tăng
“nếu muốn, có thể bỏ đi các điều học nhỏ nhặt và ít quan trọng.” Điều này có thể hiểu là Đức Phật giao trách nhiệm cho chư Tăng quyết định có thể bỏ đi các điều học nào nhỏ nhặt, không quan trọng.

4) Ngài Mahākassapa trách ngài Ānanda tại sao không hỏi Đức Phật về các điều khoản nhỏ nhặt có thể bỏ. Theo thiển ý, lời trách cứ này quá nghiêm khắc, vì rõ ràng Đức Phật giao trách nhiệm đó cho chư Tăng, ngài Ānanda không cần phải hỏi thêm nữa.


Có lẽ vì vậy, mặc dù ngài Ānanda thuận theo quyết định của ngài Mahākassapa và chư Tăng để xin sám hối tội dukkata, nhưng ngài Ānanda không nghĩ rằng ngài đã phạm tội dukkata.


5) Qua đoạn kinh trên, rõ ràng là ngay từ đầu, các vị Trưởng lão đã có những ý kiến khác nhau về điều luật nào quan trọng, cần phải giữ, và những điều luật nào có thể bỏ đi. Một số vị Trưởng lão trong Đại hội Kết tập đầu tiên này đã có chủ trương bỏ đi các điều luật nhỏ nhặt, không quan trọng.


6) Cuối cùng, các vị Trưởng lão quyết định giữ tất cả các điều luật, không bỏ điều nào. Nguyên nhân chính là vì các ngài e rằng dân chúng sẽ hiểu lầm chư Tăng sẽ không còn nghiêm túc học tập lời Đức Phật dạy, ngay sau khi Đức Phật diệt độ. Như vậy, quyết định giữ tất cả các điều luật do Đức Phật đặt ra chỉ là để tránh sự hiểu lầm của dân chúng ngay tại thời điểm kết tập.


Còn tại thời điểm hiện nay, 26 thế kỷ sau khi Đức Phật nhập diệt, với bối cảnh văn hóa xã hội hoàn toàn thay đổi, chư Tăng có cần xét lại các điều khoản nhỏ nhặt, ít quan trọng hay không?


7) Trong 227 giới Tỳ-khưu truyền tụng ngày nay, đoạn kinh trên chỉ đề cập 145 giới điều: 4 điều pārājika (bất cộng trụ, ba-la-di), 13 điều sanghādisesa (tăng tàn, tăng-già-bà-thi-sa), 2 điều aniyata (bất định), 30 điều nissaggiya pācittiya (ưng xả đối trị, ni-tát-kì), 92 điều pācittiya (ưng đối trị, ba-dạ-đề), 4 điều pātidesanīya (ưng phát lộ, ba-la-đề đề-xá-ni).


Đoạn kinh trên không thấy đề cập 75 điều sekhiya (chúng học pháp) và 7 điều adhikaranasamatha (diệt tránh pháp). Một số học giả nhận định rằng các điều sekhiya (chúng học pháp) có lẽ được khai triển thêm sau này, và vì vậy có sự khác biệt về tổng số các điều luật tỳ-khưu của các bộ phái (luật Pali, luật Tứ phần, luật Ma-ha Tăng-kỳ, Luật Hữu bộ, v.v.).


(xem thêm: "So sánh tóm tắt các bộ Luật Tỳ-khưu",
http://budsas.lotusmedia.net/uni/u-vbud/vbkin139.htm)

8) Cũng xin ghi nhận ở đây là trong đoạn kinh trên, chỉ thấy đề cập đến việc trùng tụng Kinh (5 bộ Nikaya) và Luật, không thấy đề cập đến tạng A-tỳ-đàm (Thắng pháp, Vi diệu pháp). Tập Tiểu phẩm, tạng Luật, ghi chép các câu chuyện trong Đại hội Kết tập I (500 tỳ-khưu) và II (700 tỳ-khưu) và không thấy đề cập đến vấn đề trùng tụng tạng A-tỳ-đàm.


Vì vậy, một số nhà học giả cho rằng tạng A-tỳ-đàm chỉ xuất hiện sau này, có lẽ trong kỳ Đại hội Kết tập III trong triều vua A-dục.


Vào thế kỷ 5 TL, khoảng 1.000 năm sau khi Đức Phật nhập diệt, Luận sư Buddhaghosa (Phật Âm) ở Tích Lan giải thích trong quyển Chú giải Bộ Pháp tụ (Atthasalini) rằng tạng A-tỳ-đàm cũng được trùng tuyên tại Đại hội Kết tập I, nhưng các ngài Trưởng lão đã xếp tạng nầy vào Tiểu bộ kinh của Kinh tạng. Sự giải thích nầy có vẻ không hợp lý và không được các nhà Phật học chấp nhận.


9) Câu chuyện kết tập kinh điển nầy cũng được ghi trong:


- Luật Ma-ha Tăng-kỳ
(quyển 32, phần "Năm trăm tỳ-khưu kết tập Pháp tạng", Hòa thượng Thích Phước Sơn dịch Việt, http://budsas.110mb.com/uni/u-luat-tangky/tangky32.htm).
http://hoavouu.com/D_1-2_2-57_4-16832_5-30_6-1_17-356_14-2_15-2/#nl_detail_bookmark
- Luật Tứ Phần (chương III, "Ngũ bách kết tập", Tỳ-khưu Thích Nguyên Chứng dịch Việt, http://www.phatviet.com/dichthuat/luattang/tuphan4/tuph4.htm).

Source: thuvienhoasen
  • Tweet
PDFIn TrangGửi mail
Gửi ý kiến
Tên của bạn
Email của bạn
Đánh giá (tùy ý)
    Nhập những ký tự ở hình bên vào ô bên dưới.
    Tin / Trang
    Sắp theo
    Đang xem 1 - 15 của 30 bài 1 2 »
    Đại Tạng Việt Nam (Xem: 5983)
    Đại Tạng Việt Nam bao gồm 2372 bộ Kinh, Luật và Luận chữ Hán trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh.
    Xem thêm
    Bát kỉnh pháp (Xem: 6027)
    Sự kiện Đức Phật chấp nhận thành lập giáo hội Tỳ kheo ni, nâng vị trí người nữ đến mức quan trọng nhất, là việc làm duy nhất và chưa từng thấy trong lịch sử tôn giáo...
    Xem thêm
    Uy lực của giới (Xem: 5819)
    Cách tốt nhất để mang lại sự an ổn cho bản thân là hướng về điều thiện, và quy y Tam bảo là nền tảng đầu tiên cho một cuộc sống hướng thiện.
    Xem thêm
    Tìm hiểu về giới luật trong đạo Phật (Xem: 4923)
    Là Phật tử có nghĩa là tự nguyện theo Tam quy (ti-sarana), Ngũ giới (pañca-sila), tức là nương tựa vào Tam bảo (ti-ratana) và giữ gìn năm giới căn bản của đạo Phật.
    Xem thêm
    Nền tảng đạo đức Phật giáo xây dựng xã hội chân thiện mỹ (Xem: 4592)
    Đức Phật thấy rõ bản chất của phiền não tham, sân, si là nguồn gốc khổ đau, Ngài chế ra ba phương thuốc Giới-Định-Tuệ để chữa tâm bệnh tham, sân, si cho chúng sinh...
    Xem thêm
    Giới luật công truyền hay bí truyền? (Xem: 3172)
    Trong lời phàm lệ của quyển Tứ phần giới bổn như thích, Luật sư Hoằng Tán (1611-1685) nói: "Tam thế chư Phật câu thuyết Kinh-Luật-Luận tam tạng Thánh giáo.
    Xem thêm
    Pháp tự tứ của Tăng (Xem: 3851)
    Tăng đoàn thực hành đúng Pháp và Luật của Phật đã chế định trong sự cùng nhau cộng trú hòa hợp và thanh tịnh, cùng nhau giải tán trong sự hòa hợp và thanh tịnh.
    Xem thêm
    Pháp an cư của Tăng (Xem: 3272)
    Các Tỷ kheo thực hành pháp an cư, là biểu hiện mẫu mực đời sống ly dục, tịch tịnh của một vị A la hán. Đời sống ấy được thực hành miên mật đầy đủ bốn chất liệu thanh tịnh...
    Xem thêm
    Giới luật tu sĩ (Xem: 2910)
    Sau khi Đức Phật nhập diệt, Trưởng lão Māhakassapa (Ma-ha Ca-diếp) triệu tập 500 vị Tỳ-khưu A-la-hán để trùng tụng Pháp và Luật. Các vị Tỳ-khưu quyết định trùng tụng trong dịp an cư...
    Xem thêm
    Luật Ma-ha-tăng-kỳ (Xem: 2742)
    Ðức Thế Tôn Chánh Ðẳng Chánh Giác từ lúc phát tâm tu tập cho đến nay đã thành tựu, vì muốn độ người nên an trú tại thành Xá vệ. Chư Thiên, nhân loại cung kính cúng dường...
    Xem thêm
    Bồ-Tát Giới (Xem: 3085)
    Bồ tát giới Phạm võng phải được gọi là Đại thừa giới. Đại thừa giới là bản nguyên của chúng sinh, là Phật tánh đầy phẩm chất Phật... HT Thích Trí Quang
    Xem thêm
    Bách Trượng Tòng Lâm Thanh Quy (Xem: 3822)
    Thanh Quy cũng như luật ngoài đời, do Tổ thuật mà giữ gìn đúng nghi cách. Nhưng Thanh Quy khởi đầu từ ngài Pháp Vân đời Lương (thế kỷ 5) ở chùa Quang Trạch.
    Xem thêm
    Bước tới thảnh thơi - Giới Luật và Uy Nghi của Các Vị Sa Di (Xem: 5672)
    Giới luật và uy nghi không phải là những yếu tố hạn chế và bó buộc, trái lại đó là những phương tiện bảo vệ tự do cá nhân và tạo nên sự hòa hợp và an lạc cho đoàn thể tu học mình.
    Xem thêm
    Cương Yếu Giới Luật (Xem: 5322)
    Nhân Giới sinh Định, nhân Định phát Tuệ– ba môn học liên kết chặt chẽ vào nhau, nhờ vậy mới đủ sức diệt trừ tham ái, đẩy lùi vô minh, mở ra chân trời Giác ngộ.
    Xem thêm
    Cương yếu giới luật (Xem: 5424)
    Kinh Hoa Nghiêm nói: “Giới là gốc của Vô thượng Bồ đề”. Do đó, tinh thần căn bản của Phật giáo là ở sự tôn nghiêm của giới luật, tức là đệ tử của Phật phải tôn trọng và tuân giữ giới luật.
    Xem thêm
    Tin / Trang
    Sắp theo
    Đang xem 1 - 15 của 30 bài 1 2 »
    Nguyện đem công đức này - Hướng về khắp tất cả
    Đệ tử và chúng sanh - Đều trọn thành Phật đạo.


    Bài vở và thư góp ý xin gởi về Thích Hạnh Tuệ trực tiếp từ website này hoặc email: tuedang79@gmail.com. Kính chúc quí vị: Vô lượng an lành.

    Trang chính | Tin tức | Tủ sách PDF | Kinh điển | Lễ nhạc | Nghiên cứu PH | Chuyên Đề
    | Nhân vật PG | Từ điển PH | Trang thơ | Trang văn | Điển tích | Tác Giả
    Ảnh slideshow | Ảnh mô tả | Tụng kinh | Thuyết pháp | Hoằng Pháp | Sách nói | Truyện đọc | Âm nhạc | Album music | Video clip | Phim

    Tu viện Pháp Vương | Khoa Học - Đời Sống | Liên lạc | Hướng dẫn download | Lịch sinh hoạt | Web link | Site map | English Article | Map of Visitor Locations
    Copyright © 2012 hoavouu.com All rights reserved www.vnvn.net
    Best viewed with FireFox, Chrome, Safari, Opera, IE 8 at resolution of 1024x768