Cụm từ “uy lực” đã được
người xưa dùng để mô tả về những ảnh hưởng tích cực rất lớn lao của việc
thọ trì Tam quy và Ngũ giới trong đời sống. Đây có thể xem là cụm từ
chính xác nhất, bởi vì những ảnh hưởng tích cực của việc thọ trì quy
giới trong thực tế là rất lớn, tạo thành một sức mạnh vô song có khả
năng giúp chuyển hóa hết thảy mọi hạt giống xấu ác tiềm ẩn trong mỗi
chúng ta.
Tuy nhiên, chỉ có
sự thực hành là phương thức duy nhất mới có thể giúp ta hiểu hết được
uy lực của quy giới, còn mọi sự mô tả, diễn giải đều chỉ có tính cách lý
luận, dẫn dắt mà thôi. Những gì mà chúng ta có thể bàn đến ở đây thật
ra chỉ là phần biểu lộ bên ngoài của vấn đề, còn chiều sâu thực sự của
những giá trị tinh thần lại là điều mà mỗi người chỉ có thể tự cảm nhận
được qua sự hành trì trong thực tế đời sống mà thôi.
Tam quy và Ngũ giới mang
lại cho chúng ta hai khía cạnh lợi ích lớn lao không tách rời nhau. Nói
một cách nôm na dễ hiểu nhất, việc quy y Tam bảo giúp chúng ta xác lập
một niềm tin, một chỗ dựa tinh thần vững chắc, còn việc học hiểu và thọ
trì Ngũ giới giúp chúng ta vạch ra được một hướng đi cụ thể trong đời
sống. Nói một cách khác, Tam quy mang lại lợi ích trước hết cho phần
tinh thần, còn Ngũ giới tác động trước hết đến mọi hành động do thân xác
thực hiện. Nhưng ngay ở điểm này chúng ta có thể thấy ngay được mối
quan hệ chặt chẽ không thể chia tách giữa hai khía cạnh vừa đề cập. Bởi
vì tinh thần không thể tồn tại tách biệt với thân xác, và ngược lại thì
mọi hành động do thân xác thực hiện cũng không thể thiếu yếu tố tinh
thần. Chính điều này giải thích cho một quy định bất thành văn mà chúng
ta đã có lần đề cập đến: tất cả những người quy y Tam bảo đều cùng lúc
phát tâm thọ trì Ngũ giới. Chúng ta có thể nói một cách cụ thể hơn rằng,
việc quy y Tam bảo là tiền đề tất yếu để dẫn đến thọ trì Ngũ giới,
trong khi việc thọ trì Ngũ giới lại là điều kiện tất yếu phải có để cụ
thể hóa và duy trì tâm nguyện quy y.
Vì sao nói rằng quy y Tam
bảo giúp chúng ta có một chỗ dựa tinh thần vững chắc? Một trong những
tính chất vốn có của con người là luôn muốn hiểu được tất cả những hiện
tượng, sự việc xảy ra quanh mình. Nhưng trong thực tế, từ thuở sơ khai
cho đến nay luôn có quá nhiều điều mà con người không sao hiểu hết.
Những bí ẩn không lời giải đáp luôn bàng bạc trong thế giới tự nhiên
quanh ta và nằm ngay trong chính thế giới nội tâm của mỗi chúng ta. Có
những bí ẩn chỉ gợi sự tò mò, thắc mắc (như sự hình thành và biên giới
của vũ trụ, hay nguồn gốc con người... ), nhưng phần lớn các bí ẩn lại
thường có khuynh hướng làm cho chúng ta sợ hãi, bất an (như sấm sét,
dịch bệnh, mưa bão, động đất... ). Ngày nay, chúng ta có sự tiến bộ nhất
định về khoa học, và điều đó giúp giải thích một số vấn đề, nhưng điều
đó lại không có nghĩa là kiểm soát được những vấn đề ấy. Chẳng hạn, con
người sơ khai sợ sấm sét, động đất... vì hoàn toàn không hiểu được
nguyên nhân, con người ngày nay dù đã giải thích được nguyên nhân, nhưng
vẫn bất lực khi những hiện tượng này xảy ra và cướp đi sinh mạng của
nhiều người... Và vì thế, chúng ta vẫn tiếp tục nuôi dưỡng sự sợ hãi đối
với những gì nằm ngoài sự hiểu biết và kiểm soát của chúng ta trong môi
trường tự nhiên. Chính sự sợ hãi này là một trong những nguyên nhân
khiến con người phải dựng nên một số các tôn giáo, tín ngưỡng để làm chỗ
dựa tinh thần.
Nhưng tôn giáo hình thành
theo cách này thực chất là xuất phát từ sự thiếu hiểu biết, từ sự hình
dung, tưởng tượng vô căn cứ về những điều chưa biết... Và với nền tảng
đó, nó không thể thực sự là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho con người.
Với hoạt động của tri thức, con người luôn hoài nghi về những điều không
hợp lý (vốn là bản chất của sự tưởng tượng), và điều này giải thích lý
do vì sao con người đã tìm được chỗ dựa nơi tôn giáo nhưng tự sâu thẳm
trong tâm hồn vẫn cảm thấy một sự băn khoăn, bất an.
Phật giáo không phải là
một tôn giáo hình thành theo cách đó. Đức Phật không chấp nhận những
điều mô tả theo trí tưởng tượng, mà chỉ đưa ra những mô tả xuất phát từ
sự chứng nghiệm trong thực tế. Trí tuệ giác ngộ của ngài đã nhìn xuyên
suốt mọi hiện tượng trong tự nhiên, xuyên suốt mọi thế giới mà đối với
chúng ta là huyền bí, khó hiểu. Tuy nhiên, ngài không yêu cầu chúng ta
đặt niềm tin vào những gì huyền bí, khó hiểu đó, mà dẫn dắt chúng ta đặt
niềm tin vào những gì rất thiết thực, có thể chứng nghiệm ngay trong
cuộc sống này.
Niềm tin vào Tam bảo là
một niềm tin hình thành theo cách đó, với các đối tượng Phật, Pháp, Tăng
mà chúng ta có thể hiểu được và thấy nghe nhận biết bằng tri giác thông
thường của bản thân mình. Vì thế, quy y Tam bảo trước hết là quy y với
những đối tượng mà chúng ta kính ngưỡng và nguyện noi theo để có cuộc
sống tốt đẹp, an vui hơn.
Thế nhưng, trí tuệ và
nhân cách siêu việt của đức Phật còn giúp chúng ta đẩy lùi mọi sự sợ hãi
vô căn cứ mà trước đây có thể đã từng ngự trị trong tâm hồn ta. Lấy ví
dụ như những điều may rủi đến với ta trong cuộc sống có vẻ như không
theo một quy luật nhất định nào, và do đó ta thường lo sợ khi liên tiếp
gặp phải những rủi ro. Từ đó, ta đi tìm chỗ dựa tinh thần vào những việc
như bói toán, xem ngày giờ, cúng sao giải hạn... Nhưng tất cả những
điều đó đều chỉ là những phương thức được hình thành từ sự tưởng tượng
vô căn cứ. Trí tuệ giác ngộ của đức Phật đã chỉ ra rằng tất cả những gì
xảy đến cho chúng ta hôm nay là kết quả của những hành vi trong quá khứ
của chính chúng ta, và mối quan hệ nhân quả này đã được ngài quán sát
thấu đáo để giải thích cho tất cả mọi hành vi và nghiệp báo của chúng
sanh. Khi tin và hiểu được điều này, chúng ta không còn những lo sợ vô
căn cứ như trước nữa, mà trái lại có thái độ tích cực hơn để cải thiện
mọi hành vi trong hiện tại của mình, vì chúng ta biết chắc rằng điều đó
sẽ quyết định những gì chúng ta gặt hái vào ngày mai. Luật nhân quả là
một phạm trù khá rộng và phức tạp nhưng rất thú vị, chúng ta hy vọng sẽ
có dịp quay trở lại vấn đề này trong một tập sách khác.
Mặt khác, như đã nói,
nhân cách siêu việt của đức Phật giúp chúng ta khi đã đặt niềm tin vào
ngài thì không còn sự sợ hãi trước bất kỳ đối tượng nào khác. Rất nhiều
người trong chúng ta trước đây có thể đã từng thờ cúng các vị thần mà
chúng ta chưa từng thực sự được biết, không phải xuất phát từ sự kính
phục hay ngưỡng mộ, mà thực chất là vì sợ hãi. Chúng ta sợ rằng nếu
không thờ cúng các vị ấy, chúng ta sẽ phải chịu những sự trừng phạt bí
ẩn nào đó mà không ai có thể bảo vệ được cho ta. Nhưng khi chúng ta quy y
Tam bảo, đức Phật chỉ rõ một cách bao quát rằng tất cả những cảnh giới
như trời, thần, quỷ, vật... đều không thoát ngoài tam giới, đều là những
chúng sanh đang chịu sự chi phối của nghiệp quả luân hồi, và do đó
chúng ta không có gì phải sợ sệt hoặc nương theo những đối tượng ấy.
Cách tốt nhất để mang lại sự an ổn cho bản thân là hướng về điều thiện,
và quy y Tam bảo là nền tảng đầu tiên cho một cuộc sống hướng thiện.
Trong một số kinh, đức Phật còn mô tả uy lực của người thọ trì Tam quy
và Ngũ giới là được các vị thiện thần vây quanh để hộ trì. Và điều đó
cho thấy khi chúng ta đặt niềm tin nơi Tam bảo thì chúng ta không còn
phải lo sợ trước bất kỳ một đối tượng nào khác. Vì thế mà có thể xác
định rằng việc quy y Tam bảo là xác lập niềm tin và mang lại cho chúng
ta một chỗ dựa tinh thần vững chắc.
Nhiều người đã quy y Tam
bảo nhưng vẫn thờ cúng các vị thần linh huyễn hoặc, chẳng hạn như thờ
thần tài, ông địa, ông táo... hoặc vẫn tin vào việc bói toán, xem ngày
giờ tốt xấu, cúng sao giải hạn... Đó là vì những người ấy chưa thực sự
hiểu hết ý nghĩa của việc quy y, và do đó cũng chưa thực sự đặt trọn
niềm tin nơi Tam bảo. Nếu hiểu và tin theo lời Phật dạy, thì những
chuyện tốt lành, lợi lạc đến với chúng ta chỉ có thể là kết quả của
những việc làm phước thiện, làm sao lại có thể dựa vào sự phù hộ độ trì
của một vị thần này hay thần khác, nhất là khi sự phù hộ độ trì đó lại
có vẻ như là kết quả của những hành động “đút lót” bằng lễ vật cúng
kính!
Những niềm tin và nhận
thức sai lầm như trên có thể dễ dàng loại bỏ nhờ vào việc thọ trì Ngũ
giới. Trong kinh nói: Nhân giới sanh định, nhân định phát huệ. Vì thế,
thọ trì Ngũ giới có thể giúp chúng ta chuyển hóa đời sống theo hướng
tích cực, tốt đẹp hơn, và do đó mà tâm trí sẽ được sáng suốt hơn, có thể
hiểu đúng những giáo lý do Phật truyền dạy, và điều đó giúp ta xóa tan
đi những nhận thức sai lầm, tà kiến.
Thực hành Ngũ giới là
bước khởi đầu căn bản nhất, nhưng cũng chính là chặng đường dài mà người
học Phật có thể nương theo để đi suốt cuộc đời mình. Sở dĩ như thế, là
vì trong 5 giới bao gồm nhiều lớp ý nghĩa, nhiều tầng bậc hành trì từ
thấp đến cao, giúp cho người mới học có thể dễ dàng tiếp nhận, mà người
thực hành, chiêm nghiệm lâu năm cũng vẫn còn có chỗ phải tiếp tục học
hỏi.
Chính vì khả năng bao
quát như thế, nên Ngũ giới có một uy lực vô song trong việc chuyển hóa
đời sống của chúng ta. Có thể hình dung ở mức độ xấu nhất, khi bản thân
ta là người đầy dẫy những thói hư tật xấu cố hữu, nhưng chỉ cần phát tâm
nghiêm túc thọ trì Ngũ giới, ngay lập tức tất cả các thói hư tật xấu ấy
sẽ bị ngăn chặn, và dần dần không bao lâu sẽ đi đến chỗ diệt mất. Điều
khó khăn quyết định ở đây là ta phải có một quyết tâm, một ý chí dũng
mãnh để nghiêm túc thọ trì không phạm giới. Chỉ cần được như thế thì mọi
việc chắc chắn sẽ trở nên tốt đẹp. Ở đây có thể hình dung 5 giới như
một cái khuôn của người thợ đúc, cho dù nguyên liệu sử dụng có bất cứ
hình dạng nào, nhưng một khi đã đưa được vào khuôn thì chỉ có thể sản
xuất ra một hình dạng duy nhất theo cái khuôn ấy.
Tính chất bao quát của 5
giới đã dẫn đến một kết quả thực tiễn là: ta không thể thực hiện bất kỳ
một hành vi xấu ác nào mà không phạm vào 5 giới. Vì thế, khi ta giữ trọn
5 giới thì tất cả mọi hành vi xấu ác đều nhất thời bị ngăn chặn.
Tác dụng của 5 giới có
thể tạm chia ra hai giai đoạn, cũng là hai tầng bậc thực hành giới như
sau:
1. Với người mới phát tâm thọ giới, việc thực hành 5 giới thường mang tính
khuôn thước, máy móc, và được hiểu theo nghĩa căn bản nhất của giới.
Tác dụng của 5 giới trong giai đoạn này là ngăn chặn, dừng lại tất cả
mọi hành vi xấu ác không cho bộc lộ ra bên ngoài (nhưng thường là vẫn
còn âm ỉ trong tư tưởng, ý niệm). Quá trình ngăn chặn này thường diễn ra
theo trình tự như sau: Khi ý niệm về một hành động xấu khởi lên, người
trì giới nhận biết và so sánh với ý nghĩa ngăn ngừa của 5 giới, nhận ra
được là nó thuộc về phạm vi ý nghĩa ngăn ngừa của giới, và do đó quyết
định không thực hiện nó.
Trong giai đoạn này,
người trì giới thường không cảm thấy thoải mái lắm trong việc trì giới,
bởi vì tâm trí người ấy thường xuyên bị đè nặng bởi những ý tưởng như
“phạm giới” hay “không phạm giới”, hoặc là “không được làm điều này”,
“không được làm điều kia”... Hơn thế nữa, sự phân biệt các phạm vi ý
nghĩa ngăn ngừa của giới thường là một quá trình suy diễn máy móc chủ
yếu dựa vào các ý nghĩa đã được truyền dạy, còn những gì thuộc về kinh
nghiệm bản thân chưa có được bao nhiêu.
Người thọ trì 5 giới
trong giai đoạn này giống như người cày ruộng. Lợi tức thu hoạch từ
ruộng lúa là sự hứa hẹn trong tương lai, còn hiện tại là sự nỗ lực và
mệt nhọc vì công việc. Việc nghiêm túc trì giới đòi hỏi phải có những nỗ
lực tranh đấu liên tục trong tự thân giữa những thói quen (thường là
phạm giới) và ý chí hướng thiện. Trong khi đó kết quả hoàn thiện đời
sống tinh thần lại thường rất hiếm khi có thể được cảm nhận tức thời,
cho dù là điều đó đang thực sự diễn ra.
Do những tính chất nêu
trên, người thọ giới trong giai đoạn này nên thường xuyên củng cố niềm
tin của mình bằng cách đến chùa, lễ bái Tam bảo, hoặc tham gia các khóa
tu học tại các chùa. Cũng có thể tự mình tìm hiểu thêm về Phật pháp bằng
cách đọc tụng kinh điển hay tìm đọc những sách giảng giải về giáo lý.
Những nỗ lực phụ trợ này sẽ có ý nghĩa tích cực giúp cho việc trì giới
trở nên dễ dàng hơn và cũng có hiệu quả hơn.
Giai đoạn này có thể kéo
dài trong một quãng thời gian khác nhau đối với mỗi người, tùy thuộc vào
năng lực thực hành giới cũng như khởi điểm khi bắt đầu thọ giới. Nói
chung, giai đoạn này có thể được xem như chấm dứt khi người thọ giới bắt
đầu tự mình cảm nhận được sự thoải mái trong việc trì giới và những cải
thiện đáng kể trong mọi sinh hoạt của đời sống thường ngày.
2. Giai đoạn thứ hai là giai đoạn mà người thọ giới đã hoàn toàn quen
thuộc với các phạm trù ngăn ngừa của giới, và việc giữ giới trở thành
một phản xạ tự thân khá nhuần nguyễn. Chẳng hạn, nếu như trong giai đoạn
thứ nhất, người thọ giới phải đối đầu với một sự thèm khát nhất định
khi phải từ chối không uống rượu do ý nghĩa ngăn ngừa của giới thứ 5,
thì trong giai đoạn thứ hai này, việc không uống rượu trở nên một phản
ứng hoàn toàn tự nhiên, và người thọ giới không còn khởi lên sự thèm
khát mong muốn đối với loại thức uống độc hại ấy nữa.
Chuyển biến quan trọng
trong giai đoạn này là người thọ giới thực sự cảm nhận được lợi ích của
việc trì giới, tự thấy được những thay đổi tích cực, cải thiện trong đời
sống hằng ngày, và kèm theo đó là một niềm an lạc, hạnh phúc mang lại
do có được nếp sống chân chính, tốt đẹp. Thêm vào đó, uy lực của giới
trong giai đoạn này cũng tỏa rộng ra chung quanh, khiến cho mọi người
khi tiếp xúc với người thọ giới đều có thể dễ dàng nhận ra và kính phục.
Đây cũng là giai đoạn mà
người thọ giới đã tích lũy được những kinh nghiệm tự thân trong việc trì
giới, có được những cảm xúc và nhận xét của riêng mình qua từng trường
hợp cọ xát với thực tiễn đời sống. Đó là những điều hoàn toàn không thể
được truyền dạy từ người khác. Với những kết quả có được từ sự thực hành
5 giới trong cuộc sống của chính mình, người thọ giới bắt đầu có thể
chiêm nghiệm về ý nghĩa của từng giới và mở rộng được phạm vi ngăn ngừa
của giới. Sự mở rộng này là một kết quả tất nhiên có được qua thực hành
và chiêm nghiệm, bởi vì những ý nghĩa mở rộng này vốn đã hàm chứa trong
giới mà không phải là một sự thêm thắt về sau. Chỉ có điều là để hiểu
được những ý nghĩa đó, đòi hỏi chúng ta phải có một quá trình thực hành
việc trì giới trong thực tế đời sống.
Theo: Hoangphap.info