CHƯƠNG VIII
NGHỆ THUẬT ẤN ĐỘ
III. HỌA
Môn họa thời tiền sử - Các bức họa ở
Ajanta – Các tế họa Rajpute – Họa phái Mông Cổ - Họa sĩ – Lí
thuyết gia.
Con người quê
mùa là con người phán đoán theo quan niệm hẹp hòi trong miền
mình ở, thấy cái gì hơi là lạ thì cho là dã man. Người ta kể
chuyện rằng hoàng đế Jehangir – một người sành và sáng suốt về
nghệ thuật – lần đầu tiên nhìn một bức tranh của châu Âu, tuyên
bố ngay rằng “không thích chỉ vì vẽ bằng sơn dầu”. Câu chuyện đó
tỏ rằng một ông vua cũng có thể quê mùa như ai, và Jehangir khó
mà thích được một bức tranh sơn dầu cũng như chúng ta khó mà
thích được các tế hoạ (bức hoạ nhỏ xíu) của Ấn.
Các bức tranh
vẽ loài vật bằng thổ hoàng (ocre) đó, nhất là bức vẽ một cuộc đi
săn con tê[12],
người ta thấy trong các hang thời tiền sử ở Singanpour và
Mirzapua[13],
chứng tỏ rằng môn hoạ đã có ở Ấn từ mấy ngàn năm trước. Đào
những lớp đất đá thời tân thạch khí, người ta còn thấy nhiều bàn
để pha màu, ở trên còn dính nhiều thứ đất màu. Nhưng lịch sử
ngành hoạ ở Ấn còn nhiều chỗ sót, chúng ta chỉ biết lờ mờ thôi,
một phần vì thời tiết nóng nực, ẩm thấp đã làm hư hại nhiều tài
liệu cổ, một phần nữa vì bọn Hồi “đập phá ngẫu tượng” từ thời
Mahmud tới thời Aureng-Zeb đã huỷ hoại gần hết những bức hoạ còn
giữ lại được tới khi họ xâm lăng Ấn Độ. Cuốn Vinaya Pitaka
(khoảng 300 trước Công nguyên) có chép rằng cung điện vua
Pasenada có treo hàng dãy các bức hoạ dọc các hành lang; Pháp
Hiển và Huyền Trang cũng tả nhiều lâu đài, đền chùa nổi tiếng về
giá trị mĩ thuật của các bức hoạ trên tường; nhưng ngày nay
những bức hoạ đó tiêu huỷ hết rồi, không còn gì cả. Một trong
những bức bích hoạ cổ nhất của Tây Tạng vẽ một hoạ sĩ đương vẽ
hình Phật Tổ; nhiều người cho rằng tới thời Phật Tổ thì ngành
hoạ Ấn Độ xuất hiện từ lâu rồi và đương ở giai đoạn toàn thịnh.
Những bức hoạ
cổ nhất hiện nay chúng ta có thể định được thời đại, là một loạt
bích hoạ đạo Phật (khoảng 100 trước Công nguyên) tìm thấy trên
vách một cái hang ở Sirguya, thuộc Trung bộ Ấn. Từ hồi đó, nghệ
thuật bích hoạ - vẽ lên mặt phẳng bằng thạch cao mới đắp lên
tường và còn ướt – mỗi ngày mỗi tiến, và tới giai đoạn các bích
hoạ ở trong các hang Ajanta[14]
thì đạt tới mức hoàn hảo mà Giotto và Léonard de Vinci[15]
cũng không hơn được. Các đền đó đục ngay trong đá trên sườn một
ngọn núi, trong khoảng từ thế kỉ thứ nhất tới thế kỉ thứ VII.
Sau khi đạo Phật miền đó suy tàn, đền chùa bị bỏ hoang thành
rừng; dơi, rắn, và các loài thú vào đó làm hang, cứt chim chóc
và sâu bọ làm dơ hết các bức hoạ. Năm 1819 một số người Âu vô
tình tìm ra được những cảnh hoang tàn đó, ngạc nhiên thấy những
bức bích hoạ hiện nay được coi là những bức đẹp nhất của nhân
loại.
Người ta thường gọi các đền chùa đó là hang vì đục ngay trong
đá. Hang số XVI chẳng hạn đục vô đá, vuông vức mỗi bề hai mươi
mét; có hai mươi cây cột, chung quanh gian giữa có mười sáu
phòng nhỏ cho các vị sư, mặt trước có một cái cổng như cái hiên,
phía trong cùng là điện thờ. Bức tường nào cũng đầy bích hoạ.
Năm 1879, trong số hai mươi chín đền, mười sáu đền còn giữ được
bích hoạ; năm 1910, trong số mười sáu đền đó, mười đền đã mất
hết bích hoạ, còn những bích hoạ trong sáu đền kia thì hư hại vì
người ta đã vụng về muốn trùng tu lại. Trước kia, những màu đỏ,
xanh và lam trên các bức hoạ thật rực rỡ; ngày nay người ta tô
bậy lên những màu chết hoặc xám xịt. Vài bức bị thời gian huỷ
hoại rồi còn bị sửa lại một cách vụng về nữa, khiến cho những
người như chúng ta có cái tâm hiểu được những truyền thuyết
hoang đường về Phật giáo, nhìn vào thấy thô bỉ và lố bịch; có
những bức khác trái lại, còn giữ được nét vẽ mạnh mẽ, duyên dáng
hồi xưa, chỉ nhìn qua cũng thấy nghệ thuật của những nghệ sĩ vô
danh đó cao tới mức nào.

Một bức bích hoạ trong hang số XVII
ở Ajanta vẽ cảnh Đức Phật đang khất thực tại của nhà mình,
đứng trước Ngài là
Da Du Ðà La và La Hầu La, tức vợ và con của Ngài
Mặc dầu bị huỷ hoại như vậy, hang số I còn
giữ được nhiều bức rất đẹp. Trên một bức tường, ta thấy
hình có lẽ của một vị Bồ Tát, nghĩa là một vị đắc đạo, được lên
Niết Bàn nhưng không lên mà tự ý đầu thai hoài để cứu vớt nhân
loại. Chưa bao giờ cái vẻ u sầu của sự giác ngộ lại được vẽ bằng
những nét mạnh mẽ như vậy, nhìn tranh ta phải tự hỏi bức hoạ đó
so với bức phác hoạ đầu Chúa Ki Tô trong công việc dự bị cho bức
tranh La Cène[16]
của Léonard de Vinci, bức nào đẹp hơn. Trên một bức vách khác
cũng trong đền đó, vẽ Shiva với vợ là Parvati, cả hai đều đeo
đầy châu báu. Gần đó là bốn con hoẵng, trông nét vẽ cũng thấy
lòng các Phật tử yêu loài vật ra sao; trên trần là một bức tranh
hoa điểu, nét rất khéo. Trên một bức vách trong hang XVII, là
một bức nay đã mất một nửa, vẽ thần Vichnou và đám tuỳ tùng từ
trên trời bay xuống dự một đại sự nào đó trong đời Phật Tổ; trên
một bức vách khác, là bức chân dung một công chúa với các thị
nữ, tuy có màu nhưng sơ lược. Lẫn lộn với các danh phẩm đó, là
những bức lộn xộn, tầm thường vẽ tuổi xuân của Phật Tổ với lúc
Ngài bỏ gia đình ra đi, lúc Ngài bị Ma vương quyến dỗ mà chống
lại được.
Vì hiện nay
chỉ còn lại một số ít hoạ phẩm, nên chúng ta khó mà phê phán một
cách công bình được, không thể đoán đúng được hồi xưa công trình
đó ra sao; nhất là một người ngoại quốc thì thế nào cũng thiếu
ít nhiều yếu tố để nhận định cho đúng. Nhưng một người phương
Tây dù ít kiến thức tới mấy, cũng không thể nào không xúc động
trước tính cách cao thượng của đề tài, vẻ tôn nghiêm của chí
hướng nghệ sĩ, sự nhất trí trong bố cục, sự sáng sủa, giản dị,
rõ ràng của nét vẽ, nhất là cái tài vẽ các bàn tay thì khéo léo
lạ lùng, mà bàn tay là cái khó vẽ nhất, đã làm cho bao nhiêu hoạ
sĩ vấp váp. Ta thử tưởng tượng một vị sư nghệ sĩ nào đó[17],
đã quán tưởng trong các trai phòng đó rồi vẽ lên các bức vách và
các bức trần kia, lòng tràn ngập một niềm mộ đạo ra sao, vào cái
thời mà châu Âu đương chìm đắm trong cảnh tối tăm ở đầu thời
Trung cổ. Ở Ajanta, quả là tinh thần tôn giáo đã phối hợp được
với kiến trúc, điêu khắc và hoạ một cách rất điều hoà, mà thực
hiện được một công trình nghệ thuật đa dạng và nhất trí, đẹp đẽ
nhất của Ấn Độ.
Khi các đền
chùa bị người Hung Nô và người Hồi phá huỷ hoặc bắt đóng cửa
rồi, các hoạ sĩ Ấn đổi hướng, xoay qua một hình thức nghệ thuật
khiêm tốn hơn. Ở xứ Rajputana, một hoạ phái được thành lập,
chuyên vẽ những hình nhỏ xíu (tế hoạ) về các hồi trong các anh
hùng ca Mahabharata và Ramayana, hoặc ghi lại các
chiến công oanh liệt của các vua chúa trong xứ, nhiều khi họ chỉ
vẽ phác vài nét sơ sài thôi, nhưng nét vẽ luôn luôn hoàn hảo,
linh động. Ở Viện tàng cổ mĩ thuật tại Boston, còn trưng bày một
bức đẹp vẽ các phụ nữ, một cái tháp cao và một nền trời thấp
tượng trưng một cái raga (ý chỉ của bản nhạc) mà chúng
tôi đã nói ở trên. Ở Detroit có một bức khác rất tinh tế vẽ một
hoạt cảnh trong cuốn Gita-Govinda. Người ta cảm thấy rằng
trên những bức tế hoạ đó cũng như trên hầu hết các bức hoạ của
Ấn, nghệ sĩ khi vẽ người, không theo mẫu thực, mà chỉ tưởng
tượng hoặc nhớ lại hình ảnh cũ thôi. Họ thường dùng thuốc màu
hoà bằng nước hồ và lòng trắng trứng, những cây bút bằng lông
sóc, lông lạc đà, lông dê, lông chồn đèn, thứ lông cực mịn; và
những bức hoạ của họ từ nét vẽ đến cảnh sắc đều tinh xảo lạ
lùng, làm cho người ngoại quốc dù không quen nhìn cũng phải
thích thú.
Tại các xứ
khác ở Ấn, đặc biệt là tại tiểu quốc Kangra, cũng có những tác
phẩm như vậy. Ở Delhi, dưới triều đại Mông Cổ, một kĩ thuật
tương tự cũng thịnh hành. Hoạ phái Delhi mới đầu phát sinh từ
nghệ thuật viết chữ Ba Tư và nghệ thuật tô màu, đồ hình các thủ
bản (manuscrit), chẳng bao lâu thành một phái vẽ chân dung các
người trong giới quí phái; phái đó không thu nhận nhiều người,
lại có khuynh hướng phong nhã, cho nên có thể so sánh với loại
nhạc trong phòng các tư gia cũng rất thịnh hành dưới triều đại
các vua Mông Cổ. Cũng như các nghệ sĩ Rajpute, hoạ sĩ Mông Cổ
thích những nét vẽ rất tinh tế, cho nên có khi họ dùng một ngọn
bút chỉ có mỗi một chiếc lông và cũng cố vẽ bàn tay cho thật
giống, thật đẹp. Các bức hoạ của họ nhiều màu sắc hơn nhưng
thiếu cái vẻ huyền bí; ít khi họ tìm hứng trong tôn giáo hoặc
thần thoại; họ thực tế và vẽ đúng cảnh thực trên cõi trần nhưng
thận trọng, không muốn làm phật ý ai. Họ vẽ nhiều nhất là chân
dung các nhà quí phái mà đức khiêm tốn không phải là đức chính;
các vị đại thần đều ngồi cho họ vẽ, tới nỗi Jehangir, ông vua
ham chơi tranh, một hôm nhận ra rằng các phòng tranh của mình
đầy những chân dung của các vua chúa, các đại thần trong triều
ông và triều các tiên vương từ Akbar trở xuống. Chính Akbar là
ông vua đầu tiên khuyến khích các hoạ sĩ; theo Abu-I-Fazl thì
cuối đời ông, ở Delhi có cả trăm hoạ sĩ và cả ngàn người chơi
tranh. Nhờ sự bảo trợ sáng suốt của Jehangir, nguồn hứng mở rộng
ra, hoạ sĩ chẳng vẽ riêng chân dung nữa mà còn vẽ thêm phong
cảnh, các cuộc săn bắn, nếu vẽ người thì cũng vẽ thêm thiên
nhiên làm bối cảnh. Chẳng hạn một bức vẽ nhà vua đi săn, một con
sư tử nhảy chồm lên mông con voi, móng suýt quào vào da thịt
vua, trong khi một vệ sĩ co giò chạy. Dưới triều vua Jehan, nghệ
thuật lên tới tột đỉnh rồi bắt đầu suy; cũng như trường hợp ấn
hoạ ở Nhật, nghệ thuật khi đã phổ biến trong dân chúng, số người
chơi tranh tăng lên nhiều, hoạ sĩ muốn thoã mãn nhu cầu đó, phải
vẽ vội và chiều thị hiếu của khách hàng nên nghệ thuật kém sút.
Rồi tới thời Aureng-Zeb, nhà vua lại bắt phải tôn trọng luật Hồi
giáo, cấm vẽ hình người và loài vật, thì ngành hoạ tàn tạ.
Nhờ sự bảo trợ
rộng rãi và thông minh của các vua Mông Cổ, các hoạ sĩ ở Delhi
được biết một thời vàng son mà suốt mấy thế kỉ, những người đi
trước họ không được hưởng. Hiệp hội hoạ sĩ có từ thời Phật giáo,
lúc đó hồi xuân lại, và một số hoạ sĩ lưu danh lại được, chứ
không bị coi thường nữa, vì người Ấn có tục khinh cá thể, chỉ
chú ý tới tác phẩm chứ không cần biết tác giả. Trong số mười bảy
hoạ sĩ mà mọi người cho là có tài nhất ở triều đại Akbar, thì
mười ba nhà gốc Ấn. Hoạ sĩ vẽ cho triều đình Đại đế Mogol, được
nhà vua mến nhất, là Dasvanth. Ông vốn thuộc dòng ti tiện, cha
làm phu khiêng kiệu, nhưng nhà vua không vì vậy mà không trọng
đãi. Hồi trẻ, tính tình ông kì cục: bất kì ở đâu cũng vẽ, hễ có
mặt phẳng nào là vẽ lên. Akbar nhận thấy thiên tài của ông, đem
về cung, bảo hoạ sư của mình dạy vẽ cho. Chẳng bao lâu ông nổi
danh nhất trong nước, nhưng đương khi danh ông lên đến tột đỉnh
thì ông tự đâm cổ chết.
Bao giờ cũng
vậy, hễ có một số người làm được một nghệ phẩm nào rồi thì luôn
luôn có những kẻ khác chẳng làm cái quái gì cả mà nhảy ra giảng
giải cho những nghệ sĩ kia, bảo phải làm như vầy, như vầy mới
phải. Triết lí Ấn chẳng liên quan gì tới môn “lô-gích” cả, vậy
mà người Ấn lại thích “lô-gích”, thích phân tích, tìm những
phương pháp tế nhị của mọi nghệ thuật rồi đặt thành những công
thức nghiêm nhặt, hợp lí. Vì vậy mà ở đầu Công nguyên, cuốn
Sandaga (Ấn hoạ lục chỉ), định sáu “tiêu chuẩn” dưới đây cho
môn hoạ (cũng như sau này ở Trung Hoa):
1. Biết rõ
hình dáng mỗi vật;
2. Thấy cho
đúng, có chừng mực và cấu tạo cho đúng;
3. Tác động
của tình cảm tới hình thức;
4. Trình bày,
miêu tả cho nghệ thuật;
5. Phải giống;
6. Phải biết
dùng ngọn bút và màu sao cho khéo.
Tới thời sau,
xuất hiện một bộ qui luật về mĩ học rất tỉ mỉ, tức bộ
Shilpa-shastra, trong đó tác giả ghi lại tất cả các luật lệ
và truyền thống cho mỗi ngành nghệ thuật, chủ ý là qui định một
lần cho vạn đại. Tác giả bảo: nghệ sĩ phải hiểu kĩ các kinh
Veda, phải “thích thờ phụng Thượng Đế, trung tín với vợ,
tránh đừng giao thiệp với những phụ nữ kì cục và thành kính mở
mang kiến thức về mọi ngành”.
Muốn hiểu
ngành hoạ ở phương Đông thì chúng ta phải nhớ rằng trước hết nó
không chủ trương vẽ đúng cảnh vật, mà chủ trương diễn tình cảm,
vì vậy chỉ cần gợi ý thôi; rằng nó chú trọng tới đường nét hơn
là màu sắc, tới “tâm hồn” hoặc “tinh thần” của người và vật hơn
là hình dáng bề ngoài. Chúng tôi đã rán tìm mà không thấy trong
môn hoạ của Ấn sự hiểu biết về nghề, sự đa dạng và thâm thuý về
quan điểm và cách phô diễn, như trong môn hoạ của Trung Hoa và
Nhật Bản. Một số người Ấn đưa ra cách giải thích khó tin này:
theo họ, sở dĩ môn hoạ của Ấn suy đồi vì nghệ thuật đó dễ dàng
quá, không phải tốn công, không xứng để dâng các thần linh. Có
thể rằng môn hoạ chỉ tạo những nghệ phẩm dễ bị huỷ hoại, tạm
thời thôi, nên không làm thoả mãn dân tộc Ấn, một dân tộc muốn
biểu hiện các thần linh của họ một cách lâu bền kia. Lần lần,
đạo Phật càng chịu thờ các hình tượng, và các đền thờ Bà La Môn
càng tăng, thì môn hoạ nhường chỗ cho môn đục tượng, màu sắc
và nét vẽ nhường chỗ cho nét đục
trong đá.