TỊNH ĐỘ GIÁO KHÁI LUẬN
Nguyên tác Nhật ngữ: Vọng Nguyệt Tín Hanh
Hán dịch: Ấn Hải - Việt dịch: Viên Thắng - Hiệu đính: Định Huệ
Chương thứ ba
Giáo lí cõi Phật thanh tịnh và bồ-tát phát nguyện
Tiết thứ nhất
Đại thệ trang nghiêm
Phật giáo Đại thừa tin một cách sâu sắc rằng
chúng sanh có khả năng thành Phật. Bồ-tát thực hành sáu pháp ba-la-mật
sẽ chứng thành Phật đạo, đồng thời quán các pháp là Đệ nhất nghĩa đế,
ngộ nhập lí không rốt ráo; lại còn phát tâm đại bi, nguyện độ tất cả
chúng sinh. Bồ-tát trong vô lượng kiếp tinh tiến tu hành chẳng mỏi
mệt, không tiếc thân mạng, tiếp nhận mười phương thế giới thanh tịnh,
tự mình kiến lập cõi Phật rộng lớn, đem lại an lạc cho chúng sinh,
nhất định tu thành Phật đạo; điều này đánh dấu một thời kỳ chuyển biến
mạnh mẽ của Phật giáo.
Trong phẩm Vấn tăng-na, kinh Phóng quang bát-nhã
quyển 3 ghi: “Bồ-tát độ người không có giới hạn, trụ ba-la-mật mà
thực hành bố thí, vì khắp tất cả chúng sanh mà thực hành bố thí, trì
giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định ba-la-mật, lại vì chúng sanh mà
làm những việc khó làm. Bồ-tát thành tựu thệ nguyện rộng lớn, độ khắp
chúng sanh không có giới hạn như thế; nhưng không hề nói tôi sẽ độ
ngần ấy người có giới hạn, không thể độ thêm người khác nữa, cũng
không nói tôi chỉ giáo hóa ngần ấy người đạt đến đạo, không thể giáo
hóa thêm người khác nữa. Bồ-tát vì chúng sanh mà phát thệ nguyện: “Nếu
bản thân tôi đầy đủ sáu pháp ba-la-mật thì tôi cũng dạy cho người
khác đầy đủ sáu pháp ba-la-mật”.
Lại trong kinh Bất thoái chuyển pháp luân quyển 2 cũng ghi: “Bồ-tát đem bốn hoằng thệ nguyện để tiếp độ chúng sanh”. Phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện, kinh Hoa nghiêm quyển 40 ghi ra mười đại nguyện vương của bồ-tát Phổ Hiền. Phẩm Hư Không Tạng bồ-tát, kinh Đại phương đẳng đại tập quyển 17, nói rõ hai mươi đại thệ trang nghiêm của bồ-tát.
Trên đây đều là bồ-tát khi mới phát tâm tự phát
đại thệ nguyện, tu sáu pháp ba-la-mật, thệ nguyện độ thoát khắp chúng
sanh; sau đó, theo thệ nguyện này để thực hành.
Giải thích Ma-ha-tăng-na-tăng-niết, Hán dịch là
đại thệ trang nghiêm, ý nghĩa mặc áo giáp kiên cố. Bồ-tát vì độ chúng
sanh mà phát thệ nguyện rộng lớn, hi sinh thân mình để đạt được chí
nguyện. Các ngài nguyện sanh vào đời ác năm trược, dũng mãnh vô cùng,
tinh tiến phấn đấu tu tập; giống như dũng sĩ mặc áo giáp lẫm liệt xông
pha nơi chiến trường. Đây là thể hiện tinh thần mạnh mẽ vào thời kì
đầu của Phật giáo Đại thừa, hạnh nguyện thanh tịnh cõi Phật cũng là
kết tinh của đại thệ trang nghiêm.
Tiết thứ hai
Giáo lí cõi Phật thanh tịnh
Giáo lí cõi Phật thanh tịnh, ban đầu chỉ làm
thanh tịnh thế giới của chúng ta, cải thiện những khiếm khuyết của
chúng ta, là một cuộc vận động giáo hóa xã hội để làm tăng lên hạnh
phúc cho nhân loại. Nhưng trong một thế giới không có hai Đức Phật
xuất hiện đồng thời. Cho nên, các vị Bồ-tát đều chọn cho mình một thế
giới trong mười phương không có Đức Phật để giáo hóa chúng sanh thành
thục, thanh tịnh cõi đó. Bồ-tát cũng thành Phật ở cõi nước đó, cho đến
xây dựng cõi Phật lí tưởng dần dần hướng thượng thăng hoa, nhưng hình
thành cõi nước hoàn toàn không giống cõi Ta-bà, dự tính trở thành
Tịnh độ trang nghiêm thanh tịnh. Bởi vì, thế giới của chúng ta đang ở
thì biểu hiện đời ác năm trược, là chỗ ở của ngoại đạo, kẻ xấu, có
nhiều dân tộc khác nhau; lại còn dịch bệnh, đói khát, lạnh nóng, tranh
giành, chém giết; còn về đất đai thì đồi núi chập chùng, gai nhọn mọc
chen nhau, rất nhiều ô uế, hôi thối lan tràn, chẳng có chỗ nào được
trang nghiêm và an lạc. Tuổi thọ của con người ngắn ngủi, chúng ta
thấy rõ đời này là vô thường, không có tính trường cửu. Vì cõi này có
nhiều xấu xa như thế, cho nên bồ-tát lập chí nguyện kiên cố, xây dựng
cõi Phật lí tưởng.
Tiết thứ ba
Phát nguyện theo kinh Đạo Hành Bát-nhã
Liên quan đến bồ-tát phát nguyện kiến tạo cõi nước Phật thanh tịnh đã nói rõ trong các kinh Đại thừa như bát-nhã v.v…Trong đó, các điều nguyện được ghi trong phẩm Hằng-kiệt ưu-bà-di, kinh Đạo hành Bát-nhã quyển 6, có thể được xem là xuất hiện vào thời kì sớm nhất. Nay trước tiên nêu ra năm điều bồ-tát phát nguyện:
1/ Không có cầm thú: Bồ-tát hành sáu
pháp ba-la-mật, khi gặp nạn cọp, sói rất hung dữ vẫn không sợ. Bồ-tát
tự nghĩ: “Nếu như cọp, sói ăn thịt tôi thì tôi thực hành bố thí
ba-la-mật, gần đến Vô thượng chính đẳng chính giác. Tôi nguyện đời vị
lai, khi tôi thành Phật, khiến cho cõi nước của tôi không có loài cầm
thú”.
2/ Nhẫn nhục không sân hại: Khi bồ-tát
gặp giặc cướp giữa đường, nhất quyết không sợ hãi, liền tự suy nghĩ:
“Nếu như tôi chết ở đây thì thân tôi rồi cũng sẽ bỏ đi, cho dù tôi bị
bọn cướp giết chết, nhưng tôi vẫn không khởi sân hận, đầy đủ hạnh nhẫn
nhục ba-la-mật, sắp gần A-duy-tam Phật[1]. Tôi nguyện sau khi thành Phật, làm cho cõi nước của tôi không có giặc cướp”.
3/ Có tám nước công đức: Khi bồ-tát đến
những nơi không có nước chẳng chút sợ hãi, liền nghĩ: “Vì người ở đây
không có đức nên không có nước uống. Tôi nguyện khi tôi chứng
A-duy-tam Phật làm cho cõi nước của tôi đều có nước uống, khiến cho
mọi người trong nước tôi đều được nước tám vị Tát-vân-nhã”.
4/ Thức ăn nước uống tự nhiên có đầy đủ:
Khi bồ-tát gặp nạn lúa gạo mất mùa đắt đỏ vẫn không lo sợ, liền tự
nghĩ: “Tôi sẽ tinh tiến chứng A-duy-tam Phật làm cho cõi nước của tôi
thường đầy đủ lúa gạo, khiến cho nhân dân trong người nước tôi khi
mong cầu ăn uống liền có ngay trước mặt; giống như cõi trời Đao-lợi
muốn ăn uống liền có ngay”.
5/ Không có dịch bệnh: Khi bồ-tát ở
trong vùng dịch bệnh, liền nghĩ: “Nhất định tôi không sợ hãi, cho dù
thân tôi có chết ở đây, nhưng tôi vẫn tu hành tinh tiến chứng
A-duy-tam Phật làm cho cõi nước của tôi không có dịch bệnh”. (Đại
Chính, 8, 457, hạ).
Trên đây là khi bồ-tát gặp những nạn cọp, sói,
trộm cướp, cho đến dịch bệnh, tâm không sợ hãi, chẳng tiếc thân mạng,
càng chuyên tâm tinh tiến hành sáu pháp ba-la-mật. Bồ-tát tự nghĩ:
“Tôi vì sắp chứng Vô Thượng Bồ-đề, đồng thời những tai nạn ấy thường
làm tổn hại chúng sanh ở thế giới này, nên tôi phát nguyện đời tương
lai khi tôi thành Phật sẽ kiến tạo cõi nước thanh tịnh không xảy ra
những tai nạn này”.
Những điều trên, ngài Chi Khiêm dịch trong phẩm Hằng-kiệt thanh tín nữ trong kinh Đại minh độ quyển 4. Ngài La Thập dịch phẩm Thâm công đức trong kinh Tiểu phẩm bát-nhã quyển 7 đều nói giống như trên. Chỉ riêng ngài Thi Hộ, đời Tống dịch phẩm Thậm thâm nghĩa trong kinh Phật mẫu xuất sanh tam pháp tạng bát-nhã ba-la-mật-đa quyển 18, cùng với bản Phạn trong phẩm Bát thiên tụng bát-nhã, Hằng-già thiên nữ lấy
năm nguyện này, chia theo sáu pháp ba-la-mật. Kinh ghi cũng có nhiều
ít bất đồng, đều được cho là người đời sau biên soạn thêm. Tóm lại,
bồ-tát phát nguyện ở thời kỳ sớm nhất rất là đơn giản, đồng thời còn
là hiện thực chỉ dựa theo thế gian. Do nghĩ trước đến một số tai nạn
xảy ra, nên thệ nguyện trừ khử nó. Như thế đủ biết đây chẳng qua chỉ
là một vài điều thệ nguyện chủ yếu.
Tiết thứ tư
Phát nguyện theo kinh Phóng Quang Bát-nhã
Kinh Phóng quang bát-nhã đến Trung Quốc vào cuối đời Tào Ngụy, do Châu Sĩ Hành đến nước Vu-điền sao chép được truyền dịch sau kinh Đạo hành bát-nhã chỉ
khoảng tám mươi năm. Nhưng kinh này nói về bồ-tát phát nguyện, gồm
hai mươi chín nguyện, ý nghĩa phát nguyện này cũng đại để là lí tưởng
hóa, dường như chưa lưu lại dấu tích của các lời nguyện xưa kia. Căn
cứ vào sự thật này mà nhận định thì giáo nghĩa của Đại thừa theo thứ
tự mà phát triển vươn lên. Nay chúng tôi nêu ra phẩm Mộng trung hành trong kinh này, quyển 13 đã nói văn phát nguyện, chúng ta có thể biết nội dung:
1/ Cơm ăn, áo mặc tự nhiên có đầy đủ:
Khi bồ-tát hành ba-la-mật, nếu thấy chúng sanh thiếu thốn cơm ăn, áo
mặc, sống cảnh neo đơn không thể duy trì cuộc sống, bồ-tát thương xót
liền phát nguyện: “Khi tôi đắc Vô Thượng Bồ-đề, khiến cho cõi Phật của
tôi không có những người khốn khổ nghèo đói, được đầy đủ cơm ăn, áo
mặc, tự nhiên đều có giống như ở cõi trời Tứ Thiên vương, trời
Đao-lợi, cõi Thiên vương thứ sáu”.
2/ Không có chúng sanh phạm mười điều ác và người thấp hèn:
Khi bồ-tát hành trì giới ba-la-mật, nếu thấy chúng sanh không có lòng
từ bi, giết hại sanh mạng, tà kiến, nghi ngờ, phạm mười điều ác; lại
thấy nhiều người mắc bệnh tật, chết yểu, thân hình tàn tật gầy yếu,
thấp hèn hạ tiện, bồ-tát khởi tâm đại bi phát nguyện: “Tôi thực hành
trì giới ba-la-mật, vào đời vị lai khi tôi thành Phật, khiến cho trong
nước tôi không có những hạng người này”.
3/ Nhẫn nhục không hại người:
Khi bồ-tát hành nhẫn nhục ba-la-mật, nếu thấy chúng sanh nổi sân hận
lấy cây, đao, ngói đá đánh nhau, giết hại lẫn nhau, bồ-tát liền phát
nguyện: “Tôi hành hạnh nhẫn, vào đời vị lai khi tôi thành Phật, khiến
cho trong nước tôi không có những người làm việc ác, khởi tâm từ bi
với tất cả chúng sanh cùng sống hòa hợp; giống như cha mẹ, anh em sống
chung không có giết hại nhau”.
4/ Thường luôn tinh tiến:
Khi bồ-tát hành tinh tiến ba-la-mật, nếu thấy chúng sanh lười biếng,
không tinh tiến học pháp ba thừa, bồ-tát liền phát nguyện: “Tôi sẽ nỗ
lực tinh tiến, khi tôi thành Phật, khiến cho chúng sanh trong nước tôi
tinh tiến học pháp ba thừa, ai nấy đều được độ thoát”.
5/ Nhiếp tâm không loạn: Khi bồ-tát hành thiền ba-la-mật, nếu thấy chúng sanh làm năm điều ngăn che[2],
lìa tứ thiền, tứ không định, bồ-tát liền phát nguyện: “Tôi hành Thiền
ba-la-mật giáo hóa chúng sanh, khi tôi thành Phật, cõi Phật thanh
tịnh, khiến cho tất cả chúng sanh trong cõi nước tôi tâm không loạn”.
6/ Không có tà kiến:
Khi bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật, nếu thấy chúng sanh phạm điều ác;
hoặc người tại gia, hay xuất gia, xa lìa chính kiến, làm việc vô đạo.
Họ nói không có quả báo, lại nói đoạn diệt, nói có chúng sanh, bồ-tát
liền phát nguyện: “Tôi nỗ lực hành sáu pháp ba-la-mật, khi tôi thành
Phật, kiến tạo cõi Phật thanh tịnh, giáo hóa chúng sanh, khiến cho
trong cõi nước tôi không có những người tà kiến.
7/ Không có tà tụ:
Khi bồ-tát hành sáu pháp ba-la-mật, nếu thấy chúng sanh trụ ba tụ:
chính định, tà định, bất định, bồ-tát liền phát nguyện: “Khi tôi thành
Phật, nguyện trong nước tôi không thấy tà kiến, không nghe đến danh
từ tà kiến”.
8/ Không có ba đường ác:
Nếu bồ-tát thấy địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và loài côn trùng nhỏ
nhít, liền phát nguyện: “Khi tôi thành Phật, nguyện trong nước tôi,
không nghe đến danh từ ba đường ác”.
9/ Đất bằng thẳng không có cấu uế:
Nếu bồ-tát thấy đất đai nhiều đồi núi, hầm hố, mọc đầy gai nhọn, cỏ
cây, bất tịnh, nhơ uế, liền phát nguyện: “Khi tôi thành Phật nguyện
trong nước tôi đều bằng phẳng như bàn tay, khiến cho mọi người trong
nước tôi không thấy những cấu uế”.
10/ Vàng ròng làm đất: Nếu bồ-tát thấy đất đai thuần là đất, liền phát nguyện: “Khi tôi thành Phật nguyện trong nước tôi vàng ròng làm đất”.
11/ Không có ái dục:
Nếu bồ-tát thấy trai gái luyến ái nhau, liền phát nguyện: “Khi tôi
thành Phật, nguyện trong nước tôi không có trai gái đắm nhiễm yêu
đương”.
12/ Cùng một giai cấp:
Nếu bồ-tát thấy sự phân biệt bốn giai cấp sát-đế-lợi, bà-la-môn
v.v…liền phát nguyện: “Khi tôi thành Phật, nguyện trong nước tôi, không
có phân biệt bốn giai cấp, chỉ có một giai cấp”.
13/ Không có phân biệt:
Nếu bồ-tát thấy chúng sanh có sự phân biệt ba hạng thượng, trung, hạ,
liền phát nguyện: “Khi tôi thành Phật, nguyện cho chúng sanh trong
nước tôi không sang-hèn, cao-thấp”.
14/ Chúng sanh đều sắc vàng:
Nếu bồ-tát thấy nhan sắc chúng sanh có nhiều sai biệt đẹp xấu, liền
phát nguyện: “Khi tôi thành Phật, nguyện chúng sanh trong nước tôi
không có nhiều màu da, ai nấy đều xinh đẹp đoan chính, được sắc vàng
bậc nhất”.
15/ Trong nước không có vua:
Nếu bồ-tát thấy trong nước có vua cai trị, liền phát nguyện: “Khi tôi
thành Phật, nguyện trong nước tôi không có danh từ vua chúa, chỉ lấy
Như Lai làm pháp vương”.
16/ Mọi người đều tu ba mươi bảy đạo phẩm:
Nếu bồ-tát thấy chúng sanh tạo nghiệp địa ngục, cho đến người, trời
trong năm đường, liền phát nguyện: “Khi tôi thành Phật, nguyện mọi
người trong nước tôi không tạo nghiệp thụ sanh vào năm đường, ai nấy
đều thực hành ba mươi bảy đạo phẩm”.
17/ Mọi người đều hóa sanh:
Nếu bồ-tát thấy sự sai khác của bốn loài noãn, thai, thấp, hóa, liền
phát nguyện: “Khi tôi thành Phật, nguyện trong nước tôi không có ba
loài sanh ra bằng thai, noãn, thấp, chỉ có hóa sanh”.
18/ Người trong nước đắc năm thần thông, có ánh sáng:
Nếu bồ-tát thấy người chưa đắc năm thần thông, không có ánh sáng,
liền phát nguyện: “Khi tôi thành Phật, nguyện trong nước tôi mọi người
đều đắc năm thần thông và đều có ánh sáng”.
19/ Mọi người không có cấu uế:
Nếu bồ-tát thấy chúng sanh có đại tiện, tiểu tiện, liền phát nguyện:
“Khi tôi thành Phật, nguyện mọi người trong nước tôi đều giống thân
trời, không có đại tiện, tiểu tiện”.
20/ Không có thời gian:
Nếu bồ-tát thấy có thời gian dài ngắn, liền phát nguyện: “Khi tôi
thành Phật, làm cho nước tôi không có một ngày, một tháng, một năm,
mười năm v.v…không có số lượng thời gian”.
21/ Mọi người trong nước sống lâu:
Nếu bồ-tát thấy chúng sanh bị chết yểu, liền phát nguyện: “Khi tôi
thành Phật, nguyện mọi người trong nước tôi đều sống mãi, không có
giới hạn”.
22/ Mọi người đều đầy đủ tướng đại nhân:
Nếu bồ-tát thấy chúng sanh xấu xí, liền phát nguyện: “Khi tôi thành
Phật, nguyện mọi người trong nước tôi đều đầy đủ ba mươi hai tướng đại
nhân”.
23/ Mọi người đều đầy đủ căn lành:
Nếu bồ-tát thấy chúng sanh không có căn lành, liền phát nguyện: “Khi
tôi thành Phật, nguyện mọi người trong nước tôi đều đầy đủ căn lành,
giống như Đức Phật”.
24/ Mọi người không có tam cấu[3], tứ bệnh[4]:
Nếu bồ-tát thấy chúng sanh bị tam cấu, tứ bệnh, liền phát nguyện:
“Khi tôi thành Phật, nguyện mọi người trong nước tôi không có tam cấu,
tứ bệnh”.
25/ Trong nước không có nhị thừa:
Nếu bồ-tát thấy chúng sanh theo nhị thừa, liền phát nguyện: “Khi tôi
thành Phật, nguyện mọi người trong nước tôi không nghe đến danh từ nhị
thừa, chỉ nghe Phổ đẳng chí[5] và Tát-vân-nhiên[6]”.
26/ Trong nước không có tăng thượng mạn:
Nếu bồ-tát thấy chúng sanh tăng thượng mạn, liền phát nguyện: “Khi
tôi thành Phật, nguyện trong nước tôi không nghe đến danh từ tăng
thượng mạn”.
27/ Thọ mạng vô lượng, quang minh vô lượng, thanh văn vô lượng: Khi chưa thành Phật, bồ-tát phát nguyện: “Trước khi tôi chưa thành A-duy-tam
Phật thì trước phải biết thọ mạng, quang minh của tôi và số tì-kheo
tăng; sau đó, mới thành A-duy-tam Phật. Còn tất cả mọi người không ai
biết kiếp số, tuổi thọ và số tì-kheo tăng ở cõi nước tôi”.
28/ Cõi nước rộng lớn: Bồ-tát phát nguyện: “Khi tôi thành Phật, làm cho nước tôi rộng lớn như Hằng hà sa cõi Phật”.
29/ Không có tự tính:
Bồ-tát hành sáu pháp ba-la-mật, nên phát nguyện thế này: “Con đường
sanh tử dài, chúng sanh rất đông, hư không vô biên, tính của chúng
sanh cũng vô biên; trong đó, cũng không có người được sanh ra, cũng
không có người nhập Niết-bàn”. Bồ-tát suy nghĩ như thế là hành đầy đủ
sáu pháp ba-la-mật, mau gần Tát-vân-nhiên. (Đại Chính, 8, 91, hạ).
Phẩm Mộng hành trong kinh Đại phẩm bát-nhã quyển 17 đã nói đại khái giống như kinh này. Nhưng kinh trước đem nguyện thứ mười tám là người trong nước đắc năm thần thông, có ánh sáng chia thành hai nguyện, tổng cộng có ba mươi nguyện; đây là điểm hai kinh khác nhau.
Nay đối chiếu Phóng quang bát-nhã và Đạo hành bát-nhã
ở trước thì có thể thấy số nguyện tăng thêm là hai mươi bốn nguyện.
Vả lại, ý nghĩa trong nguyện cũng có chiều hướng bao hàm lý tưởng.
Nghĩa là trong kinh Đạo hành bát-nhã ghi, khi bồ-tát gặp nạn
cọp, sói thì lập nguyện trong nước tôi không có đường cầm thú, nhưng
trong kinh này nói rộng không có cả danh từ ba đường ác. Lại nữa, kinh
trước chỉ nói bồ-tát phát nguyện trong nước không có trộm cướp, giết
hại, nhưng kinh này nói đem lòng từ để đối xử nhau như cha mẹ, anh em.
Kinh trước nói thức ăn uống tự nhiên có đầy đủ; kinh này, không chỉ
nói ăn uống mà còn nói y phục của cải cũng đều tự nhiên có đầy đủ.
Kinh trước nói không có nguyện về dịch bệnh; kinh này nói trong tâm
không có ba cấu.
Qua
sự đối chiếu, chúng ta có thể thấy ý nghĩa phát nguyện trong kinh lại
càng mở rộng. Chẳng những như thế mà kinh này còn phát nguyện: “Trong
nước tôi không có phân biệt bốn giai cấp, phân biệt sang-hèn,
cao-thấp, phân biệt chủng tộc. Ngoài đấng pháp vương Như Lai ra không
có danh từ quốc vương; lại còn có đất đai trong nước đều bằng phẳng,
do vàng ròng tạo thành, không có núi đồi, hầm hố, gai nhọn, cỏ độc;
cõi nước trang nghiêm thanh tịnh, không có ô uế, nhân dân đều do hóa
sanh, không sanh bằng thai. Trong nước không có người tà định tụ,
không có người Nhị thừa, không có người tăng thượng mạn. Mọi người đều
đắc năm thần thông, thân phát ánh sáng, đầy đủ ba mươi hai tướng đại
nhân, thọ mạng cũng đều không có hạn lượng, đủ thấy những nguyện vọng
tăng thêm và hướng về lý tưởng hóa.
Mặc dù chúng ta không biết rõ người biên soạn Phóng quang bát-nhã ở thời đại nào, nhưng theo năm nguyện trong Đạo hành bát-nhã
triển khai thành hai mươi chín nguyện; điều này cần phải trải qua
thời gian dài, có lẽ thời gian này là thời đại đề xướng thuyết bản
nguyện của Phật A-súc và Phật Di-đà.
Tiết thứ năm
Tịnh hóa cõi Phật
Như
trên đã nói bồ-tát thệ nguyện kiến tạo cõi nước Phật thanh tịnh, là
khi bồ-tát mới phát tâm tự trong lòng phát khởi; sau đó bồ-tát chuyên
cần tinh tiến tu tập để đạt được mục đích. Nhưng thật ra không thể chỉ
có năng lực một mình bồ-tát mà thực hiện cõi Phật thanh tịnh mà đầu
tiên cần phải hợp sức cùng chúng sanh đã được giáo hóa mới có thể
thành tựu. Theo phẩm Tịnh Phật quốc trong kinh Đại phẩm bát-nhã
quyển 26 ghi: “Bồ-tát xa lìa tướng nghiệp thô như vậy, tự mình bố thí
cũng dạy người khác bố thí. Chúng sanh cần cơm ăn thì bồ-tát cho cơm
ăn, cần áo mặc thì cho áo mặc, cho đến họ cần những thứ tiền của để
sinh sống, bồ-tát đều cho họ hết, cũng giáo hóa người khác đem của cải
bố thí. Nhờ đó, bồ-tát với chúng sanh cùng chung phúc đức, hồi hướng
về cõi Phật thanh tịnh. Bồ-tát trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền
định, trí tuệ cũng lại như vậy”.
Bồ-tát
muốn kiến tạo cõi Phật thanh tịnh thì phải tịnh hóa nghiệp thô của
thân, khẩu, ý của mình và cũng phải tịnh hóa nghiệp thô thân, khẩu, ý
của người khác; chính là tự mình và người đều không làm mười điều ác
mà thực hành mười điều thiện, xa lìa tham, sân cho đến tâm ngu si;
thân thường hành sáu pháp ba-la-mật, chẳng chấp tính tướng của các
pháp, hiểu rõ các pháp không có tự tính, nguyện đem công đức này hồi
hướng về cõi Phật. Tức là nói: “Từ bồ-tát đến chúng sanh, cùng chung
nghiệp lực kiến tạo cõi Phật”.
Lại nữa, phẩm Phật quốc trong kinh Duy-ma-cật
quyển thượng ghi: “Trực tâm là Tịnh độ của bồ-tát, khi bồ-tát thành
Phật, chúng sanh không dua dối thì sanh về cõi nước của ngài. Thâm tâm
là Tịnh độ của bồ-tát, khi bồ-tát thành Phật chúng sanh đầy đủ công
đức thì được sanh về cõi nước của ngài. Bồ-đề tâm là Tịnh độ của
bồ-tát, khi bồ-tát thành Phật, chúng sanh tu theo Đại thừa thì sanh về
sanh về cõi nước của ngài. Những pháp bố thí, trì giới, nhẫn nhục,
tinh tiến, thiền định, trí tuệ, bốn tâm vô lượng, bốn nhiếp pháp,
phương tiện, ba mươi bảy đạo phẩm, cho đến mười điều thiện đều là Tịnh
độ của bồ-tát, khi bồ-tát thành Phật, chúng sanh nào thành tựu đầy đủ
những pháp như vậy thì được sanh về cõi của ngài. Vì thế, bồ-tát muốn
được cõi nước thanh tịnh thì tâm mình phải thanh tịnh, theo tâm thanh
tịnh thì cõi Phật cũng thanh tịnh”. Cho nên, bồ-tát kiến tạo cõi Phật
thanh tịnh thì trước hết tâm mình phải thanh tịnh.
Tịnh
độ là từ trực tâm, thâm tâm của bồ-tát, cho đến do mười điều thiện mà
thành tựu là nói rõ chúng sanh có trực tâm đến hành mười điều thiện
mới có thể sanh về cõi của Phật. Điều này giống như Đại phẩm bát-nhã đã nói, chứng minh là nhờ tịnh hóa nghiệp thô của thân, khẩu, ý của năng hóa[7] và sở hóa[8] mới có thể tịnh hóa cõi Phật.
Trong phẩm Phật bát-nê-hoàn, kinh A-súc Phật quốc
quyển hạ ghi: “Hỏi: Bồ-tát tu những đức hạnh nào mà được sanh về cõi
Phật A-súc? Đáp: Bồ-tát phải học theo Phật A-súc, khi xưa Ngài cầu đạo
bồ-tát tu sáu pháp độ vô cực”. Cũng đồng một ý nghĩa này.
Do
đó, các kinh Đại thừa đều ghi bồ-tát ở trong vô lượng kiếp cực khổ
tinh tiến hành sáu pháp ba-la-mật, sau đó mới được thành Phật trong
cõi nước Phật thanh tịnh trang nghiêm. Giáo hóa chúng sanh để họ được
như bồ-tát. Khi thân, khẩu, ý thanh tịnh biểu thị cho sự cần phải nên
tinh tiến dũng mãnh, trải qua thời gian rất lâu mới đạt được hiệu quả.
Nếu chỉ y theo các pháp duyên khởi cầu giác ngộ thì e rằng không thể
nào thành Phật mà nhất định phải trải qua thời gian rất lâu như thế,
lý do là ở chỗ này.
Tiết thứ sáu
Kiến tạo cõi Phật thanh tịnh và cộng nghiệp chiêu cảm
Tư
tưởng cõi Phật thanh tịnh có lẽ đưa đến thuyết cộng nghiệp chiêu cảm.
Căn cứ vào năng hóa của bồ-tát và thân, khẩu, ý của chúng sanh sở hóa
thanh tịnh mới có khả năng kiến tạo cõi Phật thanh tịnh. Luận Đại tì-bà-sa
quyển 134, cũng ghi thế này: “Nếu cộng nghiệp của chúng sanh ở chỗ
này tăng trưởng thì thành thế giới; như thế, cộng nghiệp hết thì thế
giới hoại”. Căn cứ vào lực cộng nghiệp của chúng sanh mà tạo ra thế
giới này, ý nghĩa phù hợp cõi Phật thanh tịnh. Mặc dù đối với thế giới
Ta-bà do cộng nghiệp của chúng sanh tăng trưởng mà tạo thành, nhưng
kiến tạo Tịnh độ thì nhất định phải có người chỉ đạo, đồng thời phải
có nguyện lực của vị Phật ở cõi đó làm trung tâm; đây là điểm khác
nhau.
Phẩm Thích tập tương ưng phần 3, thứ 3 trong luận Đại trí độ
ghi: “Bồ-tát có khả năng kiến tạo cõi Phật thanh tịnh, thành tựu
chúng sanh. Bồ-tát trụ trong sự tương ưng với Không, chẳng hề chướng
ngại, giáo hóa chúng sanh, làm cho họ thực hành mười điều thiện và các
pháp lành; vì chúng sanh thực hành pháp lành nên cõi Phật thanh tịnh;
vì họ không sát sanh nên được sống lâu; vì họ không có trộm cướp nên
cõi Phật luôn giàu có, an vui, ước muốn được toại nguyện. Chúng sanh
thực hành pháp lành như vậy là kiến tạo cõi cõi Phật trang nghiêm. Mặc
dù chúng sanh làm thiện, nhưng cũng phải có hạnh nguyện của bồ-tát,
nhờ sức phương tiện hồi hướng nên cõi Phật thanh tịnh; giống như trâu
kéo xe, phải có người đánh xe mới đi đến chỗ”.
Điều nguyện về thế giới Phật trong phẩm Thích sơ, luận Đại trí độ
quyển 7 ghi: “Người làm phúc mà không nguyện là không có mục tiêu,
nguyện như là người đánh xe thì mới có thể thành tựu v.v…Lại nữa, việc
lớn trang nghiêm cõi Phật, nếu chỉ làm công đức thì không thể thành
tựu mà cần phải có nguyện lực; giống như con bò, tuy có khả năng kéo
xe, nhưng phải có người đánh xe thì mới đi đến nơi”.
Như
người lãnh đạo tốt lãnh đạo ở một thôn, một thị trấn thì làm gương
mẫu cho mọi người. Ngoài ra, người dân ở trong thôn, thị trấn cần phải
nhất tâm tích cực đồng thời làm thiện, làm phúc đức; vẫn phải có sự
chỉ đạo nhiệt thành của thôn trưởng, thị trấn trưởng. Cõi Phật thanh
tịnh tuy nhờ cộng nghiệp của thân, khẩu, ý chúng sanh sở hóa mà hiển
hiện, nhưng người chỉ đạo là hạnh nguyện, hồi hướng, sức phương tiện
của bồ-tát thật sự không thể thiếu. Nếu không thì như bò kéo xe mà
không có người đánh xe thì không thể đi đến nơi, trang nghiêm cõi Phật
cũng như vậy. Vì vậy nói sự phát nguyện của bồ-tát trong các kinh Đại
thừa là đặc biệt quan trọng. Bồ-tát kiến lập đại thệ nguyện đều căn
cứ theo ý nghĩa này.
[1] A-duy-tam Phật 阿惟三佛 (Cg: A-tì-tam Phật): Vô thượng Chính giác.
[2] Nguyên văn Ngũ cái五蓋 (S: pañca
āvaraṇāni): năm thứ phiền não che lấp tâm tính, làm cho pháp
lành không phát sanh được. Đó là: tham dục cái, sân nhuế cái, hôn
miên cái, trạo cử ố tác cái và nghi cái.
[3] Tam cấu三垢: ba thứ câu uể, chỉ cho ba độc tham, sân, si, làm khổ chúng sanh.
[4] Tứ bệnh四病: bệnh do bốn đại chẳng điều hoà sanh ra.
[5] Phổ đẳng chí普等 至: (Cg: Phổ đẳng tam-muội): pháp tam-muội, nếu trụ trong đó thì sẽ thấy tất cả chư Phật.
[6] Tát-vân-nhiên薩芸然 (S: sarvajña; Cg: Tát-vân-nhã, Tát-bát-nhã; Hd: Nhất thiết trí): trí Phật, là trí biết rõ tất cả pháp tướng trong ngoài.
[7] Năng hóa 能化: chỉ cho bồ-tát .
[8] Sở hóa所化 : chỉ cho chúng sanh.