1
Ngay
từ khi tôi còn thơ ấu, Ba vẫn thường kể câu chuyện về
Kim Các Tự cho tôi nghe.
Tôi
ra đời trên một mũi biển hiu quạnh nhô ra ra biển Nhật
Bản ở phía đông bắc Maizuru. Tuy nhiên, nguyên quán của Ba
không ở đây mà ở Shiraku, miền ngoại ô phía đông thành
phố Maizuru. Ba được thúc đẩy gia nhập giáo hội và trở
nên tu sĩ trụ trì một ngôi chùa tên một mỏm đất xa xôi.
Ba lập gia đình ở nơi này và sinh ra một đứa con trai, ấy
chính là tôi vậy.
Trong
khắp miền lân cận ngôi chùa, trên mỏm đất Nariu, không
hề có một trường trung học nào thích hợp cho tôi. Kết
cục, tôi phải rời cha mẹ đến ngụ ở nhà chú tôi tại
sinh quán của Ba ngày trước; trong thời gian sống ở nơi này,
tôi theo trường trung học Đông Maizuru, cuốc bộ đi học cũng
như lúc về nhà.
Bầu
trời nơi quê cũ của Ba rất trong sáng. Nhưng mỗi năm vào
tháng mười một và mười hai ngay trong những ngày trên trời
dường như không có lấy một cụm mây, mỗi ngày chúng tôi
vẫn bị bốn năm trận mưa rào đột ngột đổ ụp xuống
đầu. Tôi nghĩ là chính vì miền đất này mà tôi đã có
cái tâm tính thực là hay thay đổi.
Vào
những chiều tháng Năm, sau khi đi học về, tôi thường ngồi
trong phòng học trên tầng gác thứ nhì trong căn nhà chú tôi
và mơ màng ngắm nhìn những vì ngọn đồi trước mặt. Ánh
chiều tà lấp lánh trên các cành lá non bao phủ sườn đồi
trông như giữa những cánh đồng người ta đã dựng lên một
bức bình phong bằng hoàng kim óng ánh. Mỗi khi trông thấy
cái này, tôi lại tưởng tượng đến hình ảnh Kim Các Tự.
Mặc
dù thỉnh thoảng tôi vẫn nhìn thấy Kim Các Tự thật sự
trong các tấm ảnh và các sách giáo khoa, song hình ảnh chế
ngự tâm hồn tôi vẫn là hình ảnh Kim Các Tự theo lời Ba
miêu tả. Ba chưa bao giờ kể cho tôi nghe là Kim Các Tự thật
sự óng ánh hoàng kim hoặc có một vẻ gì na ná như thế;
tuy vậy, theo Ba, trên khắp trái đất này chẳng có gì đẹp
đẽ cho bằng Kim Các Tự hết. Vả lại, chính mặt chữ và
chính âm ận của từ ngữ đã gán cho Kim Các Tự một vài
tính chất hoang đường nào đó in sâu trong tâm khảm tôi.
Khi
nhìn ánh mặt trời, tôi cảm thấy chắc chắn đó là một
ánh hoàng kim do ngôi chùa vô hình rọi đến. Hiệp lộ Yoshizaka,
ranh giới giữa huyện Fukui và phủ Kyoto thực sự nằm ở
hướng đối nghịch, tôi vẫn quen nhìn thấy Kim Các Tự hiện
hình vụt lên bầu trời buổi sớm giữa những ánh triêu dương
trong khi mặt trời lên sau những rặng đồi chập chùng ở
phía đông.
Như
thế là Kim Các Tự hiển hiện ở khắp mọi nơi. Chừng nào
mà tôi chưa được thực sự để mắt ngắm nhìn, Kim Các
Tự vẫn còn giống như bể cả. Vì mặc dù vịnh Maizuru chỉ
cách làng Shiraku nơi tôi cư ngụ có ba dặm rưỡi về phía
Tây, những ngọn đồi vẫn chặn lấp không cho người ta nhìn
thấy nước bể; tuy vậy trong không khí luôn luôn phảng phất
một thứ dự cảm về bể cả; một đôi khi gặp thời tiết
xấu, từng đàn chim hải âu bay xà xuống những cánh đồng
kế cận để tìm chỗ ẩn náu.
Tôi
vốn yếu đuối và tôi vẫn luôn luôn bị những thằng bạn
khác đánh bại trong những cuộc chạy đua hay là đánh thiết
bổng. Ngoài ra, ngay từ khi lọt lòng tôi đã mắc tật nói
lắp và cái tật này lại càng làm cho tôi có khuynh hướng
khép kín không ưa giao tế hơn. Và ai nấy đều biết tôi là
con một thầy tu ở chùa. Một vài thằng bé tai ác vẫn thường
chế nhạo tôi bằng cách bắt chước một tu sĩ nói lắp trong
khi ông ta đang khó nhọc mà lắp bắp từng câu kinh. Trong một
quyển sách của chúng tôi có một câu truyện trong đó xuất
hiện một nhà trinh thám nói lắp và mấy thằng kia thường
đặc biệt cao giọng đọc những đoạn đó cho tôi nghe.
Chẳng
cần phải nói là tật nói lắp của tôi đã dựng một chướng
ngại vật giữa tôi và ngoại giới. Tôi vẫn thường vấp
váp khi phát ra âm thanh đầu tiên. Cái âm thanh đầu tiên này
giống như một cái chìa khóa của cánh cửa ngăn cách thế
giới nội tâm của tôi và thế giới và thế giới ngoại
tại, và tôi chưa bao giờ được thấy cái chìa khóa này xoay
vặn trơn tru trong ổ khóa. Phần lớn người đời nhờ tài
nói năng trôi chẩy có thể giữ cho cánh cửa giữa thế giới
bên trong và thế giới bên ngoài luôn mở rộng để cho không
khí tự do qua lại giữa hai thế giới này, nhưng với tôi
thì điều đó hoàn toàn không thể có được. Trên chìa khóa
đã có một lớp rỉ sắt dầy đặc mất rồi.
Khi
một kẻ nói lắp vật lộn một cách tuyệt vọng để thốt
ra được âm thanh đầu tiên, hắn ta thực giống như một
con chim bé nhỏ đang cố gắng gỡ mình ra khỏi một vũng bùn
dầy đặc. Cuối cùng khi nó xoay xỏa để tự giải thoát
thì đã quá muộn mất rồi. Tất nhiên là có những lúc mà
thực tế của thế giới bên ngoài dường như đã chờ đợi
tôi, khoanh tay nơi nó đứng trong khi tôi đang cố gắng vật
lộn để tự giải thoát. Nhưng cái thực tại đang đợi chờ
tôi không phải là một thực tại tốt tươi. Khi mà cuối
cùng sau biết bao cố gắng mới tới được thế giới bên
ngoài tôi chỉ còn thấy một thực tại vừa mới tức thời
thay đổi màu sắc và vượt ra ngoài tiêu điểm - một thực
tại đã mất hết các màu sắc mới mẻ mà tôi coi là thích
hợp với chính mình, và đến lúc đó đã bốc ra một mùi
hôi hôi ung ủng.
Như
ai nấy có thể tưởng tượng dễ dàng, một thiếu niên như
tôi sẽ đi tới chỗ ôm ấp hai hình thức tương phản về
ước vọng quyền lực ý chí. Trong sử học, tôi thích thú
những đoạn kể lại truyện cá bạo quân. Tôi tự thấy mình
như là một bạo chúa lầm lì nói lắp: những kẻ thị tòng
của tôi sẽ dán mắt theo dõi từng sắc diện của tôi và
sẽ sống cả ngày lẫn đêm trong hãi hùng run rẩy kinh sợ
tôi. Không cần phải biện minh cho sự tàn ngược của tôi
bằng những lời nói rõ ràng trơn tru. Chỉ riêng sự lầm
lì ít nói của tôi cũng thừa đủ để biện minh tất cả
mọi cung cách tàn ngược. Một mặt tôi thường thích thú
tưởng tượng xem mình sẽ lần lượt trừng trị từng người
một, gieo rắc hình phạt lên đầu các giáo sư và các bạn
học vẫn hằng đày đọa tôi mỗi ngày làm sao, một mặt
tôi lại tưởng tượng ra mình là một đại nghệ sĩ được
trời phú cho một thị lực quang minh tột độ - một vị vương
giả chân thực của thế giới nội tại. Dáng vẻ bên ngoài
của tôi không ra gì, nhưng chính vì thế mà thế giới nội
tại của tôi lại phong phú hơn của bất kỳ một ai khác.
Với một thiếu niên phải chịu một cố tật không sao sửa
chữa được như tôi, kết cục đi đến chỗ nghĩ rằng mình
như là một con người được bí mật lựa chọn, há chẳng
phải là một điều tự nhiên hay sao? Tôi cảm thấy như là
ở một nơi nào đó trên cõi đời này có một sứ mệnh đang
chờ đợi chờ tôi mà cho đến nay tôi vẫn chưa hề hay biết
gì cả.
Tâm
trí tôi vẫn còn ghi nhớ mãi một biến cố suốt từ lúc
đó đến nay. Trường trung học Đông Maizuru có những bãi
đất rộng rãi chung quanh có những ngọn đồi thực là ngoạn
mục và những tòa nhà sáng sủa tân kỳ.
Vào
một ngày trong tháng năm, một cựu học sinh đã tốt nghiệp
ở trường chúng tôi ngày trước bây giờ là sinh viên trong
Hải Quân Cơ Khí Học Hiệu tại Maizuru được nghỉ lễ một
ngày và trở về thăm lại trường cũ.
Anh
ta có nước da xạm nắng thật là quyến rũ và cái mũi thực
là to lớn mạnh mẽ nhô ra từ dưới cái mũ lưỡi trai mà
anh ta kéo sụp xuống tận mắt; từ đầu tới chân anh ta thật
là một trang anh hùng hoàn toàn. Bấy giờ anh ta đứng lại
kể cho các đàn em nghe cuộc sống khắc khổ trong hiện tại
của anh ta với tất cả những quy luật nhà binh khe khắt.
Tuy nhiên, mặc dù dụng tâm miêu tả một cuộc đời đầy
những gian khổ, anh ta vẫn nói với một giọng như thể là
anh ta đang kể cho chúng tôi nghe những truyện về một cuộc
đời xa hoa cực độ. Mỗi cử chỉ của anh ta đều đầy
vẻ ngạo mạn kiêu căng, nhưng dù còn ít tuổi, anh ta cũng
thấy cần phải làm dáng khiêm nhượng. Khung ngực anh ta trong
bộ đồng phục có viền hoa ưỡn ra như là khung ngực của
một hình người nơi mũi tàu khi con tầu đang rẽ sóng lướt
gió trên mặt biển. Anh ta lúc đó đang ngồi trên một bậc
đá thoai thoải chạy xuống sân chơi nhà trường. Chung quanh
anh ta một nhóm học sinh xúm xít hăm hở lắng nghe từng lời
anh ta nói, và trong những thửa vườn trên dốc đồi, những
bông hoa tháng Năm đang nở rộ - nào hoa mã lan, hoa thượng
uyển đâu, nào hoa dã trượng nhân, hoa sồ bạch cúc; và trên
đầu họ rủ buông những nụ hoa mộc lan trắng đang nở tưng
bừng.
Cả
người nói lẫn những người nghe đều bất động như những
pho tượng kỷ niệm. Tôi không ngồi riêng một mình trên sân
đất cách xa họ một vài thước. Tôi vẫn có cái cung cách
như thế. Đó là cung cách của tôi đối với những bông hoa
tháng Năm và đối với với bộ đồng phục đầy kiêu hãnh
cùng những chuỗi cười trong trẻo vang vang của họ.
Lúc
này anh chàng hùng trẻ tuổi lại quan tâm đến tôi hơn là
đến những kẻ sùng bái anh ta. Chỉ có riêng tôi là không
có vẻ cúi mình trước cái oai phong của anh chàng và điều
đó làm cho anh chàng thấy lòng tự ái bị xúc phạm. Anh ta
hỏi những thằng khác xem tên tôi là gì.
“Hầy,
Mizoguchi!” Anh ta gọi to; đó là lần thứ nhất anh ta để
mắt nhìn tới tôi. Tôi trừng trừng nhìn lại anh ta, không
nói lấy một lời. Trong cái nụ cười mà lúc này anh ta hướng
về phía tôi, tôi có thể khám phá một cái gì giống như
sự hợm hĩnh phỉnh phờ của một người có quyền lực.
“Tại
sao chú mày không trả lời ta câu nào vậy? Câm đấy ư?”
“Tơ…
tô… tôi nói lắp,” một trong những thằng ngưỡng mộ anh
ta thay tôi mà trả lời và tất cả bọn đều phá ra cười
ha hả. Cái tiếng cười chế nhạo này làm tôi lóa mắt làm
sao! Đối với tôi, có một cái gì rực rỡ - rực rỡ như
ánh sáng phản chiếu từ các chòm lá cây - trong cái tiếng
cười vang vang ác độc của lũ bạn học vốn là cái đặc
điểm của những thiếu niên cùng lớp tuổi chúng nó.
“Sao,
chú mày nói lắp ư? Tại sao không vào Hải Quân Cơ Khí Học
Hiệu? Họ sẽ dùng roi quất cho chú mày hết hẳn nói lắp
chỉ trong một ngày thôi!”
Tôi
không biết mình xoay xỏa ra sao nhưng tức thời vọt miệng
trả lời được một câu rõ ràng. Những lời nói trôi chẩy
tuôn ra chẳng hề do ý chí của tôi lấy một mảy may.
“Tôi
sẽ chẳng vào trường ấy. Tôi sắp trở thành tu sĩ”.
Tất
cả mọi người đều im lặng. Anh chàng anh hùng trẻ tuổi
cúi đầu, nhặt một cọng cỏ và đưa lên miệng.
“Vậy
thì,” anh ta nói, “một năm nào đó, đến lúc nằm xuống
mồ, tôi sẽ cho anh một việc gì đó để mà làm.”
Cuộc
chiến Thái Bình Dương đã thực sự bùng nổ. Vào lúc này
chắc chắn là tôi đã trải qua kinh nghiệm của một sự tự
giác nào đó - ý thức rằng tôi sẽ giơ cả hai tay đứng
đợi chờ trong một thế giới đen tối. Rằng một ngày nào
đó những bông hoa tháng Năm, những bộ đồng phục, những
thằng bạn học xấu tính nết của tôi, tất cả sẽ tìm
đến những bàn tay giang ra của tôi. Chợt có ý thức là chính
tôi đương nắm chặt thế giới, đang ép nó xuống tận dưới
đáy… Nhưng một ý thức như vậy thì quá nặng nề để
có thể trở nên một nguồn kiêu hãnh cho một thiếu niên
như tôi.
Niềm
kiêu hãnh phải là một cái gì nhẹ nhàng hơn, tươi vui hơn,
sáng sủa hơn, rực rỡ hơn. Tôi muốn một cái gì đó có
thể thấy được. Tôi muốn niềm kiêu hãnh của mình phải
là một cái gì mà tất cả mọi người đều có thể trông
thấy được. Chẳng hạn như thanh đoản kiếm mà hắn đeo
lủng lẳng ngang lưng đúng là một vật như thế.
Cái
loại kiếm này mà tất cả học sinh trung học đều trầm
trồ ca ngợi ngắm nghía thực là một đồ trang sức đẹp
đẽ. Người ta bảo các sinh viên trong Hải Quân Học Viện
vẫn thường lén lút dùng các thanh kiếm của mình để vót
nhọn bút chì. Tôi nghĩ thực là thanh lịch biết bao khi dùng
một biểu tượng trang nghiêm như thế vào những việc tầm
thường đại loại như vậy.
Chàng
thanh niên lúc đó đã cởi bỏ bộ đồng phục Cơ Khí Học
Hiệu ra và đem treo lên cái hàng rào sắt sơn mà trắng. Cái
quần dài và áo sơ mi trắng treo ngay đó gần sát tất cả
những bông hoa - phải, đúng là chúng tỏa ra mùi mồ hôi lấm
tấm trên làn da của anh chàng thanh niên ấy. Một con ong lầm
lẫn hạ cánh đậu trên cái áo chen hoa trắng tinh chói rạng.
Cái mũ lưỡi trai có viền thêu vàng óng nằm trên một phần
bờ rào; thực là nghiêm chỉnh y như là trên đầu người
đội, kéo sụp xuống tận mắt. Chủ nhân của nó được
một thằng đàn em mời ra thử sức và đã đi đến đài đấu
vật ở phía sau để tỉ thí một keo.
Nhìn
vào những đồ vật mà anh ta đã để ra một chỗ, tôi có
ấn tượng là đang nhìn một thứ mộ phần danh dự. Những
bông hoa xum xuê của tháng Năm càng làm tăng cảm giác này.
Cái mũ phản ánh sắc đen huyền của vành lưỡi trai, và thanh
kiếm cùng cái thắt lưng da treo ngay bên cạnh, tất cả đều
đã tách rời khỏi thân mình anh ta ra một vẻ đặc biệt
trữ tình. Chính tự chúng cũng hoàn toàn như là ký ức của
tôi về chàng sinh viên ấy - thật vậy, đối với tôi chúng
trông giống như những di vật của một trang thanh niên anh
hùng sau khi đã lên đường ra trận.
Tôi
để ý canh chừng chắc chắn là không có ai quanh quẩn gần
đó. Tôi nghe tháy tiếng hoan hô từ phía bãi đấu vật vọng
lại. Tôi móc từ trong túi quần ra một con dao díp mà tôi
vẫn dùng để gọt bút chì; rồi tôi leo lên hàng rào và khắc
lên bao kiếm đẹp đẽ màu đen nhiều vết dao nham nhở…
Nghe
tôi kể truyện như thế thiên hạ có thể vội vàng phán đoán
là tôi phải có cơ chất cả một thanh niên thi sĩ. Nhưng cho
đến ngày hôm nay, chẳng những tôi chưa hề viết một bài
thơ nào mà còn chưa viết ngay cả một đoạn nhật ký trên
cuốn sổ tay nữa. Tôi không hề cảm thấy một thôi thúc
đặc biệt nào muốn vượt qua người khác bằng cách vun bồi
năng lực nào mới để nhờ đó có thể bù đắp lại những
điểm mà tôi thua kém hẳn thiên hạ. Nói cách khác, tôi quá
ngạo mạn để có thể rở thành một nghệ sĩ. Ước mơ muốn
trở thành một bạo quân hay một đại nghệ sĩ của tôi không
bao giờ vượt quá giai đoạn của một mộng mơ, và tôi chẳng
hề thấy có một mảy may ước muốn thực hiện một cái
gì bằng cách thực sự mó tay vào công việc.
Vì
rằng việc không được người khác hiểu mình đã trở nên
nguồn gốc kiêu hãnh duy nhất và thực sự của tôi, nên tôi
không bao giờ cảm thấy một xung động muốn biểu hiện các
sự vật và làm cho người khác hiểu được một điều gì
mà tôi biết rõ. Tôi nghĩ những điều mà kẻ khác có thể
nhìn thấy thì không phải những điều được số mệnh dành
riêng cho tôi. Sự cô độc của tôi ngày càng béo phì ra giống
hệt một con lợn.
Đột
nhiên tôi hồi tưởng tới một bi kịch xẩy ra trong làng tôi.
Mặc dù không ai tưởng tượng là tôi thực sự có một chút
liên hệ nào với biến cố này, đến bây giờ tôi vẫn còn
không làm sao gạt được cảm giác rõ rệt là mình có tham
gia vào biến cố đó.
Qua
biến cố này đột nhiên tôi thấy mình đối diện với tất
cả mọi sự. Với cuộc đời, với thú vui xác thịt, với
lường gạt phản trắc, với thù hận và tình yêu - phải,
với tất cả những sự có thể có trên đời. Và ký ức
của tôi vẫn ưa phủ nhận cái yếu tố sùng cao trong tấ
cả những sự vật này.
Có
một thiếu nữ xinh đẹp sống trong căn nhà cách nhà chú tôi
hai căn. Tên nàng là Uiko. Mắt nàng to và trong sáng. Có lẽ
gia đình nàng giầu có nên nàng có thái độ kiêu kỳ. Mặc
dù thiên hạ có thói quen đề cao cô nàng, người ta không
thể tưởng tượng cô nàng nghĩ gì khi chỉ có một mình.
Có lẽ Uiko hãy còn là một trinh nữ, nhưng những mụ đàn
bà ghen tị vẫn thường nhỏ to tán gẫu với nhau về nàng
và bảo rằng này có cái tướng vẻ của một thạch nữ chẳng
sinh đẻ gì được.
Ngay
sau khi tốt nghiệp trường Nữ Trung Học, Uiko trở nên một
nữ khán hộ tình nguyện tại Y Viện Hải Quân Maizuru. Y viện
gần nhà nên nàng có thể đi làm bằng xe đạp. Nàng phải
có mặt ở sở vào sáng sớm tinh sương, nên phải ra đi từ
lúc trời còn mờ sáng, khoảng chừng hai giờ trước khi tôi
đi học.
Một
tối, tôi nằm đắm mình trong những tư tưởng mịt mù, nghĩ
đến thân hình Uiko. Đêm đó tôi ngủ không yên và khi trời
còn tối, tôi lén ra khỏi giường xỏ chân vào đôi giầy
tập thể dục va mò ra ngoài bóng tối của một bình minh mùa
hạ.
Đêm
đó chẳng phải là đêm đầu tiên mà tôi tự họa ra cho mình
hình ảnh của thân hình Uiko. Có một cái gì thỉnh thoảng
len lỏi qua tâm trí tôi dần dần kết hợp vào hình ảnh đó.
Thân mình Uiko dường như là một sự kết tụ những ý nghĩ
của tôi, chìm đắm trong một bóng tối mịt mù, vừa trắng
trẻo mà vừa mềm mại, cuối cùng kết tụ lại thành hình
thịt da ngọt ngào hương thơm. Tôi thường hay nghĩ tới sự
nồng ấm mà những ngón tay tôi sẽ cảm thấy khi sờ vào
làn da thịt này. Tôi cũng nghĩ tới cảm giác mềm mại dẻo
dai dưới đầu ngón tay và làn hương thơm có lẽ giống như
hương thơm của phấn hoa vậy.
Tôi
chạy thẳng theo con đường còn tối mịt mù. Những cục đá
không làm cho tôi chệch choạng bước chân và màn tối mở
rộng trên con đường trước mặt.
Tôi
tới một nơi mà con đường mở rộng sau khi chờ đợi. Tôi
đã chạy hết hơi tới đây, nhưng bây giờ dã nghỉ ngơi
dưới bóng cây cử; chính tôi cũng không biết mình định
làm gì nữa. Tuy nhiên, tôi đã biết sống cách biệt thế
giới bên ngoài quá nhiều và do đó đã ôm ấp ảo tưởng
rằng một khi nhẩy vọt ra thế giới bên ngoài, việc gì cũng
trở nên dễ dàng, việc gì cũng có thể làm được.
Mấy
con muỗi xúm nhau lại đốt hai chân tôi. Tôi nghe thấy tiếng
gà gáy ở nơi này nơi nọ. Tôi nhìn lên con đường. Tôi thấy
ở phía xa một cái gì trăng trắng và mịt mờ. Tôi nghĩ đó
là màu sắc bình minh, nhưng thực ra đó là Uiko.
Nàng
đang đạp xe. Đèn xe bật sáng. Chiếc xe đạp lặng lẽ lướt
trên mặt đường. Tôi rời gốc cây cử lao đầu chạy ra
đứng ngay trước mũi xe. Chiếc xe nghiêng ngả mãi mới cấp
tốc dừng lại được.
Và
rồi tôi cảm thấy mình hóa đá. Ý chí của tôi, dục vọng
của tôi - tất cả đều biến thành đá hết. Thế giới bên
ngoài đã mất hết tương quan với thế giới bên trong của
tôi, và một lần nữa, lại bao vây lấy tôi và khoác lấy
tấm áo hiện hữu tích cực. Cái “Tôi” đã lén lút lẻn
khỏi nhà ông chú, đã xỏ chân vào đôi giầy tập thể dục
màu trắng và đã chạy theo con đường còn tối mịt mờ cho
đến lúc tới cây cử này - cái “Tôi” này chỉ thúc đẩy
con người bên trong của mình xả hết tốc lực mà chạy đến
đây. Trong những mái nhà trường nét mịt mờ của thôn làng
mới nhô khỏi bóng tối của bình minh, trong những lùm cây
tối đen, trong những mỏm núi đen xì của rặng Thanh Diệp
Sơn, phải, và ngay cả trong Uiko lúc này đang đứng trước
mặt tôi, hoàn toàn không có một ý vị nào hết. Có một
cái gì đó đã ban cho tất cả những cái này một thực tại
to lớn, vô nghĩa, đen ngòm đã được đem cho tôi, đè nén
lên tôi với một sức nặng từ xưa đến giờ tôi chưa từng
thấy.
Như
thông lệ, tôi nghĩ chỉ có lời nói là có thể cứu thoát
tôi khỏi tình trạng này. Đó là một ngộ nhận đặc biệt
của tôi. Khi cần phải hành động, tôi luôn luôn chuyên chú
đến ngôn từ, và vì ngôn từ chui ra khỏi miệng tôi một
cách khó khăn như thế nên tôi chỉ chuyên tâm nghĩ đến chúng
và quên hết mọi hành động. Tôi thấy đường như hành động
vốn là những việc chói lòa, rực rỡ, luôn luôn phải có
những ngôn từ cũng chói lòa, cũng rực rỡ như thế đi kèm.
Tôi
chẳng nhìn đến cái gì hết cả. Như tôi nhớ lại, ban đầu
Uiko hoảng sợ; nhưng khi thấy rõ là tôi, nàng chỉ chăm chú
nhìn vào miệng tôi mà thôi. Tôi phỏng đoán là nàng đang
nhìn vào cái lỗ hổng đen sì hư hỏng này, cái lỗ hổng
bé nhỏ méo mó này vấy đất bẩn như là cái tổ của một
con vật nhỏ bé ngoài ruộng đồng, và bây giờ đang vặn
vẹo một cách vô nghĩa trong ánh sáng ban mai - nàng chỉ nhìn
đến cái miệng của tôi mà thôi. Và nàng đã đắc ý thấy
rằng nàng không hề có một mảy may sức lực nào sắp sửa
phát ra từ cái miệng này để móc nối tôi với thế giới
bên ngoài, nàng cảm thấy yên lòng.
“Trời
đất ơi!” Nàng nói. “Thực là một điều kỳ cục quá
chừng. Mà anh chỉ là một thằng nói lắp”.
Trong
giọng nói Uiko có cái vẻ tươi mát của một làn gió nhẹ
sớm mai. Nàng bấm chuông xe đạp kêu vang và một lần nữa
lại đặt chân lên bàn đạp. Nàng vòng xe quanh tôi, làm như
là muốn tránh một tảng đá trên đường đi vậy. Mặc dù
chẳng có một ma nào quanh đó, Uiko vẫn nhấn đi nhấn lại
cái chuông xe một cách chế giễu và trong khi nàng đạp xe
ra xa, tôi còn nghe thấy tiếng chuông xe vọng lại từ những
cánh đồng phía xa.
Tối
hôm đó, và Uiko về mách nhà, mẹ nàng đã sang nhà chú tôi.
Chú tôi lúc thường vốn ôn hòa là thế, vậy mà hôm đó
cũng mắng tôi như tất nước vuốt mặt không kịp. Tôi nguyền
rủa Uiko và rồi cầu mong sao nàng lăn ra mà chết; và một
vài tháng sau lời nguyền rủa của tôi biến thành sự thật.
Từ đó đến giờ tôi vững tin vào sức mạnh của những
lời nguyền rủa.
Khi
ngủ cũng như khi thức lúc nào tôi cũng cầu mong Uiko chết
đi. Tôi ước ao con người đã chứng kiến sự sỉ nhục của
tôi phải tiêu tan đi mất. Chỉ khi không còn một nhân chứng
nào nữa niềm sĩ nhục của tôi mới có thể tuyệt diệt
trên mặt đất này. Những người khác đều là chứng nhân.
Nếu không còn một người nào nữa tồn tại thì trên đời
này không có sự xấu hổ nào nữa. Điều mà tôi đã nhìn
thấy trên nét mặt Uiko, sau cặp mắt nàng long lanh như mặt
nước trong ánh sáng mịt mờ của buổi bình minh, thuộc về
thế giới của những kẻ khác - nghĩa là thế giới của những
kẻ khác, những kẻ không bao giờ để chúng ta yên thân, những
kẻ đứng sẵn sàng làm kẻ tiếp tay, kẻ làm chứng cho những
tội ác của chúng ta. Cần phải tiêu diệt hết tất cả những
người khác. Nếu muốn tôi có thể thực sự đối diện với
mặt trời, thì chính cái thế giới này phải được hủy
diệt…
Hai
tháng sau khi về nhà mách lỗi của tôi, Uiko từ bỏ việc
làm ở Bệnh Viện Hải Quân và nằm lì ở nhà. Trong xóm người
ta thì thào bàn tán đủ mọi thứ truyện. Rồi tới cuối
thu xẩy ra biến cố.
Chúng
tôi chẳng bao giờ có thể nghĩ là một tên đào ngũ khỏi
Hải Quân đã đến ẩn náu ở trong thôn làng. Một hôm vào
khoảng giữa trưa, một nhân viên hiến binh tới trụ sở hội
đồng xã. Tuy nhiên việc một nhân viên hiến binh tới làng
không phải là một điều hiếm thấy, vì thế cũng chẳng
làm chúng tôi quan tâm gì nhiều.
Đó
là một ngày trong sáng gần cuối tháng mười. Tôi đã đi
học như thường lệ, đã làm xong các bài buổi tối ở nhà
và sửa soạn leo lên giường đi ngủ. Khi sắp sửa tắt đèn,
tôi đưa mắt nhìn qua cửa sổ và nghe thấy tiếng người
chạy rầm rập dọc theo đường xá trong thôn; họ thở hổn
ha hổn hển như một bầy chó. Tôi đi xuống cầu thang. Chú
thím tôi đã thức dậy và chúng tôi cùng bước ra ngoài. Một
trong những thằng bạn học cùng trường với tôi đang đứng
trước cổng lớn vào nhà. Nó trợn tròn đôi mắt vì kinh
ngạc.
“Hiến
binh vừa mới bắt Uiko.” Nó réo lên cho chúng tôi nghe. “Họ
đã dẫn cô nàng đến đằng kia kìa. Chúng ta hãy tới đó
xem đi!”
Tôi
vội vã xỏ chân vào đôi dép và bắt đầu chạy. Đó là
một đêm trăng sáng nên thơ, và đó đây những cánh đồng
vừa gặt, những cọng giạ in bóng lồ lộ trên mặt đất.
Sau
một khóm cây, tôi có thể thấy những bóng người đen xì
đang chuyển động. Uiko mặc một cái áo đen đang ngồi bệt
ngay trên đất. Khuôn mặt nàng trắng bệch. Đứng xung quanh
nàng là bốn năm người hiến binh cùng song thân của nàng.
Một người hiến binh đang cầm một cái gì trông giống như
một hộp đồ ăn và đang giận dữ quát tháo. Thân phụ nàng
quay đầu hết bên này tới bên nọ, lúc thì xin lỗi người
hiến binh, lúc thì trách móc con gái mình. Thân mẫu nàng ngồi
sụp trên mặt đất và đang khóc thút thít.
Chúng
tôi đứng chăm chú theo dõi quang cảnh đó từ cuối một thửa
ruộng lúa. Số người đứng xem mỗi lúc một gia tăng, và
trong đêm họ lặng lẽ đứng sát vào nhau vai người này chạm
vai người khác. Trên đầu chúng tôi mặt trăng treo lơ lửng
nhỏ bé như là đang teo lại.
Thằng
bạn học thì thầm vào tai tôi mà giải thích. Dường như
là Uiko đã lấy trộm hộp đồ ăn đem ra khỏi nhà và đang
đi sang làng bên thì bị nhân viên cảnh bị, đã nằm phục
kích từ trước, tóm được. Hiển nhiên là nàng định đem
hộp đồ ăn cho người đào ngũ. Uiko đã giao du thân mật
với người đào ngũ này trong khi nàng làm việc ở Bệnh Viện
Hải Quân. Kết cục nàng có thai và bị sa thải. Người hiến
binh lúc này đang cật vấn nàng về chỗ ẩn náu của kẻ
đào ngũ, nhưng Uiko chi ngồi trơ ra đó không hề nhúc nhích
mảy may và nhất định giữ im lặng một cách ngoan cố.
Về
phần tôi, tôi chỉ có thể chăm chăm nhìn vào khuôn mặt Uiko,
không chớp mắt. Trông nàng giống như một người đàn bà
điên vừa bị bắt. Khuôn mặt nàng hoàn toàn bất động dưới
ánh trăng.
Cho
đến lúc đó, chưa bao giờ tôi thấy một khuôn mặt lại
tràn đầy dáng vẻ cự tuyệt đến như thế. Tôi nghĩ khuôn
mặt tôi là một khuôn mặt đã bị thế giới cự tuyệt,
nhưng khuôn mặt Uiko thì đang cự tuyệt thế giới. Ánh trăng
chan hòa trên trán nàng, trên mắt nàng, trên má nàng, trên
sóng mũi nàng; nhưng trên khuôn mặt bất động của nàng chỉ
có ánh trăng tràn ngập. Nếu như nàng chỉ đưa mắt hay chỉ
nhếch miệng lấy một chút xíu mà thôi, cái thế giới mà
nàng đang nỗ lực cự tuyệt đó sẽ coi là một dấu hiệu
để ào ào tràn ngập vào trong con người nàng.
Tôi
nín thở giương mắt nhìn. Nhìn vào cái khuôn mặt mà lịch
sử đã bị đứt đoạn vào đúng điểm này và sẽ không
chịu nói lấy một điều nào hoặc tới quá khứ hoặc tới
tương lai. Một đôi khi chúng ta nhìn thấy một khuôn mặt
như thế trên một khúc cây vừa mới bị đốn xuống. Mặt
dù khúc cây bị chặt ngang ngoài mặt hãy còn màu sắc tươi
mát, nhưng ở điểm này tất cả mọi sự tăng trưởng đã
ngưng hẳn lại; nó bị bất chợt phơi bày ra một thế giới
vốn không phải là một thế giới của nó - và ở trên mặt
khúc cây bị chặt ngang này. Chúng ta thấy một khuôn mặt
lạ lùng do những mắt gỗ đẹp đẽ vẽ nên. Một khuôn mặt
chường ra thế giới này chỉ để mà cự tuyệt…
Tôi
không sao ngăn được cái ý nghĩ là chẳng còn bao giờ, hoặc
trong đời Uiko hoặc trong đời chính tôi, người đứng xem,
lại có một lúc nào nữa được thấy khuôn mặt nàng xinh
đẹp cho bằng lúc này. Nhưng cái đó không kéo dài như là
tôi mong đợi. Vì đột nhiên khuôn mặt đẹp đẽ của nàng
bị biến dạng.
Uiko
vụt đứng dậy. Tôi có cảm tưởng là trong lúc đó tôi thấy
nàng mỉm miệng cười. Tôi có cảm tưởng là tôi thấy hàm
răng trắng bong của nàng lóng lánh dưới ánh trăng. Tôi không
thể nói gì hơn về sự biến dạng này, vì khi Uiko đứng
lên khuôn mặt nàng chìm dưới bóng cây chứ không ở ngoài
ánh trăng sáng nữa.
Thực
ra đáng tiếc cho tôi không nhìn thấy được sự thay đổi
trên khuôn mặt Uiko vào lúc mà nàng quyết định phản bội.
Giả như tôi đã thực sự nhìn thấy tất cả mọi chi tiết
sự đổi thay trên khuôn mặt nàng thì rất có thể trong con
người tôi đã nẩy nở một tinh thần khoan dung tha thứ cho
tất cả mọi thứ xấu xa trên đời.
Uiko
chỉ tay về phía hốc núi Kahara ở làng bên.
“A!
vậy ra nó ở trong Kim Cương Viện!” Người hiến binh kêu
to.
Lúc
đó tôi thấy trong lòng mình nẩy sinh một niềm thích thú
rộn rã thực là trẻ con. Toán hiến binh quyết định chia
ra làm nhiều tốp riêng rẽ và bao vây kín cả Kim Cương Viện.
Người ta kêu gọi dân làng đến trợ lực. Vì một hứng
thú đầy ác ý, tôi gia nhập toán thứ nhất cùng với năm
sáu thiếu niên khác. Uiko đi trước toán chúng tôi làm người
hướng đạo. Tôi phải ngạc nhiên khi thấy những bước chân
vững vàng tin tưởng của nàng trong khi nàng cất bước đằng
trước chúng tôi trên con đường sáng trăng, có hiến binh
kèm theo hai bên.
Kim
Cương Viện vốn vẫn lừng danh. Viện được xây trong một
hốc núi cách xa thôn làng Yasuoka chừng mười lăm phút đi
bộ và được người ta biết đến vì cây cử do Thân vương
Takaoka trồng và ngọn tháp ba tầng trang nhã mà người ta vẫn
cho là công trình tạo tác của Hidari Jingoro. Vào mùa hè chúng
tôi thường đến đó tắm ở thác nước đàng sau dẫy đồi.
Bức
tường ngôi chánh điện dựng ngay sát bên cạnh dòng sông.
Cỏ hoang mọc đầy trên những tảng đất long lở, bông cỏ
trắng phau lấp lánh trong đêm. Gần cổng vào chính điện
cây sơn trà đang tưng bừng nở hoa. Toán chúng tôi lặng lẽ
cất bước dọc theo bờ sông.
Ngự
đường của Kim Cương Viện nằm ngay trên đầu chúng tôi.
Khi bước qua cái hoàn mộc kiều, người ta thấy ngôi tháp
ba tầng nằm bên tay phải: rừng cây với la thu đỏ rực trải
dài bên tay trái, và ở sâu tít trong các lùm cây là một trăm
lẽ năm bậc thềm đá rong rêu phủ đầy nằm cao ngất ngưỡng.
Các bậc thềm đều bằng đá vôi và thực là trơn trượt.
Trước
khi đi ngang qua cái hoàn mộc kiều, những người hiến binh
quay nhìn lại phía sau đưa tay ra hiệu cho toán chúng tôi dừng
bước. Người ta bảo rằng ngày xưa vẫn có một cái cổng
Nhân Vương Môn do hai nhà điêu khắc lừng danh Unkei và Tankei
dựng lên ở nơi này. Phía ngoài là những ngọn đồi trên
thung lũng Kujuku thuộc về vùng đất Kim Cương Viện.
Chúng
tôi nín thở.
Những
người hiến binh thúc giục Uiko tiếp tục tiến bước. Nàng
một mình băng qua cây hoàn mộc kiều, và một lúc sau chúng
tôi đi theo nàng. Phần dưới các bậc thềm đá vẫn đắm
chìm trong bóng tối những phần trên lại chan hòa ánh trăng.
Chúng tôi ẩn mình đó đây phía dưới các bậc thềm. Lá
cây bắt đầu nhuốm màu hung hung đỏ vào mùa thu, nhưng dưới
ánh trăng trông lại như ngã sang màu đen.
Căn
chính điện của Kim Cương Viện ở phía trên các bậc thềm
đá. Một độ điện chạy xiên từ đó tới một không ngự
đường có lẽ như để trình diễn các điệu vũ thần nhạc.
Căn không ngự đường này đã được xây dựng theo kiểu
mẫu vũ đài Thanh Thủy, vươn ra ngoài không trung và có những
cây cột gỗ bắc dọc bắc ngang nâng đỡ cho tựa vào vách
núi. Cả căn ngự đường, độ điện lẫn tổ hợp kèo cột
bằng gỗ đều phơi mình cho mưa gió dập vùi, đều bóng lộn
trong sạch trắng tinh như một bộ xương. Khi mà lá cây nhuốm
sắc thu đỏ rực, màu đỏ của lá cây pha trộn thực là
đẹp mắt vơi màu trắng của tòa kiến trúc trắng toát như
bộ xương này; nhưng về đêm cái khung gỗ nhuốm trắng loang
lỗ ánh trăng trông lại có vẻ huyền bí và ma quái.
Đường
như kẻ đào ngũ đang ẩn núp trong căn ngự đường bên trên
vũ đài. Những người hiến binh muốn dùng Uiko làm mồi nhử
để bắt hắn.
Là
những nhân chứng của sự bắt bớ sắp xảy ra trước mặt,
chúng tôi núp mình và nín thở. Mặc dù khí đêm lạnh đến
cuối tháng mười đang bao phủ thân mình, tôi vẫn thấy hai
má nóng bừng.
Uiko
một mình leo lên một trăm lẻ năm bậc thềm đá vôi. Kiêu
hãnh như một mụ đàn bà điên khùng. Nét mặt nàng nhìn nghiêng
trắng trẻo đẹp đẽ nổi bật lên giữa tấm áo đen và
mái tóc huyền.
Giữa
những vì sao, giữa những áng mây êm, giữa những núi đồi
viền lấy bầu trời với nhiều hình bóng tráng lệ của các
chòm cây tùng bách nhọt hoắt, giữa những đốm trăng lọt
qua lá cành, giữa những tòa kiến trúc sừng sững long lanh
trắng toát - giữa tất cả những cái đó, vẻ đẹp tươi
sáng trong sự phản trắc do Uiko làm tôi say mê. Người con
gái này một mình bước lên những bậc thềm đá trắng tinh,
kiêu hãnh ưỡn ngực ra đằng trước. Sự phản trắc của
nàng cũng giống như sự phản trắc của các vì sao và những
chòm tùng bách nhọn hoắt. Nói cách khác, nàng đương ở trong
cùng một thế giới với chúng tôi, những nhân chứng, và
nàng đương chấp nhận cái thiên nhiên đang vây quanh tất
cả chúng tôi. Nàng đương bước lên những bậc thêm ấy,
như là đại biểu của chúng tôi. Và tôi không sao ngăn được
mình nghẹn thở mà nghĩ rằng: “Do sự phản trắc của nàng,
cuối cùng nàng cũng chấp nhận tôi. Bây giờ nàng là của
tôi!”
Tới
một điểm nào đó, cái mà chúng ta gọi là biến cố sẽ
biến mất khỏi ký ức. Cái con người Uiko đang leo lên một
trăm lẻ năm bậc thềm rong rêu phủ đầy ấy đến bây giờ
hãy còn hiển hiện trước mắt tôi. Đối với tôi dường
như nàng cứ vĩnh viễn cất bước leo lên không bao giờ ngừng.
Nhưng
từ điểm này trở đi, nàng trở nên một con người hoàn
toàn khác biệt. có lẽ là cái con người Uiko đang leo lên
những bậc thềm ấy một lần nữa lại phản bội tôi, phản
bội chúng tôi. Từ điểm này trở đi nàng không còn cự tuyệt
thế giới trong cái toàn thể của nó nữa. Mà nàng cũng không
hoàn toàn chấp nhận nó. Nàng tự cúi mình theo mệnh lệnh
riêng lòng đam mê ái dục; nàng tự hạ mình xuống hàng ngũ
một người đàn bà đã trao thân cho riêng một người đàn
ông mà thôi.
Vì
lẽ đó mà tôi chỉ còn nhớ được những gì xẩy ra tiếp
theo như là quang cảnh trong một bức thạch ấn xưa cũ nào
đó. Uiko bước dọc theo độ điện và cất tiếng gọi vào
căn ngự đường tối om. Bóng một người đàn ông hiện ra.
Uiko nói điều gì đó với người này. Người đàn ông chĩa
khẩu súng lục về phía các thềm đá và nổ súng. Từ một
bụi cây gần đó những người hiến binh chĩa súng tay mà
bắn trả lại. Người đàn ông đang sửa soạn nổ súng một
lần nữa thì Uiko quay mình về phía độ điện và bắt đầu
co giò chạy. Người ấy bắn hết phát nọ đến phát kia vào
lưng nàng. Uiko ngã lăn ra. Người ấy chĩa họng súng lục
vào thái dương mình và nổ súng lần nữa.
Trước
tiên các hiến binh, rồi sau tất cả những người khác, chen
nhau chạy lên các bậc thềm và đổ xô về phía hai xác chết.
Tôi vẫn im lặng ẩn mình dưới bóng các lá thu đỏ ối.
Những khung cột gỗ bắc dọc bắc ngang của ngôi chùa chồng
chất
lên nhau ở phía trên đầu tôi. Tiếng giầy của mọi người,
trong khi họ cất bước dọc theo những tấm ván độ điện
trên đầu tôi, nhẹ nhàng từ trên vang xuống. Ánh vài ba ngọn
đèn bấm chạy dọc ngang chiếu rọi từ lan can độ điện
tới những cành cây lá hung hung đỏ.
Tôi
chỉ nghĩ là tất cả những việc này đã xẩy ra trong một
quá khứ xa xôi. Những người kém nhạy cảm chỉ bị nhiễu
loạn khi nào trong thấy máu đổ thực sự. Tuy nhiên, lúc máu
đã đổ ra rồi thì tấn bi kịch cũng đã chấm dứt. Tôi
ngủ thiếp đi. Khi thức dậy, tôi thấy ai nấy đều đã bỏ
đi nơi khác cả rồi. Hiển nhiên họ đã quên tịt mất tôi.
Không gian đầy tiếng chim ríu rít và ánh mặt trời buổi
sáng chiếu rọi qua cành lá đỏ hung trên những cây xung quanh.
Tòa kiến trúc như bộ xương trắng trên đầu tôi dường
như sống lại khi được mặt trời rọi sáng từ phía dưới.
Lặng lẽ và kiêu hãnh, căn không ngự đường hắt bóng vào
thung lũng lá cành nhuốm đỏ.
Tôi
đứng dậy, run rẩy, tự chà sát thân mình để kích thích
sự tuần hoàn. Trong thân xác tôi chỉ còn sự giá lạnh. Tất
cả chỉ còn là sự giá lạnh mà thôi.
Trong
những ngày nghỉ mùa xuân năm kế Ba tới chơi nhà chú tôi.
Trên bộ đồng phục dân sự thời chiến, cha tôi choàng chiếc
áo cà sa. Ông nói là ông sẽ đưa tôi đi Kyoto trong vài ba
ngày. Bệnh phổi của Ba đã trầm trọng hơn nhiều và tôi
buồn lòng khi thấy Ba suy sút đến thế. Chẳng phải chỉ
riêng tôi mà chú thím tôi, tất cả đều cố gắng can Ba đừng
đi Kyoto nữa, nhưng ông không chịu nghe theo. Sau này khi nghĩ
tới việc đó tôi mới biết là Ba muốn tự mình dẫn tôi
tới ra mắt viện chủ Kim Các Tự trong khi Ba còn sống trên
thế gian này.
Tới
thăm Kim Các Tự đối với tôi dĩ nhiên đã là một mơ ước
từ bao nhiêu lâu, nhưng nghĩ tới việc thực hiện một cuộc
hành trình với Ba dù Ba đã cố gắng hết sức vẫn khiến
bất cứ ai nhìn ông phải thấy ngay là Ba đang ốm rất nặng
- tôi không thấy gì làm thích thú. Khi mà thời gian đối mặt
với Kim Các Tự tới gần, cái Kim Các Tự mà tôi chưa bao
giờ nhìn thấy tận mắt, lòng tôi mỗi lúc lại thêm trù
trừ. Dù thế nào đi nữa, điều cốt yếu là Kim Các Tự
phải thật đẹp đẽ. Do đó, tôi đem đánh cá tất cả không
phải lên cái đẹp khách quan của chính ngôi chùa cho bằng
cái khả năng tưởng tượng ra vẻ đẹp của nó nơi riêng
tôi.
Tôi
hoàn toàn thông hiểu về những điều liên hệ tới Kim Các
Tự, ít nhất là trong phạm vi hiểu biết của một thiếu
niên vào tuổi tôi. Qua một cuốn sách nghệ thuật, tôi đã
học lời giải thích sơ lược sau đây về lịch sử Kim Các
Tự.
“Ashikaga
Yoshimitsu (1358-1408) được gia đình Saionji nhượng lại Bắc
sơn điện và biến nó thành một biệt thự rộng lớn. Những
tòa kiến trúc chủ yếu là Xá Lợi điện, Hộ Ma đường,
Sám Pháp đường và Pháp Thủy viện xây dựng theo kiến trúc
Phật giáo cùng Thần điện. Công Khanh gian Hội Sở, Thiên
Kính các, Truyền điện và Khán Tuyết đính theo lối kiến
trúc có quan hệ với các trú xá. Xá lợi điện là kiến trúc
được xây dựng cẩn thận nhất và về sau được gọi là
Kim Các Tự. Thực khó mà xác định nó đã mang cái tên này
lần đầu tiên vào lúc nào, nhưng có vẻ sau cuộc biến loạn
Ojin (1467-77). Trong thời đại Bummei (1469-87) tên này được
phổ biến và trở nên thông dụng.
“Kim
Các Tự là một kiến trúc ba tầng hình tháp nhìn xuống một
uyển trì (Kính Triều trì). Có lẽ đã được hoàn tất vào
khoảng năm thứ năm đời Oei (1389). Hai từng dưới được
xây theo kiểu tẩm điện với lối kiến trúc cổ truyền và
có những cánh cửa chớp có thể xếp lại, nhưng tầng thứ
ba là một căn phòng sáu thước vuông xây theo kiểu Thiền
đường thuần túy của nhà Phật ở giữa có sạn đường
hộ, hai bên phải và trái có hoa đầu song. Mái lợp bằng
vỏ cây trắc bách diệp dựng theo kiểu bảo bình, bên trái
có một con chim phượng hoàng bằng đồng thau đứng cao chót
vót. Điếu điện với cái mái nhấp nhô vươn ra ngoài đối
diện cái ao làm cho các kiến trúc chung quanh bớt phần đơn
điệu. Mái Kim Các Tự làm bằng gỗ mịn thoai thoải dốc
xuống. Đường nét kiến trúc vừa nhẹ nhàng vừa đẹp đẽ.
Đó là một kiệt tác phẩm của lối kiến trúc đình viên,
điều hòa hai lối trú xá và Phật đường. Như thế ngôi
thần điện này đã biểu lộ thị hiếu của Ashikaga Yoshimitsu,
con người từng hết lòng thâu nhập văn hóa Hoàng triều và
diễn tả trung thực khí vị của đương thời.
“Sau
khi Yoshimitsu qua đời, theo di mệnh của ông, Bắc Sơn điện
được biến thành một Thiền sát và được gọi là Lộc
Uyển tự. Sau đó, những kiến trúc này được chuyển đi
nơi khác hoặc bị bỏ mặc cho hoang phế. May mắn là còn lại
Kim Các Tự…”
Như
một vầng trăng lơ lửng trong bầu trời ban đêm, Kim Các Tự
đã được xây dựng để tượng trưng cho những thời đại
đen tối. Như thế cái Kim Các Tự trong mộng tưởng của tôi
tất phải có bóng tối làm bối cảnh. Trong cái bóng tối
âm u này, những cây cột đẹp đẽ, mảnh mai của tòa nhà
đứng lặng lẽ và vững vàng tỏa từ bên trong ra một ánh
sáng lắt leo. Dù cho thiên hạ có nói gì về Kim Các Tự chăng
nữa, nó vẫn phải tiếp tục đứng đó lặng lẽ phơi bầy
công trình kiến tạo mĩ lệ, tiêm tế của mình trước mặt
thế giới và chịu cho bóng tối vây kín khắp chung quanh.
Tôi
cũng thường nghĩ đến con phượng hoàng bằng đồng thau nhự
trị trên mái Kim Các Tự và đã đứng đó mãi mãi phơi mình
trong mưa nắng gió sương với năm tháng. Con chim vàng óng thần
bí này chẳng bao giờ cất tiếng gaysáng, chẳng bao giờ vỗ
cánh - thực vậy, hiển nhiên tự nó đã quên phứt mình là
một con chim. Tuy nhiên, nếu bảo rằng trông nó không có vẻ
như đang bay thì thật là không đúng sự thực. Những còn
chim khác bay trong không gian, nhưng con phượng hoàng vàng óng
này vĩnh viễn bay qua thời gian trên đôi cánh chói rạng. Thời
gian đập vào đôi cánh ấy và bềnh bồng trôi lại đằng
sau. Để tung cánh bay, con phượng hoàng đứng yên bất động,
với ánh nhìn giận dữ trong cặp mắt, giương đôi cánh giữa
trời, ve vẩy lông đuôi và kiêu hùng giăng đôi chân oai nghi
vàng óng.
Trong
những khi nghĩ ngợi mông lung như thế tôi thấy Kim Các Tự
giống như một con tầu đẹp đẽ nào đó đang vượt qua mặt
biển thời gian. Cuốn sách mĩ thuật nói đến “những tòa
nhà lộng gió thiếu tường”, và cả điều này nữa cũng
đem hình dạng một con tầu vào trong trí tưởng tượng của
tôi. Cái ao nơi tòa nhà ba tầng hình chiếc tầu này soi bóng
có thể được coi là tượng trưng cho bể cả. Kim Các Tự
đã băng mình qua một đêm vô tận. Một chuyến vượt biển
mà người ta đoán trước được kết quả. Ban ngày, con tầu
kỳ dị này hạ neo với một dáng vẻ thơ ngây và chịu phơi
mình cho người ta ngắm nhìn; nhưng khi đêm đến, bóng tối
bao quanh làm cho nó có một thế mới và nó bồng bềnh trôi
xa với cái mái như một cánh buồm lớn căng phồng.
Thực
không phải nói quá lời khi bảo rằng vấn đề tối sơ mà
tôi thực sự phải đối phó trên đời là giữa hai con người
này. Chẳng bao lâu nữa, khi đến tuổi, tôi sẽ bị gọi vào
lính. Tuy nhiên, tôi vẫn không tin chắc là ngay khi đã ở trong
binh đội, tôi lại có thể sống trung thành với nhiệm vụ
của mình như chàng hạ sĩ quan ngồi trước mặt tôi đây.
Dù sao đi chăng nữa, trong hiện tại hiển nhiên tôi đang chễm
chệ ngồi giữa hai thế giới. Mặc dù hãy còn ít tuổi như
thế này, tôi vẫn ý thức, dưới vầng trán xấu xí bướng
bỉnh của mình, rằng chiến tranh đang làm môi giới đem lại
gần nhau thế giới của sự chết mà cha tôi coi sóc thế giới
của sự sống mà những thanh niên chiếm giữ. Chính tôi cũng
có thể trở nên một người móc nối giữa hai thế giới
này. Nếu tôi bị giết trong cuộc chiến, thực rõ rệt là
trước con đường rẽ ngang đang nằm trước mặt, dù tôi
có chọn con đường nào đi nữa thì kết cục cũng vẫn là
một chẳng có mảy may khác biệt nào hết.
Tôi
cố gắng chăm sóc Ba mỗi khi ông ho. Thỉnh thoảng tôi nhìn
thấy dòng sông bên ngoài khung cửa sổ toa tầu. Dòng sông
xanh đậm hầu như sẫm mầu giống hệt mầu sulfat đồng dùng
trong những thí nghiệm hóa học. Mỗi lần con tầu chui khỏi
một đường hầm, thung lủng Hozu lại hiện ra trước mặt
có lúc ở khá xa đường tầu có lúc lại bất chợt ở sát
ngay bên. Dòng nước xanh đậm uốn khúc như một cái dòng
dọc bốn bên có những tảng đá nhẵn nhụi bao quanh.
Ba
có đem một vài nắm cơm gạo trắng trong hộp đựng bữa
ăn và ông thấy xấu hổ khi mở hộp ra trước mắt mọi người
trong toa tầu.
“Không
phải là gạo chợ đen đâu,” ông nói cho tất cả mọi người
đều nghe biết. “Đó là đồ cúng dường của các đạo
hữu. Mình có thể vui sướng và biết ơn mà ăn thứ cơm gạo
này.”
Ba
nói để cho tất cả mọi người trên toa tầu ai ai cũng có
thể nghe thấy, nhưng khi bắt đầu ăn thực sự thì ông chỉ
ăn được có một nắm nhỏ xíu.
Tôi
không nghĩ là đoàn tầu cổ lổ đầy mồ hóng này thực sự
chạy tới đô thị. Tôi nghĩ nó đang chạy đến nhà ga của
tử thần. Một khi tư tưởng này đã lẫn vào đầu óc tôi,
mỗi lần con tầu chui qua một đường hầm, tôi lại thấy
có cái mùi của một lò đốt xác người.
Dù
sao cuối cùng khi đứng trước tổng môn của Lộc Uyển tự,
tôi vẫn thấy tim nện thình thịch trong lồng ngực. Bây giờ
tôi sắp sửa được thấy một trong những cái đẹp vào hạng
nhất trên đời.
Mặt
trời đã bắt đầu lặn xuống và sương mù đã phủ kín
núi đồi. Có nhiều du khách khác bước chân qua cổng vào
khoảng cùng một lúc với cha con chúng tôi. Gác chuông đứng
bên trái cổng vào, xung quanh có cả một rừng mai còn đầy
những cánh hoa tàn.
Một
cây lịch lớn mọc trước huyền quang của chính điện. Ba
đứng trước cửa và nói với người đưa đường xin phép
đi vào. Viện trưởng viết mấy chữ cho biết ông ta đang
bận tiếp một lai khách và yêu cầu chúng tôi vui lòng chờ
đơi chừng hai ba mươi phút nữa.
“Mình
hãy dùng thời gian này đi một vòng mà ngắm Kim Các Tự,”
Ba nói.
Hiển
nhiên, Ba muốn cho tôi thấy rằng ông được nể nang đôi
chút ở nơi này nên ông thử cố đi qua tham quan môn, cái cổng
dành cho du khách mà không trả tiền mua vé vào cửa.
Nhưng
từ thời gian mười mấy năm trước lúc ba thường hay tới
thăm nơi này, cả người bán vé và vừa lẫn người thu vé
vào cửa tự dạo đó đều đã đổi hết cả rồi.
“Lần
sau mình tới đây,” Ba nói với một giọng lạnh lùng, “chắc
là họ lại thay đổi nữa mất”.
Nhưng
tôi cảm thấy là Ba không còn thực sự tin tưởng vào cái
“lần sau” ấy nữa.
Tôi
vội vã cất bước gần như chạy lên đàng trước Ba. Tôi
cố ý hành động như một thằng bé con vui mừng hớn hở.
(Chỉ trong những trường hợp cố làm ra vẻ như thế tôi
mới có được dáng vẻ của một thiếu niên.) Rồi Kim Các
Tự mà tôi vẫn hằng mơ tưởng bấy lâu phơi bày trọn vẹn
hình dáng trước mặt tôi làm cho tôi thất vọng hết chỗ
nói.
Tôi
đứng bên bờ ao Kính Hồ, và bên kia bờ nước, Kim Các Tự
phơi bày chính diện của mình dưới ánh chiều tà. Thấu Thanh
bị che khuất một nửa xa về một chút về phía bên trái.
Kim Các Tự rọi bóng hình tuyệt đẹp trên mặt ao, nơi những
cây hoa súng và lá những cây thủy thảo đang nổi bồng bềnh.
Bóng hình này còn đẹp hơn chính Kim Các Tự nữa. Ánh mặt
trời đang ngả về Tây phản chiếu trên mặt ao rập rờn
phía dưới các mái hiên của cả ba tầng lầu. So sánh với
ánh sáng bao quanh, ánh sáng phản chiếu dưới các mái hiên
thực quá rực rỡ, chói chan; Kim Các Tự cho tôi cảm tưởng
là nó đang kiêu hãnh ưỡn mình ra đằng sau.
“Thế
nào,” ba hỏi “thực là đẹp phải không?” Tầng thứ nhất
gọi là Pháp Thủy viện, tầng thứ nhì là Triều Âm động
và tầng thứ ba là Cứu Cánh đính. Ba đặt bàn tay gầy guộc
ốm yếu trên vai tôi.
Tôi
thay đổi vị trí một vài lần và nghiêng đầu ngắm nhìn
theo nhiều góc cạnh khác nhau; tuy nhiên, Kim Các Tự chẳng
hề gây nên một cảm xúc nào trong lòng tôi hết. Nó chỉ
là một tòa kiến trúc ba tầng cổ kính, tối tăm và nhỏ
bé. Con phượng hoàng trên nóc mái giống như một con quạ
khoang hạ cánh xuống đó để nghĩ ngơi. Chẳng những tòa
nhà đã không làm tôi xúc động mạnh mẽ vì vẻ đẹp mà
còn làm tôi có ý niệm là nó thật lạc điệu và bất điều
hòa nữa. Tôi ngạc nhiên tự hỏi có thể nào cái đẹp lại
là một sự vật không đẹp đẽ như thế này sao?
Nếu
là một thiếu niên khiêm nhượng và chuyên cần có lẽ tôi
đã thấy tiếc là mình không có đủ khả năng thẩm thức
nghệ thuật trước khi tỏ ra chán nản một cách vội vã như
thế. Nhưng đau xót vì thất vọng ở cái mà mình kỳ vọng
quá nhiều đã làm cho tôi mất hết mọi ý thức phản tỉnh.
Tôi
chợt nghĩ có thể Kim Các Tự đã hóa trang để che giấu vẻ
đẹp chân thực của mình. Để tự vệ chống lại con người,
có thể nào cái đẹp đã lừa gạt con mắt người nhìn mình
hay không? Tôi phải đến gần Kim Các Tự hơn nữa; tôi phải
loại bỏ những trở ngại đối với tầm mắt mình; tôi phải
xem xét lại toàn bộ từng li từng tí với đôi mắt của
mình nhìn tới tận hạch tâm của cái đẹp. Vì rằng tôi
chỉ tin vào cái đẹp mà người ta có thể nhìn thấy bằng
mắt, thái độ của tôi trong lúc đó thực là đương nhiên.
Với
vẻ tôn kính, bây giờ Ba dắt tôi đi lên hành lang trống tung
của Pháp Thủy viện. Trước hết tôi nhìn tới mô hình Kim
Các Tự, thực hiện một cách khéo léo, nằm trong một lồng
kính. Tôi thích mô hình này lắm. Nó gần với Kim Các Tự
trong mộng tôi hơn. Quan sát hình ảnh nhỏ bé hoàn hảo của
Kim Các Tự trong chính ngôi thần điện này tôi nhớ đến
hàng loạt những sự chiếu ứng vô hạn khi một tiểu vũ
trụ được đặt trong một đại vũ trụ và rồi một tiểu
vũ trụ nhỏ hơn nữa đặt trong một tiểu vũ trụ nhỏ bé
kia. Đó là lần đầu tiên tôi có thể mơ mộng. Mơ đến
Kim Các Tự nhỏ bé nhưng hoàn hảo còn nhỏ hơn cả mô hình
này nữa; và đến Kim Các Tự rộng lớn hơn tòa nhà thực
sự không biết bao nhiêu lần mà kể cho xiết - thực vậy,
rộng lớn đến độ hầu như bao trùm cả thế giới.
Tuy
nhiên, tôi không đứng ì mãi một chỗ trước mô hình. Kế
đó Ba dẫn tôi tới bức tượng gỗ của Yoshimitsu vốn lừng
danh là Bảo Vật Quốc Gai. Bức tượng được gọi là Lộc
Uyển Viện Điện Đạo Nghĩa, gọi theo cái tên của Yoshimitsu
lúc ông cắt tóc đi tu.
Bức
tượng này nữa, tôi cũng chẳng thấy nó đẹp chỗ nào cả,
chỉ là một hình ảnh kỳ cục nhuốm đầy mồ hóng. Sau đó,
chúng tôi lên Triều Âm động tầng thứ nhì ngắm nhìn những
bức họa trên trần mà người ta bảo là tác phẩm của Kano
Masanobu, vẽ những thiên thần đang tấu nhạc. Trên tầng thứ
ba Cứu Cánh đính, tôi thấy những dấu vết đáng buồn của
lá cây bằng vàng ban đầu phủ kín khắp bên trong tầng này.
Nhìn tất cả những thứ này tôi chẳng thấy đẹp ở chỗ
nào cả.
Tôi
dựa mình vào hàng lan can mảnh mai và lơ đãng nhìn xuống
cái ao đang lấp lánh ánh mặt trời chiều. Mặt nước trông
như một tấm gương, như một tấm gương cổ bằng đồng
nhẵn thín; và Kim Các Tự rọi thẳng bóng mình trên mặt gương
này. Bầu trời buổi chiều phản ánh trên làn nước, ở tít
dưới những cây hoa súng và những cây thủy thảo. Bầu trời
này khác hẳn bầu trời trên đầu chúng tôi. Trong trẻo và
sáng sủa, từ phía dưới và từ bên trong, nó nuốt trọn
thế giới trần tục của chúng tôi, và Kim Các Tự đắm chìm
trong đó như là một cái neo tầu thực lớn bằng vàng ròng
đã biến sắc thành đen tuyền vì rỉ sắt.
Hòa
thượng Tayama Dosen, viện chủ Kim Các Tự, vốn là bạn của
Ba từ khi hai người cùng học trong một thiền đường nào
đó. Cả hai đều đã sinh hoạt ba năm tại thiền đường
này và sống chung với nhau trong thời gian đó. Cả hai thanh
niên đều tham dự chuyên môn đạo trường tại Tướng Quốc
Tự (cũng được kiến tạo dưới thời tướng quân Yoshimitsu)
và sau khi qua một vài thủ tục cổ xưa của Thiền phái, cả
hai đều gia nhập hàng ngũ tăng sĩ. ngoài tất cả những cái
đó, mãi về sau, tôi còn được sư phụ Dosen cho biết, trong
một ngày mà ông vui vẻ trò chuyện với tôi, rằng ông và
ba chẳng những đã cùng nhau chia xẻ những tháng ngày huấn
luyện khắc khổ, trong một vài buổi tối, sau khi đã đến
giờ đi ngủ, hai người còn cùng nhau leo tường ra ngoài và
tìm mua vui thú nơi những cô gái bán phấn buôn hương nữa.
Ba
và tôi đã đi một vòng bái kiến Kim Các Tự rồi trở lại
huyền quan của ngôi chánh điện. Người ta dẫn dắt chúng
tôi đi xuống một hành lang rộng dài và chỉ lối đi vào
phòng viện chủ, nằm trong Đại Thư Viện, nhìn xuống hoa
viên có cây lục chu tùng lừng tiếng.
Tôi
ngồi đó thẳng người cứng nhắc trong bộ đồng phục học
sinh, nhưng ba lúc đó lại có vẻ dễ chịu bất ngờ. Mặc
dù Ba và Viện chủ đã cùng xuất thân từ một Thiền đường,
song về ngoại diện, thực khó lòng mà hai người lại có
thể khác biệt nhau hơn. Ba thì quéo quắt vì bệnh tật, trông
nghèo nàn, làn da có vẻ khô khan, trắng bệch. Hòa thượng
Dosen, trái lại, trông giống như một cái bánh ngọt hồng
đào. Trên chiếc kỷ của ông chồng chất những gói hàng
chưa mở, tạp chí, sách vở, thư từ từ nhiều nơi trong nước
gởi tới và có vẻ như biểu hiện sự trù phú của ngôi
thần điện. Ông đưa những ngón tay tròn trặn múp míp nhặt
cái kéo và khéo mở tung một trong cái gói đồ.
“Đó
là cái bánh ngọt từ Đông Kinh gửi đến,” ông giải thích.
“Trong lúc này ít khi anh thấy được một cái bánh như thế.
Người ta cho tôi hay họ không còn phân phát loại bánh này
cho các cửa hiệu nữa mà đem nạp hết cho quân đội hay công
sở.”
Chúng
tôi uống thứ trà Nhật Bản thực ngon và ăn một cái bánh
ngọt Tây Phương mà từ trước đến giờ tôi chưa hề được
nếm mùi bao giờ. Tôi càng thấy căng thẳng bao nhiêu thì những
mẫu bánh vụn càng rơi trên cái quần nỉ đen bóng của tôi
nhiều bấy nhiêu.
Ba
và Viện chủ đang tỏ bầy sự bất bình phẫn nộ về việc
giới quân đội và quan liêu chỉ kính trọng những Thần Xã
và coi rẽ những ngôi chùa Phật giáo - thực ra không những
chỉ coi nhẹ mà còn thực sự áp chế nữa; rồi hai người
thảo luận về phương cách quản trị hay nhất cho các ngôi
chùa trong tương lai.
Viện
chủ là một người mập mạp. Dĩ nhiên, khuôn mặt ông có
những nếp nhăn, song mỗi nếp nhăn có vẽ như đã được
lau đi hết sạch. Khuôn mặt ông tròn trặn, nhưng ông ta có
cái mũi dài khiến người ta có cảm tưởng là nhựa cây chảy
ra kết đặc lại ở đó. Tuy nét mặt ông có dáng vẻ khá
dễ dãi, song hình dáng cái đầu cạo nhẵn - dường như là
nơi tập trung tất cả tinh lực của ông - lại có dáng vẻ
dữ dằn của một con vật.
Câu
truyện của hai người tu sĩ xoay về những ngày họ cùng sống
với nhau trong tăng đường. Tôi đang ngắm nhìn cây lục chu
tùng trong hoa viên. Người ta uốn thấp các cành lá của một
cây thông lớn và cuốn lại với nhau thành hình một con thuyền
với những cành lá ở đằng mũi được nâng cao lên hơn ở
các phần còn lại. Hiển nhiên là có một đoàn thể đã đến
vãng cảnh ngay trước giờ đóng cửa vườn và tôi nghe thấy
tiếng người ồn ào từ phía Kim Các Tự ở bên kia bờ đường
vọng lại. Tiếng chân và tiếng nói của họ tan chìm trong
làn không khí buổi chiều mùa xuân: tiếng động họ gây ra
êm nhẹ và tròn trặn, chẳng hề có dấu vết gì đặc sắc
nhọn. Rồi thì bước chân họ lùi xa như làn sóng thủy triều,
tôi thấy thật đúng là tiếng chân của chúng sinh băng qua
trái đất này. Tôi ngước mắt nhìn con phượng hoàng trên
nóc Kim Các Tự; nó đang thu hút tất cả ánh sáng tàn lụi
của chiều hôm.
“Anh
ạ… cái thằng bé này.” Nghe thấy Ba nói, tôi quay lại nhìn.
Trong căn phòng hầu như tối om, Ba đang sắp sửa đem phó thác
cả tương lai tôi cho sư phụ Dosen.
“Tôi
nghĩ chẳng còn sống được bao lâu nữa,” Ba nói, “tôi
muốn xin anh đến lúc ấy trông nom cho thằng bé này.”
Mặc
dù là một tu sĩ và quen an ủi người khác trong những dịp
tương tự, thượng tọa Dosen không có một lời an ủi êm
dịu nào trong dịp này, nhưng chỉ trả lời “Được lắm,
tôi sẽ trông nom nó.”
Điều
làm tôi thực sự ngạc nhiên là sau đó hai người vui vẻ
quay sang kể cho nhau nghe những giai thoại về cái chết của
những tu sĩ nổi tiếng. Một vị đã nói lúc sắp qua đời
“Ôi ta không muốn chết.” Một vị khác kết thúc cuộc
đời mình bằng chính những lời của Goethe: “Cho thêm ánh
sáng.” Lại còn một tu sĩ lừng danh nữa vẫn còn tự mình
xem xét lại tiền quĩ của chùa cho đến lúc nhắm mắt lìa
đời.
Người
ta mời chúng tôi ăn cơm tối, mà người theo đạo Phật gọi
là “dược thạch” và sắp đặt để chúng tôi ngủ lại
đêm đó ở trong chùa. Sau bữa cơm, tôi Ba đi ngắm Kim Các
Tự một lần nữa. Vì mặt trăng lưng trời đã ló dạng.
Ba
bị kích động quá nhiều vì cuộc tái ngộ với vị viện
chủ sau bao nhiêu năm xa cách nên hết sức mệt mỏi, nhưng
khi nghe tôi nói đến Kim Các Tự ông liền ra ngay, dựa mình
trên vai tôi mà thở hổn hển.
Mặt
trăng mọc lên sau riềm núi Fudo. Ánh trăng chiếu rọi phía
sau Kim Các Tự. Ngôi chùa hình như đã xếp hình ảnh tối
om phức tạp của mình lai và lặng lẽ chìm xuống; chỉ còn
những khung cửa hoa đầu song trên Cứu Cánh đính là để
cho bóng trăng êm ả len vào. Tầng Cứu Cánh đính không có
tường riêng, và vì thế nóc vẻ là ánh trăng mờ nhạt đã
chọn nơi này làm chỗ cư ngụ.
Từ
phía đảo Ashiwara có tiếng chim đêm vọng lại trong khi chúng
bay về phía xa. Tôi thấy rõ sức nặng những bàn tay quắt
quéo của Ba tỳ trên vai mình. Khi liếc nhìn lên vai, tôi thấy
dưới ánh trăng một bộ xương bàn tay trắng hếu.
Sau
khi tôi trở về Yasuoka, Kim Các Tự đã làm tôi thất vọng
biết bao nhiêu khi nhìn thấy lần đầu, đến lúc này lại
gợi lại vẻ đẹp của nó trong lòng tôi càng ngày càng sâu
đậm hơn cho đến lúc trở thành một Kim Các Tự còn đẹp
đẽ hơn là trước khi tôi được nhìn tận mắt nữa. Tôi
không nói được vẻ đẹp đó nằm ở chỗ nào. Dường như
những gì được nuôi dưỡng trong các cơn mộng tưởng của
tôi một sớm đã trở thành thực sự và bây giờ lại có
thể được dùng làm động lực thôi thúc các cơn mộng tưởng
khác nữa.
Bây
giờ tôi không còn đeo đuổi cái huyễn ảnh của Kim Các Tự
trong phong cảnh và trong các sự vật nữa. Dần dà Kim Các
Tự càng ngày càng hiện diện trong tôi một cách sâu xa và
vững chắc hơn trước. Mỗi một cây cột, một khung cảnh
hoa đầu song, cái mái nhà, con chim phượng hoàng ở trên nóc
đều bềnh bồng rõ rệt trước mắt tôi như là tôi có thểâ
giơ tay sờ mó chúng được. Phần nhỏ bé nhất của ngôi
chùa cũng hòa hợp hoàn toàn với toàn bộ kiến trúc phức
tạp của nó. Giống hệt như là nghe một vài nốt nhạc và
thấy toàn thể khúc nhạc tuôn trào qua tâm trí: bất kỳ bộ
phận nào của Kim Các Tự mà tôi nhặt ra cũng làm cho toàn
bộ kiến trúc vang âm trong con người của tôi cả.
“Khi
Ba bảo con rằng trên mặt đất này không có gì đẹp bằng
Kim Các Tự thì quả thật là đúng.” Đó là lời lẽ trong
lá thư đầu tiên tôi viết cho Ba. Sau khi đưa tôi trở lại
nhà chú, Ba tức thời trở về chùa của ông trên mỏm đất
xa xôi. Và như để trả lời lá thư của tôi, một bức điện
tín do má gửi đến báo tin là Ba bị một trận thổ huyết
kinh khủng và ông đã lìa đời.
Hết
phần 1
Người
gửi bài: Diệu Thiện