Chương
4
PHẬT PHÁP
BUỔI ĐẦU
Tái sinh và
Nghiệp
Trong
chương nầy và chương kế tiếp, nói về những giáo điều
của Phật giáo ở buổi ban đầu, được trình bày phần lớn
nơi kinh Pali (Pali Canon). Trong khi Phật giáo Đại thừa (Mahāyāna)
phát triển một hướng mới về những bài giảng buổi ban
đầu, những giáo điều mới của riêng họ, những phát triển
như thế chỉ có thể hiểu được nghịch lại với bối cảnh
của thời gian giảng dạy.
Trong
Thượng Tọa Bộ (Theravāda), những bối cảnh nầy được
xem như là khuôn mẫu cho những phát triển mới. Trong
một ý nghĩa nào đó, Phật giáo bắt đầu và kết thúc với
sự giác ngộ của Đức Phật, bởi vì đây là điều cốt
yếu trong giáo pháp của Đức Phật, và những điều nầy
là phương cách dẫn đến sự phát triển về đạo đức và
tâm linh với kinh nghiệm thực chứng. Trong lúc giác ngộ, Đức
Phật đã đạt được sự hiểu biết về tái sinh, nghiệp
(karma) và Bốn chân lý chân thật - Tứ Diệu Đế (Four Holy
Truths). Trong những bài giảng chủ yếu, Phật giáo ban sơ được
sắp xếp dưới một hoặc nhiều chủ đề dựa trên ba đề
nầy.
Tái sinh và
Vũ trụ học
Một
chữ được dùng để nói về vòng tròn của sự tái sinh là
luân hồi (Saṃsāra), chỉ định sự đến và đi liên tục
không ngừng nghỉ, không mục đích. Không phải chúng ta có
nhiều kiếp sống đã qua, mà là chúng ta đã có không biết
bao nhiêu kiếp sống rồi. Trong đêm giác ngộ theo lời kể
Đức Phật nhớ lại trên một trăm ngàn kiếp quá khứ (M.I.22).
Người Phật tử thấy rằng không có điểm bắt đầu nơi
vòng tròn tái sinh và thế giới: Trong luân hồi (Saṃsāra)
không thể tưởng tượng được đâu là điểm bắt đầu;
cũng cần nhắc là điểm đầu tiên chúng ta bị tham, sân,
si làm cản trở và cứ chạy quanh trong luân hồi (S.I.178).
Không cần thiết là ta lùi lại trong thời gian ở quá khứ,
tất cả những gì hiện hữu lúc đó đều có nguyên nhân
sâu xa của nó. Đức Phật đã nhớ lại chín mươi mốt ‘kiếp’(kappa’s)
về trước (M.I.483). Một “kiếp” là một đơn vị
thời gian rất lớn dùng để đo lường sự đến và đi của
hệ thống thế giới. Nói rằng thế giới vũ trụ vật
chất có bao nhiêu là hệ thống thời gian lan rộng trong không
gian. Mỗi một thế giới tương đương với một hành tinh,
nhưng nó cũng hiện hữu trong cả ngàn lớp vỏ, những lớp
vỏ nầy tụ hội trong một ngân hà, và một ngân hà lớn
bao gồm những thiên hà (A.I.227). Trong vũ trụ rộng lớn nầy,
không có giới hạn, có những thế giới có dân cư trú và
những sinh vật nầy cũng nằm trong vòng tròn của sự tái
sinh. Như những sinh vật trải qua nhiều kiếp sống, hệ thống
vũ trụ cũng như vậy: chúng tiến hóa, tồn tại một thời
gian rồi kết thúc, và rồi bất động trước khi tiến hóa
trở lại. Mỗi một giai đoạn để tiến hóa cần nhiều kiếp
không thể đếm được, và chu kỳ nầy cần một Đại kiếp
(great ‘eon’). Sự rộng lớn của thời gian nầy được gợi
ý bằng những hình ảnh khác nhau. Chẳng hạn, có một ngọn
núi bằng đá granit cao bảy lý, và mỗi một thế kỷ núi
được chùi lau bằng một miếng vải tốt đẹp, miếng vải
sẽ cũ trước khi một Đại kiếp kết thúc (S.II.181-2). Dầu
vậy, những kiếp đã qua còn nhiều hơn cát của sông Hằng
(S.II.183-4)!
Chu
kỳ tái sinh gồm nhiều kiếp sống không thể đếm được
trong một thời gian rất dài. Nếu chu kỳ chỉ gồm có sự
tái sinh của loài người thì thiệt là khó cho một Phật tử
giải thích về sự bùng nổ dân số. Như thế, chu kỳ
tái sinh gồm nhiều hình thể, và để dân số được cân
bằng, sự tái sinh của thú vật cần được liệt kê. Vì
thế sự tái sinh của những thế giới khác đều hiện hữu.
Hai
thế giới đầu là của con người và thú vật. Kế đó
là những sinh vật tầm thường như sâu bọ.
Cây
cối có ý thức, nghĩa là chúng có cảm giác khi bị xúc chạm
mặc dù thô thiển nhưng không được xếp loại vào đây (Vin.I.155-6).
Có
những cảnh giới vô hình mà thông thường thì chúng ta không
thể nào nhận thấy được.
Một
trong những cảnh giới nầy là Ngạ quỷ (peta), “người đã
khuất”. Chúng sinh ở cõi nầy có thân hình với thể chất
rất “tinh vi”, sự tái sinh nầy không dính dấp với sự
đầu thai có nghĩa mang một thân hình vật chất khác. Ngạ
quỷ (petas), là những sinh vật ma quái thường đến cảnh
giới người vì họ vẫn còn những bám víu với cuộc sống
trần tục, không giống như những con ma trong chuyện Tây phương.
Một loại Ngạ quỷ (peta), được biết đến là “ma đói”,
với hình thể bụng rất to luôn cồn cào vì đói, và một
cái cổ nhỏ chỉ vừa đủ để cho một ít thức ăn lọt
qua.
Cảnh
giới tệ nhất là cảnh giới địa ngục (niraya), gồm có
nhiều sự tái sinh nơi nầy. Những sự tái sinh nơi địa ngục
được diễn tả bằng việc bị đốt cháy, bị cắt, bị
đông lạnh, hoặc bị ăn sống, và được làm cho sống lại
để rồi lại chịu đựng những cực hình như trên (thí dụ
M.III.183). Và như vậy đây là những cảnh giới mà một
ý thức bị tra tấn bằng kinh nghiệm, những ‘ác mộng’
đáng ghê tởm và xấu xí (S.IV.126). Có những cõi địa ngục
nầy tệ hơn những cõi địa ngục khác, nhưng tựu chung là
vì những hành động ác mà bị đưa đến cõi nầy. Trong lúc
cuộc sống ở cõi địa ngục được đo lường bằng cả
triệu năm, không có sự tái sinh nào là vĩnh viễn, do đó
một kẻ ở cõi địa ngục vẫn có thể trở lại kiếp người
sau khi đã trả xong nghiệp đã gieo.
Cõi
thú, cõi ngạ quỷ và cõi địa ngục là những sự tái sinh
thấp kém, nơi mà những sinh vật ở đó còn khổ hơn cả
kiếp người. Những cõi tái sinh cao hơn và may mắn hơn là
cõi người và cõi trời, với các vị trời ‘vinh quang, rực
rỡ’ (illustrious ones – devas). Cộng chung có tất cả là năm
cảnh giới.
Những
cõi trời đôi lúc được chia ra làm hai loại, để có tất
cả là sáu cảnh giới, một cõi trời của những vị trời
đúng nghĩa và một cõi trời của A-tu-la (Asura), hoặc người
khổng lồ (titans), được xem là những sinh vật tự cao, dữ
dằn, và ham muốn quyền lực (cũng được xem là một trong
những cõi tái sinh thấp kém). Những vị trời đúng nghĩa
được sống trong hai mươi sáu tầng trời, được sắp xếp
theo ba loại tái sinh. Cõi trời thấp nhất là “cõi trời
ái dục” (Kāma-avacara), gồm có tất cả những sự tái sinh
vừa kể qua và sáu tầng trời thấp nhất. Trong những cõi
nầy, những sinh vật cảm nhận các đối tượng bằng cách
nhận thấy ưu điểm của sự ham muốn hoặc không ham muốn.
Cao và tinh tế hơn cõi nầy một bậc là “cõi trời sắc
giới” (rūpa-avacara). Nơi đây những vị trời xinh đẹp hơn,
được biết đến như là Phạm thiên (brahmā), tương phản
với những vị trời, vị thần (devas) trong sáu tầng trời
thấp. Trong cõi sắc giới có tất cả là mười sáu thiên
đàng xinh đẹp với bản chất thanh tịnh. Những sinh vật
trong cõi nầy nhận biết các đối tượng một cách trong sáng,
không chút ham muốn nhục dục, không có sự xúc chạm, nếm
và ngửi. Nhưng họ cũng khổ vì những bám víu khác và bị
giới hạn. Cao hơn cõi sắc giới là “cõi vô sắc giới”
(arūpa-avacara), gồm có bốn hình thể tốt đẹp lúc tái sinh.
Đây là cõi hoàn toàn thuộc về trạng thái tinh thần (āyatana)
không có vật chất hoặc không nhận thấy được, xa hơn cả
những gì có hình thể. Những cõi nầy có tên gọi dựa
theo những tính chất của các trạng thái ý thức của những
vị Phạm thiên (brahmā) được sinh ra ở đó.
Trong
giai đoạn đầu, họ kinh nghiệm một ‘khoảng trống vô tận’;
giai đoạn thứ hai, họ trụ nơi ‘ý thức vô tận’ có thể
chiêm nghiệm khoảng không vô tận; giai đoạn thứ ba, họ
kinh nghiệm ‘sự hư vô’ trong sự hiện hữu của chính họ;
trong giai đoạn cuối, trạng thái ý thức của họ trụ ở
một phạm vi rất là tinh vi, đó là phạm vi của ‘phi tưởng
phi phi tưởng xứ’ (neither-cognition-nor-non-cognition).
Trong
kiếp tái sinh cuối cùng, sự hiện hữu cao nhất, gồm một
hình thể vi tế và cao nhất trong đời sống vũ trụ quan,
với một mạng sống rất dài là khoảng 84.000 kiếp, và dù
kiếp sống dài như vậy, nó cũng vẫn chấm dứt với cái
chết. Dưới sự chỉ dẫn của người thầy du-già Uddaka,
Đức Phật Gotama đã đạt được đến giai đoạn nầy, nhưng
Đức Phật từ bỏ vì thấy rằng nó không đưa đến mục
đích mà Đức Phật mong muốn (xem tr. 18).
Từ
cõi trời cao nhất xuống đến những cõi trời thấp nhất,
mạng sống cũng từ từ giảm dần. Trong cõi thiên đàng ‘thấp
nhất’, mạng sống là 20.000 kiếp; trong cõi sắc giới, mạng
sống từ 16.000 đến một phần ba kiếp; trong cõi dục giới,
từ 9.216 triệu năm xuống đến 9 triệu năm (Vibh.422-7).
Dù
vậy, kinh cũng nhấn mạnh rằng kinh nghiệm về thời gian rất
là phụ thuộc vì cho dù là thời gian có dài nhưng cũng sẽ
qua rất nhanh. Thí dụ, trong tầng trời thấp nhất, năm chục
năm của con người chỉ là một ngày của các vị trời, vì
thế 9 triệu năm đời sống con người là 500 năm trên thượng
giới.
Trong
những cõi trời dục giới có những cõi rất quan trọng. Khoảng
biên giới giữa tầng trời thứ 6 và tầng trời cao nhất
là nơi Ma vương (Māra) cư ngụ. Theo cách cấu trúc của sự
vật thì sẽ luôn luôn có một Ma vương (Māra), nhưng phận
sự của Ma vương cũng nằm trong vận hành của vũ trụ cho
nên Ma vương vẫn chịu sinh và tử, cũng như trong trường
hợp những vị trời khác. Những vị trời có thể được
xem như là một người đặc biệt giữ một chức quan trọng
như tỉnh trưởng chẳng hạn. Cõi trời thứ tư là của các
vị trời Đâu Suất (Tusita), thế giới của các vị Bồ-tát
(Boshisattas) sống đời sống áp chót, nơi đây Bồ-tát Di Lặc
(Metteyya) đang cư ngụ. Cõi trời thứ nhì là của các vị
trời Tam thập tam thiên (Tāvatiṃsa), ‘ba mươi ba’ vị trời
của Bách thần trong kinh Vệ đà (Veda) trước Phật giáo.
Trong
kinh Vệ đà (Veda) có vị trời là Đế Thích (Indra), được
biết đến như là Thiên chủ (Sakka) trong kinh điển Phật giáo,
nói rằng vị trời Đế Thích (Indra) đã trở nên một người
‘nhập lưu’ (Stream-enterer) và là một vị bảo hộ đắc
lực cho Phật giáo (D.II.288).
Năm
cõi trời cao nhất là ‘những cõi thanh khiết’ (suddhāvāsa),
và chỉ có thể đạt đến bởi những người được coi là
‘không trở lại’ (non-returners), gần như là những vị A-la-hán
(Arahats). Mười một cõi trời thanh tịnh còn lại tương đương
với những trạng thái thiền định được biết đến như
là Jhānas, và chỉ những người đã từng thiền định trong
cuộc sống, và đã nâng cao trình độ tâm linh của họ trong
đời sống hiện tại mới có thể đạt đến được mà thôi.
Một trong những vị trời có lẽ đặc biệt nhất là vị
Phạm Thiên tối cao (Great Brahmā) cư ngụ ở tầng trời cao
của nhất thiền, mà ảnh hưởng của vị nầy lan rộng đến
cả một ngàn ‘hệ thống thế giới’, mà cõi đó, giới
hạn mạng sống là một Đại kiếp. Hai tầng trời thấp của
cõi thanh tịnh là nơi cư ngụ của các bộ trưởng và tùy
tùng của Phạm thiên (Great Brahmā) tối cao.
Những
chi tiết quan trọng của những cấp bậc tái sinh:
Cõi
vô sắc: bốn loại tái sinh với tinh thần trong sạch.
Cõi
thanh tịn: năm cõi thanh tịnh, dưới năm cõi nầy là mười
một cõi trời khác tương đương với những cấp bậc thiền
(jhānas), với vị Phạm thiên tối cao, những vị bộ trưởng
và tùy tùng của Phạm thiên trong ba cõi thấp nhất còn
lại.
Cõi
dục giới: sáu cõi trời trong đó có các vị thần (devas),
dưới là loài người, A-tu-la (Asuras), súc vật, ngạ quỷ (petas)
và cõi địa ngục.
Những
câu hỏi về một vị Thượng đế sáng tạo và nguồn gốc
của đời sống con người.
Phật
giáo thấy không cần thiết có một đấng sáng tạo thế giới,
bởi vì Phật giáo mặc nhiên công nhận không có đâu là khởi
đầu khi nói về thế giới, và xem thế giới được tồn
tại bởi những luật thiên nhiên. Hơn nữa, nếu có một đấng
sáng tạo của thế giới, thì vị Thượng đế nầy sẽ chịu
trách nhiệm cho sự khổ đau hiện tại đang hiện hữu nơi
nơi (Jat.V.238). Gần nhất với vị Thượng đế (God) trong những
bài văn đầu là vị Phạm Thiên tối cao (Great Brahmā) trong
hệ thống thế giới của chúng ta, được các vị thầy Bà-la-môn
xem là đấng sáng tạo ra thế giới.
Cho
dù vị Thượng đế nầy là một sinh vật vinh quang, rực rỡ,
nhưng Đức Phật thấy rằng vị Thượng đế nầy đang
lầm tưởng mình là một vị Thượng đế toàn năng.
Trong
kinh Sutta, có đoạn kể lại một câu chuyện mỉa mai về điều
nầy (D.I.18). Theo chu kỳ, một hệ thống thế giới vật chất
và những tầng trời thấp có liên hệ với nhau và cùng đều
có chung một kết cuộc. Trong lúc nầy, những sinh vật từ
những tầng trời thấp được tái sanh thành vị Trời Cực
Quang (Ābhassara) trong cõi trời của nhị thiền. Sau một thời
gian dài, ba cõi trời trong sạch thấp nhất xuất hiện, và
một vị Trời Rạng Rỡ chết và tái sanh nơi đây như là
một vị Thượng đế tối cao (Great Brahmā). Sau một thời
gian, vị Thượng đế nầy cảm thấy lẻ loi và muốn có sự
hiện diện của những kẻ khác. Sau đó, nguyện ước của
vị Trời được thành tựu, chỉ vì những vị Trời Rạng
Rỡ khác chết và tái sinh theo nghiệp của họ, đến đây
thành những bộ trưởng và tùy tùng của vị Thượng
đế nầy. Vì không nhớ được kiếp trước của mình, nên
vị Thượng đế tối cao nghĩ là “Tôi là Thượng đế, Thượng
đế tối cao…. thấy hết, điều khiển hết, là Chúa Trời,
là đấng sáng tạo…và những người khác là do mình sáng
tạo ra”. Những bộ trưởng và tùy tùng đều đồng
ý như với lập luận sai lầm nầy, và vài người trong họ
chết đi, rồi tái sinh làm loài người, họ phát triển được
quyền lực nhớ lại kiếp đã qua, và do đó họ dạy là có
một đấng sáng tạo, có vị Thượng đế tối cao đã tạo
ra loài người.
Một
câu chuyện mỉa mai khác trình bày giới hạn của Thượng
đế. Một vị tu sĩ có một câu hỏi triết lý và nhờ vào
năng lực thiền định đã có thể gặp các vị Trời và hỏi
họ cho câu trả lời. Không một vị trời, hay tùy tùng
của Thượng đế ở các tầng trời thấp có thể trả lời,
và vị tu sĩ tin rằng Thượng đế tối cao có thể giúp ông.
Sau đó vị Thượng đế hiện ra và vị tu sĩ đặt câu hỏi.
Nhưng vị tu sĩ không hài lòng với câu trả lời của Thượng
đế là chính Thượng đế đã sáng tạo ra tất cả. Sau ba
lần như vậy, vị Thượng đế nói riêng với tu sĩ rằng
Thượng đế không muốn nói là mình không biết trước mặt
các bộ trưởng và tùy tùng; vị tu sĩ nên đến tham vấn
Đức Phật thì tốt hơn, vì chỉ có Đức Phật mới có câu
trả lời (D.I.215-23). Vì vậy Thượng đế được xem
như kém hơn Đức Phật về sự hiểu biết.
Dù
Thượng đế hơi tự cao nhưng được xem là một sinh vật
tử tế và có lòng bác ái. Như vậy, vị nầy là Thượng
đế của tình thương cho dù vị nầy lầm tưởng rằng mình
là kẻ sáng tạo ra thế giới mà sự thật không phải vậy.
Vì thế trong Phật giáo không có vấn đề lý thuyết về một
quỷ Satan, vì làm sao một đấng toàn năng, toàn trí, một
vị Thượng đế của yêu thương lại sáng tạo ra một thế
giới có ma quỷ và đau khổ.
Trong
Phật giáo, có một câu chuyện gần giống như câu chuyện
sáng tạo thế giới và trong trường hợp nào con người đến
cư ngụ trong hệ thống thế giới và bắt đầu sự hiện
hữu của một chu kỳ mới. Trong kinh Aggañña Sutta (D.III.80-98)
nói rằng trong lúc những vị Trời Rạng Rỡ chết và tái
sinh trong trạng thái lơ lửng trong thế giới vật chất đang
tiến hóa trở lại, với một khu vực đầy nước trong bóng
tối dầy đặc. Những sinh vật tái sinh nơi đây lúc nầy
không có giới tính, nhưng có dạ quang và vẫn còn phân nửa
tính chất thần thánh. Sau một thời gian lâu dài, một phần
“đất ngon” trải rộng trên mặt nước, và một sinh vật
ham ăn đã thèm thuồng và ăn thử. Đây là hành động Nguyên
Thủy của sự ham muốn và những sinh vật khác bắt chước,
cho đến khi họ mất đi ánh sáng dạ quang, thân thể trở
nên cứng rắn và họ tự kiêu hãnh vì hình dáng của mình,
và từ từ phát triển thành hai giới tính. Chung quanh họ đầy
dẫy những thức ăn, nhưng vì họ trở nên tham lam và muốn
thu góp nhiều về phần mình cho nên thực phẩm dần trở nên
khan hiếm. Sau đó họ lại có ý tưởng sở hữu riêng, và
rồi trộm cắp, nói láo, và bạo động tiếp liền theo sau
như đoàn tàu xe lửa. Lúc nầy họ nhận diện được như
là loài người, con người bèn hình thành một xã hội và
chọn một vị vua để thống lãnh và trừng trị những kẻ
làm quấy. Và đây là phần mà Phật giáo nói về sự
“sa đoạ”, vì tham lam và kiêu hãnh nên có sự phát triển
về giới tính, loài người và xã hội.
Những ngụ
ý của viễn cảnh tái sinh
Phật
giáo nhận thức về sự tái sinh như một vấn đề khó chịu,
nghĩa là những người chưa thức tỉnh đều bị tái sinh dù
muốn hay không muốn, cho dù họ có tin vào luân hồi hay không.
Tiến trình của sanh và tử không có mục đích rõ rệt; bởi
vì không có ai cấu tạo hay thiết kế nó. Vì thế mục đích
có lý nhất là một người tự hiểu về một phần nào đó,
và rồi tranh đấu, thứ nhất để tránh những cảnh giới
khổ, và cuối cùng là vượt qua mọi cảnh giới và giúp đỡ
những người khác được như mình.
Vì
vậy phần đông Phật tử nhắm vào cảnh giới tái sinh của
loài trời và loài người, với một mục đích dài hạn là
trở thành A-la-hán (Arahats), kinh nghiệm được Niết Bàn (Nibbāna);
mục đích thành Phật lại còn cao cả hơn, được nhấn mạnh
nơi Phật giáo Đại thừa (Mahāyāna Buddhism). Thiên đàng
của Phật giáo chỉ là một khía cạnh của sự cứu rỗi,
còn Niết Bàn (Nibbāna) thì xa hơn giới hạn của sự hiện
hữu nơi trái đất hay thiên đàng.
Trong
vòng tròn tái sinh, tất cả mọi sinh vật đều nằm trong một
chu kỳ có sự sống. Mỗi một con người đã từng ở địa
ngục, từng là thú, ma quỷ, và Trời trong quá khứ, và biết
đâu cũng sẽ tiếp tục như thế trong tương lai. Mỗi một
đau khổ mà ta chứng kiến nơi người khác hay sinh vật khác,
thì trong quá khứ ta cũng đã từng trải qua (S.II.186): vì thế
một người không nên bám vào sự tái sinh và nên có lòng
từ đối với tất cả các sinh vật khác. Trong bao nhiêu đời
sống đã qua, luật trung dung đã sắp đặt cho chúng ta, dù
muốn hay không cũng đã từng là thân nhân hay bạn bè của
nhau (S.II.189-90), vì thế có lòng tử tế và từ bi đối với
các sinh vật là cách thích hợp nhất.
Những
lời dạy như thế, dĩ nhiên là thôi thúc sự tử tế và không
bạo động đối với tất cả các sinh vật. Con người một
phần cũng nằm trong chu kỳ đời sống như các sinh vật khác,
và không có khoảng cách nào giữa con người và các chúng
sinh khác. Dẫu sao thì khi một sinh vật phát triển và có tính
chất phức tạp hơn thì rất là tai hại khi ta hãm hại hay
tàn sát sinh vật đó; vì thế làm tổn hại hay giết một
con người thì tồi tệ hơn là giết một con thú. Thật ra,
khi được sanh ra làm người thì ta đã có phước. Trong những
cảnh giới thấp hơn, có rất nhiều đau khổ và rất ít tự
do để mà hành động. Trong cõi trời, đời sống rất hạnh
phúc so với đời sống cõi người. Nhưng sự sung sướng làm
cho các vị trời tự mãn và các vị nầy nghĩ là mình bất
diệt, nên không cần được giải thoát. Cõi người là cõi
chiết trung, nơi đây có đủ đau khổ để thúc đẩy con người
tìm cách vượt qua bằng sự phát triển tâm linh, và con người
có đủ tự do để hành động theo ước muốn của mình. Vì
thế cõi nầy là cõi rất thuận lợi cho việc phát triển
tâm linh.
Sự
tái sinh làm người rất là hiếm hoi (A.I.35). Trong khi dân số
tiếp tục gia tăng đồng thời số lượng của thú vật, chim
chóc, cá và sâu bọ cũng gia tăng. Người Phật giáo Tây Tạng
nói về “sự tái sinh quý giá của con người” như sau: một
cơ hội tuyệt diệu để phát triển tâm linh, vì vậy nên
dùng kiếp người một cách sáng suốt và nên kính trọng những
chúng sinh khác. Bởi vì đời sống có thể bị đoạn diệt
bởi cái chết bất cứ lúc nào, vì vậy không nên lãng phí.
Nghiệp (Karma)
Sự
tái sinh của các sinh vật không phải do ngẫu nhiên mà là
được sắp xếp và hướng dẫn bởi luật nghiệp báo, nguyên
nhân chánh là các sinh vật được tái sinh dựa theo những
hành động, bản chất tốt đẹp trong quá khứ; họ là người
thừa hưởng sản nghiệp đã gieo (M.III.203). Nói rằng những
hành động thù hận và bạo động thì đưa đến sự tái
sinh nơi cõi địa ngục, những hành động cột chặt với
mê muội và rối loạn dẫn đến sự tái sinh nơi cõi thú,
và những hành động tham lam dẫn đến sự tái sinh nơi cõi
ngạ quỷ. Những hành động của một người làm khuôn
mẫu cho ý thức của họ, biến họ trở thành một hạng người
nào đó, vì thế khi họ chết, hình thể bên ngoài sẽ thích
ứng với một tư cách nào đó đã phát triển nơi họ. Nếu
những hành động xấu ác không trầm trọng lắm để đưa
đến một sự tái sinh thấp thì chúng cũng vẫn có ảnh hưởng
đến sự tái sinh trong kiếp sống làm người: bủn xỉn đưa
đến nghèo hèn, làm thương tổn chúng sanh thì thường hay
bệnh hoạn, và giận dữ đưa đến sự xấu xí – và sự
giận dữ trong hiện tại sẽ làm cho những nét xấu xí có
dịp tăng trưởng thêm (M.III.203-6). Người nghèo, bệnh tật
hoặc xấu xí trong hiện đời không phải do hoàn cảnh hiện
tại mà là do những hành động trong quá khứ, và điều quan
trọng là hiện giờ họ cư xử ra sao và những người khác
cư xử với họ như thế nào. Những hành động đạo đức,
tử tế và rộng lượng đưa đến sự tái sinh nơi cõi người
hoặc cõi trời sắc dục, trong khi đạt được trạng thái
thanh tịnh trong thiền định đưa đến sự tái sinh trong cõi
trời dựa theo cấp bậc của trạng thái thiền định. Muốn
đạt được Niết Bàn (Nibbāna), một người phải có hành
động thăng hoa, phải đạt đến chỗ thấy rốt ráo sâu sắc
của thực tại. Những hành động có ý tốt hoặc xấu đều
có ảnh hưởng; vì chúng để lại dấu vết trong tâm thức
và đưa đến những kết quả trong tương lai.
Luật
nghiệp báo được xem như là một định luật tự nhiên nơi
mọi vật, giống như luật vật lý. Luật nghiệp báo không
phải do trời sắp đặt, vì chính những vị trời cũng bị
nó chi phối. Sự tái sinh tốt hay xấu vì vậy không nên được
xem như là “thưởng” hay “phạt”, nhưng bởi vì đó là
kết quả của những hành động đã qua. Nghiệp (Karma) luôn
được xem như một hạt giống, và hai chữ kết quả của
nghiệp là vipāka và phala, đúng nghĩa là “chín mùi” và
“quả”. Một hành động như một hạt giống mà sớm hay
muộn, trong quá trình tự nhiên của sự trưởng thành, kết
quả của các hạt giống đã gieo sẽ có quả của nó. Cái
mà định nghĩa cho “hạt giống” đã gieo là ý muốn sau
một hành động: “Đây là ý muốn (Cetanā) hỡi các tỳ kheo,
ta gọi là Nghiệp (Karma); có ý muốn, một người hành xử
theo thân, miệng hoặc ý.” (A.III.415). Một hành động thiếu
suy nghĩ cũng là “nghiệp”, nó bắt đầu cho một chuỗi
dây xích tiếp theo để hình thành quả của nghiệp: những
hành động có ý sẽ có quả của nó; vô tình dẫm chết sâu
bọ không nằm trong phần của “tạo nghiệp” như người
đạo Jain tin tưởng. Suy nghĩ để làm một việc xấu ác là
gieo nghiệp xấu (trong tư tưởng), nếu như củng cố những
ý nghĩ xấu thay vì để chúng trôi qua. Cố gắng tránh, bỏ
những ý nghĩ xấu ác là tạo một nghiệp lành trong tư tưởng.
Nuối tiếc một hành động xấu (hoặc tốt), và quyết định
không tái phạm thì sẽ làm giảm quả của nghiệp, vì bắt
đầu với ý niệm, sự thúc đẩy nơi hành động sẽ bị
giảm đi. Ngược lại, trong lúc có những cảm giác đau khổ
về một hành động trong quá khứ có thể là kết quả của
nghiệp đã gieo, một cảm giác có lỗi được xem là có liên
quan đến sự “tự ghét” và ở trong tình trạng lo âu thì
sẽ có ảnh hưởng không tốt tới sự sáng suốt và thanh
tịnh đối với sự tiến triển nơi mặt tâm linh. Trong
khi tin tưởng luật nghiệp báo có thể đưa đến hình thức
tiêu cực về thuyết định mệnh, Đức Phật cũng đã nhấn
mạnh là một định mệnh (Niyati) được sắp đặt sẵn và
nghiệp (Karma) là hai nhận thức rất khác nhau, bởi vì nghiệp
nhấn mạnh sự quan trọng của hành động của con người
và ảnh hưởng của những hành động đó: con người tự
tạo cho mình một “định mệnh” bằng những hành động
của chính mình. Những nhận thức về đời sống được
xem như là kết quả của nghiệp trong quá khứ, gồm có hình
thức của sự tái sinh, giai cấp trong xã hội, tánh tình tổng
quát, những việc quan trọng tốt cũng như xấu xảy ra cho
một người, và kể cả nhận thức của người nầy về thế
giới. Ngoài nhận thức về những gì cảm nhận được của
các giác quan, một người chỉ cảm nhận được những gì
nổi bật nhất đã được chọn lọc xảy ra chung quanh mình.
Một số người chỉ cảm nhận được những việc vui, trong
khi những kẻ khác chỉ cảm nhận những nỗi buồn phiền;
sự khác biệt nầy cũng do kết quả của nghiệp mà ra.
Kết
quả của những hành động trong quá khứ không có những hành
động cố ý trong hiện tại, nhưng kết quả do nghiệp của
quá khứ cũng ảnh hưởng ít nhiều đến hành động đang
làm trong hiện tại.
Vì
thế một người không bao giờ biết được trường hợp nào
là được chỉ định bởi nghiệp; những trường hợp khó
khăn không nên được chấp nhận một cách thụ động, một
người phải ráng làm hết sức mình sao cho tốt đẹp hơn;
chỉ khi nào sau các cố gắng mà không gì tốt hơn thì ta mới
có thể cho rằng đó là kết quả của nghiệp quá khứ.
Nếu một trường hợp có thể tránh được và thay đổi được
thì tốt, nhưng nếu lo âu và đau khổ tiếp theo thì có thể
cho rằng đây là nghiệp quá khứ.
Như
một cách giúp đỡ để đối phó với thế giới chịu ảnh
hưởng của nhân quả, một số Phật tử dùng những phương
pháp bói toán, tử vi, để gạn lọc và để hiểu một số
nghiệp dành sẵn cho họ. Ý tưởng chịu ảnh hưởng của
nghiệp không phải là thuyết định mệnh, mà chỉ để khuyến
khích con người hãy cố gắng chịu đựng với hoàn cảnh
hiện tại. Hơn là tạo thêm những nghiệp xấu mới như
tức giận xã hội, gia đình, hoặc người khác, đổ lỗi
cho người về những gì họ phải chịu đựng, những gì xảy
ra đều được xem như là kết quả của những gì đã tạo
ra trong quá khứ. Với tư cách nầy một người phải chịu
trách nhiệm cho cuộc sống của mình trong hiện tại hay tương
lai. Như những người có tôn giáo khác, Phật tử đôi lúc
cũng có ý niệm về định mệnh, song song với ý niệm về
nghiệp quả, hoặc họ có thể tiếp tục những hành động
không tốt trong hiện tại và đổ lỗi cho đây là nghiệp
của quá khứ.
Phần
lớn ở địa vị con người thì những hành động xấu ác
và tốt đẹp được thực hiện. Những vị trời thường
ít để ý đến việc làm tốt hay xấu, phần đông họ chỉ
lo hưởng thụ những quả tốt lành được gieo từ quá khứ
dẫn đến đời sống tốt đẹp sung sướng ngày nay ở cõi
trời. Thú vật, ma quỷ và những kẻ ở địa ngục thì không
có cái tự do để làm tốt hay xấu, dù rằng những con thú
ở tầng lớp cao thì hay xử sự tốt, cho dù không có ý thức
tự chủ trong vấn đề đạo đức. Những sinh vật trong sự
tái sinh thấp kém thường vì do nghiệp xấu đã tạo trong
quá khứ. Khi những nghiệp xấu nầy chấm dứt, thì những
nghiệp tốt lúc trước chín mùi sẽ đưa một sinh vật đến
một cuộc sống tốt hơn, sớm hay muộn gì họ cũng sẽ có
cơ hội làm người lần nữa. Điều nầy cho thấy nghiệp
không đem đến liền những kết quả ngay trong cuộc sống
kế tiếp: một hành động có thể ảnh hưởng ngay trong kiếp
hiện tại, trong kiếp sau hoặc những kiếp sau nữa.
Luật
nghiệp quả không máy móc và cứng ngắc, nhưng rất linh động,
uyển chuyển nhịp nhàng và mạnh mẽ để những hạt giống
đã gieo được đơm hoa kết trái. Chi tiết đầy đủ về
tiến trình nầy thì chỉ có những vị Phật mới có thể
hiểu thấu, vì điều nầy là “không thể nghĩ bàn” (acinteyya)
(A.IV.77). Một đời sống đạo đức chưa đủ để kiếp sau
tái
sinh vào cõi tốt, nếu như hành động xấu ác trong quá khứ
chưa trả xong, hoặc một người trước khi chết nuối tiếc
việc tốt mình đã làm. Cũng như vậy, một đời sống không
đạo đức cũng chưa chắc hẳn dẫn đến một sự tái sinh
thấp kém (M.III.209-15). Dẫu sao đi nữa, thì kết quả
xấu hay tốt đều sẽ thành hình theo chu kỳ của nó (Dhp.7l).
Trong
Phật giáo, một hành động “tốt” được gọi là kusala:
“khéo léo” (skilful) tạo nên một trạng thái tinh thần sảng
khóai, hoặc “đầy đủ” (wholesome), một tinh thần tráng
kiện. Một hành động “xấu” là Akusal: “không khéo
léo” (unskilful) hoặc “thiếu sót” (unwholesome). Để nhận
định đâu là hành động “không khéo léo” thì xem hành
động đó có hại cho chính mình hay cho người khác hay không,
hoặc là có hại cho cả hai bên (M.I.415-16), hoặc là hành động
đó có làm tổn hại đến sự sáng suốt, đem lại rối loạn,
và ảnh hưởng xấu đến việc đạt Niết Bàn (Nibbāna) (M.I.115).
Như vậy, một hành động “khéo léo” không đưa đến tổn
hại, nhưng đưa đến trạng thái lớn mạnh của tinh thần
(M.II.114). Sự tổn hại cho chính mình là sự tổn hại
có liên hệ đến vấn đề tâm lý, hoặc vật lý nếu là
“tự căm thù mình” (self-hatred) một hành động có lợi
ích cho kẻ khác nhưng mà tổn hại đến thân mạng của mình
cũng không phải là một hành động “khéo léo”. Thêm vào
việc nhận định hành động khéo léo hay không còn có thêm
ý nghĩ nằm sau hành động đó – ba gốc rễ cho một hành
động “không khéo léo” là: (i) tham bao gồm nhiều trạng
thái từ tham ít, tham nhiều, tham danh vọng, bám vào giáo điều,
lý tưởng; (ii) sân, gồm có bực tức ít cho đến thù ghét
nóng bỏng và giận dữ, và (iii) si mê bao phủ sự thật, một
trạng thái tinh thần lờ mờ, hay nghi ngờ về vấn đề đạo
đức và tâm linh, bóp méo sự thật, ngoảnh mặt với sự
thật.
Những
gì ngược lại với ba “gốc rễ” nầy là hành động khéo
léo: (i) không tham gồm có rộng lượng từ thấp đến cao,
đến lúc muốn từ bỏ hết những dục lạc trần gian; (ii)
không sân gồm sự dễ thương, cởi mở cho đến sự nhẫn
nhục khi bị trêu tức cực độ, và một lòng từ bi đối
với mọi chúng sanh và (iii) không si mê, gồm có tinh thần
sáng suốt cho đến khi nhận thấy sự sâu sắc của thực
tại. Ba trạng thái nầy được xem là những trạng thái có
lợi ích cho dù chúng nghe có vẻ hơi tiêu cực.
Những
hành động tốt lành và “xứng đáng”
Một
hành động khéo léo cũng được gọi là phúc đức (puñña):
nghĩa là “tốt lành” hoặc “may mắn”, vì hành động
khéo léo gột sạch tư tưởng và đưa đến một phước lành
trong tương lai.
Puñña
thường được dịch là “phẩm chất”, và trong Phật giáo
chữ nầy có nghĩa là “xứng đáng”, bởi đây ám chỉ
kết quả của những hành động tương xứng. Một hành
động “không khéo léo” gọi là apuñña, “không tốt lành”,
hoặc pāpa: “đem đến những điều không may”, “cằn cỗi”-
một hành động mà kết quả không có lợi ích. Người
Phật tử rất ham thích làm những việc tốt lành, như ủng
hộ các tăng ni Phật giáo bằng cách cúng dường, hay nghe pháp
thoại; vì puñña là một “kho báu” không dễ gì bị đánh
mất (Khp.7). Bất cứ hành động bố thí nào cũng được
xem là tốt lành, kể cả lúc hy vọng được cho trở lại,
hoặc cho một cách không vụ lợi cũng sẽ được kết quả
tốt trong hành động bố thí đó. Nhưng một hành động
có động cơ trong sạch, sẽ đưa đến một kết quả tốt
hơn.
Vì
thế, thật là tốt đẹp khi ta cho với một chủ ý đây là
món quà ủng hộ cuộc sống thánh thiện, hoặc cảm thấy
an lạc, thanh tịnh trong hành động bố thí đó (A.VI.60-3).
Trong lúc một món quà lớn thường được xem là tốt lành
hơn một món quà nhỏ, nhưng với một tư tưởng trong sạch
trong lúc bố thí thì món quà sẽ có giá trị hơn nhiều, vì
“không một món quà nào là nhỏ nếu bố thí với hết tấm
lòng” (Jat.II.85). Thật vậy, một người không có gì để
bố thí vẫn có thể hưởng được quả tốt lành chỉ với
tấm lòng hân hoan khi thấy một người khác bố thí. Trong
Phật giáo Nguyên Thủy, khi thấy những kẻ khác bố thí, ta
chỉ cần niệm một câu sādhu, nghĩa là “thật là tốt!”.
Trong
truyền thống Phật giáo Nam tông, một hành động tốt lành
không phải chỉ cần đồng cảm (anumodanā) với hạnh của
người bố thí, nhưng còn bằng cách chia xẻ hay chuyển nhường
(patti) những kết quả tốt đẹp cho những người khác. Phương
pháp thực tập nầy có lẽ bắt nguồn từ nghi lễ tín tâm
(śrāddha) của Bà-la-môn giáo mà Phật tử đã áp dụng, với
nghi lễ nầy các thầy Bà-la-môn chuyển các món quà đến
những thân nhân đã quá vãng bằng các buổi lễ xen kẽ nhau.
Trong
những bài văn buổi ban đầu, một thầy Bà-la-môn hỏi Đức
Phật là nghi lễ tín tâm (śrāddha) có đem lợi ích cho
người đã chết rồi không, và Đức Phật trả lời rằng
chỉ có lợi ích khi người quá vãng tái sinh trong cõi ngạ
quỷ (petas), vì những sinh vật ma quái nầy chỉ sống nhờ
vào thức ăn thối rửa trong thế giới của họ hoặc là nhờ
vào sự bố thí của thân nhân hay bạn bè (A.V.269-72).
Trong
bộ kinh Ngạ quỷ sự (Petavatthu), có đoạn nói rằng khi những
vật bố thí được hồi hướng cho một người đang tái sinh
làm ngạ quỷ, và với sự bố thí tốt lành đó mà họ được
tái sinh nơi cõi trời. Trong Phật giáo Nam tông, các nghi lễ
cho thân nhân quá vãng đi kèm với sự cúng dường các tăng
sĩ và hồi hướng công đức nầy cho người quá cố, hoặc
cho ông bà cha mẹ nhiều đời chẳng may tái sinh làm ngạ quỷ,
với hy vọng giúp cho các chúng sanh ấy bớt khổ và được
tái sinh nơi cõi khác tốt hơn. Thường thường nghi lễ nầy
được cử hành vào ngày thứ bảy sau cái chết, nhưng cũng
được cử hành vào ngày giỗ mỗi năm.
Trong
một đoạn văn khác, Đức Phật cũng nói rằng thật là sáng
suốt khi cúng dường các tăng sĩ và hồi hướng điều tốt
lành cho các vị thần nơi cư ngụ, điều nầy sẽ làm các
vị ấy cảm động và luôn phò hộ cho người cúng dường
(D.II.88). Theo Phật giáo Nam tông các sự cúng dường cho tăng
sĩ đều có một câu hồi hướng điều tốt lành cho các vị
thần nơi cư ngụ. Điều nầy cho thấy rằng các vị
ấy có ít cơ hội để bố thí, nhưng vẫn hưởng được
những điều tốt lành khi được hồi hướng, điều
nầy giúp họ được sống lâu hơn trong cõi thần; và hy vọng
rằng với quyền lực hiện có của họ, họ sẽ cố gắng
để giúp đỡ và bảo vệ Phật Pháp cùng với người bố
thí. Một thiếu niên được thụ phong làm sa-di hay tỳ
kheo cũng hưởng được quả tốt lành cùng với mẹ của mình.
Ở đây, người mẹ hưởng được sự tốt lành ở hai mặt,
một là đã ‘cho’ con mình trở thành tăng sĩ, hai là niềm
vui của bà khi con được thọ giới.
Những
Phật tử thường nhấn mạnh đến vấn đề một người chỉ
có thể hưởng những điều tốt lành bởi chính những hành
động của mình, vì vậy ý tưởng “hồi hướng” có vẻ
hơi bất thường. Để tránh sự bất thường nầy, Phật
giáo Nam tông có những lời dẫn giải chính thống để làm
sáng tỏ về điều nầy, bắt đầu từ thế kỷ thứ năm
trước công nguyên hoặc trước đó. Thật ra không có điều
“tốt lành” nào được chuyển đi, nhưng với thức ăn,
v.v… dùng để cúng dường cho các tăng sĩ, đều là của
cải của họ, nhưng nhờ thân quyến làm lễ dùm, do đó họ
cúng dường thì họ được hưởng quả tốt lành do hạnh
bố thí của chính họ. Vì chính lòng họ muốn làm việc nầy
cho nên quả lành tất nhiên họ được hưởng. Khi chia
sẻ “sự tốt lành”, một người không mất mát chi cả,
bởi vì hành động san sẻ cho kẻ khác tự nó đã là một
“sự tốt lành” rồi. San sẻ sự tốt lành là với những
kẻ khác là một cách làm lợi ích chung cho mọi người. Sự
san sẻ nầy được ví von như sau: một ngọn đèn đốt sáng
được các ngọn đèn khác. Trong Phật giáo Bắc tông, “sự
tốt lành” thường được hồi hướng đến “tất cả chúng
sanh”; nguyện vọng nầy không phải chỉ thấy trong Phật
giáo Bắc tông mà cũng tìm thấy ở Phật giáo Nam tông.
Tin
tưởng vào sự tái sinh và nghiệp
Trong
khi Phật giáo tin rằng có sự tái sinh và kết quả của luật
nghiệp báo được công nhận bằng những kinh nghiệm thiền
định sâu sắc, mà phần đông Phật tử không đạt đến
trình độ nầy. Vì thế, họ chỉ có thể tin tưởng vào những
nguyên tắc căn bản nầy, chứ không phải tự họ hiểu được
điều nầy, và dùng sự tin tưởng nầy để có được một
nhận thức trong cuộc sống và hành động theo sự tin tưởng
đó. Biết suy luận về những niềm tin nầy cũng được bàn
cãi rất nhiều trong truyền thống Phật giáo.
Trong
một bài văn (M.I.403), Đức Phật nói rằng tin tưởng vào
những nguyên tắc căn bản nầy để sống một đời sống
đạo đức, sẽ đưa đến một sự tái sinh tốt đẹp nếu
như sự tái sinh hiện hữu. Nếu như sự tái sinh không hiện
hữu, cũng không có gì mất mát, vì những người sáng suốt
sẽ khen thưởng người đạo đức. Vì vậy cái hay nhất là
tin tưởng những điều nầy và sống một cách đạo đức.
Thêm vào đó, nghiệp quá khứ cho thấy một lời giải thích
thỏa đáng cho những người hiền lành hiện đời đang gặp
đau khổ. Tuy nhiên một phần của nghiệp quá khứ cũng được
đền trả ngay trong kiếp nầy, và con người cũng nhận thấy
có những kết quả tốt và xấu thường được vay trả liền
trong cuộc sống hiện tại.
Cũng
như vậy chúng ta có thể quan sát và thấy rõ về sự tái
sinh ngay trong cuộc sống của chính mình. Có thể trong buổi
ban đầu của Phật giáo , sự tái sinh được xem như xảy
ra ngay sau khi chết, và đồng thời cũng xảy ra ngay trong cuộc
sống của chúng ta. Và như vậy nghĩa là chúng ta cũng không
ngừng biến dạng ngay trong cuộc sống hiện tại, “tái
sinh” làm một người “khác” tùy thuộc vào tâm trạng
lúc đó của mình, vào công tác đang làm hay người mà ta đang
đối diện. Về phần tinh thần, tùy theo ta đang hành động
như thế nào, chúng ta có thể kinh nghiệm được đâu là “thiên
đàng” hay “địa ngục”. Người Phật tử thấy điều
nầy rất hợp lý ví như tiến trình thay đổi nầy luôn hiện
diện tùy thuộc vào những hành động của chúng ta, thì tiến
trình nầy vẫn không chấm dứt bởi cái chết, mà luôn tiếp
diễn.
Những
Phật tử hiện đại cũng nhắm đến những dự kiện có vẻ
như ủng hộ triết lý tái sinh. Giáo sư Ian Stevenson, một bác
sĩ tâm lý người Mỹ đã tìm ra phần lớn những dự kiện
nầy. Giáo sư đã phát hành những kết quả về những cuộc
điều tra của mình trong quyển sách 20 Cases Suggestive of Reincarnation
(20 trường hợp gợi ý về luân hồi). Những nghiên cứu chi
tiết về những trẻ nhỏ, ở Ấn Độ, Tích Lan, Lebanon, Brazil
và Alaska; những đứa trẻ nầy dường như nhớ về kiếp
trước của chúng. Trong những trường hợp đặc biệt, đứa
trẻ bắt đầu nhắc lại kiếp trước của nó sau khi biết
nói, đứa trẻ nói về những chuyện lúc trước, gia đình
của nó ở kiếp trước như thế nào, những gì nó sở hữu
được lúc trước, lúc là ‘người lớn’. Những kỷ niệm
nầy thường phai mờ lúc đứa trẻ bắt đầu lớn.
Nhân
cách của kiếp trước thường sinh sống cách xa và không quen
biết với gia đình của đứa trẻ hiện giờ, và đứa trẻ
được thụ thai sau khi nhân cách kiếp trước chết không bao
lâu. Đứa trẻ thường biết rõ về đời tư của người
nầy, có những đặc tính giống nhau, và thường nhận ra ‘người
thân’ của kiếp trước trong một đám đông, có thể gọi
tên từng người, và có những cảm xúc rất mạnh đối với
những người nầy. Đôi lúc, những cái bớt, hay vết chàm
trên thân thể thường giống những vết thương hay vết mổ
của nhân cách đã chết lúc trước. Sau những phân tách, giáo
sư Stevenson kết luận rằng những giải thích như lừa đảo,
mơ tưởng theo tin tức lượm lặt được hay thần giao cách
cảm đều không thỏa đáng. Vì thế giáo sư Stevenson tin rằng
sự đầu thai là một giải thích hợp lý nhất trong những
trường hợp nầy, cho dù trường hợp bị ma quỷ ám
cũng có thể giải thích trong vài trường hợp. Đây không
phải là hiện tượng thời hiện đại, vì việc nầy cũng
đã từng xảy ra trong thời quá khứ và niềm tin về sự tái
sinh được xem rất là hợp lý trong văn hóa Phật giáo.
Trong
khi những bài giảng về nghiệp và sự tái sinh là một phần
quan trọng trong niềm tin Phật giáo, nhưng đó không phải là
phần chính yếu nhất, hoặc đặc biệt nhất của Phật giáo.
Nhưng nó là một động lực thúc đẩy sự tiến tới với
những bài giảng quan trọng như bài giảng về Bốn chân lý
nhiệm mầu - Tứ Diệu Đế (Four Holy Truths. Khi giảng dạy
cho người cư sĩ, Đức Phật thường bắt đầu với một
bài giảng ‘từng bước một’: (i) đưa ra những lời dạy
về đạo đức và nhờ vào đây mà có được sự tái sinh
nơi cõi trời và rồi, (ii) tiến lên với sự từ bỏ những
dục lạc (bằng sự thiền định để thanh lọc tư tưởng).
Những lời giảng như thế nầy dùng để gây hứng khởi cho
người đến nghe pháp và giúp họ đạt được trạng thái
an lạc, cởi mở, yên tịnh của tâm thần. Khi được trạng
thái nầy rồi họ lại được chỉ dạy về Tứ Đế, về
Khổ (ví dụ Vin.I.15-16). Những ‘bài giảng từng bước một’
và Tứ Diệu Đế tương ứng với hai cấp bậc “chính kiến”
(right view) và “chính tư duy” (right understanding) (M.III.72).
Loại
thứ hai là sự sáng suốt và sự thấu hiểu sâu sắc về
Diệu Đế. Vì đây là bước xa lìa đau khổ và luân hồi
trong các thế giới, được xem như là sự chuyển hóa xuất
thế (lokuttara) và thật sự thánh thiện. Loại thứ nhất được
xem là thế tục (lokiya), vì ủng hộ những hành động để
tiến đến những nơi tái sinh tốt đẹp. Trường hợp nầy
được diễn tả như là một niềm tin vào hiệu quả của
nghiệp, trong khi thực tại của sự tái sinh là để giúp đỡ
ông bà, cha mẹ, trong sự hiện hữu của từng cấp bậc tái
sinh, có những cõi tái sinh vô hình mà mắt thường không thể
nào thấy, và chỉ có những vị chuyên cần thiền định mới
có thể hiểu rõ những thế giới nầy. Thực hành theo những
tin tưởng như trên là một cách kiến tạo cho mình một nền
tảng để vươn lên và đạt đến sự sáng suốt. Vì thế,
tựu chung con đường của Phật giáo là một cách thực tập
để tiến dần lên và hiểu được những bài pháp khác sâu
sắc hơn, tựa như nước biển từ bờ thoai thỏai chảy
dần xuống đáy biển (Vin. II.238). Một số Phật tử có thể
sẽ không thể đi xa hơn nhưng mà lời mời gọi để đi xa
hơn vẫn hiện diện.