Chương
11
TRƯỜNG DU
GIÀ
hoặc Duy thức
tông (Yogācāra)
(tiếp
theo)
Con đường
và mục đích
của phái Du già (Yogācāra)
Hai
bản tính đầu là nền tảng của trần cấu và vì vậy đưa
đến đau khổ. Vì thế con đường mà phái Du già (Yogācāra)
nhắm đến là hiểu biết “sự cấu tạo” đối lập để
làm hư hoại “cái lệ thuộc khác” nền tảng của nó, cho
đến khi tẩy sạch được hết khỏi cái “hoàn toàn trọn
vẹn”. Trong sự yên tịnh của thiền định, tinh thần dần
dần khắc phục chiều hướng giải thích những kinh nghiệm
như là “những đối tượng” bên ngoài. Khi chiều hướng
nầy suy yếu, ý thức vẫn còn nắm giữ ở đây như những
“chủ thể” thật, còn thật hơn những “đối tượng”.
Cuối cùng, sự nhận thức rõ hoàn toàn về “chỉ là tiêu
biểu” xuất hiện khi ta hoàn toàn vượt xa bất cứ “đối
tượng” nào đưa đến sự sụp đổ của bất cứ ý nghĩ
nào về “chủ thể”, mà nó chỉ là sự đối nghịch của
cái đối lập (Tsn. v.36).
Do
đó, kinh nghiệm về sự hiểu biết siêu việt xuất hiện,
nó là một sự thống nhất không khác biệt, vượt hẳn chủ
thể/ đối tượng đối đãi, những khái niệm về bất cứ
gì, kể cả “ý nghĩ”. Ở đây ý nghĩ không còn là “ý
nghĩ”, vì nó không có đối tượng, không có nội dung (Trims.
vv.28-9) và lời bình luận; cf. tr.63). Đây là sự nhận thức
rõ về cái “hoàn toàn trọn vẹn”, và nơi đây là nhận
thức của “sự vô giới hạn” của pháp giới (Dharma-realm),
sự thức tỉnh (bodhi) (Tsn. vv. 37-8).
Con
đường đến Niết Bàn (Nirvāṇa) là sự phát triển từ từ
về đức hạnh, thiền định, và sự hiểu biết sâu sắc
về Không và những hiện tượng “nương tựa khác”. Sự
thành công cuối cùng đến một cách bất ngờ, như là một
sự thay đổi tâm linh trong giây phút, sự thay đổi đột ngột
choáng váng nầy có mặt ở gốc rễ của tinh thần – trong
A-lại-da thức (ālaya) dưới dạng của nó là mạt-na (manas).
Dự
kiện nầy được biết đến như là sự “hoán vị của nền
tảng” (āśraya-parāvṛtti). Đây là nơi mà dòng chảy thông
thường của tinh thần thế giới ngừng bặt, và sáu ý thức
giác quan không còn biểu hiện những tin tức. Khi ta chấm dứt
phân biệt các “đối tượng” trong dòng chảy của sáu ý
thức, mạt-na (manas) “quay lại” khỏi những đối tượng
và trực tiếp đạt đến sự hiểu biết bằng trực giác
nơi A-lại-da thức (ālaya) , nền tảng của nó. Do đó,
A-lại-da thức (ālaya) không còn khả năng chứa đựng những
“hạt giống” nghiệp, nguồn gốc của ý thức về “đối
tượng”, như bản chất lừa dối được nhận diện rõ.
Vì thế khả năng trực giác thâm nhập vào chiều sâu của
a-lại-da thức (ālaya) không đối lập, pháp giới (Dharma-realm)
là thực tại cuối cùng, vì vậy tất cả mọi vật được
xem là “chỉ là ý nghĩ” trong ý nghĩa cao nhất. Hình
ảnh trung thực của mạt-na (manas), a-lại-da thức (ālaya) không
có ý thức về bản chất bên trong của nó, vì thế Niết
Bàn (Nirvāṇa) là “ý thức của A-lại-da thức (ālaya) được
hiểu rõ từ bên trong, sau khi sự đảo ngược có mặt” (Lanka.62).
Niết Bàn (Nirvāṇa) vì thế là sự biến dạng của luân hồi
(saṃsāra), không phải là sự hủy diệt nó: như trong phái
Trung Quán (Madhyamaka), “không có sự khác biệt giữa luân
hồi (saṃsāra) và Niết Bàn (Nirvāṇa)” (Lanka. 61).
Một
vị Bồ Tát (Bodhisattva) tiên tiến đã có kinh nghiệm về Niết
Bàn (Nirvāṇa) không hài lòng ở mãi trong trạng thái nầy.
Vị nầy trở lại luân hồi (saṃsāra), để giúp đỡ những
kẻ khác, mà Nhiếp Đại thừa Luận (Mahāyāna-saṃgraha) gọi
là Niết Bàn (Nirvāṇa) “vô trụ xứ” (apratiṣṭhita). Vị
nầy làm như vậy bằng cách gửi đi một “tâm thân” được
cấu tạo bằng sự thiền định (Lanka.136, Ms. ch.2, v.27), mà
vị nầy hòa nhịp và nhận thấy “thế giới” rõ ràng của
những người mà vị nầy đang tìm cách giúp đỡ.
Trong sạch và
trần cấu
Phái
Du già (Yogācārins) suy nghĩ nhiều về liên hệ giữa một thực
tại cuối cùng “trong sạch” và một thực tại “trần
cấu”, luân hồi (saṃsāra) không tinh khiết được tìm thấy
ở “trong” nơi đây.
“Sự
đảo ngược” không đem lại một thay đổi cho thực tại
cuối cùng; bởi vì cái gì mà thay đổi được thì vô thường.
Sự trong sạch đối với nó là giá trị thực chất: “Cũng
như vàng nguyên chất, nước không chất dơ, bầu trời không
mây, vì thế nó trong sạch khi xa rời khỏi sự tưởng tượng”
(Lanka. 131).
Cái
rỗng không được xem là “không trần cấu” bởi bản chất
tự nhiên của nó, trạng thái siêu việt sáng rỡ của tâm
thức (citta), nhưng vì sự trong sạch nầy bị che phủ bởi
những trần cấu (Mv. ch.I, v.23, cf. tr.56). Vasubandhu phê
bình rằng sự hiện hữu của những trần cấu xa lạ (ở
trình độ “nương tựa khác”) giải thích tại sao con người
không đạt giải thoát nếu không có sự cố gắng, trong
khi bản chất sáng rỡ của thực tại cuối cùng giải thích
tại sao sự cố gắng để đạt trong sạch không phải là
không có kết quả. Ông cũng thêm rằng (trong Mv. ch.5,
v.21): “Pháp giới (Dharma-realm) giống như không gian, với bản
chất trong sạch, và sự đối lập “trong sạch” và
“không trong sạch” chỉ là ngẫu nhiên, xuất hiện sau đó”.
Nghĩa là, chỉ khi nào đối nghịch với những trần cấu “không
trong sạch” là thực tại cuối cùng “trong sạch”; tự
nơi nó, nó vượt hẳn tất cả những đối lập.
Ý tưởng về
Như lai tạng (Tathāgata-garbha)
Theo
truyền thống Trung Hoa, ý tưởng của phái Đại thừa (Mahāyāna)
Ấn Độ gồm có trường phái Trung Quán (Madhyamaka), Du già
(Yogācāra) và Như lai tạng (Tathāgata-garbha). Truyền thống
Ấn Độ và Tây Tạng không tính thành phần những ý tưởng
đến sau, như là một trường phái triết lý riêng rẽ, dù
rằng nó bắt nguồn trong khoảng thời gian giữa nguồn gốc
của hai phái Trung Quán (Madhyamaka) và Du già (Yogācāra), những
ý tưởng của nó là trung gian giữa hai phái nầy, và rút những
ý tưởng từ những trường phái nầy. Hơn nữa, không có
một thầy Ấn Độ giỏi nào liên kết với thành phần
ý tưởng nầy. Đây có lẽ là vì nó không có ý làm
thành một hệ thống giải quyết vấn đề, nhưng xuất hiện
giữa những người đang tìm cách ráp lại với nhau và ủng
hộ những khái niệm về sự thực hành có tính cách tôn giáo.
Tuy nhiên, nó cũng đóng góp một phần quan trọng cho ý tưởng
của phái Đại thừa (Mahāyāna).
Nguồn gốc
của Như lai tạng (Tathāgata-garbha)
Bài
văn Như lai tạng (Tathāgata-garbha) lâu đời nhất được biết
đến là Kinh Như lai tạng (Tathāgata-garbha Sūtra), sáng tác
vào khoảng năm 200-250 sau Công nguyên. Nhưng bản kinh quan trọng
nhất là kinh Thắng man (Śrīmālā-devī Siṃhanāda Sūtra), kinh
“tiếng rống sư tử của hoàng hậu Śrīmālā, sáng tác vào
khoảng giữa năm 250 và năm 150 sau Công nguyên.
Bài
luận thuyết dài quan trọng bằng tiếng Sanskrit về Như lai
tạng (Tathāgata-garbha), là Thật Tính Luận (Ratnagotta-vibhāga),
bài “phân tách về những châu báu và dòng dõi”, hoặc Cứu
Kính Mật tông (Uttara-tantra), “Bài luận thuyết về sự tối
cao” (The Treatise on the Supreme). Truyền thống Trung Hoa
cống hiến bài nầy cho Sthiramati/ Sāramati; truyền thống Tây
Tạng thiếu tin cậy hơn, cống hiến cho Bồ tát (Bodhisattava)
Maitreya, qua Asanga. Bài văn nầy, trích ra một cách tùy
tiện từ kinh Thắng man (Śrīmālā-devī Siṃhanāda Sūtra), có
lẽ được sáng tác không bao lâu sau đó. Kinh Lăng già
(Lankāvatāra Sūtra) cũng đồng hóa ý tưởng của Như lai tạng
(Tathāgata-garbha) với quan điểm phái Du già (Yogācāra), và
sự đồng hóa nầy phát triển xa hơn trong một bài văn thường
được dùng một cách rộng rãi như là một tóm tắt của
phái Đại thừa (Mahāyāna) ở Trung Quốc. Đây là Đại
thừa Khởi Tín Luận (Ta-ch’eng ch’i-hsin lun), “Bài luận
thuyết về đánh thức niềm tin nơi Đại thừa”, được
sáng tác, hoặc có thể được dịch vào năm 550 sau Công nguyên.
Như lai tạng
(Tathāgata-garbha)
Chữ
đầu tiên trong từ Như lai tạng (Tathāgata-garbha) có nghĩa
là “Người hoàn hảo” hoặc Đức Phật, trong khi từ thứ
hai chỉ có nghĩa hoặc là bào thai, hoặc là dạ con hay một
bình chứa. Những truyền thống Tây Tạng dựa vào ý nghĩa
đầu tiên của garbha, trong khi truyền thống Trung Hoa thì dựa
vào nghĩa thứ hai. Như vậy, Như lai tạng (Tathāgata-garbha)
có nghĩa như là “Người hoàn hảo từ nơi bào thai” hoặc
“thể mẹ của người hoàn hảo”. Nghĩa đầu tiên hình
như là nghĩa đúng nhất.
Ở
đây, “bào thai” nầy được xem là hiện hữu ở bên trong
tất cả chúng sinh, cho dù chúng sinh có bị đánh lừa hay ô
uế, các chúng sinh đều có thể trở thành và trở nên những
vị Phật. Như lai tạng (Tathāgata-garbha), sau đó, biểu hiện
“tiềm năng Phật” bên trong của mọi chúng sinh.
Trong
kinh Như lai tạng (Tathāgata-garbha), tiềm năng nầy được xem
là ngang hàng với “Phật tính” (theo Trung Hoa, Skt Buddha svabhāva?),
và được xác nhận bởi vị Phật là “hoàn toàn với đức
hạnh và không khác chi ta” (tr. 457c). Đây là một cái
rỗng không mà chính nó thì đầy dẫy những khả năng; nó
sáng rỡ với những phẩm chất của quả vị Phật, không
có bắt đầu, không thay đổi và thường hằng (Rv. vv. 51,
84). Nó vượt hẳn đối đãi, có bản chất của ý tưởng
và sự trong sạch bên trong như một viên ngọc quý, không gian
hoặc nước (Rv. vv. 28, 30, 49). Nó chiếu sáng rực rỡ
với sự trong sáng rõ ràng (Rv. v. 170) và vì “bản chất tự
nhiên là chiếu sáng rực rỡ và trong sạch” (Lanka. 77).
Mọi chúng sinh được coi là không biết gì về kho tàng quý
giá bên trong nầy, nhưng Đức Phật đã vạch ra cho chúng sinh
thấy để khuyến khích chúng phát triển tâm linh. Hơn
nữa, đây là Như lai tạng (Tathāgata-garbha), để trả lời
cho những bài giảng có tính chất tâm linh và gây hứng khởi
về Niết Bàn (Nirvāṇa) (Sriṃ. ch. 13).
Như lai tạng
(Tathāgata-garbha)
và những trần
cấu (defilements)
Trong
kinh Như Lai Tạng (Tathāgata-garbha) và Thật Tính Luận (Ratnagotra-vibhāga)
(vv. 96-8), một số ẩn dụ được dùng để diễn tả sự
liên hệ giữa Như lai tạng (Tathāgata-garbha) bên trong thanh
tịnh và “những vết nhơ trần cấu bất định”– tham
lam, ganh ghét, si mê, v.v… đã làm mờ sự thanh tịnh trong
sáng nầy. Đây cũng giống như hình ảnh của vị Phật
được gói trong những mảnh giẻ rách, mà sự hoàn hảo bất
biến chỉ cần được khám phá cũng như những mầm non của
một cây lớn đâm qua quả và từ đó lớn dần, cho thấy
rằng đây là một tiềm năng cần được vun trồng. Thật
vậy nó nên được xem là “hiện hữu từ bao giờ” và “trở
nên hoàn hảo qua sự trau dồi đúng cách (Rv. v. 149). Nó đã
từng có mặt, “bản chất tự nhiên chân thật không bợn
nhơ, không cần thêm, không cần bớt (Rv. v. 113). Nhưng nó vẫn
phải tách rời khỏi những thứ không trong sạch, giống như
quặng vàng cần được lọc để trở nên vàng nguyên chất
trong sáng. Nơi các vị Bồ tát (Bodhisattvas), nó chỉ trong sạch
nửa phần, và nơi các vị Phật thì nó thanh tịnh hoàn toàn
(Rv. v. 47).
Nếu
Như lai tạng (Tathāgata-garbha) là nền tảng trong sạch của
sự tranh đấu tâm linh có kết quả, đây cũng cần thiết
phải giải thích sự hiện hữu của những trần cấu khác
lạ đã kềm giữ các chúng sinh khỏi sự tỉnh thức.
Làm thế nào cả hai đều có mặt nơi một chúng sinh?
Kinh
Thật Tính Luận (Ratnagotra-vibhāga) cho rằng những trần cấu
như là một “vỏ ốc” không có bắt đầu như “bản chất
không bợn nhơ của tinh thần” mà nó che phủ (v. 129). Kinh
Thắng Man (Śrīmālā-devī Siṃhanāda) nói rằng những trần
cấu đã bám rễ nơi vô minh từ lúc nào, nhưng chỉ có Phật
mới có thể hiểu làm thế nào tinh thần với bản chất bên
trong là hoàn toàn trong sạch, Như lai lạng (Tathāgata-garbha)
làm sao có thể liên kết với những trần cấu.
Thật
ra ở đây, một người có thể thấy là lời giải thích của
Phật giáo về vấn đề xấu ác: từ đâu mà có sự xấu
ác? Phật giáo tránh nói về vấn đề xấu ác có tính chất
“thần học” (xem tr. 37), nhưng ở đây vấn đề tương tự
nầy cũng xuất hiện. Bởi vì Như lai tạng (Tathāgata-garbha)
được xem là nền tảng và cột trụ bất diệt của cái vô
điều kiện, bao gồm “những phẩm chất không thể nghĩ bàn
của các vị Phật (Srim. ch.13) và thế giới luân hồi (Samsāra)
bị điều kiện hóa.
Trích
ra từ kinh Đại thừa-Thắng Pháp (Mahayāna-abhidharma), và kinh
Thật tính luận (Ratnagotra-vibhāga) (tr. 723) đặt ngang hàng
Như lai tạng (Tathāgata-garbha) với “giới” (dhātu), hoặc
Pháp giới (Dharma-Realm) được trình bày trong hai bộ kinh nầy
(cf. p.107):
Giới
không có sự bắt đầu nơi thời gian
Đây
là nền tảng chung (āsraya) của các pháp (dharma)
Bởi
vì cái nầy hiện hữu, thì cái kia cũng hiện hữu
Tất
cả mọi nơi tái sinh và mục đích đạt hoàn toàn Niết Bàn
(Nirvāṇa).
Dùng
Như lai tạng (Tathāgata-garbha) làm nền tảng cho tất cả, ám
chỉ rõ ràng rằng đây cũng là nền tảng của trần cấu
và si mê. Kinh Thật tính luận (Ratnagotra-vibhāga) ủng hộ ý
nầy bằng cách nói rằng nghiệp (karma) và trần cấu dựa
vào sự chú ý vô hệ thống (nhận thấy thế giới bị điều
kiện hóa là có thực chất và thường còn); là điều nầy
dựa vào “sự trong sạch của tinh thần”, nhưng mà cái “bản
chất thật của tinh thần” chính nó không có nền tảng nào
hết (Rv. vv. 56-7).
Kinh
Lăng già (Lankāvatāra Sūtra) nói rằng Như lai tạng (Tathāgata-garbha)
gìn giữ trong nó nguyên nhân của thiện và ác, và từ đó
mà tất cả các dạng hiện hữu khác được tạo ra.
Như một người diễn viên đóng nhiều vai trò khác nhau…
” (tr.220). Trong phân tách cuối cùng, dù những bài văn về
Như lai tạng (Tathāgata-garbha) tránh cho rằng cái ác thật xuất
phát từ Như lai tạng trong sạch (Tathāgata-garbha). Như
vậy những trần cấu được xem là không có thực chất, không
thật, nhưng được tưởng tượng bằng tinh thần hư dối.
Điều nầy được nhận thấy bằng chứng là Niết Bàn (Nirvāṇa)
chân thật, quả vị Phật, không phải là sự chấm dứt của
bất cứ cái gì (trần cấu), nhưng mà là “Pháp thân”, hoặc
Như lai (Tathāgata) (Srim. chs. 5 và 8). Như lai tạng (Tathāgata-garbha)
luôn hiện hữu, nhưng vì bị “che phủ” bởi những trần
cấu. Như trong phái Trung Quán (Madhyamaka) và Du già (Yoyācāra),
sự tỉnh thức không phải đạt được bằng các tiêu diệt
những trần cấu thật, nhưng chỉ là không cấu tạo ra những
ảo tưởng, và sự đau khổ không thật cũng do ảo tưởng
mà ra. Tại sao những ảo tưởng nầy không bị tưởng
tượng ra thì chưa được giải thích nhưng: chỉ có Phật
mới có thể hiểu được.
Tư tưởng Như
lai tạng (Tathāgata-garbha)
đối với
Trung Quán (Madhyamaka) và Du già (Yoyācāra)
Những
nhà văn của cả hai phái Du già (Yoyācāra) và Như lai tạng
(Tathāgata-garbha) đều có một giải thích rất tích cực về
sự rỗng không hơn là những gì tìm thấy trong phái Trung Quán
(Madhyamaka) cổ điển. Như lai tạng (Tathāgata-garbha) được
đặt ngang hàng với sự rỗng không, và được cho rằng nó
là rỗng không và xa rời các trần cấu, nhưng lại không rỗng
không và không riêng rẽ nơi những phẩm chất của tính chất
Phật, nó là không thể nghĩ bàn và nhiều như cát sông Hằng
(Ganges) (Srim. ch.9). Điều nầy sắp đặt một sự phân hai
giữa những trần cấu không thật, và những phẩm chất thật
của Đức Phật. Nhận thức nầy khác hẳn với nhận thức
của phái Du già (Yoyācāra), cho rằng có ba cấp bậc của thực
tại, ba tự tính (svabhāvas). Như vậy, những nhà văn về Như
lai tạng (Tathāgata-garbha) tin rằng có hai cấp bậc của thực
tại, giống như người phái Trung Quán (Madhyamikas), nhưng nhận
thức của họ chính yếu hơn phái Trung Quán (Madhyamikas) về
một thực tại cao nhất.
Trong
cả hai phái Trung Quán (Madhyamaka) và Du già (Yoyācāra), trí
tuệ Bát Nhã (Perfection of Wisdom) được cho là có một tâm
thức (citta) “chiếu sáng rạng rỡ”, được trích ra từ
những kinh xưa (xem tr.56) và là một khái niệm chánh về Như
lai tạng (Tathāgata-garbha). Trong văn chương Bát Nhã, nó được
cho là “ý tưởng về sự tỉnh thức” (bodhi-citta), “Ý
tưởng đó là không phải là ý tưởng, bởi vì bản chất
tự nhiên của nó là chiếu sáng rạng rỡ”, và đây là trạng
thái của sự “không có tinh thần” (acittatā) nó vượt hẳn
sự hiện hữu và sự không hiện hữu (Asta. 5-6).
Điều
nầy đã đặt ngang hàng tâm thức (citta) rạng rỡ chiếu sáng
với tâm Phật (bodhi-citta), mà văn chương Như lai tạng (Tathāgata-garbha)
cho rằng điều nầy xuất hiện khi một người biết rõ ràng
mình có Như lai tạng (Tathāgata-garbha) ở bên trong mình. Dù
vậy, một đoạn kinh Bát Nhã cũng cho thấy rằng tinh thần
rạng rỡ chiếu sáng cũng là rỗng không như bản chất tự
nhiên của tinh thần, và không sắp đặt nó như là một nền
tảng của thế giới.
Trong
ý tưởng của hai phái Du già (Yoyācāra), và Như lai tạng (Tathāgata-garbha),
nhận thức về tinh thần được xem là nền tảng của thế
giới bị điều kiện hóa, cũng như sự đạt đến nơi vô
điều kiện hóa. Đối với những nhà văn Như lai tạng (Tathāgata-garbha),
nền tảng nầy là Như lai (Tathāgata) chiếu sáng rạng rỡ,
trong khi phái Du già (Yoyācāra), cho rằng nó những chiều sâu
của a-lại-da thức (ālaya-vijñāna). Cũng cần nên lưu ý là
Thật tính luận (Ratnagotra-vibhāga) trích ra từ kinh Đại thừa
Thắng Pháp (Mahāyāna-abhidharma Sūtra), một bài văn của phái
Du già (Yoyācāra), và một bài văn trước đó, Kinh Đại thừa
Trang Nghiêm Luận (Mahāyāna-sūtrālaṃkāra) nhấn mạnh rằng
tinh thần rạng rỡ chiếu sáng được nói đến là bản chất
tự nhiên của Như lai tạng (Tathāgata-garbha), cái mà mọi chúng
sinh đều sở hữu. Những bằng chứng nầy cho rằng có
một sự đồng cảm đặc biệt giữa ý tưởng của phái Du
già (Yoyācāra), và Như lai tạng (Tathāgata-garbha). Cũng có thể
là hai phái nầy phát triển trong những mỗi trường giống
nhau.
Trong
khi những nhà văn Như lai tạng (Tathāgata-garbha), sự nhấn
mạnh về cái trong sạch sẵn có của tinh thần, phái Du già
(Yoyācāra), tiếp tục giải thích sự xuất hiện và hoạt
động của ý thức kinh nghiệm bị những trần cấu che lấp.
Ở đây, nguồn gốc của trần cấu, danh từ được dùng “sự
cấu tạo của cái không thật”, được chấp nhận có một
thực tại lớn hơn là ý tưởng về Như lai tạng (Tathāgata-garbha).
Trong kinh Lăng già (Lankāvatāra Sūtra), hai dòng ý tưởng được
thống nhất, bởi vì ở đây họ cho rằng A-lại-da thức (ālaya-vijñāna)
cũng được gọi là Như lai tạng (Tathāgata-garbha) (tr.221).
Vấn
đề cuối cùng là kinh Lăng già (Lankāvatāra Sūtra), diễn tả
về Như lai tạng (Tathāgata-garbha), là “bị che dấu trong thân
thể của mọi chúng sinh như là một viên ngọc quý giá…
nó là thường hằng, bất diệt” (tr.77-8). Cho một diễn
tả như thế thì đâu có khác gì một cái Ngã (Pali atta, Skt.
ātman) thường hằng mà Phật giáo không bao giờ chấp nhận?
Những
bài văn dường như hơi mâu thuẫn trong tư tưởng về điểm
nầy. Một mặt, Pháp thân (Dharma-body), Như lai tạng (Tathāgata-garbha),
hoàn toàn trưởng thành là một sự hoàn hảo của sự thường
hằng và của Ngã (Srim. ch.12). Mặt khác, trong khi Như lai tạng
(Tathāgata-garbha), có thể trông giống như một cái Ngã hoặc
một đấng sáng tạo vĩnh hằng đối với người không biết
gì, đây không phải vậy, vì nó giống như hư không (Lanka.
78). Nó có thể giống như cái Ngã, nhưng không phải là
một cái Ngã chân thật, trong ý nghĩa của “cái Tôi”: “Đức
Phật không phải là một cái Ngã, hoặc những nguyên tố nhân
cách bị điều kiện hóa, Đức Phật đã không còn bị ràng
buộc bởi những hiểu biết từ nơi những trần cấu” (Lanka.
358).
Hoa Nghiêm (Avataṃsaka
Sūtra)
và Trường
Hua Yen
Trong
khi ý tưởng của Như lai tạng (Tathāgata-garbha), được thấu
hiểu bởi người Trung Hoa như một trường Đại thừa (Mahāyāna)
Ấn Độ thứ ba, họ đã phát triển trường Hua Yen dựa
trên kinh Hoa Nghiêm (Avataṃsaka Sūtra), hoặc “Hoa Văn Kinh”
(Ch. Hua-yen Ching). Đây là một tác phẩm lớn, rất nhiều
chương được lưu truyền bằng những kinh riêng rẽ.
Vài kinh được dịch ra tiếng Trung Hoa vào thế kỷ thứ hai
sau Công nguyên, nhưng nguyên bộ kinh thì được dịch vào khoảng
thế kỷ thứ bảy. Cũng có một bản dịch bằng ngôn
ngữ Tây Tạng.
Sự
hiểu biết về rỗng không cũng có mặt, với ý tưởng rằng
tất cả thế giới đều dựa vào A-lại-thức (ālaya-vijñāna)
mà có. Những tác phẩm quan trọng nhất, đều hiện diện
nơi ngôn ngữ Sanskrit, là kinh Thập Địa Phẩm (Daśa-bhūmika
Sūtra), “Mười cấp bậc” của con đường Bồ Tát (Bodhisattva-path).,
và Nhập Pháp giới phẩm (Gaṇḍavyūha), hoặc kinh “Vòng
hoa trang nghiêm”, gồm có hơn một phần tư nội dung kinh Hoa
Nghiêm (Avataṃsaka Sūtra).
Kinh
Nhập Pháp giới phẩm (Gaṇḍavyūha), là một đại tác phẩm
văn chương lớn mà những “hiểu biết quan trọng qua trực
giác” được giáo sư D.T. Suzuki xem là “một đài kỷ niệm
rất hùng vĩ được dựng lên bởi tư tưởng Ấn Độ
đối với đời sống tâm linh của nhân loại” (Tiểu Luận,
III. 69). Đây nói về sự hành hương tâm linh của người
thanh niên Sudhona, được gửi đi học ở năm mươi hai vị
thầy, về những bí mật của con đường Bồ Tát. Gần cuối
cuộc hành trình của Sudhona, anh ta đến gặp Bồ Tát Maitreya,
và được chỉ cho thấy một cái tháp vĩ đại của Đức
Phật Vairocana (“Đại Nhật Phật”).
Đây
được diễn tả như là thế giới của tất cả các vị Bồ
Tát, nghĩa là nó tượng trưng cho vũ trụ được nhận thấy
bởi trí tuệ và lòng từ bi của các vị Bồ Tát. Sudhona
vào trong tháp, và thấy một thế giới đẹp lạ lùng, rộng
lớn như không gian, đầy dẫy những con đường không đếm
hết, lâu đài, cờ phướng và cây cối, tất cả đều làm
bằng ngọc ngà châu báu, cùng với vô số gương soi không
đếm hết, đèn sáng, và những chim ca hót. Thêm vào đó,
tháp nầy còn chứa đựng vô số các tháp khác không đếm
xuể. Mỗi tháp đều rộng lớn như nhau, nhưng những
tháp nầy không gây trở ngại với nhau trong bất cứ trường
hợp nào, nhưng hòa hợp vào nhau một cách hài hòavà vẫn
giữ được những nét riêng biệt của từng tháp. Tất cả
đều nằm trong một tháp và một tháp nằm trong tất cả;
và nơi mỗi tháp Sudhona thấy chính mình, và rồi Sudhona cảm
thấy dường như thân thể và tinh thần của anh bị tan ra.
Đặc biệt trong một tháp rộng rộng lớn đẹp không thể
tả, Sudhona thấy tất cả thế giới trong vũ trụ, với những
vị Phật trong mỗi thế giới đó. Trên tường tháp đầy
những ngọc quý, Sudhona thấy những phản chiếu của các hành
động quá khứ của Bồ Tát Maitreya. Sau kinh nghiệm mộng
ảo nầy, nhờ vào quyền lực của Bồ Tát Maitreya mà Sudhona
có được sự hiểu biết nầy , Bồ Tát Maitreya giải thích,
“đây là tự tính của mọi vật, không hoàn toàn khi nó một
mình, như là chiêm bao, viễn ảnh, phản chiếu” (Essays (Tiểu
luận), III. 144-5). Sau đó Sudhona trở lại gặp Bồ Tát Mañjuśri,
người đã gửi anh đi cuộc hành hương nầy, và hoàn thành
sự phát triển để trở thành một vị Bồ Tát, biết rằng
một vị Bồ Tát không khác những chúng sanh mà vị Bồ Tát
sẽ giúp đỡ.
Thế
giới “mộng ảo” được diễn tả trong kinh nầy có vẻ
nhớ về những kỷ niệm của thành phố, theo truyền thuyết
về một vị Chuyển Luân Thánh Vương (Cakkavatti) được nói
đến trong những kinh xưa, như kinh Đại Thiện Kiến (Mahā-sudassana)
(D. II.169-98). Đây không cố ý chỉ là một sự tưởng tượng,
nhưng mà là sự cố gắng để thuyết phục, qua những chuỗi
hình ảnh lúc thiền định, một sự hiểu biết sâu sắc về
bản chất thực tại “không thể nghĩ bàn” (acintya). Trọng
tâm của sự hiểu biết sâu sắc là một khái niệm của “sự
nhập sâu vào nhau” nơi mọi sự hiện hữu. Điều nầy
bắt nguồn từ ý nghĩa về sự rỗng không, vì mọi vật
như nó là bởi vì nó liên hệ với những vật khác,
trong một màn nhện phụ thuộc lẫn nhau. Ở đây cũng là một
cách nói về sự “giống nhau” (samatā) của mọi vật.
Kinh nói về một thế giới toàn ánh sáng và châu báu; bởi
những châu báu nhiều đến nỗi ánh sáng chiếu xuyên qua nó
và phản chiếu trở lại; mỗi một tia ánh sáng không gây
trở ngại đối với những tia ánh sáng khác, biểu hiện một
đường độc lập giữa những hiện hữu phụ thuộc lẫn
nhau không có tự tính (chúng “trong suốt”). Vị thầy của
trường Hua-yen, Fa-tsang vì thế minh họa rằng sự hòa nhập
lẫn nhau của mọi vật bằng một hình ảnh được vẽ từ
kinh Hoa Nghiêm (Avataṃsaka Sūtra): lưới châu báu của vị trời
Indra, mà trong lưới đó mỗi một viên ngọc phản ảnh các
viên ngọc khác, kể cả sự phản ảnh của chính nó trong
mỗi viên châu báu, và cứ như thế cho đến vô cùng tận.
Thế
giới tháp của Đức Phật Vairocana là pháp giới siêu việt,
thế giới mà sự hiểu biết thấu qua sự hòa lẫn chung nhau
của tất cả mọi vật, thấy qua cái như như của tất cả.
Ở đây là thế giới của những ai đã thành công trong việc
đem một pháp (dharma) vào trong tất cả các pháp (dharma) và
tất cả các pháp vào trong một pháp và không có pháp nào
hủy diệt pháp nào. (Essays-Tiểu Luận, III. tr.121).
Pháp
giới (Dharma-realm) không khác thế gian (loka-dhātu), thế gian
của những hiện tượng “riêng rẽ”, nhưng nội tại nơi
nó, hòa nhập với nó. Pháp giới là toàn bộ của những sự
hiện hữu hòa nhập mầu nhiệm lẫn nhau. Trong mỗi phần của
một cái nguyên, cái nguyên vẹn có mặt, và trong sự nguyên
vẹn mỗi phần là một thành phần cần thiết. Cũng như
bất cứ phần nào của hình ảnh giao thoa (holographic) ba chiều
đều chứa đựng một hình ảnh nguyên vẹn, mỗi phần là
một pháp giới, mỗi khỏan của sự hiện hữu, phản ảnh
và gồm có mỗi phần khác; vì tất cả đều là phụ thuộc
lẫn nhau. Nhưng mỗi phần của sự hiện hữu vẫn giữ bản
chất của nó, không có sự cản trở từ những phần khác-
thật ra nó không thể tự nó là, nếu nó không có liên hệ
với những vật khác.
Ở
đây là một cái thấy có tính cách hữu cơ, thánh thiện đối
với mọi vật, mà hết thế giới của không gian và thời
gian có mặt trong một hạt bụi đặc biệt: “Mỗi một chúng
sinh và mỗi một vật nhỏ là quan trọng, kể cả những vật
nhỏ nhất cũng chứa đựng cả một sự huyền bí”.
Các
vị thầy của Trường Hua Yen sử dụng vài khái niệm của
phái Du già (Yogācāra) như là tam tính, và trung tâm của tinh
thần, hệ thống hóa một thông điệp trích từ kinh ra. Pháp
giới (Dharma-realm) được xem là rỗng không, như như, Như lai
tạng (Tathāgata-garbha) và chỉ một Tư tưởng về một thực
tại, trong sạch, hoàn hảo và sáng chói. Đây là thực
tại chân thật (Ch. li) nhập sâu vào những hiện tượng (shih)
như nó từng hoạt động với nhau. Những hiện tượng
là rỗng không, nhưng không phải là không thật; bởi vì nó
không khác chi thực tại chân thật (li). Nhận thấy được
sự rỗng không, không phải là thuốc chữa cho mọi nhận thức,
nhưng mà là nền tảng cho một sự đánh giá tích cực về
những thực tại cụ thể về thiên nhiên như một phần của
sự thống nhất hữu cơ hài hòa. Tương xứng với sự yêu
thích thiên nhiên và sự hài hòa của người Trung Hoa, mỗi
một phần của hiện hữu được xem là đáng được ngưỡng
mộ và tôn trọng, vì tất cả đều là “thân” của Đức
Phật Vairocana.