MỤC LỤC
.
| 00.
Mục Lục |
15.
Phẩm Nguyệt Dụ |
| 01.
Phẩm Tự |
16.
Phẩm Bồ Tát |
| 02.
Phẩm Thuần Đà |
17.
Phẩm Đại Chúng Vấn |
| 03.
Phẩm Ai Thán |
18.
Phẩm Hiện Bịnh |
| 04.
Phẩm Trường Thọ |
19.
Phẩm Thánh Hạnh |
| 05.
Phẩm Kim Cang Thân |
20.
Phẩm Phạm Hạnh |
| 06.
Phẩm Danh Tự Công Đức |
21.
Phẩm Anh Nhi Hạnh |
| 07.
Phẩm Tứ Tướng |
22.
Phẩm Quang Minh Biến Chiều Cao Quý Đức Vương Bồ Tát |
| 08.
Phẩm Tứ Y |
23.
Phẩm Sư Tử Hống Bồ Tát |
| 09.
Phẩm Tà Chánh |
24.
Phẩm Ca Diếp Bồ Tát |
| 10.
Phẩm Tứ Đế |
25.
Phẩm Kiều Trần Như |
| 11.
Phẩm Tứ Đảo |
26.
Phẩm Di Giáo |
| 12.
Phẩm Như Lai Tánh |
27.
Phẩm Ứng Tận Hườn Nguyên |
| 13.
Phẩm Văn Tự |
28.
Phẩm Trà Tỳ |
| 14.
Phẩm Điểu Dụ |
29.
Phẩm Cúng Dường Xá Lợi |
Lời Giới Thiệu
Tam
Tạng kinh điển của nhà Phật mênh mông như rừng, nhưng tất
cả đều có cùng một mục đích là từng bước, chỉ cho
chúng sinh con đường tháo bỏ gông cùm của vô minh phiền
não tham sân si, vượt qua dòng sinh tử luân hồi, đến được
bờ hoàn toàn giải thoát, hội nhập lại bản thể chân như
giác tánh.
Tùy theo tâm
bệnh của chúng sinh, mỗi bộ kinh lại nhấn mạnh về một
vấn đề, cũng như tùy bệnh cơ thể mà người lương y lại
cho một loại thuốc đặc chế theo loại vi trùng của bệnh
đó. Cho nên, cũng có những bộ kinh đặc biệt để trị bệnh
chúng sinh ở một giai đoạn nào đó.
Ðại
Bát Niết Bàn là tên bộ kinh do Phật Thích Ca thuyết trước
khi Ngài Niết Bàn. Có hai bản Kinh Niết Bàn của Phật Giáo
Nam Tông và Phật Giáo Bắc Tông. Kinh Ðại Bát Niết bàn của
Nam Tông, được tìm thấy trong Kinh Trường Bộ, [Kinh Ðại
Bát Niết Bàn, (Hệ Pali), Việt dịch: Hòa Thượng Thích Minh
Châu, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành năm 1991].
Còn Kinh Ðại Bát Niết Bàn của Phật Giáo Bắc Tông bao gồm
hai bản: (1) Phật Thuyết Phương Ðẳng Bát Nê Hoàn Kinh, do
ngài Dharmaaksa (265-316), đời Tây Tấn dịch và (2) Ðại Bát
Nê Hoàn Kinh, do ngài Pháp Hiển và Buddhabadhra đời Ðông Tấn
(317-420) dịch. Bản Việt ngữ của Phật Giáo Bắc Tông do
Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dịch từ bản Hán văn, Tịnh Xá
Minh Ðăng Quang, Hoa Kỳ tái Xuất Bản năm 1990, dầy 1500 trang
gồm tất cả hai mươi chín phẩm (chương), được phân ra
làm hai quyển, quyển 1 từ phẩm 1 đến phẩm thứ 21 và
quyển hai từ phẩm 22 đến phẩm 29.
Kinh
Ðại Bát Niết bàn, vì là lời nói sau cùng của Ðức Phật,
trước khi Ngài Niết Bàn, nên bao quát hầu như đủ mọi thắc
mắc của chúng sinh. Vì thời gian có hạn nên lời Ngài dạy
rất cô đọng, nhưng minh bạch, rõ ràng. Thí dụ như nơi Phẩm
Kim Cang Thân thứ năm và Phẩm
Như Lai Tánh thứ mười hai, ngài giải thích cặn kẽ
về Chân Ngã hay Phật Tánh, đó chính là bản thể thanh tịnh
thường hằng bất biến của tất cả mọi loài chúng sinh,
mênh mông như hư không, thường trụ bất hoại, tuy vậy bản
thể ấy không phải tất cả chúng sinh là một, nhưng cũng
không phải là khác, vượt ra khỏi tư tưởng suy nghĩ thông
thường của đời sống tương đối hiện tượng, cho nên
gọi là bất khả tư nghị, tức không thể nghĩ bàn, nhưng
chính là cái chân thật của mọi chúng sinh, không phải là
cái "Tôi" ô nhễm tham sân si, đầy vướng mắc khổ vui vô
thường này. Bản thể ấy tràn ngập khắp nơi nhưng chúng
sinh bị trói buộc vì phiền não, tham sân si nhiễm ô che mờ
nên không thấy được. Bản thể ấy luôn luôn sẵn sàng,
tịch tĩnh hiện diện, nên gọi là Như Lai.
Vấn đề
Hộ Pháp. Phật tử chúng ta thường quan niệm rằng hộ pháp
là đến chùa làm công quả hoặc đem tiền bạc vật chất
đến chùa cúng dường là tròn bổn phận. Trong kinh, đức
Phật dạy rằng Ngài giao cho tứ chúng Phật tử gồm Tỳ Kheo,
Tỳ Kheo ni, nam Cư sĩ và nữ Cư sĩ, tất cả đều phải có
nhiệm vụ hộ pháp, nghĩa là giữ gìn sao cho chánh pháp khỏi
bị mang tiếng oan vì những người phá giới, khiến cho người
đời mất niềm tin, mất cơ hội thấm nhuần dòng sữa Phật
pháp. Ðó mới là chân chính hộ trì chánh pháp. Ðạo Phật
là đạo bình đẳng, không khi nào dung dưỡng một loại người
đặc biệt nào được quyền phá hoại uy tín của đạo Phật
một cách tự do, thoải mái, mà mọi người vẫn phải nhắm
mắt bịt tai lại mà cung kính cúng dường. Nếu như thế tức
là a dua, đồng lõa với kẻ phạm pháp. Chữ Tăng ở câu kính
Phật trọng Tăng phải hiểu nghĩa là thanh tịnh Tăng.
Về vần
đề đức Thích Ca sơ sinh bước bẩy bước và nói "Thiên
thượng Thiên hạ duy Ngã độc tôn", nơi Phẩm
Tứ Tướng thứ bẩy, ngài cũng nói rõ rằng Ngã đây
chính là Như Lai, là Chân Tâm, Phật Tánh, là thân Kim Cang bất
hoại, chứ không phải là Ngã của Thái Tử Tất Ðạt Ða.
Cũng trong phẩm đó, vấn đề ăn thịt cũng được Ngài căn
dặn rất kỹ lưỡng.
Bộ kinh Ðại
Bát Niết Bàn được ngài nói khi sắp thị hiện Niết Bàn.
Biết rằng Ngài không còn tại thế để hằng ngày giải đáp
thắc mắc cho chúng sinh nữa, nên chư đệ tử đã hỏi và
Ngài đã giảng gần như đủ loại vấn đề. Ngài còn dặn
kỹ rằng vì phương tiện độ sanh, tùy theo thời điểm và
tâm chúng sinh đương thời, nên đôi khi có những lời dạy
Ngài phải giản lược, chưa đi tới được rốt ráo, cho nên
có những kinh ngài gọi là kinh bất liễu nghĩa. Nay, lời cuối
cùng, nơi Phẩm Tứ Y thứ 8,
ngài dặn lại rằng chúng sinh phải y chỉ kinh liễu nghĩa,
là kinh với mục tiêu tối hậu, nói về Giác Tánh của chúng
sinh, về Trí tuệ bát nhã, chỉ cho chúng sinh con đường hội
nhập lại bản thể thường hằng bất biến, giải thoát hoàn
toàn.
Chúng tôi
thiết tha mong mỏi chư vị dành thì giờ xem toàn thể bộ
kinh, tất cả mọi phẩm, tất cả đều là cam lộ thủy, xem
rồi lắng tâm suy nghĩ cảm nhận sâu xa từng lời dạy cuối
cùng của Ðức Phật, tâm càng an tịnh thì lời dạy càng
thấm thía, càng thấy ánh sáng của lời kinh rọi vào đủ
loại thắc mắc, lấn cấn trong tâm, sẽ thấy bừng sáng lên
lời giải đáp, sẽ thấy tín tâm càng tăng trưởng, càng
tích cực cố gắng "không làm điều ác, siêng làm điều lành,
thanh tinh hóa tâm ý" hơn nữa.
Cuối cùng,
chúng con xin cung kính đảnh lễ Hòa Thượng Thích Trí Tịnh,
tri ơn công đức dịch kinh của Ngài, nhờ vậy, chúng con mới
có được cơ duyên càng thấm nhuần hơn nữa những lời dạy
quý giá của Ðức Bổn Sư Như Lai. Cũng xin chân thành cảm
ơn Thầy Thích Đồng Bổn và Đạo hữu Lệ Diệu đã giúp
đánh máy vi tính bộ kinh này.
Tâm Diệu
Source: thuvienhoasen