Trong kinh Tương Ưng Bộ, kinh “Bộc Lưu” chỉ dòng thác
đang chảy xiết mà đức Thế Tôn dụ cho sự chấp trước, dòng tâm thức trôi chảy từng
sát-na sanh diệt. Nói đến tâm thức là nói đến các pháp trùng trùng duyên khởi từ
thức và trí, từ mạc- na-thức, a-lai-da-thức mà cũng là nhân của sự chấp trước
trong tư tưởng của con người. Bộc lưu cũng nói lên dòng thác của dục vọng và phiền não vì nó chất
chứa những vọng tưởng trong tâm. Vọng tưởng được hình thành bằng vô minh. Muốn
ra khỏi vòng vô minh, cần phải “làm sao không đứng lại, không bước tới.”
Phân tích rõ ràng hơn, bài kinh trên rất thâm diệu về pháp học cả pháp hành.
Bộc
Lưu (S.I,1)
“Như
vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi(Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông
Anàthapindika (Cấp Cô Độc).
Rồi
một vị Thiên, khi đêm đã gần tàn, với nhan sắc thù thắng chói sáng toàn vùng
Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một
bên, vị Thiên ấy bạch Thế Tôn:
--
Thưa Tôn giả, làm sao Ngài vượt khỏi bộc lưu?
--
Này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt khỏi bộc lưu.
--
Thưa Tôn giả, làm sao không đứng lại, không bước tới, Ngài vượt khỏi bộc lưu?
--
Này Hiền giả, khi Ta đứng lại, thời Ta chìm xuống. Này Hiền giả, khi Ta bước tới,
thời Ta trôi giạt; do vậy, này Hiền giả, không đứng lại, không bước tới, Ta vượt
khỏi bộc lưu.
(Vị
Thiên):
Từ
lâu, tôi mới thấy.
Bà-la-môn
tịch tịnh.
Không
đứng, không bước tới,
Vượt
chấp trước ở đời.
Vị
Thiên ấy nói như vậy và bậc Đạo Sư chấp nhận. Vị Thiên ấy biết được: "Thế
Tôn đã chấp nhận ta". Vị ấy đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài,
rồi biến mất tại chỗ.”
- Khi
Ta đứng lại là Ta chìm xuống.
Ðứng lại: Chận dòng thời gian ở hiện tại, làm cho quá khứ trỗi
dậy. Ðứng lại là trụ vào cái thực tại giả lập hiện hữu mà chìm đắm trong vọng
tưởng triền miên, trong dòng tâm thức từng sát-na sanh diệt liên tục, trong sanh
tử luân hồi của dòng sống đang xiết chảy theo thời gian không ngừng. Chúng ta
thường truy tầm dữ kiện quá khứ mà ưu phiền.
Nếu
đứng lại là chìm đắm trong
vọng thức của đối tượng biến dịch trong
tâm. Ðối tượng mà khi ta trụ vào nó (đứng lại) đã nhuộm đẩy
quan niệm của nội tâm làm thay đổi như nhãn căn, tức mắt, sắc (vật), hay thấy (nhãn thức) không còn
nguyên thủy rồi, như nhìn sự vật, lúc không
thấy không biết là không còn mắt cũ, vật đầu tiên, thấy nguyên sơ
và bị xúc thọ ái lăn trôi theo thời gian trụ vào sự vật lâu mà có những khái niệm, nên mắt, sắc, thấy đã
biến thể. Nói chung, trong Trí (hay Tâm) chúng ta đều có chứa sẵn biểu
hiện Trí Năng, Tình Năng và Hoạt Năng, nên dây thần kinh dẫn truyền lên
não hình ảnh của chơn sắc từ chơn mắt để có chơn nhãn thức thì đồng thời đã xúc
chạm dây thần kinh thị giác, có nhân nhãn xúc; do duyên nhãn xúc này khởi lên
lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vì chúng ta không thấy không biết
chơn cảm thọ như thường tình, mà có ái trước (ái đã có trong A Lại Da thức) đối
với mắt (mắt lập lại), ái trước đối với các sắc (hình ảnh có sẵn tích tụ) và ái
trước đối với nhãn xúc (Xúc có sẵn trong trong A-Lai-Da Thức: ký ức). Từ đó do
duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ mà ái trước
đối với cảm thọ ấy mà chìm đắm trong ái thủ hữu của nhị thập nhân duyên vốn là
nguồn gốc của sanh tử luân hồi.
- Khi Ta bước tới thời Ta trôi dạt
Bước tới: tiến về phía trước
mặt, tương lai, khoảng không gian phía trước. Khi bước tới là lăn trôi theo
thời gian huyễn hóa, hay lăn trôi theo trần cảnh giả lập. Bước tới là lăn trôi
theo sự vật huyễn hóa, nhân duyên chằng chịt, dòng tâm thức từng sát-na sanh diệt
liên tục. Bóng dáng sự vật theo thời gian thành những ảnh ảo vốn sanh ra những ước
muốn không thực tế chỉ là những ảo vọng gây nhiều phiền toái.
Thật ra, nếu chúng ta đứng
lại hay bước tới tức là không thấy
không biết như chơn lục căn, chơn lục trần và chơn lục thức thì những hệ lụy và say đắm sanh ra ái thủ hữu. Nói
cách khác,
không thấy không biết
chơn lục căn, lục trần, lực thức là thể cách nhận thức sự vật một cách vô minh
của tâm thức thường tình. Như khi chúng ta nhận thức và quán sát vị ngọt của cảm
thọ, chấp vào ái trước (ký ức), rồi sự hệ lụy và say đắm nên năm thủ uẩn được
tích trử trong tương lai. Ái ấy tái sanh, ưa thích ngũ dục. Thủ Hữu là tìm cầu
và giữ lấy những thú vui và tham luyến, sanh thân ưu não, thân nhiệt não, và
tâm khổ não. Nên tạo nên những cái có, chính những cái sở hữu này là những
nghiệp. Cảm thọ thân khổ và tâm khổ.
- Khi không đứng lại hay không bước tới,
thì vượt khỏi bộc lưu.
Không
đứng lại là không trụ vào quá khứ cũng như không trụ vào tất cả các chỗ, vào
các thực tại hiện hữu mà phải xa lìa bốn tướng (Ngã tướng, Nhơn tướng, Chúng
sanh tướng, Thọ giả tướng). Không bước tới là giai đoạn đầu của nhận thức đúng thực
tại của đối tượng và không chạy theo những vật tưởng tượng không thật tức là
giải thoát được khổ đau và phiền não (phủ định những ảo thể).
Nếu
Không đứng lại hay không bước tới tức thấy biết như chơn lục căn, chơn lục trần
và chơn lục thức thì những hệ lụy và say đắm không xảy ra. Nói cách khác,
thấy biết chơn lục căn, lục trần, lực thức là thể cách nhận thức sự vật
một cách sáng suốt vô thời không; đó cũng là sự nhận thức của chơn trí. Như Phật
đã giảng về chơn trí như sau:
“Này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn mắt,
thấy và biết như chơn các sắc, thấy và biết như chơn nhãn thức, thấy và biết
như chơn nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ
bất lạc thọ, thấy và biết như chơn cảm thọ ấy; vị ấy không ái trước đối với con
mắt, không ái trước đối với các sắc, không ái trước đối với nhãn thức, không ái
trước đối với nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ, hay
bất khổ bất lạc thọ; vị ấy không ái trước đối với cảm thọ ấy.
Khi vị ấy trú, quán sát vị ngọt, không bị ái
trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tàn diệt trong tương lai. Và
ái của vị ấy, đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm sự hoan lạc chỗ này
chỗ kia; ái ấy được đoạn tận; những thân ưu não của vị Việt dịch) ấy được đoạn
tận; những tâm ưu não được đoạn tận; những thân nhiệt não được đoạn tận; những
tâm nhiệt não được đoạn tận; những thân khổ não được đoạn tận; những tâm khổ
não được đoạn tận; vị ấy cảm thọ thân lạc và tâm lạc (Kinh Ðại Sáu Xứ)”
Khi
Phật giải về nhãn căn sắc trần và nhãn thức theo chơn trí. Chúng ta nhìn một
vật thì thấy và biết như chơn mắt, thấy biết như chơn các sắc, thấy biết
như chơn nhãn thức vì chúng ta đã hiểu được chơn mắt, chơn các sắc, và chơn
nhãn thức theo thật tướng của chúng như đã trình bày trên. Chơn mắt, chơn
sắc, và chơn nhãn thức là một khi nhìn một vật gì thì sử dụng một lần mà thôi
(vô thời gian). Nếu không kéo dài thời gian thì vật đó còn nguyên thủy:
nó-là-nó tại đó và lúc đó, vô thời không hay mắt, sắc (vật), hay thấy (nhãn
thức) vẫn còn chơn nguyên, thấy biết không bị xúc thọ ái lăn trôi theo thời
gian mà có những khái niệm, nên mắt, sắc, thấy biết không thay đổi, cố định.
Nói chung, trong Trí (hay Tâm) chúng ta đều có chứa sẵn biểu hiện Trí Năng, Tình Năng và Hoạt Năng, nên dây thần kinh dẫn truyền lên não hình ảnh
của chơn sắc từ chơn mắt để có chơn nhãn thức thì đồng thời đã xúc chạm dây
thần kinh thị giác, có nhân nhãn xúc; do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ,
khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vì chúng ta thấy biết chơn cảm thọ không
có thời gian, nên không có ái trước (trong A Lại Da thức) đối với mắt
(mắt không lặp lại), không có ái trước đối với các sắc (hình ảnh các sắc có sẵn
tích tụ) và ái trước đối với nhãn xúc (Xúc có sẵn trong A-Lai-Da Thức: ký ức).
Từ đó do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ mà
không có ái trước đối với cảm thọ ấy.
Khi
chúng ta nhận thức và quán sát vị ngọt của cảm thọ, không chấp vào ái trước (ký
ức), không có sự hệ lụy và say đắm nên năm thủ uẩn không được tích trử trong
tương lai. Ái ấy không thể tái sanh, và không ưa thích ngũ dục. Không có Thủ
Hữu thì lấy gì tìm cầu và giữ lấy những thú vui và tham luyến thì thân không ưu
não, thân không nhiệt não, và tâm không khổ não. Nên thân tâm không thủ hữu gì
cả. Cảm thọ thân và tâm không có ưu khổ, được an lạc.
Tóm lại, nếu thấy biết như chơn lục căn, chơn
lục trần và chơn lục thức thì những hệ lụy và say đắm không xảy ra. Nói cách
khác, thấy biết chơn lục căn, lục trần, lực thức là thể cách nhận thức sự
vật một cách sáng suốt vô thời không; đó cũng là sự nhận thức của chơn trí.
- Pháp Tu Tập với Thượng Trí.
“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần
phải đoạn tận với thượng trí ? Vô minh và hữu ái, những pháp này cần phải đoạn
tận với thượng trí.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải
tu tập với thượng trí? Chỉ và Quán, những pháp này cần phải tu tập với thượng
trí.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp cần
phải chứng ngộ với thượng trí? Minh và giải thoát, những pháp này cầu phải
chứng ngộ với thượng trí.” (Lời thuyết của Đức Thế Tôn, Ðại Kinh Sáu Xứ)
Như
chúng ta đã biết chơn trí, hay là thượng trí là những nhận thức chơn thật. Vô
minh và hữu ái là những pháp cần phải đoạn tận. Pháp Chỉ và Quán cần phải tu
tập. Chỉ có nghĩa là đình chỉ, quán là quán đạt. Như vậy chỉ quán
là đình chỉ vọng niệm để quán đạt chân lý. Khi cơ thể ngừng nghỉ là “Chỉ” vô
thời gian. Khi tâm đang nhìn thấy một cách rõ ràng là “Quán," thấy và biết
như thật như chơn. Được Minh Tâm và Giải thoát khỏi Vô minh đó là những pháp
cần phải chứng ngộ với thượng trí. Thấy con bò liền biết con bò và xa lià cái
biết đó thì ta có Thượng Trí. Nói khác đi là nhận thức niệm đầu (Thấy)
một đối tượng để có giác thức nguyên sơ. Tri nhận (Biết) giác
thức nguyên sơ (hình ảnh thấy) là ta có Chơn Trí hay Thượng
Trí.
Dựa theo kinh Nhất Dạ Hiền giả tương hợp với bộc lưu, Phật
dạy pháp thực hành rất rõ ràng là làm sao không đứng lại và cũng không bước tới
liền ra khỏi dòng bộc lưu sanh tử.
-
Kinh Nhất dạ hiền giả (Bhađdekaratta sutta).
Thế Tôn giảng như
sau:
“Quá khứ
không truy tìm
Tương lai
không ước vọng.
Quá khứ
đã đoạn tận,
Tương lai
lại chưa đến,
Chỉ có
pháp hiện tại
Tuệ quán
chính ở đây.
Không động
không rung chuyển
Biết vậy
nên tu tập,
Hôm nay
nhiệt tâm làm,
Ai biết
chết ngày mai?
Không ai
điều đình được,
Với đại
quân thần chết,
Trú như vậy
nhiệt tâm,
Đêm ngày
không mệt mỏi,
Xứng gọi
Nhứt dạ hiền,
Bậc an tịnh,
trầm lặng.”
-
Cốt tủy của
giáo pháp.
Dòng tâm thức nối tiếp từng sát na sanh diệt liên tục
luôn trôi chảy không ngừng, do đó tri giác không thế nào nắm bắt thực tại một
cách toàn diện được. Không gian bao la, ngũ giác quan không định vị chính xác
được vì mỗi căn chỉ cảm nhận phần chức năng của mình, chẳng hạn như mắt chỉ thấy
không thể nghe v.v... Thực tại toàn diện không thể giao cho tiền ngũ căn nhận thức
trong không gian và thời gian trọn vẹn.
Thời gian huyễn hóa. Quá khứ đã qua và đã đoạn tận,
tri giác không thể nhận diện, nên không truy tìm. Tương lai chưa đến, đối tượng
không có mặt làm sao cảm nhận được, nên không ước vọng trong tương lai. Hiện tại
là thời gian đang trôi chảy nối tiếp những điểm li ti sát na sanh diệt, là cái
Đang Là, không nắm bắt được. Tam thời bất khả đắc, nên Phật dạy, quá khứ không
truy tìm, tương lai không ước vọng, và không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
Nhưng chỉ có pháp hiện tại, thì Tuệ Quán mới có thể nắm bắt được. Tuệ quán được
hiển lộ thực sự trong chuyển động của pháp hiện tại (trong động tác đang là).
Trong động tác đang là cuả pháp hiện tại nối tiếp những điểm sát na sanh diệt.
Nhận thức ngay thực tại điểm của tri giác nguyên sơ và liền xa lìa nhận thức
đó. Tri giác nguyên sơ là chơn thức vừa cảm nhận (vừa sanh) là vừa nhận biết
thì chơn thức ấy (giác thức nguyên sơ) biến thành Giác Trí, nên gọi là Chơn thức
sanh mà vô sanh vì điểm sát na sanh mà không bị diệt, do mủi tên Tuệ quán nhắm
trúng và đã chuyển thức thành trí rồi. Cho nên Phật dạy, Tuệ Quán ở nơi pháp hiện
tại, không động không rung chuyển. Tuệ quán là tri nhận một cách sáng suốt, vô
thời gian. Vì lẽ chơn thức (tri giác nguyên sơ) là một điểm nhận thức có thật
trong động tác nhận thức đầu nguồn của tri giác. Thực tại điểm nầy thì không động,
không rung chuyển vì một điểm có thật một cách toàn diện không thêm không bớt,
chính nó là nó ở đó và lúc đó (vô thời không). Vậy tri nhận thực tại điểm của
giác thức nguyên sơ, chúng ta có tri thức nguyên thủy của chân trí. Thí dụ, khi
gặp con bò đang đi, ta nhận diện hình ảnh con bò đầu tiên khi thấy nó (cảm
giác: first sensation), nhận biết (perceive) tên con bò là nhản thức nguyên sơ
(first visual consciousness, hay chơn thức:
pure perception; gọi chung là tâm thức nguyên sơ); tri nhận nhản thức đó là ta
có tri thức nguyên thủy (pure cognition) cuả chân trí (True mind without time).
Nói khác đi, khi ta thấy (niệm đầu) con bò (perception), ta biết có tánh thấy
(cognize the pure perception). Vì không có thời gian kéo dài cái tri thức
nguyên thủy đó nữa nên niệm đầu (thực tại điểm) của dòng tâm thức đang lăn trôi
(cái đang là), nên không có trí và thức liên hợp, tư tưởng, hay khái niệm gì về
con bò cả). Đó mới thật sự Giác Ngộ mọi sai lầm của Tri Giác và Giải Thoát khỏi
dòng bộc lưu sanh tử.
Thật vậy, chỉ có trong pháp hiện tại, bậc an tịnh nhiệt
tâm trú quán như vậy ngày đêm không mệt mỏi, mới xứmg đáng là "Nhứt dạ hiền
giả.
Nếu nhận thức đúng (không đứng lại không bước tới hay
không động không rung chuyển: quá khứ không truy tầm, tương lai không ước vọng) lục căn lục trần và lục thức như chơn như thật thì làm gì
có chấp trước, chìm đắm hay trôi giạt, mà có nghiệp
quả khổ não. Nên thấy và biết như chơn lục căn, thấy và biết như chơn lục trần,
thấy và biết như chơn lục thức, thấy và biết tất cả các pháp nào đều nhận thức
theo thượng trí, thì màn vô minh không còn bao phủ tâm trí, nên không có dây
nhân duyên nào trói buộc. Vì khi ta thấy và biết chơn thật là ta nhận thức ngay
thực thể sự vật, không thêm không bớt; vật là vật, ngoài vật không thêm thuộc từ
nào cả. Vì không có thời gian, dòng tâm thức không lăn trôi, không có quá khứ
không có tương lai (vô thời không) nên sự vật không
có duyên khởi hay biến thể nào, thì làm gì có xúc thọ ái thủ hữu. Tu tập theo
pháp Chỉ Quán là ưu việt nhất để có chơn
trí hay thượng trí. Đó là lúc được tâm minh và giải thoát khỏi dòng bộc lưu
sanh tử.
Tham
Khảo
Bộc Lưu (SI.1). Kinh Tương Ưng Bộ. HT. Thích
Minh Châu dịch. Trich trong website Quảng Ðức, phần Kinh Ðiển.
Đại Kinh Sáu Xứ 149 (Muhasalayatanikasuttam),
Kinh Ðại Ca Diên Nhứt Dạ Hiền Giả 133 (Kaccanabhaddekarattasuttam). HT Thích
Minh Châu dịch, trích từ Kinh Trung Bộ trong website Quảng Ðức.
http:www.quangduc.com
Tâm
Tư
Tuổi tác tuy là sắp bảy tư,
“Bộc
Lưu Duyên Khởi” lắm
ưu tư
“Như Chơn Thấy Biết”,
ngừng trôi giạt.
“Chìm đắm không còn, dụng “Pháp
Như”.
Phổ
Nguyệt (2008)