LUẬN CÂU XÁ LÀ TRUY TẦM CỨU CÁNH CỦA PHÂN BIỆT CÁC PHÁP
Phổ Nguyệt, 2010
I.
TỔNG
QUAN
Trong Ðại Thừa Thuyết Luận, quan niệm khai mở tư tưởng Phật
bằng ngôn ngữ lan rộng phát triển theo thời gian hợp với nền tư duy mới mà không
xa rời đệ nhất nghĩa lời kinh Phật dạy từ nguyên thủy, lại còn rõ nghĩa và lý
luận đào sâu tư tưởng hơn. Thật
vậy, theo thời gian dòng tư duy con người phát triển không ngừng, đó cũng là
dòng tâm thức lăn trôi từng sát-na sanh diệt. Vì sự chuyển sanh thức mới từ sự
diệt thức cũ, mà thức mới càng lúc càng tinh tiến hơn. Từ đó tư tưởng con người
phát triển mãi theo sự chuyển hóa của lịch sử. Từ thời nguyên thủy Phật đã dạy,
“Thấy Biết như Chơn Mắt… Chơn Lục Căn, Chơn Lục Trần, Chơn Lục Thức”, mà giờ
đây các vị luận sư dùng bản tâm hay chơn tâm hay Tánh Không để chỉ rõ pháp hành
ấy đến bờ giác ngộ, âu cũng là cách để phân biệt vọng tâm và chơn tâm mà khỏi lầm
lẫn trong việc tu tâm. Ðạo Phật là đạo trí tuệ, nên sự phát triển trí tuệ tạo
những phương tiện mới, thuận tiện hơn thích hợp với thời đại mới là điều đương
nhiên. Xưa ăn cơm dùng tay bóc, nay dùng đũa, nĩa hay muỗng, v.v theo thời đại
mà mục đích cũng là ăn cơm. Xưa đi bộ, giờ dùng xe hơi máy bay,… để di chuyển.
Từ những tư tưởng cô đọng hay đơn giản do ngôn ngữ giới hạn hay chứa nhiều điển
tích mà người bình thường khó hiểu tột nghĩa, nên sau này các vị đại luận sư mới
đưa ra nhiều học thuyết cốt để giải thích phần đệ nhất nghĩa trong các kinh Phật
dạy khi còn tại thế và khi đã kết tập. Ðại Thừa Thuyết dùng nghĩa lan rộng mong
được mọi người liểu tri ý chỉ của Phật trong pháp học cũng như pháp hành.
Ðứng trên phương diện cứu cánh thì Ðại Thừa được diễn tả
Niết-Bàn là Tâm Chân Như. Ðại Thừa còn biểu thị ý nghĩa vĩ đại của tâm bao gồm
toàn thể pháp thế gian và pháp xuất thế gian, cũng như thể dụng bao la của nó,
cho nên Khởi Tín khuyến cáo chúng ta tu
ngay vào Chân Như. Với phương pháp luận giải Ðại Thừa rất ư là phong phú và
nghiên cứu Tâm rất là tỉ mỉ làm cho chúng ta ôn lại các lời Phật dạy trong các
kinh điển rất rõ ràng dễ hiểu và còn hiểu xa hơn nữa. Ðọc kỹ Ðại Thừa Khởi Tín
nhận rõ được Tánh Không của Tâm mình thật vĩ đại như hư không. Như theo Cụ Trần
Trọng Kim nhận xét Tâm Ðại Thừa trong kinh Lăng Già như sau, "Kinh Lăng Ca
- trước trực chỉ nhất tâm chân như để làm cho rõ cái nghĩa tam giới duy tâm, -
sau chỉ thị nhất tâm sinh diệt để làm cho rõ cái nghĩa vạn pháp duy thức."
Ðại Thừa luận chủ yếu diễn tả chân tâm và vọng tâm với những khía cạnh biến diệt
của nó và phương pháp trực chỉ nhân tâm.
Sau này các vị Ðại sư, Trí giả luận giải tư tưởng Ðại Thừa
một cách chi tiết và theo thời gian và thời đại khi mà dòng tư duy con người
phát triển với lịch trình chuyển hóa tư tưởng và ngôn ngữ càng lan rộng và sâu
sắc hơn. Những tư tưởng theo lịch sử được quan niệm nhận thức và càng thay đổi
theo dòng thời gian là lẽ tất nhiên của thế giới hiện tượng hay lý vô thường ở
thế gian. Một điều chắc chắn là chân tâm hay chân như qua lời Phật dạy trong
các kinh điển nguyên thủy vẫn không thay đổi, là tự tính tuyệt đối, là đệ nhất
nghĩa mà Phật luôn nhắc nhở trong các
kinh giảng như pháp thấy biết như chơn nhãn nhĩ thân ý, chơn lục căn, chơn lục
trần, chơn lục thức, đó là chơn trí hay chánh trí hay pháp an trú vào không
tánh, pháp không chấp thủ thì làm gì có ưu khổ và nghiệp quả sanh tử luân hồi.
Xét kỹ thì Chân Như và Pháp an trú vào không tánh không khác.
Tóm lại, nếu đem đối chiếu với những dữ kiện về Chân như
của hậu thế thì ta nhận thấy Chân như quan của Nguyên thủy Phật giáo không có một
điểm nào trình hiện một cách rõ rệt cả. Tuy nhiên, nếu đi sâu vào những ý nghĩa
tiềm tàng trong kinh văn mà suy cứu đến đến tư tưởng cứu kính để nhận xét thì
ta thấy trong đó đã chứa đựng đầy đủ những cái mà đời sau đã khai thác và phát
triển về mọi phương diện. Đìều này, như ta đã thấy ở trên, đại khái rất rõ
ràng.
Bây giờ nếu đem tất cả những điều đã trình bày ở trên mà
nghiên cứu một cách thấu triệt thì ít nhất mọi người phải thừa nhận những sự thực
sau đây:
a) Vạn hữu tuy là lưu chuyển, song trong cái lưu chuyển đó vẫn có cái
pháp tắc thường hằng;
b)
Trong lưu chuyển giới này vẫn có Niết bàn giới thường hằng bất biến;
c) Dù là
lưu chuyển giới hay Niết bàn giới, nếu truy nguyên ra thì rốt ráo cũng chỉ là
cái tâm của chúng ta.
d)
Sau hết, cái chân tướng kể trên chỉ được nhận ra khi nào chính trị và chính niệm
đã xa lìa sự thiên kiến và chấp kiến.
Tất cả những
điều trên đây là nguồn gốc của Chân như quan của triết học sau này. Bởi thế,
trước tiên chúng ta cần ghi nhận điểm này. Ở thời kỳ Nguyên thủy Phật giáo, những
tư tưởng đó vẫn chưa có sự thống nhất hoặc phân hóa, và đó chính là cái lý do tại
sao được gọi là Nguyên thủy vậy
Trong kinh Bồ Tát Thiện Giới, NGHĨA
LAN RỘNG là Tánh
Không Thật của Ngôn Ngữ.
Ngôn ngữ là một thực tại giả lập. Cái trở thành ngôn ngữ được kiến
lập do nhân duyên (căn trần) là cái Thức, là bóng dáng của đối tượng mà chủ thể
nhận biết Nhận thức sự vật gọi là cụ thể, được đi đôi với một tên gọi nào đó,
không có tên gọi thì đối tượng không là gì cả. Sự vật được đặt tên không phải
là đối tượng trực quán của chân trí. Như thế đối tượng của tri thức không là gì
khác hơn là giả tượng. Do đó, sự vật được diễn tả mà ta tri giác do cảm giác
(Căn trần, nhân duyên kết hợp) thêm kinh nghiệm (Thức) mà có tên gọi khác nhau
gọi là nghĩa lan rộng. Tên gọi của sự vật (danh từ hay ngôn ngữ) mà ta nhận biết
chỉ là giả danh. Sự vật giả danh là do duyên khởi qua nhận thức của chủ khách.
Đã Giả Danh (theo Ngài Long Thọ), duyên khởi thì sự vật nhận thức đó không có tự
tính hay là Thực Tại Tùy Thuộc (theo Ngài Vô Trước) hay là Tánh Không.
Cái Trở Nên là cái không thật có, cũng không thật không. Tự tánh
giả danh hay tùy thuộc cũng nằm trong phạm trù Tánh không. Tự tánh giả danh được
thể hiện tướng sanh diệt do tác động thời gian thì có sanh có diệt, và quan niệm
cá nhân chi phối. Thời gian ngưng chuyển, tức thì tự tánh tùy thuộc cũng tuyệt
tích, vì nhân duyên không thể phát triển. Chủ thể (Ý) nhận thức được tướng
không của sự vật tùy thuộc vào nhân duyên tiềm ẩn trong tàng thức. Chủ thể và sự
vật tùy thuộc vào nhân duyên mà tri nhận, nên sự tri nhận đó cũng không thật và
chắc chắn hay thay đổi tức là nghĩa lan rộng. Tự Tính giả danh hay tùy thuộc của
sự vật cũng là vô tự tính hay Tánh Không. Sự vật biến đổi (sanh diệt) làm cho
hình ảnh của chúng mà con người trông thấy Sạch Nhơ, Tốt Xấu, Màu Sắc v.v.. tùy
theo quan niệm cá nhân. Tự tánh tùy thuộc còn gọi Nghĩa Lan Rộng thế gian.
Trong Kinh Bồ Tát Thiện Giới, Phật dạy rõ nghĩa lan rộng như sau:
Bồ Tát khéo biết làm rõ pháp giới chẳng thể tuyên nói, biết tánh
pháp giới, biết luôn sự lan rộng thế gian. Sự lan rộng thế gian là sắc, thọ, tưởng,
hành, thức cho đến Niết Bàn. Sắc cho đến Niết Bàn chẳng gọi là chơn thật. Tại
sao vậy? Vì sắc đây chẳng phải có, chẳng phải không, cho đến Niết Bàn chẳng phải
có chẳng phải không. Nếu chẳng phải có chẳng phải không làm sao chơn thật?
Thế nào là chẳng phải có? -Chúng sanh điên đảo kể sắc là ngã, cho
đến Niết Bàn cũng kể ngang là ngã. Đó là chẳng phải có.
Thế nào là chẳng phải không? -Vì lan rộng thế gian, vì có thể
tuyên nói. Đây gọi là chẳng phải không. Bởi hai nghĩa trên gọi là chẳng phải có
chẳng phải không.
Như bất cứ pháp gì được nói ra, bảo rằng có ư? -Nếu có thì trong một
pháp lẽ ra phải có vô lượng tên, vì vô lượng tên lẽ ra có vô lượng tánh. Tại
sao vậy? Vì mỗi pháp có vô lượng tên. Thế nào là vô lượng tên? -Như một pháp
thuộc về sắc chẳng hạn, cũng nói là xanh, vàng, đỏ, trắng, dài, ngắn, vuông,
tròn, lớn, nhỏ, có thể thấy, không thể thấy, có rối, trơn, rít, nhẹ, nặng
v.v…Thế gọi là có thể nói. Tùy sự nói, lẽ ra trong một pháp vô lượng tướng. Những
gì có thể tuyên nói, thật sự không tánh nhất định, bởi lời lẽ mà lan rộng trong
đời. Thật ra không có người nói (hay sự nói), cũng như không có tánh chơn thật.
Một pháp như vậy, tất cả pháp cũng như vậy. Như sắc cho đến Niết Bàn, nếu là có
thật tánh, lẽ ra chẳng nói có xanh, vàng, đỏ, trắng, cho đến nhẹ nặng v.v…Nếu
không thật tánh thì khi chưa lan rộng, làm sao có thể truyền? Cũng vì tánh cách
lan rộng là có, tánh cách lan rộng này không ba đầu, khởi thỉ, do đó có thể lan
rộng.
Nếu lúc chưa có sắc, đã có sự lan rộng, thì do nhân duyên gì lúc
không có sắc lại chẳng lan rộng? Như sự lan rộng ấy có thể làm tánh của sắc vì
sao lan rộng mà không làm vô lượng tánh của sắc?
II TỔNG
LƯỢT NỘi DUNG
Luận Câu-xá là một trong những bộ luận thuộc luận tạng
Nguyên Thuỷ. Bộ luận Câu-xá là một trước tác của ngài Thế Thân. Tác phẩm này
được ngài Chân Đế dịch sang tiếng Hán vào giai đoạn 563-567 TL, và ngài Huyền
Trang dịch lại vào năm 651-654TL. Theo HT Thích Thiện Siêu, nội dung luận thư
gồm những pháp “Phân Biệt” được lượt giải như sau:
Căn cứ vào bốn nghĩa:
tùy thô, tùy nhiễm, tùy khí và tùy giới biệt mà lập thành ra thứ lớp của năm
uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức như thế. Từ đây đến hết phẩm Giới, còn một
đoạn dài bàn về sự thứ lớp thành lập xứ và giới. Dùng hai mươi hai nghĩa để
giải thích rất tỉ mỉ về mười tám giới, nêu rõ sự tương quan rộng rãi của 18
giới từ Dục giớï đến Vô săc giới, hữu lậu, vô lậu, kiến phi kiến v.v...
Ðoạn 1 - 22 căn:
Các pháp hữu vi
có thế, có dụng. Phẩm Giới nói về thể, Phẩm này nói về dụng. Cái tác dụng mạnh
mẽ, rõ rệt nhất của các pháp nhiễm tịnh là 22 căn, nên căn được nêu làm tên phẩm, và được
nói đến trước tiên. (Luận Chính
Lý gọi là phẩm Sai biệt, Luận
Tạp Tâm gọi là phẩm Hành sắc pháp do nhân
duyên và tăng thượng duyên sinh như thế nào? Nhân duyên đây cũng là ba nhân câu
hữu, đồng loại và năng tác trong sáu nhân, và tăng thượng duyên đây cũng chính
là năng tác nhân trong sáu nhân. Chẳng hạn, bốn đại chủng, đất, nước, lửa, gió
đồng thời đắp đổi làm nhân qủa cho nhau mà sinh tồn, đó là hỗ vi quả câu hữu
nhân, bốn đại phút trước và phút sau đồng loại nhau, đó là đồng loại nhân,
không làm chướng ngại nhau, đó là vô lực năng tác nhân. Sự duyên sinh của tâm,
tâm sở, bất tương ưng hành chiếu theo đây để biết.
Phẩm này nói về kết quả
của mê lầm (vô minh hữu lậu). Do nghiệp lực riêng và chung (biệt nghiệp, cộng
nghiệp) của chúng sanh cảm ứng mà tạo ra.
a. Hữu tình thế gian, tức chánh báo, chỉ cho
thân phần của chúng sanh, nói theo nghĩa hẹp là nhân sanh.
b. Khí thế gian, tức y báo, là nơi nương tựa, sanh hoạt của hữu tình, đó chính
là vũ trụ thế giới.
Ðầu tiên do cộng nghiệp
lực của chúng sanh chiêu cảm, có sức nóng của bảy mặt trời xuất hiện, biến toàn
cõi Tam thiên Ðại thiên thế giới thành đống lửa, cháy tiêu không còn một thứ
gì, biển khô, đất thành tro bụi, lên đến Sơ thiền (vì cúng sanh ở đây, trong
tâm còn có tầm, tứ thiêu đốt như lửa làm nội ứng); rồi đến thủy tai, một trận
hồng thủy tràn ngập lên đến Nhị thiền (vì chúng sanh ở đây trong tâm còn có hỷ
ái, khinh an thấm nhuần thân thể như nước làm nội ứng); rồi tiếp đến phong tai,
một trận gió ghê gớm thổi lên đến cõi Tam thiền (vì chúng sanh ở đây, còn có
hơi thở như gió làm nội ứng), Tam tai ấy làm cho thế giới trống không, giai
đoạn này cũng kéo dài 20 tiểu kiếp, sau đó bắt đầu thành lại; thành rồi thì
trụ, trụ rồi thì hoại, hoại rồi thì không, không rồi lại thành... như một vòng
tròn không manh mối, thành không phải đầu, hoại không phải cuối. Như thế thế
giới là vô thỉ vô chung.
Riêng ở Tứ thiền và Vô
sắc giới không bị ảnh hưởng của đại tam tai này, nhưng vẫn biến chuyển không
thường theo nghiệp lực thọ mạng của chúng sanh ở các cõi đó vậy.
Trước đây phẩm Thế gian nói về kết quả đau khổ của mê lầm, nhưng
đã có quả tất phải có nhân, nhân đây chính là hoặc và nghiệp. Hoặc chỉ cho phiền
não, tức tâm hư vọng, nhận thức sai lầm sự lý của vũ trụ vạn hữu, sanh tâm đắm
trước. Rồi từ sự sai lầm đắm trước đó, khởi lên những tác vi nơi thân, nói năng
nơi miệng, đó là nghiệp. Ðối với kết quả được thành tựu, chính nghiệp là nguyên nhân trực
tiếp, còn hoặc
là trợ duyên gián tiếp. Vì nếu có phiền não mà không khởi nghiệp thì cũng không
thể chiêu cảm quả báo. Hoặc như hạt giống, nghiệp như đất, nước, phân, tro, môi
trường. Có hạt giống mà không có môi trường đất nước, hạt giống không thể mọc
thành cây. Bởi vậy, tiếp theo phẩm Thế gian, ở đây giảng phẩm Nghiệp.
Du-già tông còn căn cứ trên các điểm dị, đồng tự biến, cộng biến
mà chia ra có cộng nghiệp và bất cộng nghiệp (biệt nghiệp). Như mọi người tương
đồng tạo nghiệp đưa đến kết quả hiện thành một thế giới, một xã hội tương đồng,
hoặc như mười người chung sức dựng lên một ngôi nhà, đó là cộng báo do cộng nghiệp, tức do công sức đồng nhau của mọi người trong đó tạo ra. Ðó là cộng nghiệp. Tuy nhiên, trong cùng một thế giới, một xã hội, hay một ngôi nhà, nhưng
mỗi người có mỗi cơ thể, mỗi thái độ tâm lý, tình cảm khác nhau, hoặc mỗi người
làm mỗi nghề, tập mỗi việc khác nhau để đưa đến mỗi đời sống không giống nhau.
Ðó gọi là bất cộng nghiệp và bất cộng báo (biệt nghiệp, biệt báo). Nhưng hai thứ
cộng nghiệp và bất cộng nghiệp này cũng luôn gắn liền nhau nên lại diễn ra nghiệp
cộng trung bất cộng như cùng ở chung trong một ngôi nhà, rủi bị bão, nhà bị sập,
có người chết, có người gãy tay, có người u đầu... nhưng có người bình yên vô sự,
kiểu như nói "đồng sàng dị mộng". Và nghiệp bất cộng trung cộng, như
trong ngôi nhà đó có một người tập tánh uống rượu, nói khùng, gây gổ, thậm chí
châm lửa đốt nhà, và người đó bị chết thiêu, như vậy là nghiệp riêng người đó
làm, người đó chịu, nhưng những người khác ở cùng nhà cũng phải chịu họa lây.
Ðó là bất cộng trung cộng.
Phẩm tùy miên gồm
có 69 bài tụng. Tùy miên
là tên khác của phiền não
hay hoặc. Luận
Câu-xá 20 nói: Tùy miên có bốn nghĩa: vi tế, tùy tăng, tùy tục, tùy phược.
Khi căn bổn phiền
não hiện tiền vẫn khó biết rõ hành tướng của nó nên gọi là vi tế. Nó làm tăng thêm sự
hôn ám trầm trệ đối với cảnh nó duyên và những tâm tương ưng với nó nên gọi là tùy tăng. Nó thường theo
dõi hữu tình gây ra các tội lỗi nên gọi là tùy
tục. Nó thường hiện khởi trói buộc, không muốn, nó vẫn sanh, cố
ngăn, nó vẫn khởi nên gọi là tùy
phược.
Do ba nhân duyên các
phiền não phát khởi, đó là sức nhân, sức cảnh giới, và sức Gia hạnh.
1. Do sức nhân: Như trong khi khởi lên lòng tham là do hạt
giống tham sẵn có trong tâm chưa bị dứt, chưa biết khắp đủ (vị đoạn, vị biến
tri). Nếu đã dứt và đã biết đủ thì gọi là dĩ đoạn, dĩ biến tri.
2. Do cảnh giới: Tức là sự vật đối với thích hợp lòng tham hiện
ra trước mắt.
3. Do gia hạnh: Tức là sự phân biệt sai lệch đối tượng sự vật
(phi lý tác ý, nếu tác ý lạc thanh tịnh thì gọi là như lý tác ý).
Sức nhân là hạt giống
nhân, cảnh vật đối tượng và phi lý tác ý là duyên, tức đủ nhân duyên thì các
phiền não phát sinh.
Phẩm Hiền Thánh cùng hai
phẩm Trí và Ðịnh tiếp sau nhằm nhân quả giác ngộ. Phẩm Hiền Thánh phân biệt kết
quả của giác ngộ, gồm 38 bài tụng, chia ra làm ba loại chính:
1. Nói về thể tánh của đạo gồm có tánh hữu lậu
và tánh vô lậu.
2. Nói về đế lý do đạo chứng đắc, tức là Tứ đế Khổ, Tập, Diệt, Ðạo và hai đế
thế tục và thắng nghĩa.
3.Lấy Thánh đạo để biện biệt về người, tức người nhờ thánh đạo tu đoạn phiền
não, chứng ngộ Tứ đế lý.
Nhưng đây là phẩm phân
biệt Hiền Thánh, kết quả của giác ngộ là chính, nên trong ba đoạn lớn của toàn
phẩm nêu trên lại đặc biệt giải thích về đoạn thứ ba. Và đoạn này lại chia ra
làm ba tiết:
a. Nói về sự tu Thánh đạo, gồm sự tu gia hạnh
làm cho thân, khí được thanh tịnh và bảy gia hạnh.
b. Ước ba đạo biện người, tức là do kiến đạo, tu đạo, vô học đạo mà có các quả
vị sai khác.
Tóm lại theo Hữu bộ,
Hiền vị có bảy (cũng gọi là bảy phương tiện, bảy gia hạnh vị) là:
1. Ngũ đình tâm; 2. Biệt tướng niệm trú; 3. Tổng
tướng niệm trú; 4. Noãn; 5. Ðảnh; 6.Nhẫn; 7. Thế đệ nhất.
Thánh vị có bảy đó là: 1. Tín hành, 2. Pháp
hành, 3. Tín giải, 4. Kiến đạo, 5. Thân chứng, 6. Thời giải thoát, 7. Bất thời
giải thoát.
Ngoài ra trong Thánh vị,
còn có Bích chi Phật và Ðại giác Phật.
Kiến đạo cũng gọi là
Kiến chí, Kiến đắc. Khi bước lên tu đạo vị, tự mình thấy pháp, đắc lý Tứ đế,
nên gọi là Kiến đắc. Và sự tự thấy được đó chính do sự thấy từ trong nhân dẫn
tới nên gọi là Kiến chí.
CHÍN BẬC THÁNH VÔ HỌC
Trên kia, nói chung các
vị Thánh hữu học và vô học. Ở đây chỉ nói riêng các vị Thánh vô học, tổng quát
có chín bậc (theo Tiểu thừa) đó là bảy hạng A-la-hán thối pháp, Tư pháp, Hộ
pháp... nói trên, thêm hai bậc là Bích chi Phật và đại giác Phật thành ra chín.
Sở dĩ có chín vì căn
tánh bất đồng đưa đến, do hạ căn mà thành Hộ pháp, do trung căn mà thành An trú
pháp, do trung trung căn mà thành Kham đạt pháp, do trung thượng căn nà thành
Bất động tánh, do thượng hạ căn mà thành Bất thối tánh, do thượng trung căn mà
thành Bích chi Phật, do thượng thượng căn mà thành Ðại giác Phật.
27 bậc Hiền Thánh, theo Thành
Thật Luận thuộc Kinh bộ, Hiền là hữu học, Thánh là vô học, gọi là Học nhân và
Vô học nhân.
A. Học nhân có 18:
1. Tùy tín hành; 2. Tùy pháp hành; 3. Tín giải
thoát; 4. Kiến đắc; 5. Thân chứng; 6. Gia gia; 7. Nhất chủng tử; 8. Hướng sơ
quả; 9. Ðắc sơ quả; 10. Hướng nhị quả; 11. Ðắc nhị quả; 12. Hướmg tam quả; 13.
Ðắc tam quả; 14. Trung ban; 15. Sanh ban; 16. Hành ban; 17. Bất hành ban; 18.
Thượng lưu ban
B. Vô học nhân có 9:
1. Thối pháp A-la-hán;
2. Tư pháp A-la-hán; 3. Hộ pháp; 4. Trú pháp; 5. Tiến; 6. Bất động; 7. Bất
thối; 8. Huệ giải thoát; 9. Câu giải thoát.
Tóm lại theo Hữu bộ,
Hiền vị có bảy (cũng gọi là bảy phương tiện, bảy gia hạnh vị) là:
1. Ngũ đình tâm; 2. Biệt tướng niệm trú; 3. Tổng
tướng niệm trú; 4. Noãn; 5. Ðảnh; 6.Nhẫn; 7. Thế đệ nhất.
Thánh vị có bảy đó là: 1. Tín hành, 2. Pháp
hành, 3. Tín giải, 4. Kiến đạo, 5. Thân chứng, 6. Thời giải thoát, 7. Bất thời
giải thoát.
Ngoài ra trong Thánh vị,
còn có Bích chi Phật và Ðại giác Phật.
Kiến đạo cũng gọi là
Kiến chí, Kiến đắc. Khi bước lên tu đạo vị, tự mình thấy pháp, đắc lý Tứ đế,
nên gọi là Kiến đắc. Và sự tự thấy được đó chính do sự thấy từ trong nhân dẫn
tới nên gọi là Kiến chí.
CHÍN BẬC THÁNH VÔ HỌC
Trên kia, nói chung các
vị Thánh hữu học và vô học. Ở đây chỉ nói riêng các vị Thánh vô học, tổng quát
có chín bậc (theo Tiểu thừa) đó là bảy hạng A-la-hán thối pháp, Tư pháp, Hộ
pháp... nói trên, thêm hai bậc là Bích chi Phật và đại giác Phật thành ra chín.
Sở dĩ có chín vì căn
tánh bất đồng đưa đến, do hạ căn mà thành Hộ pháp, do trung căn mà thành An trú
pháp, do trung trung căn mà thành Kham đạt pháp, do trung thượng căn mà thành
Bất động tánh, do thượng hạ căn mà thành Bất thối tánh, do thượng trung căn mà
thành Bích chi Phật, do thượng thượng căn mà thành Ðại giác Phật.
27 bậc Hiền Thánh, theo
Thành Thật Luận thuộc Kinh bộ, Hiền là hữu học, Thánh là vô học, gọi là Học
nhân và Vô học nhân.
A. Học nhân có 18:
1. Tùy tín hành; 2. Tùy pháp hành; 3. Tín giải
thoát; 4. Kiến đắc; 5. Thân chứng; 6. Gia gia; 7. Nhất chủng tử; 8. Hướng sơ
quả; 9. Ðắc sơ quả; 10. Hướng nhị quả; 11. Ðắc nhị quả; 12. Hướmg tam quả; 13.
Ðắc tam quả; 14. Trung ban; 15. Sanh ban; 16. Hành ban; 17. Bất hành ban; 18.
Thượng lưu ban
B. Vô học nhân có 9:
1. Thối pháp A-la-hán;
2. Tư pháp A-la-hán; 3. Hộ pháp; 4. Trú pháp; 5. Tiến; 6. Bất động; 7. Bất
thối; 8. Huệ giải thoát; 9. Câu giải thoát.
Tóm lại, nguyên nhân của giác ngộ không ngoài những trí có khả
năng thành tựu và những công đức được thành tựu từ trí. Như vậy trí tuệ đối với
kết quả giác ngộ thật là chính yếu. Trí tuệ do từ sức gia hạnh hữu lậu dần dần
phát đạt cho đến tận trí vô sinh trí, bèn chứng được các Thánh vị trong bốn hướng,
bốn quả, cho nên nói trí tuệ là nguyên nhân gần của Thánh vị giác ngộ.
Phân biệt định nói về sơ
duyên của sự giác ngộ. Phẩm này có 39 bài tụng, 38 bài đầu nói công đức của các
định, một bài 39 nói vềì chánh pháp trụ thế. Chánh pháp của Phật có giáo và
chứng. Giáo pháp thì do có người thụ trì và giảng nói đúng đắn mà được trụ thế.
Còn chứng pháp thì do có người nương giáo như thật tu hành mà được trụ thế.
Trong các công
đức thiền định, phần đầu nói về các định làm chỗ nương, phần sau nói về các
công đức nương tựa Thiền định như khoa
biểu dưới đây:
|
Khoa mục phẩm Định
|
Công đức các Định
|
Các Định làm chỗ nương
|
4 tịnh lự
4 vô sắc
8 đẳng chí
Các đẳng chí
|
|
Công đức nương tựa
|
4 vô lượng
8 giải thoát
8 thắng xứ
10 biến xứ
Ðắc nương nơi thân
Duyên khởi định
|
|
Chánh pháp trụ thế
|
|
Tham khảo bài giảng ÐÐ Thích Giác
Hiệp, trích Phẩm Phân Biệt Ðịnh chi tiết hơn để đạt cứu cánh giác ngộ.
Định là pháp tu
giúp hành giả chứng đạt giác ngộ. Thực hành thiền định giúp hành giả kiểm sóat
các căn, tiến xa hơn nữa phá trừ chấp ngã. Như vậy, thiền định là pháp tu căn
bản.
I.
Cấu trúc phẩm:
Giới thiệu tổng quát
1.
Bốn định sắc
a.
Chú tâm đối tượng
b.
Định nghĩa
c.
Giá trị đạo đức thiền định
d.
Đặc tính 4 định
2.
Bốn định vô sắc:
a.
Tên 4 lọai định
b.
Định thanh tịnh
c.
Định không thanh tịnh
II. Nội Dung:
A. BỐN TỊNH LỰ
Ðịnh có hai:
1. Sanh đắc định: khi sinh tự
nhiên có định, nhờ tu tập từ trước.
2. Tu đắc định: nhờ tu tập dần dần chứng
đắc.
1. Sơ thiền:
初 具伺喜樂 後漸離前支(Đ.29.145)
Trong lúc chuyên
chú tâm vào một đối tượng nào đó, tình dục dần dần bị loại trừ, và tiến đến
tiêu diệt tâm ác. Và trong trạng thái xa lìa dục và ác ấy người tu thiền cảm
thấy vui mừng và an nhiên tự tại. Nghĩa là hành giả nếm được mùi vị an lạc của
pháp. Tuy nhiên ở giai đoạn này đã có sự phân biệt đối tượng và còn có tư lự
cho nên về phương diện biểu tượng vẫn chưa được trầm tĩnh. Cho nên gọi là sơ
thiền, tức chỉ cho bậc đầu tiên chuyên tâm trầm tĩnh về tinh thần.
2. Nhị thiền:
內淨即信根 喜即是喜受 (Đ.29.146.3)
Nghĩa là nếu hành
giả chứng được Nhị thiền, thâm tín được phát sinh
Hành giả cứ như
thế mà tu hành tiến lên nữa cho đến khi phương diện biểu tượng cũng trầm tĩnh,
không còn phân biệt đối tượng và tư lự, tâm chỉ tập trung vào một điểm duy
nhất. trên nhờ sự trầm tĩnh về phương diện tinh thần hành giả cảm thấy vui
mừng, còn ở đây nhờ sự trầm tĩnh về phương diện biểu tượng mà hành giả cảm nhận
niềm vui. Ở đây hành giả cùng một lúc điều phục được tình ý và chế ngự sự tạp
loạn của biểu tượng.
3. Tam thiền: Cứ như thế tu hành tiến
thêm một bước nữa, bỏ tâm an vui, trở về với trạng thái hoàn toàn bình tĩnh,
cho đến chánh niệm, chính trí, thân thể đạt đến cảnh giới nhẹ nhàng. Đây gọi là
Tam thiền. Chỉ cho sự giải thoát cả niềm vui sướng đã đạt được ở nhị thiền. Tâm
tập trung ở đây cũng bắt đầu phát sinh tác dụng tuệ tri.
4. Tứ thiền: Từ đây tiến thêm nữa thì
sự nhẹ nhàng của thân thể cúng không còn, tựa hồ như không còn thấy sự tồn tại
của nó, hoàn toàn siêu việt tâm khổ vui; sự bình tĩnh càng được thuần hoá đến
bất động để trở thành trạng thái sáng như mặt gương, ngưng tụ và phẳng lặng như
nước không gợn sóng. Đây là tứ thiền. Đến giai đoạn này hành giả thấy suốt đối
tượng của quán tưởng là bản thân của mình. Nghĩa là tâm cảnh tuyệt đối bình đẳng,
không còn thấy có chủ quan khách quan đối đãi nữa.
B. BỐN
ÐỊNH VÔ SẮC
1. Không vô biên
xứ: là lối tu khám phá tất cả mọi quan niệm vật chất, chỉ nghĩ về không gian vô
biên, trong tâm cắt đứt với mọi tướng sai biệt của ngoại giới. Kinh Trung
A-hàm, kinh Phân biệt quán pháp, kinh số 164, nói:
2. Thức vô biên
xứ: Tiến lên tiếp xúc với nội giới mà suy niệm về các tướng sai biệt sinh khởi
trong thức.
3. Vô sở hữu xứ:
là pháp tu tiến hơn nữa, siêu việt cả không gian và thức, đi đến chỗ quán tưởng
hết thảy sự tồn tại vật chất đều không có.
4. Phi tưởng phi
phi tưởng: Ba định trước tuy đã tiêu diệt hết các tướng sai biệt trong và ngoài
để đi đến chân không, nhưng vẫn còn tưởng hết thảy không. Cho nên, lại phải
tiến lên một bậc nữa, tu tập vô tưởng mà cũng không phải vô tưởng, tức là pháp
tu định hoàn toàn thấu suốt quan niệm tất cả không. So với Tứ thiền điều hoà cả
chỉ và quán thì Tứ vô sắc định chuyên về phương diện chỉ mà thôi.
Bốn tịnh lự và
bốn định vô sắc cũng còn gọi là tám đẳng chí.
Ngoài Bát đẳng
chí ra còn có một loại định tương tự như đinh Phi tưởng phi phi tưởng, đó là
Diệt thọ tưởng định. Đến bậc này thì cả thọ lẫn tưởng đều hoàn toàn tiêu diệt.
Theo diễn tả thì người tu định này chẳng khác gì người chết, duy có điểm khác
nhau đó là người chết đã chấm dứt mọi hoạt động của 3 nghiệp thân, khẩu, ý, hơi
ấm, năm cảm quan bị phá huỷ, còn người tu định này thì 5 căn vẫn còn y nguyên,
thọ, hơi ấm không mất.
C. BỐN THỨ
TỊNH ÐỊNH
Chia tịnh đẳng
chí ở trên ra làm bốn phần:
1. Thuận thối
phần định, là thuận với phiền não dễ bị thối thất
2. Thuận trú phần
định là thuận với tự địa mà an trú, không thối không tiến
3. Thuận thắng
tấn định là thuận theo đị trên mà tiến lên
4. Thuận quyết
trạch phần định là thuận với vô lậu tiến đến kiến đạo
D. C
ÔNG ÐỨC NHỜ THÀNH TỰU ÐỊNH
1. Bốn vô lượng tâm
2. Tám giải thoát
3. Tám thắng xứ và mười biến xứ
III CỨU
CÁNH CÁC PHÁP
a.
Vạn Pháp Duy Tâm
1. Tri Thức hay
Giác Trí (Cognition)
Trong đời sống hằng ngày, ta dùng (tâm) nhận thức sự vật bằng ngũ giác
quan (tâm thức). Khi ta tri nhận (tâm trí) (cognize) sự vật đã nhận thức,
ta có tri thức, hay giác trí (Cognition). Trong quá trình tri nhận sự vật trong
hiện tại (với cảm giác), quá khứ hay tương lai (với ý thức), cả ba thời chúng
ta tri nhận được sự vật mới có GIÁC TRÍ (hay Tâm Trí). Giác Trí nầy là Tư Tưởng,
Suy Nghĩ, Lý Luận v.v. theo thời gian. Nó là sự lặp lại của tâm thức hay tri nhận
(dung trí) các thức nên nó tạo ra tư tưởng và lưu lại trong tâm thức
(nghiệp thức). Nên ta có thể gọi là tâm duyên ý mã vì
tư tưởng chúng ta lúc nào cũng ẩn hiện trong tâm trí từng giây từng phút liên tục,
chỉ trừ có những động lực khác hay pháp
môn có khả năng chận dừng được vọng tưởng đó. Dù cho chơn thức hay giác trí khi
chạy dài theo thời gian thì huyễn hóa, cho nên vạn pháp chạy theo tâm thức mà
biến hóa từng sát na sanh diệt. Dòng tâm thức luôn trôi chảy không ngừng nghỉ
vô thủy vô chung chảy dài theo thời gian và lăn trôi trong không gian không lúc
nào vắng mặt. Ở ngoại giới (không gian)
hay trong nội tâm (tâm khảm) không nơi nào mà không bị dòng tâm thức ảnh hưởng.
Tất cả vạn Pháp đều do Tâm Trí suy
nghĩ, phân biệt, lý luận đặt để và theo dòng thời gian lịch sử tư tưởng càng
phong phú và sâu sắc hơn. Tuy nhiên điểm đặc biệt là tri thức (hay tư tưởng hay
gọi là tưởng tri) còn lệ thuộc tự ngã của tác giả. Luận Câu Xá cũng không ngoại
lệ. Trong Kinh Pháp Môn Căn Bản, Tưởng thức hay Tưởng
Tri là sự suy nghĩ, tưởng nhớ, tưởng tượng, ký ức,
thuộc loại Mạt- Na- thức hay trong A-Lại-Da-thức, là những hình ảnh được khôi
phục lại, có cái trung thực, có cái sai lạc và ngay cả có cái tương tự lẫn lộn
với hình ảnh đối tượng cũ, nhưng không phải đối tượng cũ. Đã là những hình ảnh
cũ khôi phục lại là những ảo ảnh của những đối tượng khiếm diện (kể như không
có đối tượng). Do đó tưởng tri là biết do tưởng thức (do ngã chấp) hoặc suy
nghĩ lại những ý tưởng so đo, tưởng tượng những đối tượng không thật có do tiền
ngũ căn trực tiếp nhận thức, nên sự nhận thức chấp trước, lệch lạc và không
chơn thật của tri kiến phàm phu, chúng sanh thường tình mà thôi. Như Phật
thuyết giảng (Trong Các Kinh Căn Bản Phật Giáo: Vô Minh là Tri Kiến của Phàm Phu):
-- Này các Tỷ-kheo, ở đây, có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, tưởng tri địa đại là địa đại. Vì tưởng tri địa đại là địa đại, người ấy nghĩ đến địa đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với địa đại, nghĩ đến (tự ngã) như là địa đại, người ấy nghĩ: "Ðịa đại là của ta" - dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri địa đại.
Người ấy tưởng tri thủy đại là thủy đại. Vì tưởng tri thủy đại là thủy đại, người ấy nghĩ đến thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với thủy đại, nghĩ đến (tự ngã) như là thủy đại, người ấy nghĩ: "Thủy đại là của ta" - dục hỷ thủy đại. Vì sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri thủy đại.
Người ấy tưởng tri. phong đại cũng như thế.
Người ấy tưởng tri Sanh vật,chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên, Quang âm thiên,Biến tịnh thiên, Quảng quả thiên, Abhibhù (Thắng Giả)...
Người ấy tưởng tri Không vô biên xứ,Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ...
Người ấy tưởng tri sở kiến, sở văn, sở tư niệm, sở tri...
Người ấy tưởng tri đồng nhất, sai biệt, tất cả là tất cả...
Người ấy tưởng tri Niết-bàn là Niết-bàn. Vì tưởng tri Niết-bàn là Niết-bàn, người ấy nghĩ đến Niết-bàn, nghĩ đến (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn. Nghĩ đến (tự ngã) như là Niết-bàn, người ấy nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói: Người ấy không liễu tri Niết-bàn.
2. Tri Thức Nguyên Thủy hay Giác Trí Tuệ (Pure Cognition).
Khi Phật thành đạo là do đạt được Trí Tuệ hay Giác Trí Tuệ hay
Tánh Giác thì các pháp giải thoát được thiết lập thực hành Giác Trí Tuệ trong
các thời thiền tập. Thực ra Giác Trí Tuệ có thể thực hiện trong tứ oai nghi. Vậy
Giác Trí Tuệ là tri nhận đầu nguồn của Giác Trí và xa lìa nó ngay. Nói rõ hơn
là khi chúng ta nhận thức niệm đầu của Cảm Giác (Sensation) để có Giác Thức nguyên sơ (Pure Perception hay first
consciousness), lập tức tri nhận Giác Thức nguyên sơ ấy để được Giác Trí
(Cognition là Giác Trí có thời gian) và xa lìa giác trí ngay mới có Giác Trí Tuệ
(Vô thời gian). Vì Giác Trí Tuệ là Tri Thức Nguyên Thủy (Pure Cognition) của
Chân Trí (Vô thời không). Thí dụ, chúng ta thấy con voi là giác thức hay tâm thức,
vì thấy hình ảnh đối tượng hay con vật trước (Cảm Giác) rồi nhận thức
(perceive) con vật đó là con voi (hay biết được là con voi, biết nầy thấy biết
của căn, luôn luôn đi kèm theo cảm giác, nên thấy con voi, biết tên đối tượng
là cái thức hay tâm thức hay giác thức. Thức là thực tại duyên khởi hay giả
danh mà thôi). Rồi chúng ta tri nhận (dùng ý trí) giác thức ấy để có giác trí.
Vậy khi chúng ta nhận thức niệm đầu của con voi (thấy biết con voi đầu tiên) là
ta có giác thức nguyên sơ, lập tức ta tri nhận (Hay Biết: Cognize chớ không phải
là perceive) giác thức nguyên sơ ấy để có giác trí tuệ và phải xa lìa cái biết ấy
nữa thì mới có giác trí tuệ toàn diện. Trong Kinh Pháp Môn Căn Bản thì vị Hữu Học,
bậc A-La-Hán và đấng Như –Lai thì dùng Thắng
Tri hay Tuệ Tri (Cái hằng giác hằng tri)
để tri nhận các pháp,
như
thí dụ sau:
Vị hữu học
Những vị có học, thì tri kiến được chính xác hơn, cái biết sáng suốt
như suy nghĩ rõ ràng, không đối chiếu lệch lạch mà nhìn thẳng vào sự vật. Thắng
tri hay liễu tri sự vật mà không so đo, không suy nghĩ vẩn vơ, tưởng tượng và
không dục hỷ mà dùng chơn trí bằng pháp chánh tri kiến.
Này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo, hữu học tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi khổ ách. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy đã không nghĩ đến địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) như là địa đại, đã không nghĩ: "Ðịa đại là của ta", - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri địa đại.
Vị ấy thắng tri thủy đại... hỏa đại... phong đại... Sanh vật... chư Thiên... Sanh chủ... Phạm thiên... Quang âm thiên... Biến tịnh thiên... Quảng quả thiên... Abhibhù (Thắng Giả)... Không vô biên xứ... Thức vô biên xứ... Vô sở hữu xứ... Phi tưởng phi phi tưởng xứ... sở kiến... sở văn... sở tư niệm... sở tri... đồng nhất... sai biệt... tất cả...
Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn; vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy đã không nghĩ đến Niết-bàn, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, đã không nghĩ (tự ngã) như là Niết-bàn, đã không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri Niết-bàn.
Bậc A-La-Hán.
Bậc A-la-hán là những vị dùng pháp thắng tri để liễu tri sự vật
(pháp chánh tri kiến) không dục hỷ và đoạn trừ được tam độc. Bậc I biết pháp liễu
tri sự vật mà không dục hỷ. Bậc II biết pháp liễu tri sự vật, không dục hỷ và
đã đoạn trừ được tham dục. Bậc III biết pháp liễu tri sự vật, không dục hỷ, đoạn
trừ được sân hận. Bậc IV biết pháp liễu tri sự vật, không dục hỷ, đoạn trừ được
si mê..
Đấng Như Lai
Như Lai là bậc A-la-hán, chánh đẳng chánh giác, dùng pháp thắng
tri hay pháp chánh tri kiến để liễu tri sự vật, không dục hỷ, hoàn toàn diệt trừ
các ái, sự ly tham sân si, đã chơn chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh
giác.
b.
Giải Thoát
Giác Ngộ là Gặp Biết được Thực Tính của
vạn hữu là Giải Thoát khỏi nhận thức sai lầm về Tự Tính Giả
Lập hay Tùy Thuộc
của chúng.
Giác Ngộ tức là Giải Thoát, chính là Tri Nhận Thực Tại một cách Toàn
Diện không thêm không bớt, là vượt khỏi Thời Không, là thể nhập Cõi Vô cùng
Hằng Hữu, vì Hư Không ảo tưởng và Thời Gian huyễn hóa làm ngăn cách thế giới
Hiện Tượng với Cõi Vô Cùng.
Sau khi nhận thức được rằng các đối tượng là
những thực tại giả lập hay tùy thuộc, bậc trí giả thể nhập vào chân tâm, còn
gọi là tri thức nguyên thủy, hay là thực tại toàn diện. Lúc ấy người ta trực
tiếp nhận thức rằng chân lý vốn vượt ngoài nhị nguyên tính, hay vượt khỏi thời không.
Như đã trình bày, những sự vật trong thế giới hiện tượng không những do duyên
khởi mà còn được nhận thức bằng nhị nguyên tính và được xem là giả lập huyễn
hóa, phiền não hay là tạp nhiễm ngoại lai đã che mờ cái tâm vốn thanh tịnh tự
bản tính. Các thực tại tương đối được kiến lập theo nhị nguyên tính không
thật theo quan điểm cứu cánh có thể tiêu trừ bằng tu tâm một cách chính đáng.
Sau khi những tạp nhiễm được tẩy sạch, bản tính thanh tịnh trong sáng của tâm
được phục hồi.
Chân
Tâm được thể hiện bắng Tánh Giác (biết vô thời gian) hay Trí Vô
Phân Biệt, Vô Giới Hạn, Bất Biến trong Cõi Vô Cùng Hằng Hữu, Thanh Tịnh tự Bản Tính tức là Thực Tại Toàn Diện Tuyệt Đối,Tri Thức Nguyên Thủy hay Chân Lý Tối Hậu. Tâm Thức được kiến tạo bằng Nhị Nguyên Tính, Trí Phân Biệt, Giới Hạn bởi các Căn là Tri Kiến của chúng sinh vốn mang nhiều hệ lụy Nhân Quả, Tạp Nhiễm. Phiền Não Khổ Đau, Sanh Tử Luân Hồi mà Nguyên Ủy là Vô Minh.
Cõi vô cùng của thực tại toàn diện hay tri thức nguyên thủy nằm
trong khoảnh khắc tĩnh giác vô thời không (cái
biết sat-na hiện tiền). Việc phân chia thiện và ác, khổ đau và hạnh phúc
(Nhị nguyên tính) chỉ là ảo tưởng, giả lập và huyễn hóa nhưng tri thức vụn vặt
nầy vẫn được ghi lại trong dòng tâm thức những chuỗi nghiệp duyên nhân quả mãi
lăn trôi theo thời không. Nắm bắt được thực tướng của vạn hữu là sự vượt khỏi thời không làm cho tâm trở nên trong sáng thanh thản, tức là giải thoát khổ đau, nhân quả, luân hồi.
c. Thiền
*. Mục
đích thiền của Phật giáo là làm sao trong sạch hóa dòng tâm thức
luôn trôi chảy không ngừng nghỉ vì dính đầy tính vẩn đục. Thật sự là tâm vốn
luôn luôn thanh tịnh tự bản tính kia nhuốm bởi những tạp nhiễm ngoại lai. Thực
tế là không có tâm nào khác ngoài tâm [tri nhận] thực tại chân thực luôn
luôn trong sáng tự bản tính. Thiền là tìm về bản tánh trong sáng và thanh tịnh
đó để vượt khỏi phiền não và dòng bộc lưu sanh tử hay thanh lọc dòng tâm thức
đang lăn trôi, vốn hệ lụy đến nhiều đời luân hồi quả báo.
* Pháp
Môn Tu Tập
Thực hành phẩm hạnh thiện pháp và thiền định
để thanh lọc dòng tâm thức vẩn đục là pháp vô tự ngã tối ưu bước đầu tạo cho
thân tâm được an tịnh.
1. Tiệm
Pháp
Là
pháp gián tiếp, tu tập theo theo Thức chuyển thành Trí như đã trình bày trên.
Khi quán sát sự vật là đối tượng thì sự nhận thức nầy thường dùng Thức và Trí
liên hợp nhau thành Tưởng Thức và theo thời gian huyễn hóa để chuyển hóa dần dấn
thành trí tập trung vào một đề mục sâu sắc hơn có thể hàng phục được mọi ô nhiễm
trong tâm (vọng tâm) như các pháp thiền quán, thiền na, tứ niệm xứ, niệm Phật
niệm chú, thoại đầu, công án, v.v…
2. Ðốn Pháp
Phần
Tham Khảo: Quán Hơi Thở: Một Pháp Thiền
Đốn
Ngộ của Phật Giáo Nguyên Thủy. (Phổ
Nguyệt, 2006)
Thật vậy, hơi thở là sợi dây nối
liền giữa Vô Thức và Ý Thức. Nó có thể từ vô thức lôi ra những dòng tâm thức ứ
động nhiều đời nhiều kiếp làm cho tâm trở nên trong sáng. Quán hơi thở là một
pháp thiền đốn ngộ từ nguyên thủy vì nó rốt ráo không dính thêm mọi tư duy và
quán tưởng như các loại thiền khác. Trong Đại Kinh Sáu Xứ Phật dạy, "Thấy
Biết như Chơn lục căn lục trần, lục thức v.v...". Đối tượng nhận thức
thường dùng quán từ vô thức với những vọng tưởng tự nhiên đột khởi hoặc những
đối tượng diễn tả tâm trạng của con người như lời Phật dạy trong Tứ Niệm Xứ là
một cách tốt. Tất cả đối tượng đó nói lên những điều có thể chấp chứa trong vô
thức của con người có thể xảy ra những ô nhiễm, nghiệp thức từ trong thân ngũ
uẩn; nhưng chỉ có hơi thở là tốt hơn hết, vì nó thường trực tự nhiên trôi chảy
từ vô thức và là trinh nguyên của hoạt động vô thức, chỉ dùng tự lực (đối tượng
tự nhiên bên trong), không một chút dính dấp đến mọi quán tưởng hay tư duy, tha
lực (đối tượng vay mượn) hay những điều kiện bên ngoài..
Phải
hành bốn thiền định niệm hơi thở trước (năm
loại thiền cao cấp định niệm xứ xin
xem Pháp Tu Chứng Các Tầng Thiền, Phổ Nguyệt)
Ðịnh niệm hơi thở
Ðịnh
niệm hơi thở đựợc tu
tập từ sơ thiền đến tứ thiền.
*1). Nhẩm biết niệm hay đọc hơi thở (ngôn hành): Ðịnh niệm bằng tướng
hơi thở (có lời, có tiếng): Ðịnh niệm bằng thể
tướng hơi thở.
Ðịnh Niệm Hơi
Thở bằng lời. Biết Nhẩm Ðọc hơi thở.
Khi
thở vô, “Tôi biết tôi thở vô.” Khi thở ra, “Tôi biết tôi
thở ra”
Sơ định có tầm
tứ và hỷ lạc có lời là có tầm, có tướng là có tứ và hỷ lạc.
Ðồng
thời cũng dùng thiền định để luôn trao dồi giới lẫn định.
Từ bỏ sân, từ
bỏ hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo hối, từ bỏ nghi, thành tựu tầm, tứ, hỷ, lạc
và nhất tâm.
*2) Thầm
hội biết Thức Hơi Thở (Thức Hành). Ðịnh niệm bằng nhận thức luồng hơi thở
(ý thức thầm hội hơi thở)
“Biết
tôi thở vô
Biết
tôi thở ra”
Chỉ
dùng căn ý là chủ (lặng lẽ) để nhận thức (với ý tác động) hơi thở vô hơi thở ra là khách.
Ðó là cách Tĩnh Thức. Khi
có định và chánh niệm thì tầm và
tứ được đoạn diệt chỉ được nội
tĩnh nhất tâm. Còn Thức là còn trạng thái hỷ lạc.
Diệt tầm và tứ,
chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không
tứ, nội tĩnh nhất tâm
*3). Ngộ
nhập biết + ý trí Hơi Thở (Trí hay Tánh Hành). Ðịnh niệm bằng ý trí ngộ
nhập hơi thở (tri nhận đối tượng trong trí: ngộ nhập luồng hơi thở vào cái
biết). Biết tri nhận luống hơi thở. Ðịnh và chánh niệm hơi
thở nên gọi là Trí Hành hay Tĩnh Giác.
“Biết
Tri nhận thở vô
Biết
Tri nhận thở ra.”
Biết
rõ hơi thở vô hơi thở ra. Ðịnh và chánh niệm bằng ý trí (ý tác năng)
Ðó
là Tĩnh Giác về hơi thở. Chỉ có thở
vô thở ra được ý trí ý niệm hóa mà thôi.
Hành
này dùng pháp tánh không (biết=định), dùng trí (tuệ tri) để tri nhận hơi thở.
Còn đối tượng thì còn lạc thọ vì có định của trí (tĩnh giác), nên lạc thọ này
không ảnh hưởng đến tâm.
Ly
hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả
niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba.
*4). Thể Nhập Cảm giác Vô Ra (Thân Hành: Vô Niệm: không niệm tướng niệm thức cả niệm
trí): Pháp bổn như vô pháp: Như là không thở: Thể Nhập chốn tịch tĩnh như nhiên, biết cảm nhận luồng hơi thầm
lặng Vô Ra. Năng sở song vong.
“Cảm
giác vô,
Cảm
giác ra.”
Cảm
giác Vô Ra, vì khi nhận dạng cảm giác (bóng dáng) của một đối tượng mà chưa
được nhận thức (chưa được đặt tên hay đọc tên) tên đối tượng là chỉ thể nhập
nơi tịch tĩnh y nhiên, tức là cảm giác chỗ đối tượng chưa thành hình, chưa có
tên (giả danh), đó cũng gọi là tri thức nguyên thủy hay tuệ giác của chân trí. Cảm nhận luồng hơi vô luồng hơi ra mà
thôi. Khi không có mặt đối tượng thì làm gì có hỷ lạc trong tâm.
Khi
xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, vị ấy chứng và trú Thiền thứ tư,
không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
…..
IV
KẾT
LUẬN
Luận Câu Xá tổng lượt vạn pháp
duy tâm mà hướng đến cứu cánh của giáo pháp. Tác giả đã tổng lượt các pháp, quy
nạp từ các kinh Phật dạy. Những nội dung toàn
giáo pháp rất nhiều,
lời văn (nghĩa chơn thật) cô đọng và sâu sắc cần phân tích, diễn giải (nghĩa
lan rộng) cho thế hệ sau dễ hiểu hơn. Luận thư Câu Xá được đúc kết các pháp Phật
và phân loại rõ ràng từ pháp học đến cứu cánh giúp tu sĩ tu tập (thiền) đến chí
đạo (định tâm, giác ngộ giải thoát). Từ những vọng tâm đầy tạp nhiễm, pháp Phật
lấy chơn tâm trong sáng làm đích đến giải thoát. Phật giáo phát triển hay đại
thừa trong các kinh căn bản đã quản diển nhiều pháp tu tâm. Rõ ràng hơn là Kinh
Lăng Già hợp với Luân Thư nầy.
Chủ yếu kinh Lăng
Già là trực chỉ minh tâm kiến tánh thành Phật. Khác với kinh Kim Cang, Lăng
Nghiêm, Hay Viên Giác… về sự diễn tả cái vọng tâm hay tâm thức, và cái chân tâm
như giác tánh, giác trí tuệ, tri kiến phật, v.v..., phương pháp của Lăng Già là
trực chỉ minh tâm kiến tánh thành Phật: đi thẳng vào vùng chân như bản giác
mà nắm lấy trí tuệ tánh giác mà thành Phật đạo; đó là một pháp môn đốn ngộ. Theo
Cụ Trần Trọng Kim, "Kinh Lăng Ca - trước trực chỉ nhất tâm chân như để làm cho rõ cái nghĩa tam giới duy
tâm, - sau chỉ thị nhất tâm sinh
diệt để làm cho rõ cái nghĩa vạn
pháp duy thức."
Trong kinh Lăng Già Phật chỉ
rõ như như là bản giác, tự nhiên có sẵn muôn thuở cùng khắp thanh
tịnh thường hằng không sanh không diệt
như hư không vô tận, đó là lý pháp; còn trí tuệ là thủy giác,
phải dùng pháp giác trí tuệ trên để hiển lộ cái minh tâm và kiến tánh mới thành
Phật đạo. Ví như bản giác là tánh hư
không vô tận, trí tuệ là tướng hư
không của giác trí giới hạn bởi lục
căn. Khi tướng hư không hòa nhập vào hư
không vô tận thì tướng hư không hòa tan trong hư không vô tận thành một thể không không còn phân biệt gì giữa lý và trí,
đó là dung hợp thành lý trí vậy. Ðó là pháp từ tâm thiền (trí tuệ: định) kiến tánh
thành Phật (giải thoát). Ðó cũng là ý hướng đến của Luận Câu Xá.
Tham khảo
Cốt Tủy Các Kinh Căn Bản Phật Giáo. Phổ Nguyệt, trích trong
website Tạng Thư Phật Học:: http://www.tangthuphathoc.net
Đại cương về Luận Câu Xá. Hòa thượng
Thích Thiện Siêu, Học viện Phật giáo Việt Nam
tại Huế,,PL. 2543 - TL. 1999 đăng trong website Quảng Ðức: http://www.quangduc.com
Ðại Thừa Thuyết Luận. Phổ
Nguyệt trích trong website Phật Giáo Việt Nam: http://phatgiao.vn
Ðề
Cương: Luận Câu Xá. Giảng Viên Thíc Giác Hiệp, trích trong webste Phật Giáo Việt
Nam.
Khẳng
Ðịnh Tính: Con Ðường Giác Ngộ của Phật Giáo. Phổ Nguyệt. Ðăng trong website Phật
Giáo Việt Nam.
Kinh Bồ Tát Thiện Giới:
Nghĩa Chơn Thật. Phổ Nguyệt đăng trong website Phật Giáo VN
Kinh
Pháp Môn Căn Bản. Kinh Trung Bộ, do HT Thích Minh Châu Việt dịch đăng trong
website Quảng Ðức..
Pháp Tu chứng Các Tầng Thiền. Phổ Nguyệt. Trích
đăng rrong website Phật Giáo Việt Nam