Back To Top

  • Trang Chính
  • Tin Tức
  • Văn hóa Phật giáo
    • Tam Tạng Kinh Điển
      • Kinh
      • Luật
      • Luận
      • Đại Tạng Tiếng Việt
    • Nghi Lễ
    • Nghiên Cứu Phật Học
    • Chuyên Đề
      • Tịnh Độ Tông
      • Thiền Tông
      • Mật Tông
      • Xuân
      • Phật Đản
      • Vu Lan
      • An Cư Kiết Hạ
    • Sách Phật Học PDF
    • Nhân Vật Phật Giáo
    • Danh Lam Thắng Cảnh
    • Địa Chỉ Tự Viện
    • Từ Điển Phật Học
  • Văn Học
    • Trang Thơ
    • Trang Văn
    • Điển Tích
    • Sách Văn Học PG
      • Lịch Sử
      • Hành Hương
      • Lối Về Sen Nở
    • Sách Văn Học PDF
  • Hình Ảnh
    • Slide Show
    • Mô Tả
  • Media
    • Nghe Tụng Kinh
      • For Phone & Download
      • TT Thích Huệ Duyên
      • TT Thích Trí Thoát
      • TT Thích Nguyên Tạng
      • ĐĐ Thích Chiếu Túc
      • ĐĐ Thích Chiếu Niệm
      • ĐĐ Thích Hạnh Tuệ
      • Giọng tụng khác
      • Hành Trì Mật Tông
    • Nghe Thuyết Pháp
      • For Phone & Download
      • HT Thích Thanh Từ
      • HT Thích Huyền Vi
      • HT Thích Nhất Hạnh
      • HT Thích Tâm Thanh
      • HT Thích Như Điển
      • HT Thích Nhất Chân
      • HT Thích Nguyên Hạnh
      • HT Thích Nguyên Siêu
      • HT Thích Phước Tịnh
      • TT Thích Chân Tính
      • TT Thích Nguyên Tạng
      • TT Thích Thông Triết
      • ĐĐ Thích Thiện Thuận
      • ĐĐ Thích Phước Tiến
      • ĐĐ Thích Pháp Hòa
      • ĐĐ Thích Hạnh Tuệ
      • Giảng Sư Khác
      • Lectures in English
    • Sách nói
      • Kinh
      • Luật
      • Luận
      • Sách Văn Học PG
    • Truyện Đọc
    • Âm nhạc
      • Nhạc Thần Chú
      • Nhạc Phật Giáo
      • Nhạc PG Album
      • Ân Cha Nghĩa Mẹ
      • Quê Hương
      • Trữ Tình
      • Nhạc Xuân
      • Ngâm Thơ
      • Cổ Nhạc
      • Hòa Tấu
      • Nhạc Trẻ
      • Nhạc Nước Ngoài
    • Album Music
    • Video Clip
    • Phim
  • Hoằng Pháp
  • Site Map
  • Bảo Trợ
  • Khoa Học - Đời Sống
  • English Articles
  • Thư Mục Tác Giả
  • Tủ Sách PDF
  • Hướng Dẫn Download
  • Liên lạc
  • Web Links
Việt Ngữ English
Hội nhập | Ghi Danh RSS
Bộ gõ tiếng Việt
  • Kinh
  • Luật
  • Luận
  • Đại Tạng Tiếng Việt
Bài Mới Nhất
Tổng luận Kinh Lăng Nghiêm Trực Chỉ (04/07/2013 01:15 AM) (Xem: 785)
Toàn thể đại dụng, thu nhiếp xưa nay ngay trên đường; dứt trí tuyệt ngu, vật và ta ngang bằng nơi kiếp ngoại ... HT Thích Thiện Siêu
Xem thêm
Luận về Pháp Hoa Kinh An Lạc Hạnh Nghĩa (02/10/2013 05:56 PM) (Xem: 2031)
Luận về Pháp Hoa Kinh An Lạc Hạnh Nghĩa - Phiên dịch, chú giải: Daniel B. Stevenson & Hiroshi Kanno - Phiên dịch, thi hóa: Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm
Xem thêm
Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Lời vàng Phật dạy) (12/18/2012 11:48 AM) (Xem: 6588)
Suốt trong 45 năm thuyết pháp, đức Phật đã nói rất nhiều Pháp ngữ, bao gồm nghĩa lý thâm thiết để cởi mở nghiệp khổ cho chúng sanh...
Xem thêm
Kinh Vô Tự Bảo Khiếp (11/27/2012 02:50 PM) (Xem: 8447)
Thiện nam tử! Có một loại pháp Bồ tát nên diệt trừ. Ðó là pháp tham. Thiện nam tử ! Ðây là một pháp phải nên diệt trừ vĩnh viễn.
Xem thêm
Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông (11/26/2012 03:54 PM) (Xem: 7958)
Bộ kinh Lăng Nghiêm Tông Thông này được Ngài Thubten Osall Lama, tức Nhẫn Tế thiền sư, Đức Sơ Tổ Tây Tạng Tự, dịch và chú thích thêm từ bản Hán văn sang Việt văn...
Xem thêm
Bài Đọc Nhiều Nhất
Đại Tạng Việt Nam (Xem: 41220)
Đại Tạng Việt Nam bao gồm 2372 bộ Kinh, Luật và Luận chữ Hán trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh.
Xem thêm
Thiền và Pháp Môn Vô Niệm - Luận giải về Pháp Bảo Đàn Kinh của Lục Tổ Huệ Năng (Xem: 39529)
Đàn Kinh được các môn đệ của Huệ Năng nhìn nhận đã chứa đựng giáo lý tinh nhất của Thầy mình, và giáo lý được lưu truyền trong hàng đệ tử như là một di sản tinh thần...
Xem thêm
Bát-nhã Tâm Kinh Giảng Giải (Xem: 38296)
Hệ Bát-nhã là một bộ phận trọng yếu trong Tam tạng Thánh giáo, cánh cửa thật tướng mở toang từ đó, chân trời Tánh Không, kho tàng pháp bảo cũng toàn bày nơi đó...
Xem thêm
Thiền và Bát Nhã (Xem: 34788)
Tập sách Thiền và Bát-nhã này là phần trích Luận Năm và Luận Sáu, trong bộ Thiền luận, tập hạ, của D. T. Suzuki. Tập này gồm các thiên luận về Hoa nghiêm và Bát-nhã.
Xem thêm
Quán Thế Âm thập nhứt diện thần chú tâm kinh (Xem: 34545)
Tôi nghe như vầy: Một thời đức Bạc-già-phạm ở tại Trúc Y Ðạo tràng trong thành Thất-la-phiệt, cùng các vị đại Tỳ-khưu chúng gồm 1.250 người đều đầy đủ.
Xem thêm
Kinh Phổ Môn (Xem: 30997)
Lúc ấy, Bồ Tát Vô Tận Ý từ chỗ ngồi đứng dậy, vén tay áo bên vai mặt, quỳ xuống chắp tay cung kính bạch Phật rằng...
Xem thêm
Đoạn trừ lậu hoặc (Xem: 30499)
Sự giải thoát tinh thần, theo lời dạy của Ðức Phật, được thành tựu bằng việc đoạn trừ các lậu hoặc (ô nhiễm trong tâm). Thực vậy, bậc A-la-hán thường được nói đến như bậc lậu tận...
Xem thêm
Kinh A-Di-Đà (Xem: 29531)
"Xá-lợi-phất! Tại sao cõi ấy gọi là Cực Lạc? Nơi ấy chúng sanh không có những sự khổ não, chỉ hưởng các điều vui sướng, nên gọi là Cực Lạc.
Xem thêm
Kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa (Xem: 29245)
Có một lúc, đức Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật gần thành Vương Xá, cùng với các vị đại tỳ-kheo mười hai ngàn người, đại Bồ Tát là tám mươi ngàn người.
Xem thêm
Quán tánh không theo Trung Quán Luận (Xem: 29126)
Thật ra sanh tử là do tâm thức vô minh của chúng ta “quán tưởng” ra là có tự tánh, là có thật, như ví dụ “hư không không có hoa đốm mà thấy ra có hoa đốm”.
Xem thêm
Khách Thăm Viếng
Số lượt truy cập
1,941,475
Số người online :
115
Thành viên :
1
Khách :
114
Văn hóa Phật giáo | Tam Tạng Kinh Điển 
Kinh Trường A Hàm
(Xem: 25689)
Tác giả : Tuệ Sỹ
Kinh Trường A Hàm
  • Phần I
    • 01. Kinh Ðại Bản
    • 02. Kinh Du Hành
    • 03. Kinh Ðiển Tôn
    • 04. Kinh Xà-Ni-Sa
  • Phần II
    • 05. Kinh Tiểu Duyên
    • 06. Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Tu Hành
    • 07. Kinh Tệ-Tú
    • 08. Kinh Tán-Ðà-Na
    • 09. Kinh Chúng Tập
    • 10. Kinh Thập Thượng
    • 11. Kinh Tăng Nhất
    • 12. Kinh Tam Tụ
    • 13. Kinh Ðại Duyên Phương Tiện
    • 14. Kinh Thích Ðề Hoàn Nhân Vấn
    • 15. A-Nậu-Di
    • 16. Kinh Thiện Sanh
    • 17. Kinh Thanh Tịnh
    • 18. Kinh Tự Hoan Hỉ
    • 19. Kinh Ðại Hội
  • Phần III
    • 20. Kinh A-Ma-Trú
    • 21. Kinh Phạm Ðộng
    • 22. Kinh Chủng Ðức
    • 23. Kinh Cứu-La-Ðàn-Ðầu
    • 24. Kinh Kiên Cố
    • 25. Kinh Lõa Hình Phạm Chí
    • 26. Kinh Tam Minh
    • 27. Kinh Sa-Môn-Quả
    • 28. Kinh Bố-Tra-Bà-Lâu
    • 29. Kinh Lộ Già
  • Phần IV
    • 30. Kinh Thế Ký
      • Phẩm 01: Kinh Diêm Phù Ðề
      • Phẩm 02: Kinh Uất-Ðan-Viết
      • Phẩm 03: Kinh Chuyển Luân Thánh Vương
      • Phẩm 04: Kinh Ðịa Ngục
      • Phẩm 05: Kinh Long Ðiểu
      • Phẩm 06: Kinh A-Tu-Luân
      • Phẩm 07: Kinh Tứ Thiên Vương
      • Phẩm 08: Kinh Ðao-Lợi Thiên
      • Phẩm 09: Kinh Tam Tai
      • Phẩm 10: Kinh Chiến Ðấu
      • Phẩm 11: Kinh Ba Trung Kiếp
      • Phẩm 12: Kinh Thế Bản Duyên

KINH TRƯỜNG A HÀM

Hán Dịch: Phật Ðà Da Xá & Trúc Phật Niệm
Việt dịch: Thích Tuệ Sỹ


PHÀM LỆ

1. Bản dịch Việt, Trường A hàm, được thực hiện theo bản Hán dịch Trường A hàm kinh 長 阿 含 經, 22 quyển, do Phật-đà-da-xá 佛 陀 耶 舍 (Buddhayaśsa) tuyên đọc thuộc lòng (ám độc) bản Phạn, và Trúc Phật Niệm truyền dịch sang Hán văn.

2. Về để bản, bản dịch Việt căn cứ trên ấn bản “Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh” 大 正 新 修 大 藏 經, 100 tập, mỗi tập hơn 1000 trang chữ Hán cỡ 10pt. Trong đó, “A hàm bộ” gồm hai tập, 151 kinh (No.1- No.151). Trường A hàm kinh (No.1), thuộc “A hàm bộ” I, tập 1, từ trang 1-149.

3. “Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh”, từ No.2-No.25, là những bản Hán dịch lẻ tẻ các kinh thuộc Truờng A hàm. Đây là những bản kinh thuộc nhiều bộ phái khác nhau, do đó nội dung chứa đựng ít nhiều dị biệt. Trường A hàm hiện tại được phần đông các nhà nghiên cứu cho rằng thuộc Pháp tạng bộ (Dharmagupta), tức cùng bộ phái với Tứ phần luật 四 分 律 (Đại chánh, tập 22, No.1428). Công trình Việt dịch trong hiện tại chỉ thực hiện trên bản Hán Trường A hàm (Đại chánh, No.1). Các bản Hán dịch lẻ tẻ khác (Đại chánh, No.2-151) được dùng làm tư liệu đối chiếu.

4. Về xử lý văn bản trong khi phiên dịch, phần lớn căn cứ công trình hiệu đính và đối chiếu của Đại chánh. Ngoài ra, tham khảo thêm các công trình hiệu đính và đối chiếu khác, trong đó chủ yếu: 

- Phật quang Đại tạng kinh, A hàm bộ 佛 光 大 藏 經, 阿 舍 部; Phật quang xuất bản xã, Đài bắc, 1993.

- Trường A hàm kinh 長 阿 舍 經, bản dịch bạch thoại, Thích Ngộ Từ (Shi Wu Ci) 釋 悟 慈; Đài nam, 1997.

-“Kokuyaku-issaikyoâ”,A-gom-bu,Choâ-a-gon-kyoâ, 國 譯 一 切 經 阿 舍 部, 長 阿 經, bản dịch tiếng Nhật của Shin-Ô Iwano 岩 野 真 雄; Tokyo 1969.

5. Giữa các ấn bản có những điểm khác nhau, bản Việt sẽ lựa chọn hoặc hiệu đính theo nhận thức của người dịch.

6. Trong bản Hán, nếu chỗ nào xét thấy văn dịch hay từ ngữ không phù hợp với giáo nghĩa truyền thống phổ biến, người dịch sẽ tham khảo các Kinh, Luật, Luận cần thiết để hiệu chính. Những hiệu chính này được giải thích ở phần cước chú.

7. Bản Hán dịch thực hiện căn cứ trên sự truyền khẩu. Do đó những từ phát âm tương tự dễ đưa đến ngộ nhận, như sam Pāli hay sama và samyak; cala và jala; muti và muṭṭhi,v.v…

Trong những trường hợp này, người dịch sẽ tham chiếu các kinh tương đương, các bản Hán biệt dịch, suy đoán tự dạng nguyên thủy có thể có trong Phạn bản để hiệu chính. Những hiệu chính này đều được ghi ở phần cước chú.

8. Do các truyền bản khác nhau giữa các bộ phái, để có nhận thức về giáo nghĩa nguyên thuỷ, chung cho tất cả, cần có những nghiên cứu đối chiếu sâu rộng. Công việc này ngoài khả năng hiện tại của các dịch giả. Tuy nhiên, trong trường hợp có thể, những điểm dị biệt giữa các truyền bản sẽ được ghi nhận và đối chiếu. Những ghi nhận này được nêu ở phần cước chú.

9. Bản Hán dịch được phân thành 22 quyển. Bản dịch Việt không chia số quyển như vậy, nhưng sẽ ghi ở phần cước chú mỗi khi bắt đầu một quyển khác.

10. Nội dung bản Hán dịch được xếp thành bốn phần, mỗi phần gồm số kinh nhiều ít khác nhau. Bản dịch Việt giữ nguyên sự phân chia này.

11. Các bản Hán biệt dịch được dùng làm tài liệu tham chiếu đều là các ấn bản của Đại chánh Đại tạng kinh. Số quyển được dẫn sẽ ghi là “Đại” theo sau là số La-mã chỉ thứ tự số quyển. Thí dụ: Đại XXII, nghĩa là, Đại chánh Tân tu Đại tạng kinh, tập thứ 22. Mặc dù ấn bản Đại tạng này được tái bản nhiều lần, với nhiều nhà xuất bản khác nhau, nhưng số quyển và số trang mỗi quyển được xem là cố định. Do đó, trong các trích dẫn không cần thiết ghi năm và nơi tái bản.

12. Mỗi trang của ấn bản Đại chánh chia làm ba phần. Trong trích dẫn, các phần này được ghi là a, b, và c ngay sau số trang. Trường hợp cần thiết, có thể ghi cả số dòng. Thí dụ: Đại X, tr.125b, hay Đại X, tr,125b24.

13. Vì lý do phải thường xuyên di chuyển trú xứ, mà khi di chuyển không thể mang theo các tài liệu cần thiết, do đó, khi tham chiếu các bản Pāli tương đương, người dịch đã phải sử dụng nhiều ấn bản Pāli khác nhau. Chủ yếu là ấn bản Latinh, ấn bản Devanagari, và bản CD Rom. Số trang, số đoạn các bản không đồng nhất. Do đó các trích dẫn Pāli đối chiếu thường không thống nhất. Khi nào điều kiện thuận tiện, hoàn cảnh cho phép, những sự bất nhất này sẽ phải được chỉnh lý cho thống nhất.

14. Phần lớn các từ Phật học trong bản Hán dịch này không phổ biến. Do đó có thể gây khó khăn cho việc đọc và nghiên cứu. Trong các trường hợp như vậy, tuy vẫn giữ nguyên dịch ngữ của bản Hán, nhưng dịch ngữ tương đương thông dụng hơn sẽ được ghi trong phần cước chú. Trong trường hợp có thể, sẽ ghi luôn dịch giả của những dịch ngữ này và xuất xứ của chúng từ bản dịch nào để tiện việc tham khảo.

15. Theo thói quen, trong các bản dịch Việt từ Hán văn, những từ phiên âm tiếng Phạn đều được viết hoa, không phân biệt từ riêng hay từ chung. Thí dụ, do trang phục dị biệt, trong Hán văn không từ nào chính xác tương đương với uttarāsaṅga của tiếng Phạn, nên phần lớn được phiên âm là uất-đa-la-tăng, và trong các bản dịch Việt, từ phiên âm này luôn luôn viết hoa. Bản dịch Việt Trường A hàm sẽ cố gắng chuẩn hóa cách viết các từ , phiên âm, cũng như các từ dịch nghĩa, để có thể phân biệt từ riêng và từ chung.

- Vì tiếng Phạn là ngôn ngữ đa âm tiết, trong khi Hán là ngôn ngữ đơn âm. Để phiên âm một tiếng Phạn, cần nhiều từ Hán. Những từ Hán phiên âm này sẽ được liên kết nhau bằng dấu nối. Thí dụ: Xá-lợi-phất, là phiên âm của một từ tiếng Phạn: Śāriputra (Skt) hay Sāriputta (Pāli). Nhưng nếu viết Xá-lợi Tử, đó là hai từ ghép với nhau, một từ phiên âm, và một từ dịch nghĩa. Sự phân biệt này rất cần thiết để tránh nhầm lẫn đã xảy ra như từ đàn việt, được giải thích là bố thí để siêu việt tam giới, do nhận thức rằng từ này ghép một phiên âm Phạn của dāna (bố thí) và một từ nghĩa Hán. Thực tế, nếu đàn-việt được viết với dấu nối, nhất định đó là phiên âm của dāna-pati (thí chủ).

- Những từ phiên âm, nếu là từ riêng, không phân biệt nhân danh hay địa danh, đều được viết với chữ hoa ở đầu. Các chữ tiếp theo đều viết thường và liên kết với nhau bằng dấu nối. Nếu tên riêng do ghép nhiều từ Phạn, mỗi từ bắt đầu bằng chữ hoa ở phiên âm. Thí dụ: Ni-kiền-đà Nhã-đề Tử, cách viết cho thấy có ba từ Phạn ghép lại với nhau: Nirgrantha-Jñaṭi-putra.

- Những tên riêng được dịch nghĩa, nếu là địa danh, chỉ chữ đầu được viết hoa, và không có dấu nối. Thí dụ: Vương xá thành. Nhưng nếu là tên người, tất cả đều viết hoa, không có dấu nối. Thí dụ: Khánh Hỷ.

16. Cuối cùng là các sách dẫn. Sách dẫn chủ yếu lá các từ Hán, bao gồm danh từ Phật học, nhân danh và địa danh. Một số từ không phải là thuật ngữ, nhưng trong Hán dịch tối nghĩa, cần suy đoán nguyên hình tiếng Phạn để xác định ngữ nghĩa. Những từ này cũng được liệt kê trong bảng sách dẫn.

17. Một số câu dịch Hán văn tối nghĩa, cần đối chiếu Pāli để suy đoán cú pháp Phạn bản, tìm ý nghĩa gần chính xác để chuyển thành Việt ngữ. Một số câu như vậy cũng được liệt kê trong phần sách dẫn các từ Hán.

18. Mỗi từ Hán trong bảng sách dẫn đều có phụ chú Pāli và Sanskrit để tiện việc tham chiếu.

19. Tài liệu đối chiếu chủ yếu là Pāli, nếu có phụ chú Skt. thì phần lớn là suy đoán. Vì vậy, ở đây chỉ đưa ra một sách dẫn Pāli, xem như bổ túc cho sách dẫn từ Hán dịch.

Quảng Hương Già-lam 

Mùa an cư, Pl. 2543
Tuệ-Sỹ cẩn chí
 
Giới thiệu Kinh Trường A-hàm:

Kinh Trường A-hàm, tiếng Phạn là Dìghàgama, tiếng Pàli là Digha-nikàya, gồm 22 quyển, do Ngài Phật-đà Da-xá và Trúc Phật Niệm cùng dịch vào năm Hoằng Thỉ thứ 15 đời Dao Tần (413), hiện được xếp vào Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh tập 1. Sở dĩ nói "Trường" là vì do soạn tập những kinh điển dài nhất trong A-hàm mà thành. Theo Tứ Phần Luật 54, Ngũ Phần Luật 30, Luận Du-Già-Sư-Địa 85, nguyên do có chữ "Trường" là vì tổng tập những kinh lớn (dài). Tát-Bà-Đa Tỳ-Ni Tỳ-Bà-Sa 1 thì cho rằng Trường A-hàm là phá dẹp các tà thuyết của ngoại đạo. Luận Phân Biệt Công Đức thì cho rằng "Trường" nghĩa là nói những việc lâu xa, nghĩa là trải qua nhiều kiếp vẫn không dứt. Nói chung về phần định danh, các kinh luận nói khác nhau, xong đại để vẫn vậy.

Toàn kinh chia làm 4 phần, gồm 30 kinh. Trong đó, phần thứ nhất nói về bản thủy và sự tích của Đức Phật; phần thứ hai nói về việc tu tập các hạnh và cương yếu giáo pháp của Phật thuyết; phần thứ ba nói về các luận nạn đối với ngoại đạo và dị thuyết; phần thứ tư ghi chép về tướng trạng khởi nguyên của thế giới (Vũ trụ).

Kinh này tương đương với Trường Bộ (Pàli: Digha-nikàya) trong 5 bộ của hệ Nam truyền. Trường Bộ gồm có 3 phẩm, 34 kinh, tức Giới Uẩn Phẩm (gồm 13 kinh), Đại Phẩm (10 kinh) và Pàli phẩm (11 kinh). Nhưng Thế Ký Kinh trong Trường A-hàm thì không có trong Trường Bộ. Theo Mục Lục Tam Tạng (Anh văn) của học giả Nhật Bản là Nanjò Fumio, nếu đối chiếu 34 kinh bản Pàli với 30 kinh bản Hán dịch thì chỉ có kinh thứ 6 bản Hán dịch và kinh thứ 10 bản Pàli là có mối quan hệ rõ ràng, còn các kinh khác thì không nhất trí với nhau. Nhận xét của một số học giả nổi tiếng khác của Nhật Bản thì ôn hòa hơn, tức cho rằng các kinh tương tợ nhau.

Đặc biệt có Kinh Thất Phật trong Trường A-hàm (Trung Quốc gọi là Biệt Sanh Kinh) được trích riêng ra để dịch rất nhiều (21 loại). Các học giả Tây phương thường dùng bản chép tay Pàli, hiệu đính, phiên dịch rồi xuất bản cũng nhiều, như Dialogues of Buddha, 1909 - 1921, do học giả người Anh là Rhys Davids và phu nhân là J.E. Carpenter phiên dịch; Dic Reden des Gotamo Buddhos, 1907 - 1918, do K..E. Newmann dịch sang tiếng Đức; Das Buch der langen Texte des Buddhist Kanon Leipzig, 1913, do O. Franke dịch sang tiếng Đức. Ngoài ra còn có bản chú thích Trường Bộ Sumangalavilàsinì của Đại luận sư của Tích Lan sống vào thế kỷ V là ngài Phật Âm (Buddhaghosa), được hai vợ chồng Davids xuất bản vào năm 1986.

Trong các bản Sankrit mới phát hiện ở Tân Cương, Trung Quốc có kinh tương đương với Chúng Tập Kinh (Sangìti-sutta) - kinh thứ 9 của bản Hán dịch, và tương đương với một đoạn kinh Atànàtiya-sutta - kinh thứ 32 bản Pàli, được học giả R.Hoernle thu lục trong tác phẩm Manuscrip Remains of Buddhist Literature found in Eastern Turkestan,Vol.1.

Ngoài ra trong Đại Tạng Kinh của Tây Tạng có Hdus-pa chen-pohi mdo tương đương với Đại Hội Kinh - kinh thứ 19 trong Trường A-hàm; Tshans-Pahi dra-bahi mdo tương đương với Phạm Đôĩng Kinh - kinh thứ 21 trong Trường A-hàm; Lcan-lo-can-gyi pho-bran-gi mdo tương đương với Antànàtiya-sutta trong Trường Bộ.

Thích Nguyên Hiền


THƯ MỤC ĐỐI CHIẾU: TRƯỜNG A-HÀM – DĪGHANIKĀYA


1. Phật thuyết Trường A-hàm kinh, 22 quyển, Hậu Tần (Hoằng thủy 14 – 15; Tl. 412 – 413), Phật-đà-da-xá (Buddhayasa) và Trúc Phật Niệm dịch. 

2. Pāli : Dīghanikāya (Sanskrit: Dīrghāgama):
a) Ấn bản Devanagari, 3 tập, Pàli Publication Board (Bihar Government), 1958.
b) Ấn bản Roman, Trường bộ kinh (Thích Minh Châu), Pàli-Việt đối chiếu, Ban Tu thư, Viện Đại học Vạn hạnh, 4 tập; tập I, 1965, tập II, 1967, tập III, 1972, tập IV, 1972.

c) Ấn bản CD-ROM, Chaṭṭha Saṅgāyana CD-ROM (Version 1.1).

 
1  Đại bản kinh  D. 14. Mahāpadāna. 
2  Du hành kinh  D. 16. Mahāparinibbāna; 
D. 17. Mahāsudas -sana. 
3  Điển Tôn kinh  D. 19. Mahāgovinda. 
4  Xà-ni-sa kinh  D. 18. Janavasabha.
5  Tiểu duyên kinh  D. 24. Agañña. 
6  Chuyển luân Thánh vương tu hành kinh  D. 26. Cakkavattī.
7  Tệ-tú kinh  D. 23. Payāsi.
8  Tán-đà-na kinh  D. 25. Udumbarikasīhanāda.
9  Chúng tap kinh  D. 33. Saṃgīti.
10  Thập thượng kinh  D. 34. Dasuttara.
11  Tăng nhất kinh  không có. 
12  Tam tụ kinh  không có. 
13  Đại duyên phương tiện kinh  D. 15. Mahānidāna. 
14  Thích Đề-hoàn Nhân vấn kinh  D. 21. Sakkapañha.
15  A-nậu-di kinh  D. 24. Pāṭika.
16  Thiện sanh kinh  D. 31. Siṅgalovāda.
17  Thanh tịnh kinh  D. 29. Pāsādika.
18  Tự hoan hỷ kinh  D. 28. Sampadānīya. 
19  Đại hội kinh  D. 20. Mahāsamaya. 
20  A-ma-trú kinh  D. 3. Ambaṭṭha. 
21  Phạm động kinh  D. 1. Brahmajāla. 
22  Chủng Đức kinh  D. 4. Soṇaḍaṇḍa. 
23  Cứu-la-đàn-đầu kinh  D. 5. Kūṭadanda. 
24  Kiên cố kinh  D. 11. Kevada. 
25  Lõa hình phạm chí kinh  D. 8. Kassapa. 
26  Tam minh kinh  D. 13. Tevijjā. 
27  Sa-môn quả kinh  D. 2. Sāmaññaphala. 
28  Bố-tra-bà-lâu kinh  D. 9. Poṭṭhapāda. 
29  Thế ký kinh  không có.

THƯ MỤC ĐỐI CHIẾU: DĪGHANIKĀYA – TRƯỜNG A-HÀM

 
1  Brahmalāla-suttaṃ 
(Skt. Brahmajāla-sūtra). 
(21) Phạm động kinh. 
2  Sāmaññaphala-suttaṃ.  (27) Sa-môn quả kinh. 
3  Ambaṭṭha-suttam.  (20) A-ma-trú. 
4  Soṇadaṇḍa-suttam.  (22) Chủng Đức kinh. 
5  Kūṭadanda-suttam.  (23) Cứu-la-đàn-đầu kinh. 
6  Mahāli-suttam.  Hán: không có. 
7  Jāliya-suttam.  Hán: không có. 
8  Mahāsīhanāda-suttam 
(Kassapa-sīhanāda). 
(25) Lỏa hình Phạm chí kinh. 
9  Poṭṭhapāda-suttam.  (28) Bố-tra-bà-lâu. 
10  Subhasuttam.  Hán: không có. 
11  Kevaḍḍa-suttam 
(Kevaddha-suttam). 
(24) Kiện Cố kinh. 
12  Lohicca-suttam.  (29) Lộ-già kinh. 
13  Tevijjā-suttaum.  (26) Tam minh kinh. 
14  Mahāpadāna-suttam.  (1) Đại bản kinh. 
15  Mahānidāna-suttam.  (13) Đại duyên phương tiện kinh. 
16  Mahāparinibbāna-suttam.  (2) Du hành kinh. 
17  Mahāsudassana-suttam.  (2) Du hành kinh. 
18  Janavasabha-suttam.  (4) Xà-ni-sa kinh. 
19  Mahāgovinda-suttam.  (3) Điển Tôn kinh. 
20  Mahāsamaya-suttam.  (12) Đai hội kinh. 
21  Sakkapañhā-suttam.  (14) Thích Đề-hoàn Nhân vấn kinh. 
22  Mahāsatipaṭṭhāna-suttam.  Hán: không có. 
23  Pāyasi(rājañña)-suttam.  (7) Tệ-tú kinh. 
24  Pāthika-suttam 
(Pāṭika-suttam). 
(15). A-nậu-di kinh. 
25  Udumbarika(sīhanāda)-suttam.  (8) Tán-đà-na kinh. 
26  Cakkavatti-suttam.  (6) Chuyển luân Thánh vương tu hành kinh. 
27  Aggañña-suttam.  (5) Tiểu duyên kinh. 
28  Sampasadānīya-suttam.  (18) Tự hoan hỷ kinh. 
29  Pāsādika-suttam.  (17) Thanh tịnh kinh. 
30  Lakkhaṇa-suttam.  Hán: không có. 
31  Siṅgālovāda-suttam 
(Siṅgāla). 
(16) Thiện Sanh kinh. 
32  Aṭanāṭi-suttam.  Hán: không có. 
33  Saṅgīti-suttam.  (9) Chúng tập kinh. 
34  Dasuttara-suttam. (10) Thập thượng kinh. 

Source: phatviet.com

Xem kinh tương đương:
Kinh Trường Bộ, HT. Thích Minh Châu

  • PDFIn TrangGửi mail
    Ý kiến độc giả (2)
    Được gửi bởi An (Guest) vào 1/13/2013 6:50:35 PM
    Thưa các bạn đạo hữu tôi muốn mua 1 bộ kinh A Hàm không biết có bạn đạo hữu nà chỉ giúp giùm tôi đươc không
    Được gửi bởi An (Guest) vào 11/21/2012 8:12:25 PM
    thưa thầy con muốn mua bộ kinh A hàm, không biết có ai bán không nếu bán thì mua ở đâu xin thầy chỉ dùm con
    Gửi ý kiến
    Tên của bạn
    Email của bạn
    Đánh giá (tùy ý)
      Nhập những ký tự ở hình bên vào ô bên dưới.
      Tin / Trang
      Sắp theo
      Đang xem 1 - 30 của 441 bài 1 2 3 ... 15 »
      Tổng luận Kinh Lăng Nghiêm Trực Chỉ (Xem: 785)
      Toàn thể đại dụng, thu nhiếp xưa nay ngay trên đường; dứt trí tuyệt ngu, vật và ta ngang bằng nơi kiếp ngoại ... HT Thích Thiện Siêu
      Xem thêm
      Luận về Pháp Hoa Kinh An Lạc Hạnh Nghĩa (Xem: 2031)
      Luận về Pháp Hoa Kinh An Lạc Hạnh Nghĩa - Phiên dịch, chú giải: Daniel B. Stevenson & Hiroshi Kanno - Phiên dịch, thi hóa: Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm
      Xem thêm
      Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Lời vàng Phật dạy) (Xem: 6588)
      Suốt trong 45 năm thuyết pháp, đức Phật đã nói rất nhiều Pháp ngữ, bao gồm nghĩa lý thâm thiết để cởi mở nghiệp khổ cho chúng sanh...
      Xem thêm
      Kinh Vô Tự Bảo Khiếp (Xem: 8447)
      Thiện nam tử! Có một loại pháp Bồ tát nên diệt trừ. Ðó là pháp tham. Thiện nam tử ! Ðây là một pháp phải nên diệt trừ vĩnh viễn.
      Xem thêm
      Kinh Thủ Lăng Nghiêm Tông Thông (Xem: 7958)
      Bộ kinh Lăng Nghiêm Tông Thông này được Ngài Thubten Osall Lama, tức Nhẫn Tế thiền sư, Đức Sơ Tổ Tây Tạng Tự, dịch và chú thích thêm từ bản Hán văn sang Việt văn...
      Xem thêm
      Kinh Vu Lan Bồn (Xem: 16127)
      Một thuở nọ Thế-tôn an-trụ Xá-vệ thành Kỳ-thụ viên trung, Mục-liên mới đặng lục-thông, Muốn cho cha mẹ khỏi vòng trầm-luân.
      Xem thêm
      Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật (Xem: 9878)
      Thế Tôn, nếu con nghĩ rằng con đắc đạo A La Hán, thì Thế Tôn chẳng nói Tu Bồ Đề là một hành giả thanh tịnh hạnh. Vì Tu Bồ Đề vốn là vô sở hành...
      Xem thêm
      Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Xem: 10241)
      Tam thế chư Phật, chư Đại-Bồ-tát, thật chứng và nhập một với Pháp-giới-tính nên phát-khởi vô-duyên đại-từ, đồng-thể đại-bi, hiện ra vô số thân, theo duyên hóa-độ vô-lượng vô-biên chúng-sinh...
      Xem thêm
      Học Phật hành nghi (Xem: 9118)
      Luật nghi của Đức Thế Tôn chế định vì bảo hộ Tăng-già, thanh qui của Tùng Lâm đặt định để thành tựu pháp khí cho già lam, pháp thức hành trì cho cư gia phật tử để xây nền thiện pháp...
      Xem thêm
      Tứ Niệm Xứ Giảng Giải (Xem: 22070)
      Khi bạn tiếp tục tiến tới trên đạo lộ một cách đúng đắn, với ý định trở thành một con người giác ngộ, bạn phải kiểm soát tâm theo đúng cách...
      Xem thêm
      Tinh túy Bát Nhã Tâm Kinh (Xem: 19693)
      Sách này thâu kết lời giảng của đức Đalai Lama về bài kinh ngắn mang tựa đề Bát Nhã Tâm Kinh, một trong những bộ kinh Phật giáo Ðại thừa quý giá nhất.
      Xem thêm
      Kinh Trường Bộ thi hóa (Xem: 13692)
      Kinh Trường Bộ thi hóa (3 tập) - Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch sang tiếng Việt từ Tam Tạng Pàli - Chuyển thể Thơ: Giới Lạc Mai Lạc Hồng
      Xem thêm
      Phẩm Phổ Môn Quán Thế Âm Bồ Tát giảng giải (Xem: 14392)
      Trọng tâm cứu khổ của Ngài Quán Thế Âm nhằm giải thoát sự khổ tâm, khổ tinh thần. Một khi con người đã giải thoát khổ tinh thần thì thân thể sẽ lành mạnh.
      Xem thêm
      Đại Luận Về Giai Trình Của Đạo Giác Ngộ (Xem: 25998)
      Đại Luận Về Giai Trình Của Đạo Giác Ngộ (Lamrim Chenmo) - Nguyên tác: Je Tsongkhapa Losangdrakpa - Việt dịch: Nhóm Dịch Thuật Lamrim Lotsawas
      Xem thêm
      Địa Tạng Bồ Tát Bản Tích Linh Cảm Lục (Xem: 16095)
      Địa Tạng Bồ Tát Bản Tích Linh Cảm Lục - Liêu Nguyên dịch, Hiệu đính: HT Thích Như Điển
      Xem thêm
      Kinh Kim Cương Bát-nhã giảng nghĩa (Xem: 18185)
      Kinh Kim Cương lấy vô tướng làm tông, vô trụ làm thể, diệu hữu làm dụng. Từ khi Bồ-đề Đạt-ma đến từ Tây Trúc truyền trao ý chỉ kinh này khiến người đời ngộ lý đạo, thấy tính.
      Xem thêm
      Đoạn trừ lậu hoặc (Xem: 30499)
      Sự giải thoát tinh thần, theo lời dạy của Ðức Phật, được thành tựu bằng việc đoạn trừ các lậu hoặc (ô nhiễm trong tâm). Thực vậy, bậc A-la-hán thường được nói đến như bậc lậu tận...
      Xem thêm
      Kinh chữ Hán (Xem: 21446)
      Kinh chữ Hán - ĐĐ. Thích Hạnh Phú sưu tầm & biên soạn
      Xem thêm
      Kinh Tạp A-hàm (Xem: 19638)
      Sắc là vô thường. Vô thường tức là khổ. Khổ tức là chẳng phải ta. Cái gì chẳng phải ta thì cũng chẳng phải sở hữu của ta. Quán sát như vậy gọi là chân thật chánh quán.
      Xem thêm
      Kinh Trung A Hàm (Xem: 24697)
      Người nhất tâm nghe kinh có hai hạng: nghe rồi thọ trì pháp và nghe rồi không thọ trì pháp. Người nghe rồi thọ trì pháp là hơn, người nghe rồi không thọ trì pháp là kém.
      Xem thêm
      Bí Truyền Kinh Vương (Xem: 18559)
      Nếu dùng hình sắc để thấy ta, Dùng âm thanh để cầu ta, Người nầy hành tà đạo, Chẳng thể thấy Như Lai... HT Thích Như Điển
      Xem thêm
      Kinh Bại Vong (Xem: 19866)
      Kinh Bại Vong (Parabhava-sutta) rút từ Tập Kinh (Suttanipata), kệ số 91-115, trang 18-20, Pali Text Society... HT Thích Thiện Châu dịch
      Xem thêm
      Các Cấp Độ Giới Pháp (Xem: 13362)
      Trải qua nửa thế kỷ thuyết pháp độ sinh, Ðức Ðạo sư đã hóa độ đủ mọi hạng người, không phân biệt màu da, chủng tộc, giai cấp, sang hèn... Thích Phước Sơn
      Xem thêm
      Quán Thế Âm thập nhứt diện thần chú tâm kinh (Xem: 34545)
      Tôi nghe như vầy: Một thời đức Bạc-già-phạm ở tại Trúc Y Ðạo tràng trong thành Thất-la-phiệt, cùng các vị đại Tỳ-khưu chúng gồm 1.250 người đều đầy đủ.
      Xem thêm
      Kinh Trường A Hàm (Xem: 25689)
      “Ðức Thế Tôn nghe Phạm vương ba lần ân cần thưa thỉnh, liền dùng Phật nhãn soi khắp thế giới chúng sanh, thấy sự ô nhiễm của chúng sanh có dày có mỏng...
      Xem thêm
      Kinh Ðại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật (Xem: 26179)
      Khi Đức Phật nói danh hiệu chư Phật đời quá khứ, có mười ngàn Bồ Tát, được Vô sinh nhẫn, tám trăm Thanh Văn, phát thiểu phận tâm, năm ngàn Tỷ khưu...
      Xem thêm
      Kinh Ðại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật (Xem: 27144)
      Kinh vừa là Kinh Phật, lại vừa là miệng Phật. Tâm Phật thì thường rỗng lặng tròn đầy trong sáng tột bực, thuần là trí huệ Bát Nhã...
      Xem thêm
      Kinh Kalama (Xem: 24810)
      Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng...
      Xem thêm
      Đại Tạng Việt Nam (Xem: 41220)
      Đại Tạng Việt Nam bao gồm 2372 bộ Kinh, Luật và Luận chữ Hán trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh.
      Xem thêm
      Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa (Xem: 24007)
      Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa - Trọn bộ 11 tập - 600 cuốn; Hán dịch: Huyền Trang, Việt dịch: HT Thích Trí Nghiêm
      Xem thêm
      Tin / Trang
      Sắp theo
      Đang xem 1 - 30 của 441 bài 1 2 3 ... 15 »

      Nguyện đem công đức này - Hướng về khắp tất cả
      Đệ tử và chúng sanh - Đều trọn thành Phật đạo.


      Bài vở và thư góp ý xin gởi về Thích Hạnh Tuệ trực tiếp từ website này hoặc email: tuedang79@gmail.com. Kính chúc quí vị: Vô lượng an lành.

      Trang chính | Tin tức | Tủ sách PDF | Kinh điển | Lễ nhạc | Nghiên cứu PH | Chuyên Đề | Nhân vật PG | Từ điển PH | Trang thơ | Trang văn | Điển tích | Tác Giả
      Ảnh slideshow | Ảnh mô tả | Danh lam | Tụng kinh | Thuyết pháp | Hoằng Pháp | Sách nói | Truyện đọc | Âm nhạc | Album music | Video clip | Phim
      Tu viện Pháp Vương | Khoa Học - Đời Sống | Liên lạc | Hướng dẫn download | Lịch sinh hoạt | Web link | Site map | English Article | Visitor Locations
      Copyright © 2013 hoavouu.com All rights reserved www.vnvn.net
      Best viewed with FireFox, Chrome, Safari, Opera, IE 8 at resolution of 1024x768