12.
KINH TAM TỤ
Tôi
nghe như vầy.
Một
thời, Phật ở tại nước Xá-vệ, rừng Kỳ thọ, vườn Cấp
cô độc, cùng với chúng Đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm
mươi người.
Bấy
giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Này
các Tỳ-kheo, Ta sẽ nói cho các ngươi nghe pháp vi diệu, có
nghĩa, có vị, thanh tịnh, đầy đủ phạm hạnh. Đó là pháp
ba tụ. Các ngươi hãy lắng nghe, hãy suy nghĩ kỹ. Ta sẽ nói”.”
Các
Tỳ-kheo vâng lời Phật dạy, chú ý lắng nghe.
Phật
nói:
“Tỳ-kheo,
pháp ba tụ ấy là: một pháp dẫn đến ác thú; một pháp
dẫn đến thiện thú; một pháp dẫn đến Niết-bàn.
“Thế
nào là một pháp dẫn đến ác thú? Không có nhân từ, ôm
lòng độc hại. Đó là một pháp dẫn đến ác thú.
“Thế
nào là một pháp dẫn đến thiện thú? Không đem ác tâm gia
hại chúng sanh. Đó là một pháp dẫn đến thiện thú.
“Thế
nào là một pháp dẫn đến Niết-bàn? Thường tinh cần tu
niệm xứ về thân. Đó là một pháp dẫn đến Niết-bàn.
“Lại
có hai pháp thú hướng ác thú. Lại có hai pháp thú hướng
thiện thú. Lại có hai pháp thú hướng Niết-bàn.
“Thế
nào là hai pháp dẫn đến ác thú? Hủy giới và phá kiến.
“Thế
nào là hai pháp dẫn đến thiện thú? Có đủ giới và có
đủ kiến.
“Thế
nào là hai pháp dẫn đến Niết-bàn? Là chỉ và quán.
“Lại
có ba pháp thú hướng ác thú; ba pháp thú hướng thiện thú;
ba pháp thú hướng Niết-bàn.
“Thế
nào là ba pháp hướng đến ác thú? Ba bất thiện căn: tham
bất thiện căn, nhuế bất thiện căn, si bất thiện căn.
“Thế
nào là ba pháp dẫn đến thiện thú? Ba thiện căn: vô tham
thiện căn, vô nhuế thiện căn, vô si thiện căn.
“Thế
nào là ba pháp dẫn đến Niết-bàn? Ba tam-muội: Không tam-muội, Vô tướng tam-muội, Vô tác tam-muội.
“Lại
có bốn pháp dẫn đến ác thú; bốn pháp dẫn đến thiện
thú; bốn pháp thú hướng Niết-bàn.
“Thế
nào là bốn pháp thú hướng ác thú? Lời nói thiên vị, lời
nói thù hận, lời nói sợ hãi, lời nói ngu si.
“Thế
nào là bốn pháp dẫn đến thiện thú? Lời nói không thiên
vị, lời nói không thù hận, lời nói không sợ hãi, lời
nói không ngu si.
“Thế
nào là bốn pháp dẫn đến Niết-bàn? Bốn niệm xứ: thân
niệm xứ, thọ niệm xứ, tâm niệm xứ, pháp niệm xứ.
“Lại
có năm pháp dẫn đến ác thú; năm pháp dẫn đến thiện thú;
năm pháp dẫn đến Niết-bàn.
“Thế
nào là năm pháp dẫn đến ác thú? Phá năm giới: giết, trộm,
dâm dật, nói dối, uống rượu.
“Thế
nào là năm pháp dẫn đến thiện thú? Thọ trì năm giới:
không giết, không trộm, không dâm dật, không dối, không uống
rượu.
“Thế
nào là năm pháp dẫn đến Niết-bàn? Năm căn: tín căn, tinh
tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.
“Lại
có sáu pháp dẫn đến ác thú; sáu pháp dẫn đến thiện thú;
sáu pháp thú hướng Niết-bàn.?
“Thế
nào là sáu pháp dẫn đến ác thú? Sáu bất kính: không kính
Phật, không kính Pháp, không kính Tăng, không kính giới, không
kính định, không kính cha mẹ.
“Thế
nào là sáu pháp dẫn đến thiện thú? Kính Phật, kính Pháp,
kính Tăng, kính giới, kính định, kính cha mẹ.
“Thế
nào là sáu pháp dẫn đến Niết-bàn? Sáu tư niệm: niệm Phật,
niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới, niệm thiên.
“Lại
có bảy pháp dẫn đến ác thú; bảy pháp dẫn đến thiện
thú; bảy pháp dẫn đến Niết-bàn.
“Thế
nào là bảy pháp dẫn đến ác thú? Giết, trộm, dâm dật,
nói dối, nói hai lưỡi, ác khẩu, nói thêu dệt.
“Thế
nào là bảy pháp dẫn đến thiện thú? Không giết, không trộm,
không dâm dật, không nói dối, không nói hai lưỡi, không ác
khẩu, không nói thêu dệt.
“Thế
nào là bảy pháp dẫn đến Niết-bàn? Bảy giác ý: niệm giác
ý, trạch pháp giác ý, tinh tấn giác ý, khinh an giác ý, định
giác ý, hỷ giác ý, xả giác ý.
“Lại
có tám pháp dẫn đến ác thú; tám pháp dẫn đến thiện thú;
tám pháp dẫn đến Niết-bàn.
“Thế
nào là tám pháp dẫn đến ác thú? Tám tà hạnh: tà kiến,
tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm,
tà định.
“Thế
nào là tám pháp dẫn đến thiện thú? Thế gian chánh kiến,
chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh
tấn, chánh niệm, chánh định.
“Thế
nào là tám pháp dẫn đến Niết-bàn? Tám hiền thánh đạo:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng,
chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
“Lại
có chín pháp dẫn đến ác thú; chín pháp dẫn đến thiện
thú; chín pháp dẫn đến Niết-bàn.
“Thế
nào là chín pháp dẫn đến ác thú? Chín ưu não: Có người
xâm não ta; nó đã xâm não, đang xâm não, sẽ xâm não. Có
người xâm não cái ta yêu; nó đã xâm não, đang xâm não, sẽ
xâm não. Có người yêu kính cái ta ghét; nó đã yêu kính,
đang yêu kính, sẽ yêu kính.
“Thế
nào là chín pháp dẫn đến thiện thú? Có người xâm não
ta, ích gì mà ta sanh não; đã không sanh não, đang không sanh
não, sẽ không sanh não. Có người xâm não cái ta yêu, ích
gì ta sanh não; đã không sanh não, đang không sanh não, sẽ không
sanh não. Có người yêu kính cái ta ghét, ích gì ta sanh não;
đã không sanh não, đang không sanh não, sẽ không sanh não.
“Thế
nào là chín pháp dẫn đến Niết-bàn? Chín thiện pháp: Hỷ,
Ái, Duyệt, Lạc, Định, Thật tri, Trừ xả, Vô dục, Giải
thoát.
“Lại
có mười pháp dẫn đến ác thú; mười pháp dẫn đến thiện
thú; mười pháp dẫn đến Niết-bàn.
“Thế
nào là mười pháp dẫn đến ác thú? Mười bất thiện: thân
với giết, trộm, tà dâm; khẩu với nói dối, hai lưỡi, ác
khẩu, thêu dệt; ý với tham lam, tật đố, tà kiến.
“Thế
nào là mười pháp dẫn đến thiện thú? Mười thiện hành:
thân với không giết, không trộm, không tà dâm; khẩu với
không nói dối, không hai lưỡi, không ác khẩu, không thêu
dệt; ý với không tham lam, không tật đố, không tà kiến.
“Thế
nào là mười pháp dẫn đến Niết-bàn? Mười trực đạo:
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng,
chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định, chánh giải thoát,
chánh trí.
“Này
các Tỳ-kheo, mười pháp như vậy đưa đến Niết-bàn. Đó
là chánh pháp vi diệu gồm ba tụ. Ta, Như Lai, đã làm đầy
đủ những điều cần làm cho đệ tử, vì nghĩ đến các
ngươi nên chi bày lối đi. Các ngươi cũng phải tự lo cho
thân mình, hãy ở nơi thanh vắng, dưới gốc cây mà tư duy,
chớ lười biếng. Nay không gắng sức, sau hối không ích gì”.”
Các
Tỳ-kheo sau khi nghe những lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.