BÊN KIA BỨC TƯỜNG
Thích Như Điển
(Viết để kỷ niệm nhân 30 năm thuyền nhân Việt Nam có mặt tại Berlin)
Hồi ấy nếu có ai đó muốn đi Berlin từ Tây Đức hay các xứ tự do khác thì
phải nói rằng: "quan san cách trở"; nghĩa là khó khăn vô cùng mới
xuyên qua được bức tường thành của Cộng Sản Đông Đức. Thời điểm ấy là trước
ngày 9 tháng 11 năm 1989. Từ năm 1949 nước Đức đã bị chia đôi. Miền Đông theo
chủ nghĩa Cộng Sản và miền Tây theo chủ nghĩa dân chủ tự do. Bức tường Bá Linh
được xây dựng lên vào năm 1960 đến năm 1989 là 29 năm lịch sử.
Không ai là không biết những sự kiện lịch sử như thế; nhưng những thế
hệ đến sau rất khó hiểu là làm sao bức tường ấy có thể bị sụp đổ được? Đây là
lý do chính trị và sự ước vọng tự do của con người; nên nó đã tự hủy hoại bởi ý
chí của những con người muốn phá vỡ nó.
Từ Hannover muốn đi đến Berlin thuở ấy, người ta có thể dùng máy bay
của Anh. Chỉ 30 phút sau là bạn có thể có mặt tại sân bay Tegel ở Berlin. Sau
ngày thống nhất đấu nước (1989) người Anh đã trở về nước và trao trả độc lập
lại cho người Đức; nên người Anh cũng như quân đội của Mỹ, Pháp, Nga không còn
có lý do gì nữa để ở lại quê hương nầy.
Cách thứ hai, người ta có thể dùng xe hơi hoặc xe lửa để đi từ
Hannover, Eisernach, Nürnberg, Hamburg... để đến Berlin. Mỗi nơi như thế đều
phải trải qua cả hai lần kiểm soát của bên Tây và hai lần kiểm soát của bên
Đông. Marienborn là cửa ngõ để vào Đông Đức. Các nhân viên kiểm soát của Đông
Đức mặt mày nghiêm nghị; miệng không bao giờ hở môi. Câu hỏi được đặt ra cho
khách đi đường thật là nặng ký. Chẳng biết để làm gì? có lẽ để thị uy cho một
chế độ? hoặc giả muốn chứng tỏ cho thế nhân biết rằng: Không ai ưu việt hơn chế
độ Cộng Sản Đông Đức lúc bấy giờ?
Trước năm 1975 đã có mấy trăm sinh viên miền Nam Việt Nam sang du học
tại Tây Đức và miền Đông Đức thuở ấy cũng có một số sinh viên đi du học từ miền
Bắc Việt Nam theo chủ nghĩa Cộng Sản. Tất cả đều là người Việt Nam; nhưng hai
bờ giới tuyến rất rõ nét; người bên nầy và kẻ bên kia, chẳng ai nhìn nhau và
thăm hỏi nhau được. Tuy rằng: hai bên vẫn còn nói tiếng Việt, ăn cơm theo phong
cách Việt Nam mà tư tưởng không phải thuần của người Việt Nam.
Đến năm 1976 trở đi, Tây Bá Linh đã bắt đầu nhận những người Việt tỵ
nạn đến đây từ Lào. Số nầy tương đối ít, chỉ vài trăm người; nên báo chí ít lưu
tâm đến. Sau khi cựu Thủ Tướng Tiểu Bang Niedersachsen là ông Dr. Albrecht nhận
hơn 2.000 người tỵ nạn đến Hannover từ chuyến tàu Hải Hồng vào ngày 10 tháng 12
năm 1978 thì chính quyền Liên Bang Đức mới có chính sách nhận người tỵ nạn đến
Đức qua nhiều diện rộng rãi hơn, như tỵ nạn chính trị, nhân đạo, đoàn tụ gia
đình v.v...
Rất ít người muốn đến Berlin thuở ấy. Vì người tỵ nạn quan niệm rằng:
Đã trốn chạy Cộng Sản Á Châu rồi; nay qua đây gặp Cộng Sản Âu Châu cũng thế thôi!
nên họ ít muốn qua Tây Bá Linh là vậy. Nhưng rất ít người biết rằng: Thành phố
Bá Linh là một thành phố rất đặc biệt. Đông Bá Linh do người Nga cai trị; chung
quanh được bao bọc bởi bức tường chắn ở ngay giữa thành phố nầy. Tây Bá Linh bị
bọc kỹ hơn; giống như một hòn đảo cô đơn của tự do nằm giữa chế độ Cộng Sản và
nơi nầy các cường quốc Anh, Mỹ, Pháp cai trị. Đây là cái nhục của nước Đức với
kết quả "tranh bá đồ vương" của Hitler thuộc chủ nghĩa diệt chủng.
Nhưng sau ngày 9 tháng 11 năm 1989 người Đức đã chứng tỏ cho thế giới về uy
quyền của chủ nghĩa tự do là gì !
Muốn vào được Tây Bá Linh phải trình giấy thông hành một lần nữa cho
hai bên Đông và Tây Đức. Quả thật đi trong một nước mà giống như đi trong thế
giới ban đêm qua thế giới ban ngày; đi từ bóng tối ra cõi ánh sáng. Với đoạn
đường từ Marienborn đến Tây Bá Linh chỉ gần 200 cây số mà phải đi đến 4 hay 6
tiếng đồng hồ kể cả thời gian kiểm soát.
Khi người tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam có mặt, cũng là lúc nhiều nhu cầu
được đặt ra như ma chay, cưới hỏi, Tết nhứt; hoặc lễ Phật Đản, Vu Lan v.v...
Những năm 78, 79, 80 mỗi năm tôi thường hay qua Bá Linh nhiều lần để tham dự
các đám tang hoặc giảng pháp. Sau đó Chi Hội Phật Tử Việt Nam Tỵ Nạn tại đây
được thành lập; cho đến bây giờ chắc cũng đã gần 30 năm rồi. Những năm đầu
tương đối vất vả; các anh chị em Phật tử và các Bác Đạo Hữu lớn tuổi phải mượn
chùa của người Đức ở Frohnau để làm lễ. Hoặc tổ chức tại tư gia. Sau đó, qua
việc thông dịch giúp đỡ người tỵ nạn của Đạo Hữu Trực Ngộ Phạm Ngọc Đảnh; ông ta
đã liên hệ với Hồng Thập Tự Berlin và nhờ Hồng Thập Tự giúp đỡ tài chánh để Chi
Hội có phương tiện thuê nơi chốn làm Niệm Phật Đường. Qua sự giúp đỡ ấy trong
vòng 10 năm và qua 2 lần đổi địa chỉ Niệm Phật Đường đã đón nhận và mời gọi
biết bao nhiêu con người yêu chuộng tự do đến đây để tạm trú trong thời gian
chờ đợi ra trình diện chính quyền sở tại vào những ngày sau 9 tháng 11 năm
1989.
Đúng là:
"Mái chùa che chở hồn Dân Tộc
Nếp sống muôn đời của Tổ Tông"
Dĩ
nhiên ngoài chùa ra còn có các Hội Đoàn Việt Nam của Người Việt Tự Do tại Bá
Linh cũng giúp đỡ cho người tỵ nạn nữa; nhưng nay thì thời buổi hội nhập đã qua
rồi; chỉ còn sống để bảo tồn và phát triển văn hóa tại đây; nên đa phần ai lo
việc nấy; ít ai lo dùm cho ai nữa. Chỉ còn mái chùa Linh Thứu tại Bá Linh là
vẫn còn đó qua 2 lần tạo mải, để nay mai sẽ sừng sững tại Bá Linh một ngôi chùa
là còn vui buồn với nhân thế mà thôi.
Bây
giờ nhiều người lớn tuổi đã ra đi; chỉ còn thế hệ con cháu ở lại, ngậm ngùi đưa
tiễn những người thân của mình vào lòng đất lạnh, hay mang tro cốt của họ trở
lại quê hương sau bao nhiêu năm sống gởi nơi xứ người. Theo sự đánh giá của
những cơ quan công quyền Đức thì người Việt Nam chúng ta là một trong những dân
tộc đứng đầu vào sự hội nhập tại Đức nầy. Riêng phần giáo dục gia đình và giáo
dục học đường, người tỵ nạn Cộng Sản Việt Nam đều thành công; hơn 60% con em
của chúng ta đều có mặt tại các trường Trung Học Đức. Có nhiều nơi tỷ số thông
minh và học giỏi vượt quá xa người bản xứ. Ở đây chúng ta có thể lấy thí dụ của
Dr. Philipp Rößler làm điển hình. Những ngày tháng đầu năm 1973 ông ta được
sinh ra tại Sóc Trăng, Việt Nam; sau đó được Cô nhi viện Thiên Chúa giáo tại đó
chăm sóc ông ta. Đó là một con người không biết mặt cha mẹ mình; không có một
quê hương chắc thật; ngay cả không có tên gọi thuở ấy, mà nay sau 38 năm ở tại
xứ Đức nầy ông ta đã là: Bộ Trưởng Bộ Kinh Tế và Giao Thông tại Tiểu Bang
Niedersachsen. Rồi Bộ Trưởng Kinh Tế Liên Bang và nay (2011) là Đảng trưởng
Đảng FDP, Phó Thủ Tướng của Cộng Hoà Liên Bang Đức kiêm Bộ Trưởng Bộ Kinh Tế
Liên Bang. Trong tương lai, Việt Nam chúng ta ở tại Đức hy vọng sẽ có được
nhiều Rößler như vậy. Chúng ta đến đây không phải chỉ để chia xẻ tự do với
người Đức; đón nhận tấm lòng từ thiện của chính quyền và các cơ quan từ thiện
Tôn Giáo, mà chúng ta còn phải có bổn phận đóng góp công sức, tài năng, thuế má
cho nơi nầy, để xây dựng quê hương thứ hai nầy được giàu mạnh hơn; mặc dầu quê
hương nơi chúng ta được sinh ra, chúng ta muốn cộng tác, giúp đỡ; nhưng chủ
nghĩa chính là sự ngăn cách đôi bờ, ít có người Việt nào mạo hiểm dám buông lơi
hai chữ Tự Do. Tục ngữ Nga có câu: "Khi người ta mất tự do rồi, lúc ấy
mới thấy giá trị của sự tự do là quý". Đúng vậy! những gì người ta
đánh mất đi người ta mới thấy quý; lúc ấy hẳn đã quá trễ rồi. Vì sao thế? Vì
"Đứng gần núi không bao giờ thấy núi cao. Khi xa núi rồi mới thấy núi
cao". Đó là tục ngữ của Trung Quốc. Còn tục ngữ Việt Nam chứng minh
cho việc nầy là: "Khi còn cha mẹ ít ai để ý đến cha mẹ, khi cha mẹ mất
đi rồi, lúc ấy mới tiếc thương, thì đã trễ quá rồi".
Do
vậy tri ân, cảm tạ là những điều nhân nghĩa mà con người không thể quên được;
nhất là ai đã cưu mang chúng ta sống trong xã hội tự do nầy, để cho con cái của
chúng ta được thành trưởng như ngày hôm nay? Nếu không phải nói là chính quyền
và nhân dân Đức cũng như bao nhiêu chính quyền tự do khác đã cưu mang gần 3
triệu người tỵ nạn Việt Nam từ 1975 cho đến nay trong đó có gần 100.000 người
Việt Nam tại Đức.
Năm
nay 2011 các anh chị em tại Bá Linh làm lễ kỷ niệm tri ân người Đức và chính
quyền sở tại lần thứ 30 để nói lên tấm chân tình "uống nước nhớ người đào
giếng". Có như thế mới khỏi hối hận về sau là: phải chi hồi ấy tôi đã
làm..., phải chi là điều không thực tế, mà hãy bắt tay để hướng về và tổ chức
ngày lễ tri ân nầy là điều đáng nên làm vậy.