Có lẽ không một ai trong chúng ta không biết đến sự tích Quan Âm Thị Kính. Sự tích Quan Âm Thị Kính được lưu
truyền trong dân gian từ lâu qua nghệ thuật hát chèo, cải lương, kịch ảnh, truyện thơ và gần đây nhất là truyện văn xuôi. Tích
chèo Quan Âm Thị Kính ra đời trước, sau đó mới tới truyện thơ rồi chuyển thể qua kịch ảnh. Truyện thơ Quan Âm Thị Kính chưa biết đã được sáng tác vào năm nào và do ai sáng tác, chỉ biết bản in đầu tiên bằng quốc ngữ do Nguyễn Văn Vĩnh ấn hành năm 1911. Bản này gồm có 788 câu thơ lục bát và một lá thư của Kính Tâm viết cho cha mẹ. Đến năm 1997 tại hải ngoại xuất hiện bản văn xuôi do Thiền Sư Nhất Hạnh kể và do nhà xuất bản Lá Bối in, sau đó bản văn xuôi này được chuyển ngữ ra nhiều thứ tiếng phát hành trên thế giới.
Nội dung tích chèo
Quan Âm Thị Kính và truyện thơ cũng như truyện kể bằng văn xuôi Quan Âm Thị
Kính là một. Thị Kính pháp danh Kính Tâm là một trong những hoá thân của
đức Bồ Tát Quán Thế Âm. Cốt chuyện được tóm lược như sau:
Có một chàng trai xuất
gia tu hành liên tiếp trong chín kiếp. Đến kiếp thứ 10 tức là kiếp cuối
sẽ đắc đạo Phật quả, chàng thác sinh làm con gái nhà họ Mãng ở quận
Lũng-tài. Người con gái ấy tên là Thị Kính, lớn lên tài sắc đoan trang,
được cha mẹ gả cho Thiện-Sĩ, một thư sinh, con nhà giầu có họ Sùng. Hai
vợ chồng sống với nhau hoà thuận. Một đêm kia chàng ngồi đọc sách, nàng
ngồi khâu áo bên cạnh. Chàng mệt tựa vào ghế ngủ. Nàng nhìn thấy nơi cằm
chồng có râu mọc ngược; sẵn nơi tay đang cầm kéo, nàng toan cắt sợi râu
đi. Bỗng người chồng giật mình thức dậy, tưởng vợ có ý ám hại mình bèn
tri hô lên là bị vợ mình mưu sát. Nghe tiếng kêu cứu, cha mẹ chồng chạy
vội đến, một mực buộc tội nàng cố ý giết chồng, rồi sai người làm mời cha mẹ
nàng đến để giao trả nàng lại.
Về nhà sống với cha mẹ
ruột. Ngoài chuyện săn sóc song thân, nàng dành thì giờ nghiền ngẫm về
nỗi khổ đau của cuộc đời và tính chất vô thường của vạn hữu. Nàng cảm
thấy cuộc sống thoải mái hơn trước, nhưng vẫn băn khoăn về nỗi khổ của con người. Một buổi sáng kia, ý hướng xuất trần thôi thúc, nàng quyết chí lên đường đi tu
cầu giải thoát. Để tránh khỏi lộ tông tích vì thời đó không có chùa ni và
người nữ không được phép xuất gia, nên nàng giả dạng nam-nhi, đến chùa Vân [1]
xin qui y theo Phật. Được sư cụ trụ trì nhận làm đệ tử, đặt pháp danh là
Kính-Tâm.
Lòng trần tưởng đã rửa
sạch do công phu tu tập mỗi ngày. Nào ngờ việc oan trái lại đến. Một cô gái trong làng tên Thị Mầu, con của một phú ông giầu có, hiện đương kén
chồng, thường hay đến chùa lễ Phật. Thị Mầu thấy Kính-Tâm thanh tao tuấn
tú, đem lòng say mê, nhưng Kính-Tâm thì vẫn thờ ơ. Trong một giây phút
không tự chủ được lòng, trong nỗi say mê khao khát dục tình, cùng với nỗi tuyệt
vọng và lòng tự ái bị tổn thương, Thị Mầu đã thông dâm với người tớ trai trong
nhà, sau đó có thai. Chuyện đổ bể, làng biết, gọi ra tra hỏi thì Thị Mầu
đổ lỗi cho Kính-Tâm. Kính-Tâm bị hội đồng làng bắt tra tấn, hạch hỏi
nhưng Kính Tâm quyết một mực nói rằng chưa từng bao giờ phạm giới dâm dục với
bất cứ ai. Động mối từ tâm Sư phụ của Kính Tâm bảo lãnh đệ tử về chùa,
cho dựng một lều tranh ngoài cổng chùa để tiếp tục tu hành, nhằm tránh dư luận
của dân làng phản đối.
Thị Mầu sinh được một
đứa con trai, không biết đem đi đâu, liền đem đứa bé tới bỏ trước cổng tam quan
chùa. Vì tấm lòng từ bi và đức hiếu sinh, Kính-Tâm ẩn nhẫn nuôi đứa hài
nhi mặc cho mọi người cười chê. Khi đứa bé lên ba tuổi thì Kính Tâm viên
tịch. Trước khi chết, Kính Tâm viết một bức thư để lại cho cha mẹ, trong
ấy Kính Tâm kể rõ đầu đuôi mọi việc.
Khi chùa tẩm liệm thi
hài mới phát giác Kính-Tâm là gái giả trai, mới khám phá ra nỗi oan ức mà Kính
Tâm đã nhẫn chịu bao năm nay. Và trong lúc trà tỳ mọi người đều trông
thấy một vầng hào quang ngũ sắc trên bầu trời và trên vầng hào quang là một toà
sen nhiều cánh có hình ảnh Bồ Tát Kính Tâm.
Câu chuyện Quan Âm Thị Kính trên cho thấy Thị
Kính tức Kính Tâm đã thể hiện tấm lòng từ bi và đức tính nhẫn nhục. [2]. Thị Kính là hình ảnh của một lòng tha thứ bao la và một đức nhẫn nhục không bờ
bến. Mặc dù bị tới hai nỗi oan ức rồi bị tra tấn đánh đập, nhưng Kính Tâm
vẫn một lòng nhẫn chịu, không hề la lên một tiếng rằng tôi bị oan, rằng tôi là
phận gái. Kính Tâm biết nếu mình nói là gái thì chắc chắn hội đồng làng
sẽ ngưng tra khảo và được giải oan ngay, nhưng Kính Tâm đủ sức nhẫn chịu một
cách bình thản không nổi niệm sân giận những nghịch cảnh, những cái mà người
đời thường gọi là những điều bất công và những nỗi oan ức. Kính Tâm nghĩ
rằng “Tất cả chúng sinh vì có nhân duyên tội lỗi mới xâm hại nhau. Hôm
nay ta nhận thọ mọi khổ não này, ấy bởi nhân duyên đời trước cảm ứng nên mới
vậy. Tuy đời này ta không tội lỗi, nhưng quả báo gieo đời trước đã đến
mùa chín trái, ta phải trả nợ đó một cách vui vẻ. Ví dụ như có người mắc
nợ của người, nay hạn kỳ đã mãn, chủ nợ đến đòi, kẻ ấy đương nhiên vui vẻ mà
trả.” Thêm nữa, Kính Tâm nghĩ rằng: “Chúng sinh bởi mê mờ nên thuận dòng
sinh tử, hễ bị ai xâm phạm là nổi niệm sân giận, hễ được ai mến thương chiều
chuộng bèn vui mừng ưa thích, hễ gặp việc khủng bố thì khủng hoảng kinh
hoàng. Mình thì ngược lại, đang nghịch dòng sinh tử, đang trôi ngược về
nguồn, nên không thể sân giận với những điều nghịch hại, không mừng vui với
những điều ái kính, không sợ hãi đối với những nguy hiểm gian lao...”
Kính Tâm nghĩ rằng
trong suốt cuộc đời hoằng pháp của đức Từ phụ, Ngài chưa từng giận dữ, dù Ngài
bị ngược đãi nặng nề hay dù các đệ tử của Ngài nhẫn tâm chống Ngài và bỏ Ngài
mà đi, Ngài vẫn luôn luôn thân ái, từ bi và độ lượng. Nên quyết một lòng
noi theo gương đức Từ phụ và luôn luôn nhớ lời Ngài dạy trong Kinh Lục Độ Tập:
“Người đắm say vướng
mắc
Thì không còn sáng
suốt
Tạo khổ nhục cho mình
Nếu ta nhẫn chịu được
Thì tâm ta sẽ an
Kẻ buông lung thân tâm
Không hành trì giới
luật
Vu cáo làm hại mình
Nếu ta nhẫn chịu được
Thì tâm ta sẽ an.
Kẻ vô ơn dối mình
Tâm địa đầy oán thù
Tạo bất công oan ức
Nếu ta nhẫn chịu được
Thì tâm ta sẽ an
Hơn nữa, Thị Kính khi
quyết định xuất trần lên đường tu đạo giải thoát, đã phát nguyện bồ đề tâm, đã
phát nguyện thành Phật vì lợi ích cho chúng sinh. Nàng thực hiện đại
nguyện ấy bằng cách thể hiện một cách thực tiễn tấm lòng tôn trọng, quí chuộng
và yêu thương những kẻ khác, kể cả những người hành hạ mình, thù ghét mình và
vu oan giá hoạ cho mình, những người mà Kính Tâm thấy ai cũng ngập tràn nỗi khổ
đau riêng, ai cũng đang lặn ngụp trong sông mê biển ái, trong tham dục, trong
hận thù và si mê. Như vậy, nỡ lòng nào lại gây thêm khổ cho họ. Cũng không khác gì người bị tai nạn gẫy tay, ta đã không chăm sóc băng bó vết
thương mà lại can tâm bẻ luôn chân họ sao đành? Nếu nói rằng mình là gái,
là kẻ bị oan ức, thì biết bao điều đau khổ sẽ đổ ụp xuống cho Thị Mầu với đứa
con trong bụng nàng, cho người tớ trai của gia đình Thị Mầu đang phải lẩn trốn
và ngay cả cha mẹ Thị Mầu nữa. Có quá nhiều người liên luỵ sẽ phải đau
khổ và từ đau khổ sẽ sinh ra oán thù và cứ như thế chồng chất lên mãi.
Kính Tâm vui vẻ nhẫn chịu một mình để thay cho những người kia khỏi khổ và cũng
là để gỡ mối dây ràng buộc oán thù với nhau. Chỉ một nút dây được tháo gỡ
là tất cả được tháo gỡ.
Kính Tâm vẫn nhớ lời
dạy của đấng Từ phụ: hận thù không thể diệt được bằng hận thù. Chỉ có
lòng từ bi mới hoá giải được hận thù. Nếu không có lòng từ bi thì hận thù
sẽ chồng chất từ kiếp này sang kiếp khác. Chỉ có lòng từ bi mới cởi trói
được những nỗi oan ức và những khổ đau của đời mình. Quả là như vậy,
trong lễ trà tỳ Sư Kính Tâm có đông đủ mọi người trong chùa và dân trong làng
tham dự, chắc không còn trái tim nào mang oán thù và chắc tâm người nào cũng
rung một nhịp thương yêu và tha thứ cho nhau. Trái tim bồ tát của Kính
Tâm đã đi vào trái tim mọi người từ thân đến sơ, từ thù đến bạn.
Xin một lòng cung kính
chắp tay niệm: Nam Mô Quan Âm Thị Kính Bồ Tát.
Tịnh Thủy
Chú Thích:
[1] Chùa Vân là tên
tắt của Pháp Vân Tự hay còn
gọi là Chùa Dâu, là nơi phát xuất của tích chuyện Bồ Tát Quan Âm Kính
Tâm. Để người ta mãi mãi nhớ rằng đức Quan Âm này xuất thân từ một người
nữ, nên dân chúng thường gọi là Bồ Tát Quan Âm Thị Kính và ca dao Việt Nam có
câu:
Xem trong cõi nước Nam
ta
Chùa Vân có đức Phật
Bà Quan Âm
Phật Bà Quan Âm đây là
Phật Bà Quan Âm Kính Tâm, hay nói gọn hơn là Quan Âm Thị Kính
[2] Hoà Thượng Thích
Minh Châu giảng: “Nhẫn nhục là một trong những đức tính quan trọng của tu sĩ
Phật Giáo, dùng để đối trị tính sân giận. Trong sáu hạnh của Bồ Tát, thì
nhẫn nhục thuộc về hạnh thứ ba. Sách Phật phân biệt có ba loại nhẫn: (1)
Sinh Nhẫn: Giữ được thái độ bình thản, không sân giận, oán thù khi gặp những
người khác chử mắng hay bức hại mình. (2) Pháp Nhẫn: Gặp các nghịch cảnh thiên
nhiên như mưa gió nóng lạnh... đều xem như không, không chút than van oán
trách. (3) Vô Sinh Pháp Nhẫn: Đức nhẫn thành đạt của bậc Thánh, trở thành
bẩm tính tự nhiên của họ, không cần cố gắng, ra vào mọi nghịch cảnh như ra vào
hư không. “Chữ rằng: nhẫn nhục nhiệm hoà, Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu”
(Quan Âm Thị Kính)” [Tự Điển Phật Học Việt Nam]
Bài đọc Thêm:
Hình Ảnh Phật Quan Âm Trong Thi Ca
Việt Nam, Đào Nguyên
Source: thuvienhoasen