Chứng
được sáu phép thần thông, nhớ mẹ Mục Liên Tôn Giả xuống A Tỳ tìm cứu
mẫu thân. Phật dạy nương oai thần Tự Tứ, thiết trai cúng dường, đảo
huyền thọ khổ chúng sanh được siêu thoát. Lại một lần nữa Đại Lễ Vu Lan
Báo Hiếu lại trở về với người con Phật trên khắp năm châu bốn bể, tâm
hiếu nguyện cầu lan tỏa bao trùm cả đại địa thời không.
Đại Lễ Vu Lan tiếng Phạn là Ullambana,
Đông độ phiên âm là Ô lam bà noa, còn gọi là Vu Lan Bồn. Phiêm âm chữ
Ullam là “Vu Lan” có nghĩa là “Đảo huyền” treo ngược, chử bana là “Bồn”
có nghĩa là “Cứu” chỉ cho vật dụng dùng để cứu giúp, cho nên danh xưng
Vu Lan Bồn có nghĩa là Cứu đảo huyền, cứu giúp thoát khỏi nổi khổ bị
treo ngược.
Vu Lan Bồn Đông độ dịch là Cứu đảo
huyền, Cứu đảo huyền được hiểu theo nghĩa, là phương pháp cứu giúp tất
cả các loài quỷ đói thoát khỏi những nổi thống khổ bị đảo ngược, như
thân thể có hình dáng thô, xấu, ác khác lạ với loài người, các cơ quan
nội tạng ngược với các chức năng vốn có của nó như cổ thì bằng cây kim,
bụng thì to như trống, và có những cách thức ăn uống vô cùng khó khăn
thống khổ, muốn ăn cũng không cách nào nuốt được thức ăn, muốn uống thì
cũng không sao uống được nước, lúc nào cũng bị lửa đói khát thiêu đốt,
khi ăn thức ăn biến thành lửa, vì vậy nổi thống khổ vô cùng, cho nên cứu
đảo huyền là cứu cái khổ của những gì ngược lại với bình thường, cũng
không khác với cái khổ của người bị treo ngược.
Trong truyện Mục Liên Giải Cứu Mẫu Ách chép:
“Có một vị Tăng tên là Mục Liên, pháp lực quảng đại, mẹ của Ngài bị đọa
xuống địa ngục là ngạ quỷ, khi ăn thức ăn đều biến thành lửa, đói khác
vô cùng. Mục Liên không có phương pháp nào để cứu ách nạn cho mẹ, đến
Phật cầu xin chỉ giúp, Đức Phật vì Mục Liên nói pháp Vu Lan Bồn để cứu
mẹ thoát khổ...”.
Khởi nguyên của Đại lễ Vu La Bồn là căn
cứ theo Phật Thuyết Kinh Vu Lan Bồn chính là từ thuyết về Ngài Mục Kiền
Liên Tôn Giả, là một trong mười vị đại đệ tử của Phật. Khi chứng đắc
được lục thần thông, vì nhớ tưởng đến người mẹ quá cố của mình, nên đã
dùng thần thông huệ nhãn nhìn khắp các cõi, trên đến các tầng trời, dưới
qua hết các tầng địa ngục, thì thấy mẹ mình bị sanh làm ngạ quỷ đói
khát khổ sở, do bởi các nghiệp ác chính bà đã tạo nên, vì vậy Ngài vận
thần thông đi vào địa ngục đem cơm đến cho mẹ mình, nhưng mẹ Ngài ăn
không được vì tất cả thực phẩm đều biến thành lửa. Ngài Mục Kiền Liên về
bạch Phật, Phật thuyết pháp Vu Lan Bồn và Phật Giáo có lễ hội Vu Lan
bắt nguồn từ đó.
Trong Phật Thuyết Kinh Vu Lan Bồn chép:
“Ta Từng Nghe Lời Tạc Như Vầy: Một thuở nọ Thế Tôn an trụ, Xá Vệ thành
Kỳ Thụ Viên trung, Mục Liên mới đặng lục thông.....Làm con hiếu hạnh vi
tiên, bèn dùng huệ nhãn dưới trên kiếm tầm, thấy vong mẫu sanh làm ngạ
quỉ....Mục Liên thấy vậy bi ai, biết mẹ đói khát ai hoài tình thâm, lo
phẩm vật đem dâng từ mẫu. Thấy cơm mẹ rất lo âu .....Sợ chúng ma cướp
giựt của bà, Cơm chưa đưa đến miệng đà, hóa thành than lửa nuốt mà đặng
đâu...”
Theo lời Phật dạy cho Ngài Mục Kiền Liên
trong Kinh Vu Lan về phương pháp cứu mẹ, có chép: “này Mục Liên ngày 15
tháng 7 là ngày Phật hoan hỷ, cũng là ngày Tự tứ của chư Tăng, nên đem
thức ăn nước uống đựng trong bình bát cúng dường chư Tăng và Tam Bảo,
trượng thừa đại từ bi lực, oai thần công đức lực của Tam Bảo, có thể cứu
độ được cha mẹ đời này và cũng có thể cứu độ cha mẹ bảy đời trước...”
Phương pháp cứu mẹ mà Đức Phật dạy cho
Ngài Mục liên trở thành nghi thức cúng dường trai Tăng nhân ngày Tự Tứ,
được gọi là pháp “Vu Lan” và bình bát để vật thực cúng dường cho chư
Tăng chính là “Bồn” vật để trợ duyên cho pháp cứu tế, nên gọi đủ là Pháp
Vu Lan Bồn.
Đại lễ Vu Lan còn được coi là Đại Lễ Báo
Hiếu, tất cả ai là đệ tử Phật nên phải học theo hạnh hiếu của Tôn Giả
Mục Kiền Liên, cho nên Lễ Vu Lan tháng bảy cũng được coi là mùa báo hiếu
trong Đạo Phật. Trong Kinh Vu Lan Phật dạy: “Là đệ tử
Phật, nên tu hạnh hiếu thuận, trong từng niệm luôn nghĩ đến cha mẹ, cho
đến cha mẹ trong bảy đời, mỗi năm đến rằm tháng bảy nếu muốn báo đáp
công ơn dưỡng dục của cha mẹ, nên làm pháp Vu Lan Bồn để cúng dường Phật
và Tăng, lấy công đức đó hồi hướng công ơn sanh thành dưỡng dục của cha
mẹ vậy…”
Đại Lễ Vu Lan Bồn có từ thời Đức Phật
còn tại thế, vì căn cứ vào Kinh Vu Lan và Ngài Mục Kiền Liên là thủy tổ
của Pháp hội này, và cũng là người tổ chức Pháp hội này trước nhất. Pháp
hội Vu Lan với tính chất đề cao tinh thần đạo đức hiếu hạnh và phương
pháp cứu độ cho các hương linh thoát khỏi khổ não địa ngục của mình, rất
hợp với thuần phong mỹ tục của Ấn Độ đã nhanh chóng được lan truyền
cũng như phát triển trong xã hội lúc bấy giờ.
Theo Kinh Đại Bồn Tịnh Độ chép:
“Vua Tần Bà Sa La, Trưởng Giả Tu Đạt cùng với Phu Nhân Mạc Lợi đều y
theo lời dạy của Phật trong Kinh Vu Lan Bồn làm 500 cái bồn bằng vàng
cúng dường Phật cùng Chúng Tăng, để cầu nguyện diệt trừ tội chướng của
cha mẹ trong bảy đời…”. Phật Giáo Đông lai, Kinh Vu Lan Bồn cũng được
Ngài Trúc Pháp Hộ dịch vào thời Tây Tấn, và một lần nữa Đạo Hiếu của
Phật Giáo lại thịnh hành ở Đông Phương.
Hiếu đạo ở Đông Phương là một chuẩn mực
đạo đức của xã hội rất được coi trọng, nhưng chỉ dừng lại ở hiếu thuận
với cha mẹ còn tại thế, còn như cha mẹ đã mất hoặc là bảy đời phụ mẫu
thì chưa có phương pháp để báo đáp đền ơn, chính vì vậy tư tưởng cũng
như phương pháp báo hiếu của Đạo Phật đã giải quyết vấn đề nan giải này,
và rất nhanh chóng được chấp nhận và phổ biến rộng rãi trong khắp các
tầng lớp xã hội Đông Phương.
Đại Lễ Vu Lan Bồn được truyền vào Đông
Độ và được tổ chức quy mô lần đầu tiên chính là Vua Lương Võ Đế, vị Vua
Phật Tử có thể nói thuần thành và có công nhất trong việc hoằng truyền
các Pháp Hội trong Phật Giáo Bắc Truyền. Trong sách Phật Tổ Thống Kỷ quyển 37 chép: “Niên hiệu Đại Đồng thứ 4, Vua đến chùa Đồng Thái thiết lễ Trai Tăng Vu Lan Bồn.”.
Pháp Hội Vu Lan Bồn tại Đông Độ được tổ chức như thế nào thì trong sách Thích Thị Lục Thiếp
có chép: “Vua Lương Võ Đế cứ mỗi khi đến ngày 15 tháng 7, đều dùng bồn
đựng các thứ cúng dường, đem cúng cho các chùa. Từ đó về sau, dần dần
trở thành phong tục, các vua quan đời sau, cho đến thứ dân đều tuân theo
lời Phật dạy, hưng khởi Pháp Hội Vu Lan Bồn để báo đáp ân của cha
mẹ...”. Trong sách Pháp Uyển Châu Lâm chép: “các chùa
lớn trong nước đều có tổ chức Hội Vu Lan Bồn... tín chúng quan quyền cho
đến thứ dân, đến chùa đựng vật thực trong bồn hiến lễ báo hiếu rất
đông.... thời Đường lễ Vu Lan rất được trọng thị.”.
Việt Nam Phật Giáo được truyền vào rất
sớm và đạo đức của người Việt nam xem Hiếu Đạo là một chuẩn mực đạo đức
của cuộc sống, cho nên Đại lễ Vu Lan Báo Hiếu của Phật Giáo được truyền
vào Việt Nam, được dân tộc Việt Nam tín sùng và phát triển rộng rãi từ
dân gian cho đến triều đình từ rất sớm là việc không có gì phải bàn cải,
nhưng có những bằng chứng của sử liệu ghi chép về việc tổ chức đại lễ
này, thì phải cho đến thời kỳ Lý Trần trở đi, nước nhà được độc lập mới
có những tài liệu như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Châu Bản Triều Nguyễn
.v.v… đề cập và ghi chép.
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, kỷ nhà Lý chép:
“Mùa thu tháng bảy năm Mậu Tuất (1118) tiết Trung Nguyên, vua Lý Nhân
Tông bày cổ bàn, nhân vì lễ Vu Lan Bồn, cầu siêu cho Linh Nhân Hoàng
thái hậu”. Đến đời vua Lý Thần Tông đại lễ Vu Lan Bồn trở thành quốc lễ
của triều đình các quan phải chúc mừng, mà theo tinh thần nhà Phật ăn
chay tịnh tâm để cầu nguyện cho nên triều đình không bày yến tiệc.
Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có
đoạn chép: “Tháng Bảy tiết Trung Nguyên, năm Mậu Thân (1128) Niên hiệu
Thuận Thiên thứ nhất. Vua Thần Tông ngự điện Thiên An, các quan dâng
biểu chúc mừng, nhân lễ Vu Lan Bồn, thiết lễ cầu siêu báo hiếu cho vua
Nhân Tông, nên không bày yến tiệc”.
Triều Lý rồi đến triều Trần Phật Giáo
được coi như là Quốc Giáo, việc hằng năm mở hội Vu Lan Bồn báo hiếu siêu
độ đã trở thành thông lệ và là một phong tục đẹp trong đời sống văn hóa
đạo đức “uống nước nhớ nguồn của người Việt Nam”, đến triều Hậu Lê, một
triều đình “trọng Nho bài Phật” nhưng lễ hội Vu Lan vẫn được tổ chức,
qua đó cho thấy đại lễ Vu Lan báo hiếu không còn là lễ hội riêng của
Phật Giáo nữa mà đã hòa mình vào mỹ tục đạo đức Việt trở thành lễ hội
của dân tộc Việt Nam.
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có
đoạn chép: “Mùa thu ngày 15 thánh 7 năm Giáp Dần (1434) niên hiệu Thiệu
Bình thứ nhất, Vua Lê Thái Tông mở hội Vu Lan, tha cho 50 người tù nhân
có tội nhẹ, cúng dường 220 quan tiền, cho các sư tụng Kinh...”.
Đến triều nhà Nguyễn Đại Lễ Vu Lan Bồn
được tổ chức không đơn thuần chỉ là lễ hội báo hiếu, cầu siêu cho cửu
huyền thất tổ của nhân dân, Phật tử, mà đã trở thành lễ hội của Quốc Gia
cầu siêu cho chư anh linh chiến sĩ vì nước quên mình và do triều đình
đứng ra tổ chức.
Trong Châu bản triều Nguyễn có
đoạn chép: “Tháng 7 năm Ất Mùi (1835), vua Minh Mạng mở đại trai đàn Vu
Lan rất lớn ở chùa Thiên Mụ. Nhà vua giao cho Hà Tôn Quyền và Hoàng
Quýnh chịu trách nhiệm tổ chức, Bùi Văn Huyến làm đổng lý trai đàn.
Trong kỳ đàn tràng lớn này, vua Minh Mạng đích thân lên chùa Thiên Mụ dự
lễ. Vua làm nhiều bài thơ sai đem dán ở điện Phật và các đàn Thủy lục.
Trai đàn cử hành được một tuần. Được tin quân triều đình chiếm lại được
thành Phiên An (thành Gia Định), vua ra lệnh cho viết linh vị các tướng
sĩ và biền binh bị mất trong cuộc đánh dẹp, cuộc nổi dậy của Lê Văn
Khôi, để làm lễ cầu siêu.”.
Truyền thống nhân lễ hội Vu Lan triều
đình làm lễ kỳ siêu cho chiến sĩ anh linh “Vị quốc vong thân trở thành
một trong những đại lễ quan trọng của triều đình nhà Nguyễn. Trong sách
cũng có đoạn chép: “Năm Đinh Mùi (1847), vua Thiệu Trị cho mở trai đàn
bạt độ ở chùa Thiên Mụ, cầu siêu cho tướng sĩ trận vong trong cuộc chiến
tranh ở Trấn Tây Thành (Campuchia)”.
Năm Mậu Dần vua Tự Đức cũng tổ chức lễ
cầu siêu cho chư anh linh chiến sĩ nhân lễ Vu Lan. Trong sách có đoạn
chép: “Mậu Dần, năm Tự Đức thứ 31 (1878), vào rằm tháng 7, vua thiết lễ
Vu Lan Bồn rất lớn ở chùa Thiên Mụ. Bộ Lễ tâu vua: “Theo lệ đã đến kỳ mở
đại trai đàn để chúc thọ nhà vua. Vua Tự Đức bảo: “Chúc một người sống
lâu không bằng cứu vớt một người chết oan”.

Sau đó vua ra lệnh triệu tập chư Tăng từ
trong Nam ra tới Quảng Bình về kinh đô, lên chùa Thiên Mụ mở hội Vu Lan
bạt độ và vua ra lệnh cho các quan ở Thừa Thiên lấy ngày Trung nguyên
tức ngày rằm tháng 7 năm đó, khai kinh phổ tế các tướng sĩ trận vong
khắp cả Trung Nam Bắc kể từ năm Tự Đức nguyên niên đến lúc đó (1848-
1878)”.
Vu Lan Bồn với những tính chất đặc trưng
của mình, cho nên hết đời này đến thời đại khác, không phân thời kỳ
không kể chế độ, đại lễ Vu Lan vẫn được cử hành, vì dù thế nào đi nữa
thì tâm hiếu của con người chỉ là một và lòng biết ơn và báo ơn của con
người thì không hai, chính vì vậy mà nguồn sống của Vu Lan vững chải đến
như vậy.
Đại Lễ Vu Lan Bồn khởi nguyên từ hạnh
hiếu của Mục Kiền Liên Tôn Giả, trở thành nét văn hóa đạo đức hiếu hạnh
của Đạo Phật, một trong “Tứ trọng ân”, đã là người Phật tử ai cũng phải
biết nhớ ân đền đáp, vì vậy mọi người muốn báo ân cha mẹ nên cúng dường
Vu Lan, để hồi hướng cho cha mẹ siêu thoát. Đất Nước nhớ ân những người
vì tổ quốc đã hy sinh nên thiết lễ Vu Lan để cầu nguyện chư anh linh
được về cảnh Phật.v.v… Vu Lan Bồn là một pháp hội thù thắng và có tính
phổ cập nhất trong Phật Giáo và có sự ảnh hưởng rất lớn về văn hóa sống,
đạo đức làm người trong xã hội Việt Nam.
Theo dòng lịch sử đất nước thạnh suy,
suy thạnh, Phật Giáo cũng theo vận nước bao lần hưng phế, nhưng Đại Lễ
Vu Lan Bồn Báo Hiếu thì chưa có lúc nào bị lãng quên trong tâm thức của
người dân Việt. Tâm hiếu hạnh của Mục Liên tôn giả nói riêng, người dân
Việt Nam, và các dân tộc trên toàn thế giới nói chung chưa có lúc nào
vơi cạn, vì vậy Mùa Báo Hiếu Vu Lan trở thành bất tử, và trở thành ngày
hội của tình thương, của biết ân, của báo ân, đầy đủ hạnh lành của chư
Phật và đạo đức sống muôn đời của loài người.
Thích Tâm Mãn
Chùa Minh Thành Pleiku