Lễ Vu Lan và bài Văn tế thập loại chúng sinh

Tuesday, August 2, 201100:00(View: 6878)

LỄ VU LAN
VÀ BÀI VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH

VŨ THẾ NGỌC

VU LAN – ULLAMBANA

Ở Việt Nam hằng năm có hai lễ quan trọng cho người chết là ngày giỗ cho mỗi người và lễ Vu Lan cho tất cả người chết. Lễ Vu Lan là một biểu trưng rõ ràng nhất về ảnh hưởng Phật giáo trong quần chúng Việt Nam.

Danh từ Vu Lan hay Vu Lan Bồn là tiếng dịch âm từ chữ Phạn Ulambana vốn có nghĩa là “Ngày hội cứu những oan hồn bị treo ngược.” Lễ Vu Lan được tổ chức vào đêm mưới lăm tháng bẩy âm lịch mỗi năm. Mục đích đầu tiên của lễ là cúng dường thức ăn cho các quỉ đói và cầu nguyện cho họ được siêu thăng tịnh độ. Vào ngày này, dân chúng làm lễ ở khắp nơi, từ tư gia đến các nơi công cộng như chợ búa bến xe, và ngay cả công sở. Tại các chùa chiền, các tăng ni tập trung làm lễ, đọc kinh sớ, tụng kinh và bố thí cháo bánh cho người chết.

Lễ này cũng là dịp người ta báo hiếu phụ mẫu, cầu nguyện cho ông bà cha mẹ cửu huyền thất tổ được siêu thăng tịnh độ và cha mẹ hiện tiền được sống lâu khỏe mạnh. Trong những năm vừa qua, lễ Vu Lan còn được coi là ngày lễ trận vong chiến sĩ và đồng bào tử nạn chiến tranh và còn được coi như “Ngày của Mẹ,” một dịp cho con cái tỏ lòng hiếu kính. Vì vậy Lễ Vu Lan ngày nay không chỉ còn là “lễ cúng cô hồn” như ngày trước.

*

Trong dịp lễ Vu Lan người ta sau khi tụng kinh Vu Lan (Phật Thuyết Vu Lan Bồn Kinh) người ta thường đọc bài Thỉnh Âm Hồn Văn, hay Chiêu Hồn Ca. Bài chiêu hồn văn này chính là bài thơ danh tiếng Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh mà theo nhiều nhà nghiên cứu văn học cho rằng tác giả bài thơ này là Nguyễn Du.

Ðiều quan trọng đầu tiên ở đây chúng ta phải giải thích chữ “hồn” theo cách hiểu truyền thống của người Việt Nam và theo Phật Giáo. Theo tín ngưỡng truyền thống, người Việt tin rằng ngoài thân xác vật chất người ta còn có ba hồn bẩy vía (người nam) hay ba hồn chín vía (nguời nữ). Cho nên khi ai đó quá sợ hãi quên cả ý thức tiếng Việt gọi là hồn phi phách tán (vía chữ Hán viết là phách) hay hồn vía lên mây. Theo tập tục dân gian, khi có người chết có người còn viết tên người chết trên tấm vải lụa trắng gọi là hồn bạch, thắt thành hình người như một chỗ cho hồn phách người chết tạm trú trước khi đi đầu thai đặt trên quan tài. Tóm lại khi người ta nói hồn là nói tắt cả hồn vía hay hồn phách như trong bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh viết:

Mỗi người một kiếp khác nhau.
Hồn xiêu phách tán biết đâu bây giờ.

Chữ hồn thường được dịch ra tiếng Anh là soul, nhưng không bao giờ hàm ý nghĩa của từ soul trong nghĩa của thần học tây phương. Trong ngôn ngữ thường dụng người Việt vẫn dùng chữ hồn một cách giản lược như gọi hồn, cầu hồn, hồn ma ... nhưng trong các trường hợp chính thức người ta trang trọng dùng các chữ khác như hương linh, vong linh ... Người Việt Nam không ai viết cáo phó hay chia buồn mà dùng chữ “cầu cho linh hồn ông Nguyễn tiêu diêu miền cực lạc.” 

Theo tin tưởng của người Việt Nam, hồn của những người bị chết thảm thương hoặc những người chết không có con cái thờ cúng sẽ phải lang thang vất vưởng ở thế giới bên kia và không được tái sinh. Sự tin tưởng này có thể thấy từ ảnh hưởng thuyết luân hồi cổ của Ấn Ðộ thời xa xưa (thông qua Phật giáo) trộn lẫn với tập tục thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam. Hai nguồn tập tục tín ngưỡng này tiếp tục tạo thành một cơ động lớn lao, ảnh hưởng quan trọng trên tâm hồn mọi người.

Người Phật tử vốn lấy lòng từ bi làm căn bản đạo đức, đương nhiên sẽ trải rộng lòng từ bi của họ với những người chết không con cái nên sẵn sàng tham dự và cúng dường cuộc lễ. Ðạo đức Phật giáo khởi từ nền tảng từ bi nên càng muốn dùng cuộc lễ này bầy tỏ lòng từ bi với những kẻ chết thảm thương và những người đã khuất để phát triển tinh thần từ bi của Phật giáo trong sinh hoạt quần chúng. Vì vậy người Phật tử đã chủ động phát triển tập tục hành lễ Vu Lan này. Nhưng đồng thời người Phật tử cũng hướng dẫn quần chúng vượt lên khái niệm bình dân “cúng cô hồn ma đói.” Ðưa đến mục đích chính của lễ Vu Lan bây giờ là giải thoát cho tất cả chúng sinh khỏi mọi khổ nạn, như bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh giải thích theo đúng ý nghĩa của kinh Vu Lan:

Tiết đầu thu dựng đàn giải thoát...
Giải oan cứu khổ, hồn về Tây Phương.

*

Theo giáo lý nền tảng của Phật giáo là mọi hiện tượng trên đời đều theo luật biến đổi (vô thường - anitya) và không có một thực tại nào thật sự có một bản ngã vĩnh cửu (vô ngã – anatman). Theo đó, sinh và tử chỉ là một chu kỳ của một chuỗi nguyên nhân và hậu quả liên tục (nhân quả - karma). Mà ta có thể tóm lược thành chuỗi mười hai nhân duyên (pratiya-samutpada) như sau: Từ vô minh (1. avidya) không thấy được bản chất khổ của cuộc sống tức phiền não của quá khứ nên sinh ra hành động tạo nghiệp (2. Hành – samskara) -- Hành động tạo nghiệp này vừa cả thiện nghiệp lẫn ác nghiệp hay vô ký không thiện không ác của thân khẩu ý-- Vì có hành động tạo nghiệp nên sinh ra thức (3. thức - vijnana làm nền tảng cho cuộc tái sanh mới). Vì có thức nên sinh ra toàn bộ tâm lý và vật chất gọi chung là hình tướng (4. danh sắc – namarupa) và bào thai dần có hình tướng. Vì có hình tướng nên sinh lục căn là các cơ phận giác quan (5. lục xứ – sadayatana) của giai đoạn sắp xuất thai. Lục căn tiếp xúc với thế giới bên ngoài gọi là xúc (6. xúc - sparsa). Tiếp xúc sinh ra cảm thụ (7. thụ – vedana). Cảm thụ sinh ra yêu thích (8. ái – trishna). Yêu thích sinh ra thủ, tức là lòng chiếm giữ cho mình (9. thủ – upadana). Thủ dẫn đến hữu (10. bhava) chỉ toàn bộ thế giới tham ái. Hữu làm điều kiện cho sinh (11. sinh -jati) và có sinh là có đưa đến già chết (12. lão tử jara-marana) – Trong 12 nhân duyên này, ta có thể thấy các giây xích 1- 2 thuộc về tiền kiếp, 3- 7 là nhân duyên của sinh thành đời sống sau này, 8- 10 là kết quả trong đời sống này, và 11- 12 là cuộc sống tương lai.

Vì vậy, nếu loại bỏ được nguyên nhân thì hậu quả sẽ không còn. Nói cách khác, nếu hoàn toàn loại bỏ được vô minh thì không còn hành động tạo nghiệp và thoát vòng luân hồi sống chết (Niết Bàn.) Lễ Vu Lan hình thức thì là cúng cô hồn nhưng nội dung là thuyết giảng chúng sinh qui y tam bảo nhận lãnh bài học cơ bản, nhìn thẳng vào vô minh, nguyên nhân gốc gác của mọi khổ đau để thoát nghiệp. Vì vậy lễ Vu Lan trên cơ bản hoàn toàn chứa đựng giáo lý căn bản nhất của Phật giáo. Những người chỉ nhìn hình thức bên ngoài mà vội vã phê bình Lễ Vu Lan là một hình tức mê tín của Phật giáo bình dân thực ra mới chính là người hời hợt.

Nguyên lai của lễ Vu Lan có thể tìm thấy trong truyền thuyết về Mục Kiền Liên, một trong thập đại đệ tử của Ðức Phật, và trong kinh Vu Lan (Phật Thuyết Vu Lan Bồn Kinh) là bản đã được dịch ra Hán văn vào thế kỷ thứ ba tây lịch và là bản kinh rất phổ biến ở Việt Nam.

Theo kinh Vu Lan, Mục Kiền Liên mới đắc ngũ thông nên dùng huệ nhãn thấy mẹ ngài là bà Thanh Ðề bị tái sanh làm ngạ quỉ (quỉ đói) nên ngài muốn đến cứu mẹ. Dù là bực A La Hán nhưng ngài không thể cứu được mẹ một mình. Ðức Phật mới nói với ngài rằng chỉ có thể phối hợp tất cả nỗ lực của tất cả chư tăng mới có thể cứu thoát qua các khổ nạn đó. Ðức Phật dậy cho Mục Kiền Liên tổ chức cúng dường các tăng ni nhân ngày an cư kiết hạ vào ngày rằm tháng bẫy để cùng làm lễ cứu giúp cho mẹ ngài nay đã trở nên ngạ quỉ các hành động tham ác của bà ta trong kiếp trước. Từ ý nghĩa nguyên thủy này tựu thành lễ Vu Lan. Cho đến thế kỷ thứ bẩy Lễ Vu Lan ở Trung Hoa đã trở thành một lễ hội Phật giáo thấm đậm ảnh hưởng Mật Tông và tiếp thu cả truyền thống dân gian Trung Hoa với tập tục cúng đồ ăn, quần áo và đủ thứ vật dụng cho người chết. Lễ Vu Lan ở nhiều nước Phật giáo ngày nay đều có ít nhiều ảnh hưởng truyền thống này.

*

Theo lịch sử, chúng ta có thể tin là Bất Không Kim Cương (Amoghavajra) là tác giả đầu tiên tổ chức lễ Vu Lan mà ta thấy như ngày nay. Bất Không Kim Cương là vị thứ ba trong “Khai Nguyên Tam Ðại Sĩ” của Mật Tông Trung Hoa (hai vị kia là Thiện Vô Úy và Kim Cương Trí) và là một trong bốn dịch giả danh tiếng (ba vị kia là Cưu-ma-la-thập, Huyền Trang, và Chân Ðế). Ngài gốc người Singhalese cùng theo thầy là Kim Cương Trí đến Trung Quốc dịch kinh và truyền bá Phật giáo rất thành công. Bất Không Kim Cương chính là thầy của liên tiếp ba vị hoàng đế thời nhà Ðường là Ðường Huyền Tông, Ðường Túc Tông và Ðường Ðại Tông. Theo sách sử Phật giáo Trung quốc, ngày lễ Vu Lan được tổ chức đầu tiên vào đêm rằm tháng bẩy năm 768 ở Trường An do chính Bất Không Kim Cang chủ lễ với sự ủng hộ của Ðường Ðại Tông.

Tuy nhiên theo sử Nhật Bản thì Nữ Hoàng Saimei (594- 661) vào năm 657 đã cho tổ chức lễ Vu Lan và hai năm sau (năm 679) bà ra chiếu bắt các chùa trong kinh đô hàng năm phải làm lễ Vu Lan cầu cho cha mẹ và cha mẹ ông bà bẩy đời của dân gian. Như vậy cho thấy các nước đã có tập tục làm lễ Vu Lan từ lâu. Nhưng có lẽ nghi thức lễ Vu Lan ở Nhật lúc đó không có nhiều yếu tố Mật Tông như sau này của Bất Không Kim Cương. Dù sao chúng ta cũng nên nhớ Phật Thuyết Vu Lan Bồn Kinh đã được Ðàm Vô Sấm (Dharmarakya, 239- 316) dịch ra Hán văn cùng với Kinh Pháp Hoa từ thời Tây Tấn cuối thế kỷ thứ ba tây lịch.

Mật Tông ở Trung Hoa thời nhà Ðường đặt trung tâm ở kinh đô Trường An tại hai tự viện lớn nhất của Trường An, mỗi chùa chứa đến hơn ngàn học tăng. Các học tăng Nhật Bản vào thời này thường tu học ở đây mà họ coi là Nalanda của Trung Hoa. Một trong những tăng nhân Nhật Bản này chính là Kukai (Không Hải 774- 835). Ðại sư Kukai sau đó trở về Nhật và trở nên vị sơ tổ Mật Tông của Nhật Bản, một tông phái vẫn tiếp tục truyền bá mạnh mẽ cho tới thời nay (và còn truyền ngược qua Trung Hoa gọi là Ðông Mật để phân biệt với Tạng Mật là Mật Tông của Tây Tạng). Tuy nhiên ở chính Trung Hoa, Mật Tông lại tàn dần sau khi Bất Không Kim Cương mất (774) và sau đó cũng không còn đại sư Mật tông quan trọng nào từ Ấn Ðộ đến Trung Hoa nữa. Tuy nhiên lễ Vu Lan vẫn tiếp tục được phổ biến mạnh mẽ khắp Trung Hoa cũng như ở Việt Nam, Nhật Bản, Hàn quốc, và nhiều vùng đất khác ở Viễn Ðông.

 Ngày nay hằng năm chùa Phật giáo và quần chúng Phật tử ở các quốc gia này đều tổ chức lễ Vu Lan, nhưng vẫn có một số chi tiết khác biệt tùy theo truyền thống từng vùng. Theo truyền thống kiểu Trung Hoa, lễ Vu Lan còn chú trọng đến lễ Phá Ngục hay Phá Diệm Khẩu (mở miệng bị cháy của ngạ quỉ) có ảnh hưởng Mật Tông nặng nề. Trong lễ này nhà sư sẽ vận dụng thần chú và ấn quyết để phá cửa địa ngục, mở họng những quỉ đói (theo truyền thuyết thì miệng quỉ đói vừa nhỏ vừa luôn luôn đỏ cháy nên luôn luôn đói vì không ăn được) và cho quỉ đói ăn thứ đề hồ thanh tịnh tượng trưng qua nước cháo sau khi niệm thần chú làm phép. Sau đó nhà sư sẽ giảng giải về tội lỗi kiếp truớc của quỉ đói và truyền Phật pháp cho họ qui y tam bảo (Tam bảo Phật Pháp Tăng là nơi mọi chúng sinh có thể nương tựa nên gọi là qui y.)

 Nếu cuộc lễ được cử hành đúng đắn thì các ngạ quỉ sẽ có thể được tái sinh hay có thể còn được tái sinh ở Tây Phương Cực Lạc. Theo tập tục người Hoa, cuộc lễ sẽ không hoàn hảo nếu không kèm theo tục đốt vàng giấy, tiền giấy và vật dụng khác bằng giấy để gửi cho người chết. Trong lễ này người Hoa còn đốt đủ thứ từ xe hơi tầu thủy nhà cửa bằng giấy, cho đến cả tiền đô la (giả) cho người chết. Cho đến tận ngày nay, từ lục địa Trung Quốc cho đến Hoa Kỳ, người Hoa tiếp tục đốt các món đồ giấy này trong ngày lễ Vu Lan. Và cũng gần đây người Việt cũng tái nhập cảng tục lệ này ở những khu vực không có ảnh hưởng hữu hiệu của các tăng ni. 

Ở Việt Nam thì người dân không ai làm lễ “Phá ngục” hay “Phá Diệm Khẩu.” Tại gia đình hay ở các nơi công cộng, dân chúng chỉ làm lễ theo tập tục cúng cô hồn và tụng kinh Phật. Khác hẳn phong tục Trung Hoa, nơi mà các chùa còn thường nhân dịp này “mở khám thờ” trưng bầy các vật quí của chùa, ở chùa Việt Nam thì tăng ni bình thường chỉ tụng kinh Vu Lan Bồn và rất ít khi “mở khám” hay làm lễ phá ngục. 

Từ lâu Việt Nam đã có khóa lễ Mông Sơn Thí Thực của các tăng ni dùng trong các trai đàn chẩn tế. Và trước bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh hơn ba trăm năm chúng ta cũng đã thấy tác phẩm nổi tiếng Thập Giới Cô Hồn Văn của vua Lê Thánh Tông (1442-1497) soạn theo Khóa Mông Sơn Thí Thực. Trong sách Ứng Phó Dư Biên là một tập văn cúng mà các tăng ni dùng trong các trai đàn (theo mộc bản in năm 1894 của nhà sư Chính Ðại trụ trì chùa Hưng Phúc xã Hạ Lôi, huyện Vũ Giàng, Bắc Ninh) thì ngoài bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (đặt dưới tên Thỉnh Âm Hồn Văn) người ta còn thấy còn có các bài văn cúng khác như Bảo Ðường Ca, Ban Xá bản, Chèo Thuyền bản, Chiêu Linh Thán ... Nhưng hiện nay hầu như không còn chùa nào dùng các bài văn cúng này nữa. Trong ngày lễ Vu Lan tăng ni tụng kinh cầu nguyện cho ngạ quỉ cũng như tất cả chúng sinh vưởng vất ở các cõi địa ngục có dịp nghe kinh và qui y Tam Bảo. Nhưng Lễ Vu Lan không phải là để biểu dương phép lạ. Như kinh Vu Lan và bài Văn Tế đã viết, cô hồn phải đến nghe pháp để tự cứu (Ai ai lấy Phật làm lòng...Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi). Phật pháp chỉ là bó đuốc chỉ đường cứu khổ. Ngạ quỉ cũng như mọi chúng sinh đều thoát nghiệp nếu theo con đường Phật pháp đã dậy. Ðây là một tiến trình liên tục cho đến khi vượt thoát luân hồi sinh tử.

*

Lễ Vu Lan còn là một đại lễ báo hiếu của mọi người như kinh Vu Lan đã dậy: “Khấn nguyện cho cha mẹ còn sống được sống lâu trăm tuổi không bị bệnh hoạn và không khổ não buồn phiền. Và cũng cầu cho cha mẹ bẩy đời thoát khổ nạn ngạ quỉ, cùng đắc sinh cõi trời người, hưởng phúc lộc vô cùng.”

Như thế, ngay từ khởi thủy lễ Vu Lan không chỉ là lễ “cúng cô hồn” mà còn là dịp cầu nguyện cho bảy đời phụ mẫu thoát khổ nạn và cha mẹ còn sống hiện tiền được sống lâu không bệnh hoạn phiền khổ. Với trọng tâm này Vu Lan lại càng đánh động vào tập tục thờ cúng tổ tiên và truyền thống hiếu đạo của người Á Ðông khiến lễ Vu Lan trở nên một lễ hội càng ngày càng phát triển. 

Trải qua nhiều cuộc chiến tranh, ngày nay lễ Vu Lan ở Việt Nam còn là đại lễ cầu nguyện cho các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn chiến tranh được vãng sinh cực lạc. Trong hơn ba thập niên vừa qua, lễ Vu Lan còn là ngày lễ mang tên “Ngày Của Mẹ” một lễ hội có ảnh hưởng Nhật Bản. Vào ngày này người ta đi chùa cầu nguyện cho cha mẹ và những người còn mẹ hãnh diện đeo trên ngực chiếc hoa hồng màu đỏ, trong khi những người khác mang hoa màu trắng. Tiếp thu thêm những ý nghĩa mới này, Lễ Vu Lan mau chóng thu hút được sự tham dự đông đảo đặc biệt là giới trẻ và có thêm sức sống mới. Sự thật lễ hội “Ngày của Mẹ” này chỉ là một triển khai mới đồng thời với giai đoạn tái phát triển của Phật giáo ở miền nam Việt Nam sau sự sụp đổ của chính quyền tổng thống Ngô Ðình Diệm, một người Thiên Chúa Giáo, vào năm 1963.

*

 Như đã nói ở phần trên, một số “học giả Phật giáo” không hiểu được yếu tố tâm lý và đạo đức của buổi lễ nên vội vã coi lễ Vu Lan như một hình thức mê tín của loại phật giáo bình dân. Những người này đã không đọc cả kinh Vu Lan lẫn bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh danh tiếng. Ở đây chúng ta có thể đọc lại bài Văn Tế để thấy những yếu tố tư tưởng căn bản nhất của Phật pháp đã được dàn trải trong tác phẩm này.

 Trước hết, bài văn tế cho thấy Lễ Vu Lan là một bài học sâu sắc tinh thần nhân bản và từ bi của Phật giáo. Người Phật tử cử hành nghi lễ là thực hành bài học đạo đức. Họ biết là đối tượng của buổi lễ không chỉ có ngạ quỉ mà còn là chính người tham dự hành lễ. Người làm lễ không chỉ cầu nguyện kêu gọi người chết của gia đình mình mà cho tất cả các vong linh thập loại chúng sinh, và cầu nguyện cho cả những người đang còn sống, không phải chỉ giới hạn trong trái đất này mà còn khắp vũ trụ “khắp trong tứ đại bộ chu”. Họ cầu cho “tất cả chúng sinh đều thành Phật đạo,” một câu cầu nguyện cuối quen thuộc trong các bản kinh nhật tụng của người Phật tử:

Có khôn thiêng hỡi, lại mà chứng minh.
Nhờ Phật lực siêu sinh tịnh độ,

Phóng hào quang cứu khổ độ u.

Khắp trong tứ đại bộ chu,

Não phiền thoát sạch oán thù rửa trong.

Ðạo vô thượng thần thông quảng đại,

Chuyển pháp luân tam giới thập phương.

 Trong bài Văn Tế, tác giả nhắc đến tất cả những người chết thê thảm của mọi từng lớp xã hội. Từ các đại quan cho đến những cô gái buôn hương bán phấn, từ những kẻ vượt sông qua biển cho đến những người buôn bán quanh đường, họ đều chết bất ngờ và tiếp tục nhận lãnh hậu quả khổ đau sau khi chết (hậu nghiệp). Phật giáo còn dậy rằng quả báo cũng không cần đợi đến cuộc lai sinh mà quả báo ngay trong đời hiện tại (hiện nghiệp). Người Việt cũng tin tưởng rằng không ai tránh được quả báo, dù quả báo không giáng xuống ngay trong đời này thì cũng giáng xuống cho họ trong kiếp sau và ngay chính con cháu họ cũng phải gánh chịu (một hình thức của cộng nghiệp). Không ai thoát khỏi được nghiệp báo, như tác giả Văn Tế nhận định: “Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm.” Chỉ có một con đường duy nhất đánh bại quả báo là con đường không gây hại sinh linh và san sẻ công bằng hạnh phúc cho tất cả mọi người.

 Cho nên người thực hành Lễ Vu Lan không cần phải là người Phật tử theo Tịnh Ðộ Tông hay theo Chân Tông Mật Giáo, bài Văn Tế đưa ra bài học cơ bản nhất của Phật giáo, và cũng là căn bản của tất cả học phái Phật giáo: Luật Nhân quả, “Gieo nhân nào nhận quả đó.” Phật giáo chỉ cho thấy con đường chân thật mà Ðức Phật đã dạy. Tất cả đều có thể theo đó mà thực hành. Phải tự mình cứu độ mình, không có đấng cứu thế nào hiện ra làm phép lạ mà cứu riêng anh. Nhưng bất cứ ai đi trên con đường chính đạo đó, kể cả ngạ quỉ, cũng đều sẽ vượt thoát vòng luân hồi sinh tử đến được đất bình yên mà ta gọi là Niết Bàn.

Lời dạy này được nhấn mạnh trong bài Văn Tế cũng cho thấy truyền thống tam thừa Mật Tịnh Thiền của Phật giáo Việt Nam: Phật lực nhân lực tự lực tha lực quấn quít trong lễ Vu Lan Bồn. Ở đây bài Văn Tế cũng nhắc lại ý tưởng trọng tâm của Kinh Kim Cương, kinh căn bản của Thiền Tông: “Nhất thiết hữu vi pháp/ Như mộng huyễn bào ảnh/ Như lộ diệc như điện/ Nên khởi quán như thế” mà người Phật tử thường tụng niệm hằng ngày:

Nhờ Phật lực uy linh dũng mãnh,
Trong giấc mê, phút tỉnh chiêm bao.

Mười loại là những loài nào.

Gái trai già trẻ dứng vào nghe kinh.

Kiếp phù sinh như hình bào ảnh

Có câu rằng vạn cảnh giai không.

Ai ai lấy Phật làm lòng,

Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

*

Làm người ai cũng sợ hãi khi nghĩ đến cái chết của mình. Từ thời lịch sử hồng hoang, con người không chỉ sợ hãi về thế giới bên ngoài, mà còn sợ hãi vì các hình ảnh ý tưởng có trong tâm trí của họ. Người qui y Phật giáo đều được dậy rằng có sinh ắt có tử, sinh ra trong đời là như một mũi tên đã buông chỉ đợi đến đích là cái chết (Thập Nhị Nhân Duyên đã nói ở trên). Quyến luyến quá đáng vào đời sống trần gian chỉ làm người ta sợ hãi vô cớ về cái chết. Phật giáo luôn luôn khuyên người ta “tỉnh giấc chiêm bao” nhìn thẳng vào chân lý ấy để thoát khổ, thoát sợ, và tiến đến siêu thoát luân hồi. Trong phần cuối cùng của bài Văn Tế tác giả cũng đã đưa ra lời khẳng định trấn tĩnh theo tinh thần vô úy của Phật Pháp:

Phật hữu tình từ bi cứu độ,
Chớ ngại rằng có có chăng chăng.

Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng.

Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.

 Tóm lại, Vu Lan là một lễ hội tưởng nhớ công đức cha mẹ, là một hành trì lòng từ bi trải dài cho cả thập loại chúng sinh, cũng vừa là một dịp suy ngẫm về cuộc đời giới hạn và con đuờng giải thoát mà Ðức Phật đã chỉ dậy.

*

 Lễ Vu Lan và bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh cũng phản ảnh thực tế của Phật giáo Việt Nam. Phật giáo Việt Nam không chỉ tổng hợp cả ba truyền thống Mật, Tịnh Ðộ và Thiền Tông mà còn tiếp thu hài hòa với truyền thống dân gian. Nhiều khi người ta không tìm ra được các tập tục về nhiều lễ hội ở Việt Nam có nguồn gốc bản địa hay từ Phật giáo.

Ðây là việc không làm người Việt Nam nào thắc mắc vì người ta cảm thấy sự liên hệ giữa Phật giáo và truyền thống dân tộc là một liên hệ hữu cơ và tự nhiên. Vì sự liên hệ giữa Phật giáo và con người Việt Nam có một lịch sử hòa ái dài lâu nên đã làm mọi người không thắc mắc là một điều dễ hiểu. Hơn nữa, vì đặc thù lịch sử, Phật tự ở Việt Nam còn là trường đào tạo các nhà lãnh đạo kháng chiến, là nơi nuôi dưỡng tinh thần độc lập và tôi luyện bản sắc dân tộc ngay từ thời Trung Hoa đô hộ. Không phải tình cờ hay vì chỉ vì chỉ có các nhà sư là người có học vấn trong nước hay đại đa số người Việt theo Phật giáo mà các nhà lãnh đạo Việt Nam thời dựng nước đều tôn các thiền sư là quốc sư. Người Việt Nam trọng vọng Ðạo phật vì còn muốn cho phương bắc thấy tinh thần độc lập và siêu việt của người phương Nam. Nếu Nho học là chủ đạo của phương bắc, thì người phương nam có tư tưởng Phật học làm quốc học, một nền đạo học sâu sắc hơn, bình đẳng hơn và từ ái hơn so với bắc phương. Trong lịch sử truyền bá Phật giáo vào phương bắc thì Việt Nam còn có thể hãnh diện là nơi tiếp thu Phật giáo trước khi phổ biến tới Trung Hoa -- dù sau đó Phật giáo có phát triển sâu rộng ở đất nước này và có ảnh hưởng ngược lại Việt Nam.

Khi Nho học trở nên độc tôn vào các triều đại sau, thì Phật giáo ở Việt Nam vô tình lại trở về với thế gốc rễ của dân tộc “Ðất vua chùa làng quang cảnh Bụt.” Chính sự “thất thế’ của Phật giáo ở triều đình, mà Phật giáo lui về quần chúng, chỗ đứng không chỉ đúng như chính giáo luật đức Phật đã dậy là tu sĩ không được quan hệ với triều quan, mà nhờ vậy thêm một lần nữa Phật giáo lại hòa mình với đại chúng và tiếp tục nuôi dưỡng hạo khí của đất nước và con người Việt Nam. Trong tất cả các thời bị lệ thuộc và chiến tranh trong lịch sử Việt Nam, các chùa tự luôn luôn là những thành trì nuôi dưỡng và ủng hộ các con người và phong trào yêu nước chống ngoại xâm dành lại độc lập cho đất nước. 

Sư truyền bá Phật giáo ở Việt Nam là những trang sử đẹp nhất của đất nước này. Nhưng không phải việc truyền giáo của các tôn giáo cũng giống nhau và thời gian rồi sẽ hòa dịu những mâu thuẫn văn hóa tôn giáo. Nhìn qua sự truyền giáo của các tôn giáo khác thì chúng ta sẽ thấy lịch sử truyền giáo của họ đến các dân tộc khác chưa bao giờ là những trang lịch sử hòa bình thánh thiện. Lịch sử truyền giáo trên thế giới của họ đều là những trang lịch sử đầy bạo động nhuốm đầy máu và nước mắt, và bình thường cũng là theo chân các cuộc chiến tranh xâm lăng chính trị hay kinh tế. 

Nhưng sự truyền bá của Phật giáo ở Việt Nam không phải là cuộc truyền bá hòa bình duy nhất. Qua lịch sử phát triển và truyền bá truyền, giáo pháp của Ðức Phật chưa bao giờ xung đột với giá trị và tín ngưõng bản địa của đất nước mới. Tín ngưỡng mới và cũ đồng hiện diện song song. Ðạo Phật không bao giờ cố cải đạo người ta. Phật giáo không thấy gì khiên cưỡng khi tiếp thu các tín điều truyền thống hay sinh hoạt song song với các tín điều này. Phật giáo cho rằng chỉ khi nào tâm con người tiến triển như sự tiến triển của tri thức thì những địa hạt gọi là ma thuật hay mê tín sẽ tự nhiên giảm bớt.

Trong 25 thế kỷ truyền giáo khắp thế giới, Phật giáo chưa bao giờ hành sử như các tôn giaó khác đã làm và muốn làm. Vì hãnh tiến kiêu ngạo muốn truyền đạo, các phái đoàn truyền giaó của các tôn giáo khác đều tìm cách phá tan nền tảng tinh thần của các dân tộc khác mà họ coi là mẫu hình văn hóa thô thiển. Họ cương quyết thay đổi các giá trị văn hóa, các tập tục truyền thống và khuôn mẫu xã hội của các dân tộc bản địa bằng cách áp đặt các hình thức tinh thần và tôn giáo xa lạ của họ bằng mọi cách. Cách đơn giản và nhanh chóng nhất là qua chiến tranh xâm lăng.

Vì thế, các đoàn truyền giáo luôn mưu toan thay đổi cơ cấu xã hội và tinh thần văn hóa của các dân tộc khác qua hình thức chiến tranh đẫm máu. Lịch sử của các phái bộ truyền giáo cũng là lịch sử của các cuộc chiến không ngơi nghỉ. Ðây không phải chỉ là hình ảnh của lịch sử quá khứ. Cho đến tận ngày hôm nay, ngay sau bước chân của các người lính ngoại quốc tiến vào Iraq, Afghanistan hay các quốc gia Phi Châu... cũng vẫn là bước chân của các tổ chức truyền giáo, phát gạo phát thuốc để đổi lấy đức tin.

Mấy năm trước, Giáo Hoàng John Paul II của giáo hội Công Giáo La Mã đã vô cùng can đảm khi công khai ngỏ lời xin lỗi các quốc gia trên khắp thế giới về lỗi lầm của các phái bộ truyền giáo của Vatican trong lịch sử. Lời xin lỗi này đưa ra tuy hơi chậm nhưng đã là một tiến bộ lớn. Người ta hy vọng hơn nữa là những việc làm cụ thể để sửa lại một phần nào những hậu quả do các đoàn truyền giáo đó mang lại.

*
VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH

 Bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh không phải là bài văn tế cô hồn nổi tiếng duy nhất. Vua Lê Thánh Tông (1442- 1497) cũng đã viết Thập Giới Cô Hồn Quốc Văn bằng chữ Nôm trước đó hơn ba trăm năm. Trong nhà chùa cũng đã có nhiều bài văn tế trong Khóa Mông Sơn Thí Thực dùng trong các cuộc trai đàn chẩn tế. Nhưng bài Văn Tế này vẫn nổi tiếng hơn cả và là một tác phẩm duy nhất được coi là một thành tựu lớn của văn chương Việt Nam.

Tác giả Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh là Nguyễn Du (1765- 1820), nhà thơ lỗi lạc của Việt Nam. Ông sinh ra và trưởng thành ở đế đô Thăng Long và là một cậu ấm trong một gia đình danh giá nhất thời đó. Ðó là gia tộc họ Nguyễn ở Tiên Ðiền, Hà Tĩnh với cha ông là Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm, vị quan đứng đầu các hàng quan ở triều đình nhà Lê ở Thăng Long. Mẹ ông là bà Trần Thị Tần cũng là người Kinh Bắc, vùng đất nổi tiếng về văn học lẫn dân ca và có nhiều người đẹp của đất bắc. Khi cha mất và sau đó mẹ cũng mất lúc Nguyễn Du mới có 13 tuổi, ông về sống với anh người anh cả cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản cũng là người quyền thế bậc nhất ở Thăng Long và đang được chúa Trịnh sủng ái. 

 Sau khi nhà Lê sụp đổ, Nguyễn Du không làm việc với Tây Sơn nhưng cũng không chống đối như phần đông các cựu thần nhà Lê có lẽ một phần cũng ảnh hưởng của tinh thần bất nhị của Phật giáo. Ông rút về tá túc mười năm dài nơi quê vợ ở Quỳnh Côi, Thái Bình. Ðây chính là thời gian mà thi tài ông chín mùi qua kinh nghiệm của một thân phận lưu lạc, là chứng nhân và cũng là nạn nhân của một thời đại bi thảm và đau khổ nhất của người dân Việt trong gần ba thế kỷ chiến tranh và tao loạn. Có lẽ trong thời gian này ông đã hoàn thành bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh với máu lệ và nước mắt của lòng từ bi Phật giáo qua các cảnh thương tâm trước mắt. Nguyễn Du để lại nhiều tác phẩm, nhưng nổi tiếng nhất vẫn là Truyện Kiều và bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh này.

 Nguyễn Du nổi bật so với nhiều thi sĩ khác bởi vì người ta cảm thấy ông không chỉ là một nhà thơ mà còn là một thiền sư. Là thiền sư vì cuộc sống của ông vươn cao hơn những yêu ghét hận thù tầm thường của cuộc đời (Trăm năm trong cõi người ta!). Trong văn chương, ông luôn luôn tỏ ra mối thâm cảm với những người cùng khổ nạn nhân của xã hội bất công và nghiệt ngã. Tất cả tác phẩm của ông đều phản ảnh lòng từ ái trắc ẩn với những khổ đau và khó khăn của kiếp người.

Trong Truyện Kiều, dùng ngòi bút làm võ khí, ông đã lên tiếng chống lại một xã hội bất lương. Từng là công tử con của một đại gia tộc, ông biết rõ hơn ai hết mặt trái của xã hội phong kiến ấy. Ông lột mặt tất cả, từ bậc đại thần đường đường quyền cao chức trọng đến những quân tri thức trở thành quân ma cô “Có ba trăm lạng việc này mới xuôi ... Cướp đêm là giặc cướp ngày là quan.” Nhưng trong đến Văn Tế, ông xem tất cả chỉ là nạn nhân của một kiếp người mà theo tinh thần Phật Giáo nhìn bản chất cuộc đời là khổ. 

 Trong bài Văn Tế, tác giả đã bày tỏ tinh thần từ bi đến tuyệt cùng. Tác giả trải lòng từ ái với tất cả thập loại chúng sinh dù nhiều kẻ lúc còn sống đã làm nhiều điều tàn ác. Ở đây tác giả đã hoàn toàn giải thích theo quan điểm Phật học, cho thấy tất cả sự kiện vật chất hay tâm thức, thành bại sang hèn được thua, đều là nạn nhân của thay đổi và biến hoại. Tất cả đều là khổ như chân lý thứ nhất của Tứ Diệu Ðế mà Phật đã giải thích. Nhưng bài Văn Tế không chỉ nói lên triết lý và lòng từ ái mà còn là một tác phẩm văn chương. Giá trị văn chương của bài Văn Tế không thua sút Truyện Kiều mà còn có phần sâu sắc hơn, dù chỉ gồm 184 câu thơ. Tác giả đã dùng chung một bút pháp trong hai tác phẩm. Tất cả lòng trân thành, quan ngại và tính sáng tạo trong Truyện Kiều ta đều thấy rõ trong Văn Tế. 

*

Trong Truyện Kiều, hình ảnh mở đầu của thi phẩm trường thiên này là một buổi sáng sáng mùa xuân. Tác giả đã dùng bút pháp thủy mặc vẽ nên một bức tranh với mầu sắc ấm áp tươi trẻ:

Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

 Trong khi đó hình cảnh trong Văn Tế là một buổi chiếu thu. Tác giả đã dùng chung thủ pháp, nhưng lần này là với gam mầu tối lạnh gợi cảm sợ hãi:

Não người thay bấy chiều thu,
Ngàn lau khảm bạc giếng ngô rụng vàng,

Ðường bạch dương bóng chiều man mát

Ngọn đường lê lác đác mưa sa.

 Trong mỗi tác phẩm, tác giả trình bày các chủ đề khác nhau. Trong Truyện Kiều, qua chuyện một thiếu nữ tài sắc bị cuộc đời đưa dẫn thành một kỹ nữ, chúng ta thấy toàn cảnh là cả một xã hội phong kiến nhưng cũng đã có chủng tử từ trong tâm của chính nàng. Ðó là một thế giới thực nên các nhân vật trong truyện đều rất quen thuộc với chúng ta. Từ một đại quan nho gia đến một anh nhà buôn gian sảo, từ một chàng thổ phỉ anh hùng đến một gã ma cô đẹp trai, tất cả đều phản ảnh hình ảnh thực của một xã hội thối nát và bất công. Ở đó, tác giả đã lột mặt thật tất cả, phê phán tất cả và cho thấy rõ căn nguyên của nó trong một xã hội nho giáo phong kiến băng hoại:

Oan này còn một kêu trời nhưng xa.
Một ngày lạ thói sai nha,

Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền.

 Và tất cả những các nhân vật đó đều trở lại trong Văn Tế. Những nhân vật đó trở lại trong giờ phút hiện diện của sự thật. Trở lại không son phấn hư ngụy giả trá. Nhưng lần này ta không còn thấy tác giả than trách hay phê phán. Ta chỉ thấy tràn ngập tình cảm tiếc thương phản ảnh lòng trắc ẩn tha thứ của tác giả:

Phách đơn hồn chiếc lênh đênh quê người ...
Phận bồ côi lần lữa đêm đen.

Còn chi ai khá ai hèn.

Còn chi mà nói ai hiền ai ngu...

Trong nhiều loại người tác giả đã miêu tả trong Kiều, ở đây chúng ta chỉ tạm so sánh bốn nhân vật chính: Thúy Kiều, cô gái điếm nhưng thừa tài sắc: Kim Trọng, anh thư sinh ngớ ngẩn nhưng giỏi tài tán tỉnh; Từ Hải, người anh hùng áo vải nhưng si tình và Hồ Tôn Hiến một đại thần mà tài trí cũng là tài xảo trá với hậu thân của họ trong Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh.

 Trước hết là Thúy kiều. Trong tất cả tác phẩm, tác giả đều tỏ lòng thương cảm với những người nghèo đói bất hạnh. Trong bọn người này tác giả thường nhắc dến thân phận người phụ nữ trong xã hội Nho giáo phong kiến, đặc biệt hơn nữa lại là giai cấp các nàng Kiều buôn hương bán phấn vẫn thường bị người đời phỉ nhổ. Trong Tuyện Kiều tác giả viết:

Ðau đớn thay phận đàn bà,
Lời là bạc mệnh cũng là lời chung.

Phũ phàng chi mấy hóa công,

Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha.

Sống làm vợ khắp người ta,

Khéo thay thác xuống làm ma không chồng.

Trong Văn Tế, tác giả lập lại “Ðau đớn thay phận đàn bà” của một đời phiền não:

Lại có kẻ lỡ làng một tiết,
Liều tuổi xanh bán nguyệt buôn hoa.

Ngẩn ngơ khi trở về già,

Ai chồng con nấy, biết là cậy ai.

Sống đã chịu một đời phiền não,

Thác lại nhờ hớp cháo lá đa.

Ðau đớn thay phận đàn bà.

Ðây là những đại quan như Hồ Tôn Hiến và những bậc quyền cao chức trọng, cha mẹ của dân đen, “những người mũ cao áo rộng. Ngòi bút son thác sống ở tay” dù thực chất chỉ là bọn bất tài “Kinh luân chất một sải đầy” nay trở lại trong thân phận là một cô hồn thất thưởng dọc ngang:

Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,
Trăm loài ma xắm nắm chung quanh.

Ngàn vàng khôn chuộc được mình,

Lầu ca viện xướng tan tành còn đâu.

Kẻ thân thích vắng sau vắng trước.

Biết lấy ai bát nước nén hương

Cô hồn thất thưởng dọc ngang...

 Ðây là đám Kim Trọng, Vương Quan... bọn thư sinh, bọn theo đuổi con đường văn chương chỉ biết tìm đường tiến cá nhân trong chữ nghĩa, lặn lội cầu thân nơi sứ lạ quê người:

Mấy thu lìa cửa lìa nhà
Văn Chương đã chắc đâu mà trí thân

Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng

Vợ con nào nuôi nấng kiêng khem

Vội vàng liệng sấp chôn nghiêng.

Anh em: thiên hạ, láng giềng: người dưng.

Bóng tang tử xa chừng hương khúc,

Bãi sa ma kẻ dọc người ngang.

Cô hồn nhỡ gửi tha hương

Gió trăng heo hắt khói hương lạnh lùng.

Ngay cả người hùng Từ Hải, người đã được tác giả vẽ hào quang trong Truyện Kiều: “Ðường đường một đấng anh hào./ Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài..../ Thừa cơ trúc chẻ ngói tan. / Binh uy từ ấy sấm rang trong ngoài. / Triều đình riêng một góc trời. / Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà.” Nay trở về nheo nhóc than khóc trong mưa đêm:

Nào những kẻ tính đường kiểu hạnh
chí những lăm cướp gánh non sông

Nói chi đang thủa thi hùng

Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau.

Bỗng phút đâu tro bay ngói giở

Không bằng mình làm đứa thất phu

Cả giầu sang nặng oán thù

Máu tươi lai láng xương khô rã rời.

Ðoàn vô tự lạc loài nheo nhóc

Quỉ không đầu van khóc đêm mưa...

*

 Tóm lại, Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh dù là một bài văn tế tràn ngập cảm tính tôn giáo nhưng vẫn là một tác phẩm văn chương lớn. Trong thế giới thẩm quang thị giác, tác giả vẽ ra được cả một dẫy hình tượng tưởng tưởng của thế giới âm hồn đen tối tràn ngập những cảm giác lạ lùng nhưng vẫn truyền cảm và sống thật với thế giới hiện thực sắc mầu. Trong tác phẩm, từng hàng từng lời, khi thôi thúc khi diễn tả, củng cố và hòa điệu trong thanh điệu thi ca tuyệt vời. Tài nghệ và tình cảm của Nguyễn Du một lần nữa đưa ông đến một thành tựu văn chương lớn. Ðọc Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh, người ta liên cảm ngay với các tác phẩm văn chương cùng loại. Ðó là Purgatory của Dante hay Hamlet của Shakespeare. Ðộc giả đã quen biết với Truyện Kiều sẽ vô cùng ngạc nhiên khi tìm thấy bên cạnh danh phẩm này vẫn còn một tác phẩm khác mà có lẽ hương sắc bất phàm của nó còn sâu sắc hơn. Một thi phẩm không chỉ quan tâm đến thế giới con người đang sống mà còn với thế giới bên kia, thế giới của thần linh ma quỉ, và cũng là thế giới của lòng từ ái.
 
 
 
VU LAN – ULLAMBANA &
A Requiem For All Ten Classes of Sentient Beings.

 By Vũ Thế Ngọc

VU LAN – ULLAMBANA

 In Viet Nam, there are two important kinds of rites for the dead: the anniversary of the death and Vu Lan, the special ceremony for all the dead. Vu Lan is a striking example of the popular influence of Buddhism found in Viet Nam.

 The word Vu Lan or Vu Lan Bon is the literal translation of Sanskrit word Ullambana which means “The assembly for saving those who have been overturned.” Vu Lan is held every year on the fifteenth night of the seventh lunar month. The object of this ceremony is to feed the hungry ghosts and to pray for their salvation.

In this day, people perform this ceremony anywhere, from the private homes to the common places like market places, bus stations, and even at the public offices. At the temples, the monks assemble, read the funeral oration, recite prayers, and throw out rice gruel and other foods to feed all the dead.

 This ceremony is a way for people to practice compassionate filial conduct. During the ceremony, the offerings were made for the additional purpose of rescuing the ancestors for seven generations back from whatever misery they might be suffering. They also pray for their present parents to reach a hundred years without illness, without sufferings and worries. Vu Lan is no longer just a festival for the death.

*

 After reciting the Vu Lan Sutra, The Buddha Speaks the Ullambana Sutra, the oration poem will be read in this ceremony is known as Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh (A Requiem For All Ten Classes of Sentient Beings.) It's also known as Chiêu Hồn Ca (A Song Calling Back Dead Souls) or Thỉnh Âm Hồn Văn (Calling Back All Wandering Souls). According to many critics, the author of this great literary work is Nguyen Du, the greatest Vietnamese poet.

First, we have to explain the meaning of hồn “soul” according to the traditional Vietnamese belief and Buddhism. According to the traditional belief, Vietnamese people believe beside the physical body there are three souls and seven spirits (ba hồn bẩy vía) in a man and three souls and nine spirits (ba hồn chín vía) in a woman as in the poem “To each karma each shall meet each own destiny. Where they are now when their souls and spirits all fell to pieces.” So, if someone is “frightened out of one’s sense” they use the idiom “hồn phi phách tán” (lit. hồn is flying away, vía/ phách is splitting up.) Traditionally, when a man dies people write his name on a piece of white silk ribbon (hồn bạch) plaited in to a human shape which is presumed to embody the soul of the deceased person and which is to be buried by his tomb. So, hồn is the short word which includes vía and can be translated as soul-spirit (or soul in short, but without any sense related to the Western theological notions of the term.) -- It is the sensive problem of language failure in translation like the case using the word dragon for rồng (Chinese long), because the two cultures based on the notions of two words are totally conflicting.
*
According to the Vietnamese belief, the souls of all those having suffered a pitiful death and those having died without leaving descendants to worship them, are condemned to lead a wandering life in the dark world without being reborn into the next life. This original belief can be traced up back to the ancient metempsychosis of the Hindu Religion (through Buddhism) that connected itself with the Vietnamese sacrifices to their ancestors. The two beliefs continue to form an engine of great power for affecting the public mind.

 Prompted by the spirit of mercy and compassion, Buddhists are appealed to on behalf of the dead who have no offspring to worship and feed them by sacrifices. Buddhism ingeniously makes the sentiments of compassion for the neglected dead and of ancestors into an instrument of promoting its own moral influence among the people. Borrow the popular belief, as shown in the poem, Buddhists go beyond the origininal concept of “feeding the hungry ghosts.” The main object of the ceremony now becomes to liberate those souls from all misery. This concept attracts and satisfies people morally and psychologically, especially in the modern time.

The fundamental teaching of Buddhism is that all component things are subjects to the laws of change and impermanence (anitya) and without a permanent living entity (anatman). According to Buddhism, life and death cycle is just a series of causes and effects (pratitya – samutpada) which consists twelve links: Because of ignorance (1. avidya) of the suffering-ridden nature of existence conditions formations or volitional activities (2. samskara) – which can be good, bad, or neutral and are related to physical, verbal, and psychological actions -- Because of volitional activities arise consciousness (3. vijnana). This consciousness arises psychological and physical forms (4. namarupa). Because of psychological and physical forms condition six sense bases (5. shadayatana). Because of six sense bases arise contact (6. sparsa). This contact evokes sensation (7. vedana). This sensation intern develops craving (8. trishna). Because of craving arises attachment (9. upadana). Because of attachment arises karma conditions (10. bhava). Because karma conditions arise birth (11. jati). Because of birth arises old age and death (12. jara-marana). The entire chain of conditions thus covers three existences: 1-2 relate to the previous existence, 3-7 starting and conditioning of the present existence, 8-10 to the fruits of the present existence, and 11-12 to the future life.

So, if the cause ceases, the effect will also cease. Therefore, if ignorance can be completely eradicated, that will lead in stages to cessation of birth and death which we call Nirvana. Since the aim of Vulan ceremony is to invite them to take refuge in the Three Jewels to regconize that ignorance is the root of all suferring, this ceremony indeed carries this ultimate teaching of Buddhism through the cover that some simple people could think it is just an allution to a superstition of the popular Buddhism.

The original idea of this ceremony is to be found in the legend of Mục Kiền Liên (Maudgalyayana) one of the ten great students of the Buddha, and in the Ulambana Sutra (The Buddha Speaks the Ullambana Sutra) which was translated into Chinese by Dharmarakya in third century and became very popular in Vietnam. According to the Sutra, Muc Kiền Liên (Maudgalyayana) thanks to his divine-eye saw that his mother had been reborn as a hungry ghost and want to save her. As an Arahant, however, Muc Kiền Liên could not save her by himself alone. The Buddha told him that only the combined effort of all Buddhist monks could soothe the sufferings of the tormented. He directed Mục Kiền Liên to organize the assembly of monks to make offerings for the benefit of his dead mother who became a hungry spirit due to her previous life's actions. From this notion developed the custom of offering food, clothing, and so on to the hungry ghosts in many Buddhist countries.

*

 Historically, we can believe Amoghavajra was the author of this ceremony. Amoghavajra (Puk'ung Chinkang/ Bất Không Kim Cương), was a Singhalese monk who was considered the second patriarch of Chinese Tantric Buddhism. At an early age, he came to China in 720 with his teacher, Vajrabodhi. He learned perfect Chinese, became one of four greatest Buddhist translators. Amoghavajra became a National Teacher and won the great favors of three successive T’ang Emperors: Hsuan-tsung (713-755), Su-tsung (756-762) and Tai-tsung (763-779). Possibly, the first Vu Lan Ceremony was the one organized in China's capital, Changan, at the full moon of the seventh month in the year 768 presided by him.

However, according to the Japanese history, Empress Saimei (Saimei tennò, 594- 661) already organized Vulan Ceremony in 657. Two year later, she also command all temples in the Capital must perfom the Vulan Ceremony every year for the benefit of all Japanese people. So, the Vu Lan Ceremony in Japan in those years perhaps did not have strong Tantrist flavor as the later ones. Nevertheless, we have to remember the Ulambana Sutra (The Buddha Speaks the Ullambana Sutra) was already stranlated into Chinese by Dharmarakya (239-316) three centuries before.

 The Tantric Cult in China during the eighth century was centered in the capital of Changan. It used the two largest Temples in the capital, Tahsingshan Temple and Chingly Temple, as its base of operation. The Japanese monks in China during T'ang dynasty often stayed and studied in these temples that they regarded as the Nalanda of China. One of those monks was Kukai (774-835). He came back to Japan and became the most famous Japanese monk and the first patriarch of Japanese Tantric Buddhism which still is the most popular in Japan today.

However, the Tantric School in China declined after the death of Amoghavajar in 774 and no more important Tantric teachers arrived from India. Nevertheless, Vu Lan is still widely practiced at private homes and at Buddhist temples throughout China as well as in Vietnam, Japan, Korea and many parts in the Far East Asia.
*
 There were many aspects of ceremonies according to two different traditions. The Chinese tradition stressed on the special rite known as Phá Ngục (Break the Hell) or Phá Diệm Khẩu (Release of burning mouths). This was a Tantric ritual that enabled the monks to break through the gates of hell with their magic mantras and magic gestures [Mudra]. They opened the throats of these sufferers and fed them the heaven sweet dew that was symbolized by rice gruel, but made holy by reciting a mantra over it. They then explained their past wrong deeds, preached the Dharma to them, and finally let them taking refuge in Three Jewels [Triratna] (Buddha, Dharma, and Sangha), the objects of veneration which are considered “places of refuge.” 

 If the ceremony was performed correctly, the ghosts could be reborn or even went to the Promised West. In addition, according to the old Chinese custom, the ceremony could not completed without burning the paper figures and “Hell Money” as the gifts for the dead. During such rites they set fire to paper clothes, furniture, houses, servants. even ships, automobiles and the “hell bank notes”. Today, from mainland China to the United States, the Chinese still burn those paper objects in Vu Lan ceremony.

In Vietnam, private people never perform the “Release of burning mouths” or “Break the gate of Hell” rites. Each family, or at the public locations, prepare the rite according to the original purpose of the ceremony to feed and save all hungry ghosts as taught in the Sutra. Unlike the custom in China, where the Vu Lan Ceremony also becomes an occatsion on which the temples open their rare possessions for public display. In Vietnam, the monks just recite The Buddha Speaks the Ullambana Sutra. Very few temples perform “Beak the gate of Hell” rite. In these temples, the sutras are recited in order to soothe the torments of the deceased in the lower realms of existence. However, there is no miracle here, as taught in the Sutra and explained in the poem (All friends! Let's keep the Buddha's teaching in our hearts/ We will then free from the cycle of life and death). Buddhist teaching only shows them the way. Now, those hungry ghosts can free themselves by following the Buddhist teaching that is the process of mental purification should continue until perfect. 

Vu Lan Ceremony is also a great chance for people to repay their debt of gratitude to their parents as The Buddha Speaks the Ulambana Sutra has said: “They should vow to cause the length of the life of the present father and mother to reach a hundred years without illness, without sufferings, afflictions, or worries. And also vow to cause seven generations of fathers and mothers to leave the sufferings of the hungry ghosts, to be born among men and gods, and to have blessing and bliss without limit.”

The Vu Lan Ceremony is clearly not only a festival for the death but also a way rescuing the ancestors for seven generations back form their misery and cause the life of the present parents going healthy without illness and sufferings. So, with these notions, the Vu Lan Ceremony also connects with the traditional cult of ancestor worship and the virtue of filial piety. The Vu Lan festival have become exceedingly popular. 

After many long wars, Vu Lan Ceremony in Vietnam’s today is also the Memory Day for Soldiers and people who died in the wars. In recent years, Vu Lan is the Mother Day as well. On this day, people go to temples with a red rose on their chests if their parents are alive or a white rose if their parents have passed. This new aspect of the Vu Lan Festival quickly attracts the young generation and became a new swing. It started at the same time with the new development of Buddhism in the South Vietnam right after the fall of President Ngo Ðinh Diem, a Roman Catholic, in 1963. 

*

 As mention above, to some “strict Buddhist scholars,” who do not understand the moral and psychological aspect of this ceremony, consider Vu Lan Ceremony is an allusion to a superstition of the popular Buddhism. Here, we can read through the poem and find out many important Buddhist characteristics.

 First, the poem shows that Vu Lan is the lesson of profound humanism and compassion of Buddhism. People perform it as if they practice a moral exercise. They know the object of this ceremony is not just offering for the hungry ghosts but also for the people who offers. The pray for death, yet, they do not just pray for the dead of their own family but for the lost souls of all sentiant beings, and even for all living people who still suffer in this world. They pray and wish to liberate them all:

Spirits in suffering, come to listen our payers.
May the Buddha's teaching set you free and reach the Pure Land.

May his light clear your darkness and save you from suffering.

May his peace reign on four seas and continents,

All anxiety be washed away, all hatreds annihilate.

May Buddha's boundless power,

Turns the Wheel of Law to liberate all Three Realms and Ten Directions.

 In the poem, the author addresses people of all walks of life who die a violent death. From the high rank administrators to the prostitutes, from the voyagers through the sea to the salesmen on the road, they die suddenly and still receive the sequence after death. The sequence isn't only saved for the “life after death” but also appeares in the present life. According to the people's expectation, although the misfortune may not strike on their present lives, then probably it will strike right on their next lives or on the lives of their children and grandchildren. Thus, as the poem writes: “who builds power and fortune builds also revenge and hate.” The only way to escape it should be the way that harms no sentient beings and can share the happiness and benefit equally for all. 

The people who perform Vu Lan Ceremony can be anyone, a True Land Buddhists (who believe in the power of prayer that could help them to be reborn in the Promised West) or a Tantric Buddhists (who believe in the power of prayer that could release the lost souls from their sufferings). The poem takes us to the central idea of all Buddha’s teachings: Karma, the universal law of cause and effect. Buddhism has only shown the path preached by the Buddha. All beings are invited to follow. Beyond that no one can help. One is one own savior. When one has followed the path, one can be free from the cycle of life and dead and attain the perfect and highest state of Nirvana. This utmost teaching is stressed in long at the last part of this poem also represents the important influence of Buddhism in Vietnam which embraces all Tantric, True-land and Zen traditions. Here the poem also cites the central teaching form Diamond Sutra “All myrial forms are but void ... All conditioned things are like a dream, a flash, a drew drop or a bubble...” 

May Buddha's Law be powerful and sacred
To awake all of us from the delusion of dreams.

All sentient beings of ten classes, are you there?

Young and old, women and men, all come to listen.

Our temporary life is just a bubble or a flash,

“All myriad forms are but void,” as the Sutra said.

All friends! Let's keep the Buddha's teaching in our heart,

We will then be free from the cycle of life and death.

*

 Who isn’t frighten at the thought of his death? Men are disturbed not only by external things, but also by beliefs and imaginations they form of their lives and things. Death is not by itself dreadful; the dread exists only in our mind. Who isnn’t frighten to think about what happen after death? Those frights and questions have affected all of us since the dawn of human history. In the last lines of the poem, it shows us that if we follow the way as shown by the Buddha's teaching we will fear no more:

 The Buddha, the compassionate, will show you the way
Fear no more the power of life and death.

Praise the Buddha, praise the Dharma, praise the Order.

Glory for all enlighten and ascended to the altar.

 So, Vu Lan is not just a festival for the death but also a festival for the living to carry out their compassion to all sentient beings. Vu Lan is also a time for people to contemplate on the meaning of life.

*

 Vu Lan Ceremony and the poem also reflect the reality of the Vietnamese Buddhism that embraces all Tantric, True-land, Zen and indigenous traditions. In Vietnam, the people hardly find the differences between Buddhist ceremonies and indigenous ceremonies, Buddhist festivals and traditional festivals. Buddhist practices and traditional practices bend and mix. It’s hard to answer the original of many such festivals and practices in Vietnam.

Vietnamese people never concern about such question because the long history of Buddhism in Vietnam never in conflict with the indigenous tradition. In addition, the most important factor is the alliance of Buddhism with nationalistic patriotic force resisting the foreign forces in Vietnamese history. Following the course of its history, Vietnamese Buddhism and Vietnamese patriotism never separated. From the time under Chinese domination to the recent war against the Western colonist domination, Vietnamese Buddhists have always gone first to organize resistance groups with support from Buddhist monasteries.

However, Vietnam is not unique. Throughout the history of its development and spreading out, the teachings of the Buddha were never in conflict with the traditional values and beliefs of the new lands. The old and new co-existed side by side. Buddhism never tries to convert people. It is not impossible for these traditional beliefs to be absorbed and to be practiced along with Buddhism. The Buddhists believe that only as the mind progressed with the growth and advancement of knowledge the areas of magic and superstition become reduced.

In 25 centuries of Buddhist history, Buddhism never does what other religions have done and attempt to. In a zealous desire to convert, missionaries of other religions have destroyed the spirit of society and reduced them to dull and drab prototypes of an alien race and culture. Their earnest to change the cultural values, traditional beliefs and the social patterns take the form shape and spirit of an attempt to force an alien religion with its alien cultural make-up on what they thought to be inferior group. Thus, these missionaries attempted to change the social cultural and national spirits of a group of people through the blood of wars. History of these missionaries is also the history of endless wars. And it is not a history of the past. Let’s see the ongoing wars. Who are right behind the foreign soldiers when they step into Iraq, Afghanistan, and many African countries? The answer is missonaries. They still use foods and medications to converse people.

A few years ago, Pope John Paul II publicly apologized the whole world for the mistakes have been done by the Church’ missionaries. The apology was too late but was surely better than none. The world is waiting for more positive actions that can level and soothe the consequences of those mistakes.

*

A REQUIEM FOR ALL TEN CLASSES OF SENTIENT BEINGS

 A Requiem for All Ten Classes of Sentient Beings is not the first famous oration for the death. King Le Thanh Tông (1442- 1497) had Thập Giới Cô Hồn Quôùc Văn (Ten Classes of Abandoned Souls in Nôm language) published by the royal court in Thiên Nam Dư Hạ Tập three centuries before. In Buddhist temples the monks also had Mông Sơn Thí Thực, the Buddhist works used in ceremonies devoted to the abandoned souls. However, A Requiem for All Ten Classes of Sentient Beings is still more popular and as the only one is considered as a great achievement of Vietnamese literature.

 The author, Nguyễn Du (1765-1820), is considered the greatest poet of Vietnamese literature of all time. He came from a long line of brilliant scholars and illustrious mandarins: The Nguyens of Tiên Ðiền Village, Hà Tỉnh Province. However, he was born and grew up in the Capital of Thăng-Long (Hà Nội) where his father, Lord Nguyen Nghiem (1707-1775), was the prime minister. His mother, Trần Thị Tần (1740-1778), also came from Kinh Bắc, near Thăng Long, the nurtured land of many famous beauty, folklore and folksongs.

 After the downfall of the Lê, he refused to serve for the Nguyễn Tây Sơn but not as zealous pro-Lê like some other members of his clan. He went to hide at his wife's village in Quỳnh Côi, Thái Bình Province for ten years. This was his chrysalis period where his talent and sensitiveness slowly matured in contact with the real life.Now as a witness and as well as a victim, he experienced the suffering of the people and their social and politic turmoil after near three century of wars. From this reality, he wrote A Requiem for All Wandering Souls with all of his blood and compassion. Nguyễn Du left the world many outstanding works. After the most popularly known as “The Tale of Kieu” The Requiem for All Wandering Souls was the second best known.

*

 Nguyen Du stands out from other poets because people consider him not only as a great poet but also as a Buddhist master. In writing, he always empathized with the poor and fought for their justice. All his works reflected his compassion and sympathy with their suffering and their sorrows.

In “The Tale of Kieu”, using his pen as a weapon, he raised his voice against the unjust society. He unmasked them all, from a respected Governor to a Confucian-turned-pimp “They are just the daytime-burglars put in a good day's work. For money they could cripple and murder any one.” In the second “A Requiem for All wandering Souls,” however, Nguyễn Du sees all of them merely as victims-sufferers.

The Requiem extends the sentiments of compassion to the extreme. The author extends his sympathy to all the dead regardless of their positions in life and also feels pity for all whoever is still alive. After all, as sentient beings, we are the victims of being born, sickness, age and death. Yet, above all of those philosophic and moral values, the Requiem is also a great literature achievement. Its stand is the same level the Tale of Kiều. The author uses the same style to write both works. All of his emotional understanding, temptation and captivation in Kiều are also presented in the Requiem. 

 The Tale of Kiều starts in a Spring morning. The author uses a few lines and dots to draw a beautiful sumio painting full of young and warm feeling:

Young grasses green up to the sky's rim,
And blossoms sprinkle the white dots over the pear branches.

The scenery of the Requiem is an Autumn evening. The author used the same style, but this time drawing a vivid description of the scene with cold colors and frightening feeling:

An Autumn evening is always a painful scene.
Reeds wither to silver, trees strew their golden leaves./ Poplar twilight lingers, delaying the day./ Pear trees scatter their tear dew and rain keeps falling.

Each work addresses a different theme. In Kiều, through a story of a young beautiful gifted girl forced to be a prostitute, we can see the whole picture of a feudal society. It is a realist work, therefore all characters are very familiar to us. From a cupid mandarin to a cunning merchant, from a gallant rebel hero to a handsome pimp, all reflect the real picture of an oppressive and rotten society. The author unmasks them all, denounces them all, and pointed to the deep root in his rotten Confucian feudalism:

Only heaven could redress this wrong
but Heaven ruled so far above.

As everyone knows those Mandarins and their henchmen,

For money they would cripple and murder easy.

 In the second work, those characters come back as the ghosts of “ten classes of sentient beings.” They come back to face a moment of truth. They come back without makeup and pretend. All of them pass through in a lifeless scene, this time without critics and denouncements, we only feel the author's compassion and forgiveness: 

Lost and lonely, adrift in unknown lands... 
Desolate, they wander from nigh to night.

Which among them now is low or high?

Who now can tell the wise from the fools?

 Here we follow just four main characters in the Tale of Kieu: Kiều, a talented and beautiful girl forced to be a prostitute; Kim Trong, a brainless student; Từ Hải, a hero: and Hồ Tôn Hiến, a cunning mandarin and their destinies in the later work. 

 First, Thuy Kieu the postitute. In both works, Nguyen Du reserves his sympathy with all the poor and the weak, especially with the status of the women. Here is his sympathy with the bottom class of women, the prostitute, in his first work:

The lives of women are true tragedy,
That stern fate will face us all.

Heaven! Why are you so cruel?

Blighting green days and fading rosy cheeks.

Alive, she played wife to all the world,

Alas, to end in hell without a man.

 In the second work, author repeats “The lives of women are true tragedy” when he writes about them:

They sold the charms and threw off their spring.
When old age came, they were alone and exhausted, 

Unmarried and childless, where would they find a family for comfort now?

Alive, they already drank a cup full of bitterness.

And now, they come to sip rice gruel in banyan leaves.

The lives of women are true tragedy.

Here come Governor Hồ Tôn Hiến and so many mandarins like him. “There are those once wore tall hats and loose robes./ With their red brush, they could send men to their death. /Proud with the pocketful knowledge of administration...”

But splendor and power are recompensed by tears and hate.
Only creating more tombs and more ghosts waiting around.

A thousand teals of gold cannot buy back their lives.

The singing towers and dancing pavilions are now laid down

Now, back and front there are no one to redeem them...

Abandoned souls keep wander everywhere,

Heavy load with guilt and deliverance way is long..

 Here come Kim Trong, Vuong Quang... “Those students-scholars who tried to gain honors in books and studies. Those trailed from town to town trying for luck.”

But literature is not certain to bring themselves trying
Beaten at last, bedridden on strange inn's bed...

Strangers had to bury them in careless hassle,

Without love ones or friends near by

Faraway from their ancestral land,

Their corpses were crowded crisscrossing the burial ground,

Lost souls exile in the strange land,

Unwarmed by incense fire and tremble under the sallow moon.

Even the illustrious hero Từ Hải who was described as “A towering hero on the battlefield, adept in arts of war... From victory to victory he swept, a slit bamboo will split all by itself, and one slipped tile will topple the whole roof. His fame like thunder rumbled far and wide...” in the early work. Now he comes back as a headless ghost keeps roaming and wailing on raining night:

Those proud men who chose the road of glory;
Who dreamed to conquer the world.

Now cries out to recall their heyday of power struggle.

Their heart are crushed to remember their falls and fates.

The sudden storm instantly annihilates all splendors,

Then gladly would they trade places with the meanest poor?

Who builds power and fortunes builds also vengeance and hate,

Blood has flowed into streams, bones have crushed into dust.

Killing young, the heirless souls keep roaming, 

Headless ghosts haut and wail on raing nights...

*

 Thus, even as the funeral oration deep in the religious sentiment, the poem is a great literary achievement. In the world of vision, the author describes the imaginary figures of the dark world with all strange feelings but still has kept the flexibility of realism and wealth of images and colors. Throughout the work, line to line, persuasion and deduction are reinforced and balanced by the beauty of the poem.

Nguyen Du's talent and sensitiveness once again help him gain another triumphal success. Reading though it, readers will remind themselves of Dante's Purgatory or Shakespeare’s Hamlet. The readers who already familiarize with the poet will be amazed to discover another masterpiece of literature besides The Tale of Kieu. The unusual fragrance emerge even deeper in this poem. After all, the poem is not only concern with this world but also with the world beyond, the spirit world, and the world of compassion.

NOTES:
The Text:

The oldest text of A Requiem for All Ten Classes of Sentient Beings was found in block print Ứng Phó Dư Biên by the name Thỉnh Âm Hồn Văn (Calling Back All Wandering Souls). This pringting was edited and printed in 1895 by Chính Ðại, abbot of Hưng Phúc Temple, Vũ Giàng Bắc Ninh. Ứng Phó Dư Biên is a Buddhist Manual for preparing Vu Lan Ceremony. Besides the poem this manual also has 8 other orations which can be used in Vu Lan and other funeral ceremonies. Later, many researchers also found other texts in various temples. In 1924 the poem was first transliterated into Roman Vietnamese by Lê Thước. In his book, Truyện Cụ Nguyễn Du (The Story of Nguyễn Du), Lê Thước was the first literature critic who claimed the authorship of the poem for Nguyễn Du. 

Ten Classes of Sentient Beings:

 The ten classes of sentient beings mentioned in A Requiem for All Ten Classes of Sentient Beings are: 1 - Vua Chúa bị giết (Kings and Lords.) 2- Quí nữ liều thân (Nobles and Court Ladies.) 3- Quan lớn thất thế (Mandarins and Statemen.) 4- Tướng lãnh bại trận (Generals and Chiefs.) 5- Ham giầu chết đường (Capitalists and Entrepreneurs.) 6- Ham danh chết quán (Artists and Authors.) 7- Buôn bán chết xa (Traders and Merchants). 8. Binh lính chết trận (Soldiers.) 9- Kỹ nữ chết già (Prostitute and Singers.) 10- Những trẻ chết non, người chết nghèo và chết vì tai nạn (and all other accident death.) Other Buddhist texts used in the ceremony divided those abandoned souls into from ten to thirty six classes. For example, The Mông Sơn Thí Thực Khóa Nghi (The Mông Sơn text for perfoming the dead ceremony) of Trí Hải (19th century) has 12 classes (1- kings and lords, 2- generals, 3- mandarins 4- scholars, 5- bonzes, 6- Taoists, 7- traders, 8- soldiers, 9- women in childbirth, 10- handicapped persons, 11- beautiful gilds and concubines of the king, and 12- prisoners and beggars) where the Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ (Ten classes of abandoned Souls in Nôm) king Lê Thánh Tông (1442-1497) did not accept to mention kings and lords in the class of abandoned and hungry souls. So, the king divided them into ten classes (1. bonzes, 2- Taoists, 3- mandarins, 4- scholars, 5- astrologers, 6- physicians, 7- generals, 8- singers, 9- traders, and 10- vangabonds). Nevertheless, “the ten classes” is just a general term. Even in the Nguyễn Du’s poem, we can break down the ten classes up into twenty different classes.

 

A REQUIEM FOR ALL TEN CLASSES OF SENTIENT BEINGS
Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh

1
Tiết tháng bẩy mưa dầm sùi sụt
Lọt hơi sương lạnh buốt xương khô.
Não người thay bấy chiều thu,
Ngàn lau khảm bạc giếng ngô rụng vàng

*
Throughout the seventh moon rain weeps ceaselessly.
Cold wind gnaws into the bare bones.
An autumn evening is always a painful sight.
Reeds wither to silver, trees strew their golden leaves.

5.
Ðường bạch dương bóng chiều man mát,
Ngọn đường lê lác đác mưa sa.
Lòng nào lòng chẳng thiết tha.
Cõi dương còn thế nữa là cõi âm.

*
Along the poplars twilight lingers delaying the day.
Pear trees scatter their tears and rain keeps falling.
What human heart would not feel sorrow at this scene!
And sorrow of the world of dead is even more deeper. 

9.
Trong trường dạ tối tăm đường đất,
Xót khôn thiêng phảng phất u minh.
Thương thay thập loại chúng sinh,
Phách đơn hồn chiếc lênh đênh quê người.

*
In the long night, the dark embraces all sky and earth,
By flickering ghosts glow let all appear. 
Pity them, all the souls of ten classes,
Lost and lonely, they drift in unknown lands.

13.
Hương khói đã không nơi nương tựa,
Phận bồ côi lần lữa đêm đen.
Còn chi ai khá ai hèn,
Còn chi mà nói ai hiền ai ngu.

*
Without home, they are those for whom no incense burns.
Desolate, they wander from night to night.
Which among them now is low or high?
Who now can tell the wise from the fools?

17.
Tiết đầu thu dựng đàn giải thoát,
Nước tịnh bình rưới hắt dương chi.
Muôn nhờ Phật lực từ bi,
Giải oan cứu khổ, hồn về Tây Phương.

*
As autumn comes, let's set up the Altar of Liberation. 
Using the willow branch sprinkles the pure water, 
That Buddha, the compassionate, may show them the way,
Free them from suffering and lead them to the Promised West.

21.
Nào những kẻ tính đường kiểu hạnh,
Chí những lăm cướp gánh non sông.
Nói chi đang thủa thi hùng,
Tưởng khi thế khuất vận cùng mà đau.

*
There are those proud men who chose the road of glory,
Who dreamed to conquer the world.
Now cried out to recall their heyday of power struggle,
Their hearts are crushed to remember their decline and fate.

25.
Bỗng phút đâu tro bay ngói giỡ,
Khôn đem mình làm đứa thất phu.
Cả giầu sang nặng oán thù,
Máu tươi lai láng xương khô rã rời.

*
The sudden storm instantly annihilates all splendors,
Then gladly would they trade places with the meanest poor?
Who builds power and fortune builds also revenge and hatred.
Blood has flowed in streams; bones have crushed into dust.

29
Ðoàn vô tự lạc loài nheo nhóc,
Quỉ không đầu van khóc đêm mưa.
Ðã hay thành bại là cơ,
Mà u hồn biết bao giờ cho tan.

*
Killed young, the heirless souls keep roaming,
Headless ghosts haunt and wail all raining night.
Winner or loser, they all followed their own destiny,
But for the lost ghosts, when your deliverance could come?

33
Nào những kẻ màn lan trướng huệ,
Những cậy mình Cung Quế Hằng Nga.
Một phen thay đổi sơn hà,
Tấm thân mảnh lá biết là làm sao?

*
Where are those ladies veiled by orchid nets and lily screens
Who are proud with their beauty as Chang a in the moon?
Once the storm came to the realm and changed its masters
Like leaves in the wind, do they know where to fall?

37
Lên lầu cao xuống dòng nước chẩy,
Phận đã đành trâm gẫy bình tan.
Khi sao đông đúc vui cười,
Mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.

*
From lofty tower they fell over into the running stream,
The hairpin has broken and the vessel has sank.
Where now are the merry crowds laughing around?
When their eyes were closed, none gathered up their bones. 

41
Thảm thiết nhẽ không hương không khói,
Hồn vẩn vơ bãi cói ngàn sim.
Thương thay chân yếu tay mềm,
Càng năm càng héo càng đêm càng dàu.

*
So sadly, no one left to burn incense to keep them warm,
Aimlessly, they roam along the marshlands and billbery woods.
How pity their frail hands and tender feet!
They are rotting year by year and fading night after night.

45
Nào những kẻ mão cao áo rộng,
Ngòi bút son thác sống ở tay.
Kinh luân chất một sải đầy,
Ðã đêm Quản Cát lại ngày Y Chu.
*
There are those once wore tall hats and loose robes,
With their red brush, they could send men to their death.
Proud with the pocketful knowledge of administration,
They thought themselves as the followers of Quan Cat Y Chu.

49
Thịnh mãn lắm oán thù càng lắm,
Trăm loài ma xắm nắm chung quanh.
Ngàn vàng khôn chuộc được mình,
Lầu ca viện xướng tan tành còn đâu.

*
Higher they climbed, more hatred they created,
Only more tombs and more ghosts waiting around. 
A thousand teals of gold cannot buy back their lives,
All singing towers and dancing pavilions now fell into ruin.

53
Kẻ thân thích vắng sau vắng trước,
Biết lấy ai bát nước nén hương.
Cô hồn thất thưởng dọc ngang,
Nặng oan khôn lẽ tìm đường hóa sinh.

*
Back and front, there are no relatives nearby,
To offer them a bowl of water or a stick of incense.
Abandoned souls keep wandering everywhere,
Heavy load with guilt and deliverance way is long.

57
Nào những kẻ bầy binh bố trận,
Vâng mệnh sai, lĩnh ấn nguyên nhung.
Gió mưa thét rống đùng đùng,
Phơi thây trăm họ, làm công một người.

*
There are those who mastered strategy and organized the troops,
Seized command seals, they rushed to battles.
In the storms, under thunders and lightings,
Many wasted their lives for one man's glory.

61
Khi thất thế cung rơi tên lạc,
Bãi sa trường thịt nát máu trôi.
Bơ vơ góc bể chân trời,
Nắm xương vô chủ, biết vùi vào đâu.


Unlucky moment, any stray arrow or bullet could get them,
And displayed their flesh and blood on battleground.
They now wander and waive in far away shores,
Where are their unclaimed bones in this vast wilderness?.

65
Trời xâm xẩm mưa gào gió thét,
Khí âm ngưng, mù mịt trước sau.
Năm năm sương nắng dãi dầu,
Còn đâu tế tự, còn đâu chưng thường.

*
Throughout the land, rain wails and wind howls.
The mists of darkness embrace the entire world.
Woods and fields wear mourning shades of gray,
Who would be there to redeem and perform sacrifice for them?

69
Cũng có kẻ tính đường trí phú,
Làm tội mình nhịn ngủ bớt ăn.
Ruột rà không kẻ chí thân,
Dẫu làm nên nữa dành phần cho ai.

*
There are those who once sought after wealth,
Exerted themselves for money, dissuaded sleep and appetite.
They trusted no one to share their inmost cares,
Now who is heir to all their wealth?

73
Khi nằm xuống không người nhắn nhủ,
Của phù vân dẫu có như không.
Tuy rằng bạc chảy tiền ròng,
Khi đi mang được một đồng nào đi?

*
Who would be there to hear their dying words?
As clouds their fortune will break up and fly.
Alive, they rolled in gold and money,
Now dead, they could not carry one coin with them.

77
Khóc ma mướn, thương gì hàng xóm.
Hòm gỗ đa, bó đóm đưa đêm.
Thẩn thơ nội rộc đồng chiêm,
Tàn hương giọt nước biết tìm về đâu?

*
Some neighbors got paid to squeeze out some ritual tears,
At night by the torch, the bayan coffins were sent away.
Now they are roaming in flooded rice fields,
Where they can find for a stick of incense or a drop of water? 

81
Cũng có kẻ muốn cầu chữ quí,
Ðem thân vào thành thị lân la.
Mấy thu lìa cửa lìa nhà,
Văn chương đã chắc đâu mà trí thân.

*
There are those who were chasing after post and rank,
Trailed from town to town trying their luck.
They departed their home for many years,
But literature is not certain to bring themselves trying.

85
Dọc hàng quán phải tuần mưa nắng,
Vợ con nào nuôi nấng khem kiêm.
Vội vàng liệng sấp chôn nghiêng,
Anh em: thiên hạ, láng giềng: người dưng.

*
Beaten at last, bedridden on a strange inn's bed,
Far severed from their wives' and children's loving care.
Strangers had to bury them in careless haste,
Without loved ones or friends near by.

89
Bóng tang tử xa chừng hương khúc,
Bãi sa ma kẻ dọc người ngang.
Cô hồn nhờ gửi tha hương,
Gió trăng heo hắt khói hương lạnh lùng.

*
Far, far away from their ancestral land,
Their corpses were crowded crisscrossing the burial grounds. 
Lost souls exile in the strange land,
Unwarmed by incense fire and tremble under the sallow moon.

93
Lại có kẻ vào sông ra bể,
Cánh buồm thưa chạy xế gió đông.
Gặp cơn giông tố giữa dòng,
Ðem thân vùi dập vào lòng kình nghê.

*
There are those who were voyagers on rivers and seas.
The ruthless east wind from the horizon filled their sails.
In midcourse, the tempest of the high seas ran wild, struck them down,
Engulfed them and buried them into the fish bellies.

97
Lại có kẻ đi về buôn bán,
Ðòn gánh tre chín dạn hai vai.
Gặp cơn nắng gắt mưa rơi,
Hồn đường sá, biết lạc loài về đâu.

*
There are those who tramped the road to trade,
Scaring their shoulders with the carrying pole.
And came a day when harsh sun and rain hit them down,
Their lost souls adrift on the unknown lands.

101
Lại có kẻ mắc vào ngũ lính,
Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan.
Nước bầu cơm ống gian nan,
Dãi dầu muôn dặm lầm than một đời.

*
There are those who were taken to serve in army,
They had to leave their beloved to serve the state.
Kept living by water from a groud and rice from a bamboo tube,
Surviving by trudged along thousand windy trails of wars.

105
Trong chiến trận xem người như rác,
Thân đã đành đạn lạc tên rơi.
Lập lòe ngọn lửa ma trơi,
Tiếng oan văng vẳng tối trời mà thương.

*
In wartime a man's life values no more than trash,
Their existence belonged to the errand arrows or stray bullets.
Now as fleeting swamp lights glitter here and there,
They’re crying out for injustice in this darkness night.

109
Lại có kẻ lỡ làng một tiết,
Liều tuổi xanh bán nguyệt buôn hoa.
Ngẩn ngơ khi trở về già,
Ai chồng con nấy, biết là cậy ai.

*
There are those poor girls, who threw their chastity.
Sold their charms and threw off their spring.
When old age came, they were alone and exhausted,
Unmarried, childless, where would they find a family for comfort now?

113
Sống đã chịu một đời phiền não,
Thác lại nhờ hớp cháo lá đa.
Ðau đớn thay phận đàn bà,
Kiếp đành ra thế biết là vì đâu?

*
Alive, they already drank a cup full of bitterness,
And now, they come to sip rice gruel in banyan leaves.
The lives of women are true tragedy,
This is their destiny, who can explain?

117
Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,
Vì cơ hàn hành khất ngược xuôi.
Thương thay cũng một kiếp người,
Sống nhờ hàng xứ, thác vùi đường quan.

*
There are those who slept on earth or dwelled under a bridge,
Hungry and cold, they had to beg for food years around.
What a pity since they also are human beings,
Alive lived on alms and dead beside an unknown road. 

121
Cũng có kẻ mắc oan tù rạc,
Gửi thân vào chiếu lác một manh.
Nắm xương chôn rấp góc thành,
Bao giờ cởi được oan tình ấy đi?

*
There are those who were rotting in jails for no reason,
A rag of grass mat covered their wasted bodies.
At last their bones were cast by the prison's walls
When will they have their wrong be cleansed?

125
Cũng có đứa tiểu nhi tấm bé,
Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha.
Lấy ai bồng bế vào ra,
Ư ư tiếng khóc xót xa cõi lòng.

*
There are newborn and infants, 
Born at a malevolent hour, they were forced to leave their parents.
Who's now to hold them and play with them?
Their frail cries and wails distress the people's heart.

129
Cũng có kẻ đắm sông chìm suối,
Cũng có người sẩy cũi ngã cây.
Có người leo giếng đứt dây,
Người trôi nước lụt người lây cháy thành. 

*
There are those who drowned in lakes or rivers.
Those slipped and fell into a spike pit or fell from trees.
Those broke their rope and plunged into deep wells.
Those washed away or burned by fury of floods or fires.

133
Người thì mắc sơn tinh thủy quái,
Người thì lâm răng khoái ngà voi.
Có người có đẻ không nuôi,
Có người sinh sẩy mệnh người gian nguy.

*
Those swallowed by jungle beasts or ocean predators.
Those were the victims of tigers' fangs or elephant tusks.
Those women gave birth but left them soon,
How sorrowful is the mothers who miscarried of their child?

137
Mắc phải lúc đường đi lỡ bước,
Cầu Nại Hà kẻ trước người sau.
Mỗi người một kiếp khác nhau,
Hồn xiêu phách lạc biết đâu bây giờ.

*
Destiny has stricken them all in the their way,
One by one they must cross the Bridge of Resignation, 
To each karma each shall meet each own destiny.
Where they are now when their souls and spirits all fell to pieces?

141
Hoặc là ẩn dọc bờ dọc bụi, 
Hoặc là nương ngọn suối chân mây.
Hoặc là bãi cỏ lùm cây,
Hoặc là cầu nọ quán này bơ vơ.
*
They crouch by bank or bush verge,
In streams, in the passing trails of mist,
In clumps of grass or in the shades of groves,
In this station or under that bridge.

145
Hoặc là tựa thần từ phật tự,
Hoặc là quanh đầu chợ cuối sông.
Hoặc là thơ thẩn đồng không,
Hoặc nơi gò đống hoặc lùm lau tre.

*
They may seek asylum in shrines and temples,
In the corner of a market place or by a river's bank.
They stray in any deserted swamps and lands,
In the ancient buried grounds or reed mass.

149
Mấy thu chịu nhiều điều thê thảm,
Dạ héo khô, gió rét căm căm.
Dãi dầu biết mấy trăm năm.
Khóc than dưới đất, ăn nằm trong sương.

*
They were the miseries through a long time,
Their guts shriveled and numb with the biting cold. 
For many years, they were exposed to the sun and the rain,
Now sleep and eat on dirt, they cry out from mist.

153
Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn,
Tắt mặt trời, lẩn thẩn tìm ra.
Lôi thôi ẵm trẻ dắt già,
Có khôn thiêng hỡi, lại mà chứng minh.

*
By the first cockcrow they fleed and hide,
At sunset, they all grope to appear again.
In rags they pass in swarm, young in arms old in hands.
Spirits in suffering! Let come and listen a prayer.

157
Nhờ Phật lực siêu sinh tịnh độ,
Phóng hào quang cứu khổ độ u.
Khắp trong tứ đại bộ chu,
Não phiền thoát sạch oán thù rửa trong.

*
May the Buddha's teaching set you free and reach the Pure Land.
May his light will clear your dark and save you from sufferings.
May his peace reign on the four seas and continents.
All anxieties be washed away, all hatreds annihilate.

161
Ðạo vô thượng thần thông quảng đại,
Chuyển pháp luân tam giới thập phương.
Nhơn nhơn Tiêu Diện Ðại Vương,
Linh kỳ một lá dẫn đường độ sinh.

*
May Buddha's boundless power, 
Turns the Wheel of Law to liberate all Three Realms and Ten Directions.
The Burnt Faced King will rise properly,
And raise a holy flag to lead the Way for all sentient beings.

165
Nhờ Phật lực uy linh dũng mãnh,
Trong giấc mê, phút tỉnh chiêm bao.
Mười loại là những loài nào
Gái trai già trẻ dứng vào nghe kinh.

*
May Buddha's Law be powerful and sacred,
To awake all of us from the delusion of dreams.
All sentient beings of ten classes, are you there?
Young and old, women and men, all come to listen.

169
Kiếp phù sinh như hình bào ảnh
Có câu rằng vạn cảnh giai không.
Ai ai lấy Phật làm lòng,
Tự nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.

*
Our temporary life is just a bubble or a flash,
“All myriad forms are but void,” as the Sutra said.
All friends! Let's keep the Buddha's teaching in our hearts,
We will then free from the cycle of life and death.

173
Ðàn chẩn tế theo lời Phật giáo,
Vật có gì, lưng cháo nén hương.
Gọi là manh áo thoi vàng,
Giúp cho làm của ăn đuờng siêu thiên.

*
On the Altar of Compassion, obey the Buddha's teaching,
We offer you only a bowl of gruel and a stick of incense.
Some paper gold and paper clothes,
These offerings that you may need on your ascent.

177
Ai tới đó, dưới trên ngồi lại,
Lấy chút lòng, chớ ngại bao nhiêu.
Phép thiêng biến ít ra nhiều,
Trên nhờ Tôn giả chia đều chúng sinh.

*
All who have come, be seated and stay,
Do not despise these little gifts from our heart.
Miraculous Law will enrich them millionfold,
And let the Reverent One shares it equally among you.

181
Phật hữu tình từ bi cứu độ,
Chớ ngại rằng có có chăng chăng.
Nam mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng.
Nam mô nhất thiết siêu thăng thượng đài.

*
The Buddha, the compassionate, will show you the Way,
Fear no more the powers of life and death.
Praise the Buddha, praise the Law, praise the Order.
Glory to all enlighten and ascended the altar.

Chú Thích/ Notes
Câu / Sentence:

3. não người: làm cho người ta xót xa (feeling deeply grieval, mourn)
4. khảm bạc: điểm bạc, điểm trắng (dot with white, turn to silver)

4. ngô rụng vàng: lá ngô đồng vàng rụng (the golden leaves of firmiana trees fall)

5. bạch dương: cây bạch dương (poplar tree)

6. đường lê: cây đường lê (pear tree)

9. trường dạ: đêm dài chỉ địa ngục (long night > nether land)

10. u minh: chỗ đen tối chỉ địa ngục (dark place > nether land, underworld)

11. thập loại chúng sinh: mười loại chúng sinh trong bài thơ (ten clases of human beings in the poem) 

12. hồn / phách: hồn và vía (soul and spirit) – Người Việt Nam tin ngoài thể xác người nam có ba hồn bẩy vía (phách), người nữ có ba hồn chín vía. (Vietnamese people believe besides the physical body there are three souls and seven spirits in a man and three souls and nine spirits in a woman.)

14. bồ côi: mồ côi (orphan)

14. lần lửa: lang thang (to wander, roam)

17. đàn: điện thờ (platform, altar)

18. tịnh bình/ dương chi: bình nước cam lộ và cành dương liễu mà Phật Quan Âm thường cầm. (The statue of Kuan Yin usually holds a willow twig and a vase containing nectar of immortality.) 

20. Tây Phương [Sukhavati] Tây phương Cực lạc theo Kinh Adiđà (the Amitabha’s Western Paradise according to Amitabha Sutra/ Sutra of Unending Life)

21. kiểu hạnh: muốn có địa vị cao quá sức mình (to aim at a high position that is beyond one’s ability)

24. thế khuất: khuất thế, thất thế (to lose one’s power)

25. ngói giỡ: ngói vỡ > nhà cửa tan nát (“crashing the roof titles” i.e. ruin)

26. thất phu: kẻ hèn mọn (poor and brainless person)

27. cả giầu sang: giầu sang lớn (great fortune and power)

29. vộ tự: không con (without children. heirless)

31. cơ: thiên cơ (fate, destiny)

33. màn lan/ trướng huệ: màn thêu hoa lan, trướng thêu hoa huệ biểu trưng cho người giầu sang (orchid nets and Lily screen, the metaphor for rich and powerful people.) 

34. Cung Quế Hằng Nga: Hằng Nga ở Cung Quế > người đẹp (“Chang-a in the Moon” is an allusion of a beautiful woman)

37. xuống dòng nước: nhẩy xuống dòng nước (jump into the river)

38. trâm gẫy bình tan: ám chỉ người đẹp chết bất ngờ (“the hairpin broke and the pitch sank” is a metaphor for the sudden death of a beautiful young woman)

42: bãi cói: bãi cói bên bờ nước (the marshland)

42: ngàn sim: rừng sim (billbery woods, the wilderness)

44. dầu: dãi dầu (weather-beaten, rodding)

45. mão cao áo rộng: ý chỉ bọn làm quan (“the tall hats and loose robes” is the metaphor for the high mandarins in the royal court.)

46. bút son: bút son đỏ dùng để phê án (“red pen,” the pen is used to write a judgment or dentemine a judicial sentence, a metaphor for power.)

47. kinh luân: nguyên tắc quản trị (the principles of administration) 

48. Quản Cát Y Chu: tên bốn vị tể tướng nổi tiếng anh minh của Trung Hoa xưa là Quản Trọng đời Tấn, Gia Cát Lượng dời Tam Quốc, Y Doãn đời Thương và Chu Công đời Chu. (Four famous statemen of the ancient China, namely Kuan Chung, Chu Ko Liang, Yi Yin of Shang, and the duke of Chou) 

49. thịnh mãn: giầu sang tràn đầy (thrive, over success)

50. xắm nắm: ngấp nghé, chờ sẵn (waiting, ready) 

52. lầu ca viện xướng: ca lâu và nhà hát (singing tower and dancing theater)

55. thất thưởng: thất thểu (roaming)

58. ấn nguyên nhung: ấn làm nguyên soái (seal of a commander-in-chief)

60. tục ngữ “nhất tướng công thành vạn cốt khô” (Proverb “Ten thousand men die for one general’s triumph”)

67. năm năm: mỗi năm (every year, yearly)

68. chưng thường: cúng tế mùa đông và mùa thu (to worship in winter and in autumn)

69: trí phú: làm giầu (to make one’s fortune)

71: chí thân: rất thân thiết (very dear, intimate)

74. của phù vân: tiền của như mây nổi (richs come and go like clouds)

75. tiền chảy bạc ròng: tiền bạc nhiều như nước (so much of money and silver like water) 

78. hòm gỗ đa: áo quan bằng gỗ cây đa (cheap coffin made by banyan wood.)

79. nội rộc: đồng ngập nước (a flooded field)

83. mấy thu: mấy mùa thu, mấy năm (several autumns, several years)

84. trí thân: dấn thân vào (to bring oneself into, to move forward)

86. Khem kiêng: kiêng khem (to abstain; care taken)

89. tang tưû: chỉ quê nhà (ancestral land); xa chừng: lạc lõng xa xôi (lonely and faraway); hương khúc: thôn xóm hẻo lánh (lonesome hamlet)

90. bãi sa ma: bãi tha ma (burial ground, cemetery) 

94. chạy xế: chạy xiên chiều gió (to sail against the wind) 

96. kình nghê: cá kình và cá voi (whale, big fish)

121. tù rạc: tù mãn đời (imprison for life)

123. chôn rấp: chôn cạn (to bury, overlay superficially)

126. lỗi giờ sinh: sinh nhằm giờ xấu (born at an evil hour) 

130. sẩy cũi: rơi vào hầm chông bẫy thú (fall into a spike pit or trap)

134. răng khoái: răng hổ (tiger’s fangs)

137. cầu Nại Hà: cầu nối liền hai cõi âm dương (The Bridge of Patience, the bridge that connects the living world with the nether world.)

138. hồn xiêu, phách lạc: “Souls are fallen into pieces, spirits are splitting up.” 

145. thần từ phật tự: đền thờ thần chùa thờ phật (god shrine and Buddhist temple)

157. siêu sinh tịnh độ: thoát sinh về đất tịnh (to be reborn into the Pure Land) --

158. độ u: cứu người u tối (save people from the dark - delusion world)

159. tứ đại bộ chu: bốn đại lục quanh núi Tu Di (four continents around Mt Tusi) 

162. chuyển Pháp luân [Dhrama Cakra] (turning the Wheel of Law) – Giáo pháp của Phật ví như bánh xe Pháp, truyền bá Phật Pháp ví như quay bánh xe Pháp (transmit the Buddha’s teaching is like to turn the Wheel of Law)

162. tam giới [Triloka] ba thế giới: dục, sắc và vô sắc (Three realms or three spheres: sphere of desire, sphere of desireless corporeality, and sphere bodilessness and formlessness.)

162. thập phương: mười hướng (All ten cardinal points: The eight points of the compass plus the nadir and the zenith.)

163. nhơn nhơn: nghiêm chỉnh (proper, appropriate)

163. Tiêu Diện Ðại Vương: “Ðại vương mặt cháy” (The Burn-Faced King). -- là vị thần lo việc dẫn vong ở địa ngục nên mặt cũng cháy đen. Theo tinh thần Phật giáo thì Tiêu Ðiện Ðại Vương là một hóa thân của Phật. (According to folk beleif, the Burn-Faced King is a deity in the nether world with the purpose to help the spirits. He could be seen as one of many transformation bodies [Nirmanakaya] of a bodhisattva who appears in the nether land to guide those beings to liberation.) 

169. phù sinh: sống tạm (transient/ impermanent living). Bào ảnh: bọt và bóng (bubble and flash) 

170. vạn cảnh giai không: Tất cả cảnh sắc đều không thực (All myrial forms are but void – all things are empty because they are constant change and no permanent living entity) -- – Kinh Kim Cương “Nhất thiết hữu vi pháp/ Như mộng huyễn bào ảnh/ Như lộ diệc như điện...” (Diamond Sutra: “All conditioned things are like a dream, a fault of vision, drew drops or a bubble .. )

175: manh áo thoi vàng: vàng và quần áo bằng giấy (paper gold and clothes)

176. siêu thiên: vượt cõi khổ lên chốn giải thoát (ascent to the free world)

180. Tôn giả: tên tôn xưng chỉ Tiêu Diện Ðại Vương (“Reverent One” an honor tittle refers to the Burn-Faced King)

182. tam bảo [triratna] (“three precious ones”) – Tam bảo gồm Phật (người giác ngộ), Pháp (giáo pháp của Phật), và Tăng Ðoàn (đoàn thể tăng đồ) - Three essenctial components of Buddhism: Buddha (enlighten person), Law or Dhamar (the truth expounded by Buddha) and Order or Sangha (the followers living in acordance with this truth.)

183. nam mô [namas] kính lễ, cứu độ ngã (venerate, praise) – the Sanskrit namas is generally used in relation to the Buddha.

184. nhất thiết: tất cả (all). Siêu thăng (gone beyond, ascent). Thượng đài: lên đài (go up to the altar)

Source: thuvienhoasen
Send comment
Your Name
Your email address

Enter the words aboveEnter the numbers you hear
duong-ve-thich-nu-tri-hai
(View: 441)
Tập sách chủ yếu làm sáng tỏ một số điểm giáo lý và pháp môn thực hành nòng cốt của Phật giáo từ Nguyên thủy cho đến Đại thừa...
bachan
(View: 398)
Trăng bồng bềnh trên ngàn thông Và thềm đêm vắng lạnh, khi âm xưa trong veo từ các ngón tay anh đến. Giai điệu cổ luôn khiến người nghe rơi nước mắt, nhưng nhạc Thiền ở bên kia tình cảm.
vietnamese-zen-masters-book-content
(View: 22398)
“Teachings from Ancient Vietnamese Zen Masters” là bản dịch tiếng Anh nhiều bài thơ, bài kệ và bài pháp của chư tôn thiền đức Phật Giáo Việt Nam từ ngài Khương Tăng Hội ở thế kỷ thứ 3 sau Tây Lịch...
ht-thanh-tu-2
(View: 387)
Hiển Tông Ký là ghi lại những lời dạy về Thiền tông của Thiền sư Thần Hội. Còn “Đốn ngộ vô sanh Bát-nhã tụng” là bài tụng về phương pháp tu đốn ngộ để được trí Bát-nhã vô sanh.
uyen-lang-luc
(View: 364)
Uyển Lăng Lục là tập sách do tướng quốc Bùi Hưu ghi lại những lời dạy của thiền sư Hoàng Bá lúc ông thỉnh Ngài đến Uyển Lăng, nơi ông đang trấn nhậm để được sớm hôm thưa hỏi Phật pháp.
ht-thanhtu
(View: 339)
Nói Thiền tông Việt Nam là nói Phật giáo Việt Nam. Và những bậc cao tăng làm sáng cho Phật Giáo, làm lợi ích cho dân tộc từ thế kỷ thứ VI mãi đến nay đều là các Thiền sư.
bia-truyentamphapyeu
(View: 387)
Chư Phật cùng tất cả chúng sanh chỉ là một tâm, không có pháp riêng. Tâm nầy từ vô thủy đến nay không từng sanh không từng diệt...
cat-dut-con-duong-ngon-ngu
(View: 236)
Kinh có ghi lại một cuộc đối thoại giữa du sĩ khổ hạnh Vacchagotta với đức Thế Tôn, và cuộc đối thoại này rất thiền.
nam-tuyen-ngu-luc
(View: 256)
Trì Châu Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư quê ở Tân Trịnh, Trịnh Châu, họ Vương, theo Đại Hoè Sơn, Đại Huệ thiền sư xuất gia, đến Tung Nhạc thọ giới cụ túc.
tuetrungthuongsi
(View: 427)
Phật giáo Bắc tông nói chung, Thiền tông nói riêng đều lấy giác ngộ làm mục đích tiến tu. Dù là tu sĩ xuất gia hay cư sĩ tại gia trong khi tu hành được đôi phần giác ngộ đều được mọi người quí kính.
ngu-luc-bo-de-dat-ma
(View: 685)
Tám vạn bốn ngàn pháp môn thảy đều do một tâm mà khởi. Nếu tâm tướng trong lặng như hư không, tức ra khỏi thân tâm.
dai-cuong-thien-tong
(View: 245)
Trên núi Linh Thứu ngày nọ, trước một cử toạ gồm 1.250 Tì kheo, thay vì thuyết pháp Đức Phật chỉ cầm lên một cành hoa. Ngài se cành hoa ấy giữa mấy ngón tay, và im lặng.
hai-quang-doi-so-to-truc-lam
(View: 392)
Quyển Hai quãng đời của Sơ tổ Trúc Lâm do chúng tôi giảng giải, để nói lên một con người siêu việt của dân tộc Việt Nam.
bamuoibavitoanhoa-thumbnail
(View: 9683)
Hôm nọ, Phật ở trong hội Linh-sơn, tay cầm cành hoa sen đưa lên, cả hội chúng đều ngơ-ngác. Chỉ có ngài đắc ý chúm chím cười (niêm hoa vi tiếu)...
gong-kyung-ho-ts-03
(View: 444)
Thiền sư Khánh Hỷ (1067–1142) thuộc dòng thứ 14, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sư họ Nguyễn, quê ở Cổ Giao, huyện Long Biên, thuộc dòng tịnh hạnh, từng được vua Lý Thần Tông phong chức Tăng Thống.
tinhme-thumbnail
(View: 372)
“Chân như Đạo Phật Nhiệm mầu, Tâm trung chữ Hiếu, niệm đầu chữ Nhân, Hiếu là độ được song thân, Nhân là cứu vớt trầm luân muôn loài…”
bat-nha-tam-kinh-trong-phat-giao-thien-tong
(View: 799)
Bát-nhã tâm kinh (prajñāpāramitāhṛdayasūtra) là một bản văn ngắn nhất về Bát-nhã ba-la-mật (prajñā-pāramitā). Trong bản Hán dịch của Huyền Trang, kinh gồm 262 chữ.
song-thien
(View: 561)
Tôi rất cảm phục BS Thynn Thynn khi bà đã tận tình giải thích thấu đáo, trong quyển sách của bà, về cách sống tỉnh giác trong đời sống thường ngày.
hoaphuong
(View: 443)
Hoài niệm về tấm lòng yêu thương của cha mẹ nhân mùa Vu Lan.
lebaoanchame
(View: 576)
Mùa Vu-lan báo hiếu vào tiết Trung Nguyên tháng bảy âm lịch hằng năm, xuất phát từ tích ngài Mục-kiền-liên cứu mẹ...
lethangbaychooanhonphieubat-thumbnail
(View: 3098)
Trong các sinh hoạt nhân gian của truyền thống ta, tháng bảy là tháng đượm nhiều sắc thái văn chương nhất. Tháng bảy, mưa ngâu, nhịp cầu ô thước bắt qua giải Ngân-hà...
ngai-muc-kien-lien-bo-tat-720
(View: 979)
Rằm tháng bảy theo tục lệ nhân gian Việt Nam gọi là ngày xá tội vong nhân. Ngày rằm tháng bảy có nhiều ý nghĩa...
ducphatvacoisieuhinh-toankhong
(View: 609)
Phàm là bậc Sa-môn Thích tử, nhất định phải lấy việc hướng thượng làm tông chỉ, lìa bỏ các duyên, sống đời đạm bạc...
tho-vu-lan-9
(View: 1088)
Tiết Vu Lan bâng khuâng nhớ Cha công dưỡng dục, Mùa Báo Hiếu bùi ngùi thương Mẹ đức cù lao
loi-day-cua-duc-phat-ve-cong-on-cha-me
(View: 1048)
Trong hệ thống giáo điển Phật đà, cả Nam truyền và Bắc truyền đều có những bài kinh, đoạn kinh nói về công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ rất là cảm động.
htminhchau-01
(View: 444)
Con đang ở lại trần gian trong bầu không khí Đạo pháp hơn 2000 năm. Nhưng kinh sách thiên vạn quyển cũng không bằng được sống bên bậc danh Tăng thạc đức trong ngôi nhà Vạn Hạnh.
ducphatgiaohoalienhoasac
(View: 519)
cho dù nghiệp quả của thời quá khứ có nghiệt ngã cỡ nào, trong thời hiện tại ta cứ việc làm tốt, bảo đảm tương lai của ta sẽ an lạc...
chame
(View: 452)
Không đo không lường được tình thương, người ta thường lấy vẻ bao la của trời biển để tạm so sánh. Nhưng kỳ thực, trời và biển có những giới hạn, biên tế.
meditation-gong-cushion
(View: 378)
Trong truyền thống Phật giáo Trung Hoa-Nhật Bản, hệ thống giáo lý Trung quán và Du-già Duy thức tông đã được xem là cùng đi song song và đối nghịch với nhau.
hoa-vu-lan-7
(View: 536)
Vu Lan phiên âm từ Phạn ngữ Ullambana, Trung Hoa dịch là “Giải đảo huyền” có nghĩa là cởi mở những cực hình hay giải thoát những khổ đau trong 3 cảnh giới: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
mot-cuoc-doi-bia-1med
(View: 486)
Tôi xin rất thận trọng để nói rằng, tư liệu tôi dựa vào để viết đa phần thuộc Tam Tạng Pāḷi văn, và một số nguồn được lấy từ tiếng Anh cùng một hệ Nam tông..
khenpo-gawang
(View: 610)
Gia đình tôi đầy những câu chuyện này… Có những hành giả vĩ đại như cha tôi và bác tôi, những người thực hành từ trái tim và có năng lực thực sự...
thien-ngon-cua-cac-minh-su
(View: 497)
Nếu cái nhìn tâm linh của mình mà không trải ra đến bờ cõi xa xôi nhất thì “thiện đức” của y không phải là “thiện đức” thứ thiệt...
nam-duc-cua-nguoi-xuat-gia
(View: 535)
Khảo sát về “Năm đức của người xuất gia” để thấy được những nét cao đẹp trong đời sống phạm hạnh, từ đó mà có ra lối hạnh xử ứng hợp với phước điền của pháp phục...
thien-dinh-cho-moi-gioi
(View: 391)
Con đường Trung đạo Thiền định, không phải chỉ dành riêng cho Thiền tông không đâu, mà chúng dành chung cho tất cả các tông phái Phật giáo trong đó có Tịnh độ tông, và Mật tông.
bon-muoi-ba-cong-an-cua-tran-thai-tong
(View: 316)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền.
tinh-do-tong
(View: 466)
Đây là một trong nhiều pháp môn của Phật, mà đặc điểm là dể tu, dể chứng, rất thích hợp với đại đa số quần chúng...
buddha-white
(View: 806)
...Từ tầm nhìn đúng, hành động đúng, sẽ đưa đến kết quả đúng như ý muốn. Khi làm một công việc gì, thông thường chúng ta phải biết trước rồi làm sau, như vậy sẽ có kết quả tốt.
kim-cang-thua-1
(View: 511)
Tây Tạng bắt đầu chịu ảnh hưởng của Phật giáo vào thế kỷ thứ 7 trong triều đại của vua Songtsen Gampo.
dalai-lama
(View: 700)
Tịch Hộ đã đến Tây Tạng vào thế kỷ thứ 8, cho nên đến thế kỷ 11 truyền thống Na Lan Đà đã được thiết lập một cách vững vàng ở Tây Tạng.
picture1
(View: 487)
Theo nghĩa thông thường, đắc pháp có nghĩa là đắc pháp nhãn tịnh, chứng ngộ, không còn kiến thủ, giới cấm thủ và nghi ngờ Tam bảo, không còn trần sa hoặc và phiền não vi tế, tức khắc thành Phật...
tranh-chan-trau
(View: 532)
Tranh Đại Thừa vẽ con trâu đen. Lần lượt qua từng bước họa, trâu đen trổ trắng lần lần, trắng từ trên đỉnh đầu, lan dần xuống mình, rồi chót đuôi.
nen-tang-cua-thien-dinh
(View: 454)
Tất cả pháp hữu vi, Như mộng, huyễn, bọt, ảnh, Như sương, như ánh chớp, Hãy quán sát như vậy.
drikung-kagyu-3
(View: 419)
Là một trong những dòng Kagyu, dòng truyền thừa Drikung Kagyu do Đạo sư tâm linh vĩ đại Kyobpa Jigten Sumgon sáng lập 852 năm trước.
ringou-tulkou-rinpoche
(View: 591)
Dharma tức là Đạo Pháp của Đức Phật thì lại nhất thiết chủ trương một sự buông xả để giúp con người trở về với chính mình...
thienchanhniem-2
(View: 427)
Các bạn có thể bắt đầu pháp quán niệm hơi thở (anapana sati, a-na-pa-ná sa-tị) bằng cách định tâm vào hơi thở vào, hơi thở ra tại lỗ mũi hay ở môi trên.
minh-phu
(View: 667)
“Con người thường trở thành cái mà họ muốn. Nếu tôi cứ nghĩ rằng tôi không thể làm được điều ấy, thì chắc chắn rút cuộc tôi sẽ không làm được gì..."
pg-va-su-phat-trien-xh
(View: 477)
Bài viết này khám phá những khả năng của học thuyết và sự hành trì của Phật giáo đã được áp dụng vào cuộc sống hàng ngày trong suốt hơn 2.500 năm...
151-hophapnet-2014-khai-ha-june17
(View: 1303)
156 vị Tăng Ni đã về Phật Học Viện Quốc Tế từ ngày 15 để bắt đầu cho khóa An cư vào lúc 5 giờ sáng ngày mai, 16 tháng 06 năm 2014.
cung-co-hon
(View: 1428)
Vào dịp lễ Vu-lan Thắng hội, Phật tử có tục lệ cúng thí người chết. Dưới đây Tập san trích dịch đoạn kinh có liên hệ đến ý nghĩa cúng thí này.
ducphat-toa-thien-content
(View: 519)
Hầu như bất cứ sách nào viết về Thiền tập Phật giáo thời kỳ sơ khai cũng nói với bạn rằng Đức Phật giảng dạy hai kiểu thiền tập: Thiền chỉ và Thiền quán
ven-tenzin-palmo
(View: 567)
Theo Kim Cương thừa, chúng bị rơi vào cõi sinh tử bất tận này bởi những nhận thức bất tịnh.
vien-ngoc-nhu-y
(View: 706)
Sự Thực Hành Guru Yoga Theo Truyền Thống Longchen Nyingthig
tosu-tongkhachba
(View: 579)
Theo Mật giáo, trong vũ trụ có ẩn tàng những thế lực siêu nhiên; nếu ta biết sử dụng những thế lực siêu nhiên kia thì ta có thể đi rất mau trên con đường giác ngộ, thành đạo.
lienhoasinhdaisu-content
(View: 648)
Mật tông là một nền văn hóa đặc sắc của Phật giáo Đại thừa giai đoạn cuối, còn gọi là Mật giáo hoặc Bí mật giáo, Chân ngôn tông, Kim cang thừa, Mật thừa, Quả thừa v.v..
ngaycuame
(View: 848)
“Con lớn rồi vẫn là con của mẹ, Suốt cuộc đời mẹ vẫn theo con…”
131-motbaihoclichsu2-300x295
(View: 630)
Vào đầu thế kỷ XV, ngụy tạo danh nghĩa diệt Hồ phù Trần, nhà Minh sai bọn Trương Phụ, Mộc Thạnh đem quân đánh chiếm nước ta.
khai-mac-vesak-tai-viet-nam-2014-9
(View: 658)
Tinh thần hiếu hòa với lân bang, ông cha ta từng thể hiện, nhưng không vì thế mà phải hy sinh quyền lợi của dân tộc.
phatsu03
(View: 571)
Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc là một ngày lễ hội mang tính văn hóa và nhân văn ở tầm mức quốc tế của tổ chức Liên Hiệp Quốc.
un
(View: 656)
Thông Điệp Đại Lệ Phật Đản Vesak 2014 của Tổng Thư Ký Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc 2014 PL. 2558... Ban Ki Moon
phat-thich-ca-11
(View: 441)
Nền khoa học tiên tiến phát triển với tốc độ vũ bão tại các nước văn minh. Khoa học phát triển đã chứng minh được những điều Phật dạy...
kinh-mung-phat-dan-pl-2558a
(View: 502)
Chúng ta đã có phước đức được sanh trong một thế giới nơi đã có một Đức Phật đến và dạy Pháp... Mặc Phương Tử
thientinh-0
(View: 923)
Trong vô lượng pháp môn tu ấy, nhìn chung Thiền và Tịnh đều được coi là phổ cập nhiều nhất hiện nay, nhất là các nước Á đông... Võ Thị Thanh Thảo
thienlamtenhatban-02
(View: 708)
Thiền Lâm Tế Nhật Bản - Nguyên tác: Matsubara Taidoo; Việt dịch: HT Thích Như Điển
bach-an-thien-dinh-ca
(View: 669)
Chư vị Tổ sư trong khoảng thời gian diệu ngộ, tâm tư bay bổng thênh thang như trời mây... Hạnh Huệ; Thuần Bạch dịch
bachan-hakuin
(View: 20469)
Cuộc đời của thiền sư Bạch Ẩn là bức tranh sống với câu chuyện ―Thế à! cho đến bây giờ vẫn được nghe kể. Biên dịch lại là góp thêm công hạnh của Ngài.
to-dat-ma-1
(View: 755)
Từ thế giới biến đổi vô cùng của thời gian, xuyên suốt qua từng hiển hiện của không gian, từ đỉnh cao ngút ngàn đi lại của tâm thức, đến chốn không cùng của uyên nguyên... Như Hùng
tay-phuong-xac-chi
(View: 554)
Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát giảng; Bồ Tát giới đệ tử Thường Nhiếp kết tập; Cư Sĩ Như Hòa dịch Việt
phaptutu-thichthaihoa-thumbnail
(View: 13919)
Tăng đoàn thực hành đúng Pháp và Luật của Phật đã chế định trong sự cùng nhau cộng trú hòa hợp và thanh tịnh, cùng nhau giải tán trong sự hòa hợp và thanh tịnh.
dungtamtuthien
(View: 991)
Đi đến nước cùng non tận chỗ, Tự nhiên được báu chẳng về không... Thích Tâm Hạnh
niem-phat-chi-nam
(View: 727)
Quyển sách này là một phần trong bộ sách Niệm Phật Pháp Yếu do Cư sĩ Mao Dịch Viên tuyển tập... Thích Minh Thành dịch
thientongchinam-bia
(View: 838)
Tác phẩm “Thiền Tông Chỉ Nam” hay còn gọi là “La Bàn Thiền” này, chủ yếu dựa trên các cuộc Pháp thoại của Thiền sư Sùng Sơn qua sự trình bày giáo lý căn bản của Phật giáo... Thích Giác Nguyên dịch
ngoi-thien
(View: 1249)
Đối với người mới tập thiền, không nên ngồi thiền trong lúc qúa no đói, có bệnh, thiếu ngủ, khát nước, quần áo qúa chật, qúa nóng lạnh, qúa ồn ào, không có tọa cụ... Toàn Không
thientinh
(View: 1169)
Thuyết Giảng Mỗi Chiều Chủ Nhật Tại Tổng Hội Cư Sĩ Phật Giáo... HT Thích Huyền Dung
sau-yoga-cua-naropa
(View: 1233)
Mật thừa xem thấy thế giới gồm những yếu tố và những tương quan tương phản, đối kháng: bản thể và hiện tượng, tiềm năng và biểu lộ, nhân và quả...
thien-tong-khao-luan-bia
(View: 929)
Thiền viết đầy đủ là thiền na, phiên âm từ phạn ngữ dhyana, có nghĩa là tư duy suy xét về một đối tượng tâm thức... Hư Thân Huỳnh trung Chánh
thien-luan
(View: 2441)
Thiền Luận - Tác giả: Daisetz Teitaro Suzuki; Quyển Thượng, Dịch giả: Trúc Thiên; Quyển Trung và Hạ, Dịch giả: Tuệ Sỹ
vo-niem-cua-luc-to-hue-nang
(View: 1400)
Thể của tâm lìa tất cả niệm, nghĩa là vốn vô niệm. Nó như hư không, không chỗ nào mà chẳng toàn khắp... Nguyễn Thế Đăng
dalai-lama-008
(View: 1515)
Thật cần yếu để học hỏi và thành đạt trong sự học vấn. Rèn tâm là một tiến trình làm cho quen thuộc... Đạt Lai Lạt Ma; Tuệ Uyển dịch
ynghia12loinguyenniemphat
(View: 2064)
12 lời nguyện niệm Phật này, nhằm giúp cho Phật tử có định hướng trong việc tu tập và chí nguyện để về thế giới Cực Lạc của Đức Phật A-Di-Đà... Thích Chân Tính
thunguoiemtinhdo
(View: 1959)
Thư cho người em Tịnh độ là một bộ luận nhỏ, gom nhặt những yếu nghĩa của Tông Tịnh độ, chia thành từng bài nhỏ, mỗi bài là một chủ đề... Thích Hồng Nhơn
lamte3
(View: 2081)
Nghĩa Huyền Thiền Sư hiệu là Nghĩa Huyền Hình, quê quán ở Nam Hoa Tào Châu, Thích Duy Lực dịch
ba-truong-ngu-luc
(View: 1773)
Nguyên tác của Hoài Hải Thiền Sư; Việt dịch Thích Duy Lực, Từ Ân Thiền Ðường Hoa Kỳ Xuất Bản 1992
batruongquangluc
(View: 1735)
Tác giả huý HOÀI HẢI, họ VƯƠNG, người Trường Lạc, Phước Châu, sanh năm Khai Nguyên thứ 12 đời Đường Huyền Tông (CN 724)... Thích Duy Lực dịch
choden-rinpoche
(View: 2026)
Choden Rinpoche là một trong những Lạt ma phái Gelug cao cấp nhất, trước năm 1985 ngài hầu như không được biết tới ở ngoài xứ Tây Tạng... Thanh Liên
di-vao-cua-phap-thanhlien
(View: 2238)
Đi vào cửa Pháp: Tuyển tập Giáo huấn của các Đạo sư Tây Tạng - Bản dịch Việt ngữ của Liên Hoa & Thanh Liên
trieu-chau-ngu-luc
(View: 1149)
Tìm Phật ở đâu? Trăm ngàn kẻ điên đi tìm Phật, nếu có tìm thấy một người thì đó cũng không phải là Phật... Dương Đình Hỷ
ringutulku
(View: 2273)
Con Đường dẫn đến Phật Quả là một trong những sự giới thiệu tuyệt hảo cho giáo lý của Phật giáo Tây Tạng được sử dụng ngày nay.
phap-ngu-cua-dai-su-ngau-ich
(View: 2867)
Chỉ vì tín lực chẳng sâu nên thắng nghiệp chìm trong hữu lậu, lại muốn bỏ pháp này để chọn pháp khác, lầm lạc lắm thay!... Như Hòa dịch
tayphuongyeuquyet
(View: 2885)
Kính nghĩ, đức Thích-ca mở ra vận hội lớn làm lợi ích rộng lớn cho chúng sinh có duyên, xiển dương giáo pháp tùy theo mỗi quốc độ khiến pháp nhũ thấm nhuần khắp cả... Nguyên Trang dịch
tinhdocanhngu
(View: 2733)
Pháp Niệm Phật Tam Muội xét về nguồn gốc là từ Viễn Tổ (tổ Huệ Viễn) đề xướng ở Lô Sơn, sáng khởi Liên Xã sáu thời tịnh hạnh, trở thành quy củ cao đẹp cho muôn đời... Như Hòa
dang-ky-giai-han
(View: 1177)
Những ngày đầu xuân, thay vì chào đón mùa xuân mới bằng nụ cười tươi mát, chúng ta lại bắt đầu bằng sự sợ hãi, âu lo vì: năm nay là năm tuổi!... Thiện Ý
mai-tet
(View: 1571)
Ở quê anh mới tới đây, Việc quê anh biết đổi thay thế nào. Hôm đi, trước cửa buồng thêu, Cây mai mùa lạnh nở nhiều hoa chưa?... Hoang Phong
nghithuccunggiaothua-thichnguyenan-thumbnail
(View: 21818)
Đêm nay ngày lành Nguyên Đán Giờ nầy phút thiêng Giao thừa. Tuân lệ cổ tục ngày xưa Mở cửa nghinh Xuân tiếp phước. Truyền thừa di phong thuở trước...
picture2
(View: 1293)
Năm ngựa đến. Người ta hay chúc nhau "mã đáo thành công“. Mã là ngựa, đáo là đến nơi, ngựa đến thì thành công đến... Nguyên Đạo Văn Công Tuấn
phuoc-loc-tho
(View: 1517)
Chúc phúc là ứng xử văn hóa nhằm sẻ chia và gửi gắm những ước mơ hay khát vọng sống thanh cao, thánh thiện... Chúc Phú
tet-o-chua
(View: 1494)
Từ chiều ba mươi, bàn thờ Phật ở mỗi nhà đã sạch sẽ, nhiều hoa tươi, trái cây; người nghèo chỉ cần thành kính dâng lên ly nước trong cũng khiến chư Phật hết lời khen ngợi... Nhụy Nguyên
tet2
(View: 1326)
Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống Việt Nam từ hàng ngàn đời nay, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới... Ngọc Nữ
hailoc
(View: 1466)
Hễ muốn có lộc thì phải gieo nhân. Một khi nhân đã gieo trồng thì tương lai cảm quả sẽ không sai khác, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu... Tịnh Thủy
phatdilac
(View: 1412)
Nụ cười của Ngài thực là lạ! Cười gì mà căng hết cả đường gân sớ thịt của khuôn mặt. Cười gì mà phô ra ngoài hết tất cả hàm răng, cả đầu lưỡi... Hạnh Phương
Quảng Cáo Bảo Trợ