Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
2,319,686,071,854,584,916

4. Phần Chánh tông (tiếp theo)

Wednesday, March 30, 201100:00(View: 8074)
4. Phần Chánh tông (tiếp theo)

KINH THẮNG MAN
Dịch giải: HT. Thích Đức Niệm
Nhà Xuất bản Tôn giáo, Hà Nội 2003

KINH THẮNG MAN 
NHẤT THỪA ĐẠI PHƯƠNG TIỆN

II. PHẦN CHÁNH TÔNG
(tiếp theo)

CHÁNH VĂN: 

Bạch Đức Thế Tôn! Bốn trụ địa lực này cùng với tất cả các thứ chủng tử gốc rễ của thượng phiền não đem so sánh với vô minh trụ địa tính đếm thí dụ cũng không thể bằng. Bạch Đức Thế Tôn! Như thế vô minh trụ địa lực đối với hữu và ái tứ trụ địa thì công lực của vô minh trụ địa rất là lớn.

LỜI GIẢI: 

Vô minh trụ địa so với tứ trụ địa phiền não thì vô minh trụ địa lực lượng lại càng to, gốc rễ càng sâu. Kinh nói công lực của tứ trụ địa là nơi nương của tất cả chủng tử, gốc rễ của thượng phiền não. Thượng phiền não còn có tên là tùy phiền não. Danh nghĩa của những thứ phiền não có thông có biệt. Đứng về phía thông mà nói thì tất cả phiền não đều là từ tâm thức mà phiền động não loạn, hoặc y tùy chủng loại huân tậpsanh khởi phiền não. Vì vậy nên tất cả phiền não đều có thể gọi là tùy phiền não. Đứng về biệt nghĩa mà nói thì trong phiền não có căn bổn phiền não, như kiến, ái v.v…, tức là y nơi phân biệt tứ trụ, mà điển hình là giáo hệ của Hữu bộ thuyết minh về chín mươi tám tùy miên v.v… Ngoài ra vô tàm, vô quý, phẫn, hận, trạo cử, hôn trầm v.v….là y tham v.v…các thứ phiền nãosanh khởi, mà phân vị thứ loại phiền não, nên gọi là tùy phiền não. Trong đây nên quy định phạm trù ở điểm “Thông” mà nói thì, y tâm y chủng huân tập sanh khởi, nên gọi là tùy phiền não, cũng như trên kia đã đề cập khởi phiền não. Tất cả khởi phiền não tứ trụ địa phiền nãohạt giống, lấy tứ trụ địa phiền não làm chỗ sở y. Tất cả khởi phiền não đều y tứ trụ địasanh khởi. Thế nên lượng tứ trụ địa là rất lớn. Tuy nhiên đem so sánh với vô minh trụ địa thì lực lượng tác dụng tính số thí dụ không thể bằng. Đem lực lượng tác động của hai thứ này so sánh thì, nếu dùng số mục chỉ bằng một phần tám. Nghĩa là tứ trụ địa phiền não bằng một phần tám của vô minh trụ địa phiền não. Vô minh trụ địa so với hữu ái số của tứ trụ địa tác dụng lực vẫn thâm sâu rộng mạnh hơn nhiều. Điều này cho ta thấy vô minh trụ địa lực lượng rất to lớn. Trong tứ trụ địa thì hữu ái trụ địa tác dụng đặc biệt sâu rộng thâm căn cố đế. Do đó mới nêu hữu ái để ví dụ. Chữ số được dùng liên tiếp với chữ hữu trong đây hàm mang ý nghĩa chỉ cùng đẳng loại. Trong đây nói cái nghĩa lực lượng của vô minh to lớn không phải đứng về mặt chiêu cảm sanh tử để nói, mà đứng từ tác lực dụng sâu sắc vi tế của nó không dễ đoạn trừ mà nói, nó là chỗ sở y cho tất cả phiền não.

CHÁNH VĂN: 

Thí như ác ma ba tuầncõi trời Tha Hoá Tự Tại, với sắc, lực, thọ mạng, quyến thuộc, đồ dùng, năng lực tự tại thù thắng. Cũng như thế đó, sức lực vô minh trụ địa đối với hữu, ái, số phiền não của tứ trụ địa thì lực lượng của vô minh trụ địa thắng vượt hơn hết, làm chỗ sở y cho hằng hà sa số các phiền não khác, lại cũng khiến cho bốn thứ phiền não khác bền lâu.

LỜI GIẢI: 

Tiếp theo đây là nêu sức công phá của Ma vương làm thí dụ: “Thí như ác ma Ba Tuần”. Ma tiếng Phạn là Mâra, dịch là sát, có nghĩa là loài ma Ba Tuần này lấy các việc tổn hại chúng sanh, phá phách người tu hành làm thiện pháp. Ma là danh từ chỉ chung cho tất cả loài ma. Ba tuần là tên chỉ cho Ma vương cảnh trời thứ sáu cõi Dục giới. Đặc tánh của Ma vương Ba Tuần thì rất ác độc. Chúng có cung điện, quyến thuộc binh tướng, ma nữ, ma thiên. Ác ma Ba tuầnThiên ma, một trong bốn loài ma sinh hoạt ở từng trời Tha Hoá Tự Tại trên đảnh cõi Dục giới này. Chúng hữu tình sanh lên cõi trời Tha Hoá Tự Tại không phải đều được làm Ma vương. Ma vương lãnh đạo chúng thiên ma giống như vị quốc vương của thế gian. Dã tâm của Ma vương chiếm hữu công lực hoặc thực quả sở đắc, biến hoá lực của người khác để cung cấp năng lực cho mình hưởng thụ, nên gọi là Tha Hoá Tự Tại. Ba tuần ở trong cõi trời Tha Hoá Tự Tại nó có đủ vật dụng dục lạc rất là thù thắng. Kinh này lược nói sáu việc thù thắng đó: 

1) Sắc thù thắng, tức là tướng tốt trang nghiêm.

2) Lực thù thắng, tức là tinh lực sung túc.

3) Thọ mạng thù thắng, tức là mạng sống lâu so với nhơn gian ước chừng chín trăm hai mươi ức năm.

4) Quyến thuộc thù thắng, tức là ma con ma cháu rất là nhiều.

5) Đồ dùng thù thắng, tức là đồ ăn uống, đồ dùng tinh mỹ rất nhiều.

6) Tự tại thù thắng, tức thần thông lực tự tại.

Ma vương có sáu thứ thù thắng này, nên so với thiên tử thiên nữ khác thì Ma vương vẫn thù thắng siêu việt hơn.

Sự kiện thù thắng của Ma vương như vô minh trụ địa. Còn những thiên tử thiên nữ khác như bốn trụ địa khác. Thế nên nói: Cũng như thế đó, sức của vô minh trụ địa đối với hữu ái số của tứ trụ địa thì lực của nó thắng vượt hơn hết. Hữu và ái v.v…tứ trụ địanăng lực làm chỗ sở y cho tất cả các thứ khởi phìên não, mà vô minh trụ địa không những là chỗ sở y cho hằng sa đẳng số thượng phiền não, mà lại còn hay khiến cho bốn thứ phiền não thêm lâu dài. Danh từ hằng sa đẳng số là hình dung số lượng phiền não nhiều vô số không thể tính đếm. Nhất thiết khởi phiền não tức là nói tất cả hiện hành của tất cả kiến hoặc, tư hoặc. Bốn thứ phiền não tức là chỉ cho tứ trụ địa, đặc biệt nói về chủng tử huân tập. Từ vô thỉ đến nay phiền não liên tục lâu dài bất đoạn đều do lực lượng vô minh hình thành. Như thế, tứ trụ địatùy phiền não hiện khởi đều y vô minh trụ địa. Đây chẳng khác nào cành lá hoa quả của cây cổ thụ đều y nơi gốc mà sanh trưởng tồn tại; gốc y nơi rễ mà có. Thế nên, gốc rễ của cây là chỗ sở y của cành lá hoa quả. Do đây có thể biết được lực lượng của vô minh trụ địa to lớn biết là dường nào. Nó vốn là cội nguồn của bao phiền não. Đoạn vô minh thì hết phiền não sanh tử.

Kinh này nói vô minh trụ địa tức là sở tri chướng. Tứ trụ địathượng phiền nãophiền não chướng. Phiền não chướng là do ngã, ngã sở chấp làm gốc. Bởi do ngã, ngã sở chấp mà khởi tham v.v…các phiền não. Do đây mà chiêu cảm cái khổ phần đoạn sanh tử luân lưu trong ba cõi. Sở tri chướng là do vô minh mê muội đối với tất cả các pháp tánh không mà không triệt ngộ thật sự thật lý của tất cả pháp, nên trí bị chướng ngại đối với tất cả pháp. Phiền não chướng là do nhơn chấp. Sở tri chướng là do pháp chấp. Ngã chấp tất phải do nơi pháp chấp. Pháp không chấp thì ngã không thành. Phiền não chướng có là do sở tri chướng. Sở tri chướng là chỗ sở y, là cội nguồn phát sanh pháp chấp. Phiền não chướng là chỗ sở y, là gốc rễ của ngã, ngã sở chấp. Tóm lại, vô minh trụ địa là chỗ sở y cho thượng phiền nãotứ chủng phiền não.

CHÁNH VĂN:

Trí của A la hán, Bích chi Phật không thể đoạn vô minh trụ địa. Chỉ có Bồ đề trí của Như Lai mới có thể đoạn sạch. Như thế đó, bạch Đức Thế Tôn! Vô minh trụ địa lực lượng rất lớn mạnh thâm sâu.

LỜI GIẢI: 

Từ những văn nghĩa trên, đoạn kinh đây kết luận rằng: Trí của A la hán Bích chi Phật đối với vô minh trụ địa không có khả năng đoạn được. Trí huệ của A la hán Bích chi Phật có khả năng ngộ được ngã không mà không có khả năng liễu đạt tự tánh của pháp không, không suốt thấu Như Lai tạng tánh, nên không thể đoạn vô minh trụ địa. Vô minh trụ địa chỉ có đại trí Bồ đề của Như Lai mới đoạn được. Đủ thấy vô minh trụ địa lực lượng thâm sâu lớn mạnh đến chừng nào, ngoài trí huệ Phật ra, không có trí huệ nào đoạn sạch vô minh trụ địa một cách rốt ráo.

Đối với việc đoạn vô minh trụ địa này có một số vấn đề cần phải luận giải:

1/ Khi chứng đắc Bồ đề trí thành Phật thì vô minh trụ địa đã đoạn sạch. Ngoài Phật ra, đoạn vô minh trụ địa còn có Bồ Tát Kim Cang dự định tối hậu tâm khởi trí huệ kim cang có khả năng đoạn vô minh trụ địa. Kim cang dụ địnhvô gián đạo. Thành Phật đắc Bồ đề trí là giải thoát đạo. Trí Phật là Bồ đề trí thì vô minh trụ địa không có cơ hội sanh khởi, nên mới nói Bồ đề trí hay đoạn. 

2/ Bồ Tát cũng có thể đoạn vô minh. Đây là thông nghĩa của Đại thừa Phật giáo. Như nói đoạn mười một thứ trọng vô minh, hoặc nói đoạn hai mươi hai trọng ngu, mà mỗi địa trong thập địa Bồ Tát đoạn một phần, cứ như thế Bồ Tát tiến cho đến Đẳng giác thì đoạn phần chót. Khi phần chót của vô minh trụ địa đoạn sạch liền chứng thành Diệu giác tức Phật quả. Thiên Thai Tông giáo nghĩa nói bốn mươi hai phần vô minh sơ trụ Bồ Tát trở lên có thể đoạn. Đối với vô minh, Hiền Thủ Tông nói năm mươi hai phần, từ Sơ tín trở lên có thể đoạn. Vô minh trụ địa tức là sở tri chướng, mà kinh đây nói chướng này chỉ có Bồ đề trí của Như Lai mới có thể đoạn. Nên biết rằng, đây là ý nói đoạn sạch rốt ráo để đắc Niết bàn. Nếu đứng về phần đoạn mà nói thì sơ địa Bồ Tát trở lên cũng có thể đoạn. Chẳng khác nào chữ phấn trên bảng đen chùi đi ba bốn chữ đương nhiên cũng là chùi, nhưng chữ trên bảng đen vẫn chưa thể chùi hết được, nhưng cũng nói là chùi. Cũng vậy, các kinh luận khác khi luận nghĩa về đoạn vô minh phiền não thì thật sự đoạn phần ít, nên nói sơ địa Bồ Tát có thể đoạn vô minh. Thế nên kinh này xác định rõ chỉ có trí Bồ đề của Như Lai mới đoạn rốt ráo.

Lại như kinh luận thường nói, đắc A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề, ấy là đứng về phương diện cứu cánh mà nói thì chỉ có Như Lai mới có thể đắc. Nếu đứng về phần chứng mà nói thì sơ địa Bồ Tát cũng có thể chứng Vô thượng Bồ đề, nghĩa là chứng từng phần Vô thượng Bồ đề.

Lại như có chỗ nói, sơ địa Bồ Tát đắc Vô sanh pháp nhẫn. Có chỗ nói bát địa Bồ Tát mới đắc là ý nghĩa này. Nên biết rằng, hành vi Đại thừa đệ bát địa là một giai đoạn đặc thù. Sơ địa Bồ Tát trở lên cũng có thể chứng tánh của các pháp vốn không, nhưng đối với nhơn tục chưa có thể dung thông, hữu tướngvô tướng còn khởi niệm xen tạp. Phải đợi đến bát địa Bồ Tát mới có thể đối với chơn tục nhứt niệm, quán nhị đế vô ngại thường chơn, không có tướng trí tùy tiện sanh khởi. Thế nên, nhiều nơi tuy kinh điển nói bát địa Bồ Tát đắc Vô sanh nhẫn, hoặc còn nói bát địa hoặc thất địa Bồ Tát trở lên có thể đoạn vô minh nghiệp tập. Nhưng có chỗ còn nói sơ địa Bồ Tát có thể đoạn có thể đắc, ấy là ý nghĩa đoạn đắc từng phần. Đích thực chỉ có Như Lai mới hay đoạn hay đắc triệt ngộ chơn không rốt ráo

Một cách tổng quát, tuy kinh luận đôi lúc nói không giống nhau, nhưng thực ra thì không hai, không khác. Điều này cũng dễ hiểu, tùy quan niệm mỗi tông mỗi người luận định đoạn hoặc chứng chơn từng địa quả. Nhưng cùng tột chân nghĩa có thể nói: Bổn nghĩa của Phật pháp chỉ có Như Lai mới đoạn sạch phiền não rốt ráo viên mãn giác ngộ. Sơ kỳ Đại thừa nói, bát địa có thể đoạn có thể giác. Hậu kỳ Đại thừa thì lại nói Sơ địa hay đoạn hay giác. Nhưng nếu đứng trên lập trường của hậu kỳ Đại thừa luận định về chứng pháp tánh không thì ở sơ địa. Còn đối với cảnh vô tướng vô công dụng mà luận định thì ở bát địa. Nếu ước định cứu cánh viên mãn thì Phật địa

CHÁNH VĂN: 

Bạch Đức Thế Tôn! Lại như thủ duyên, hữu lậu nghiệp nhơn mà sanh ba hữu, như thế vô minh trụ địa duyên, vô lậu nghiệp nhơn sanh ra ba thứ ý sanh thân của A la hán Bích chi Phật, đại lực Bồ Tát. Ba địa này, ba thứ ý sanh thân kia và vô lậu nghiệp sanh, y vô minh trụ địa, hữu phi vô duyên, thế nên ba thứ ý sanh thânvô lậu nghiệp, duyên vô minh trụ địa. Bạch Đức Thế Tôn! Như thế, hữu ái trụ địa cùng số tứ trụ địa không đồng với nghiệp của vô minh trụ địa. Vô minh trụ địa khác biệt với tứ trụ địa. Phật địa đã đoạn trừ, Bồ đề trí của Phật cũng đã đoạn sạch.

LỜI GIẢI: 

Đây thuyết minh về tác dụng sai biệt vô minh trụ địa. “Lại như thủ duyên” tức là chấp lấy làm duyên. Thủ là danh từ tổng xưng của tứ trụ địa phiền não. Đức Phật từng tổng nói phiền não của kiến hoặc hay tư hoặc trong tam giới, nên lập thành danh xưng tứ thủ là: Dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã ngũ thủ.

Những thứ phiền não này đều mang ý nghĩa chấp trước cảnh giới tạo thành lực dụng chiêu cảm sanh tử, nên có danh từ thống quát là “Thủ”. Còn phần đoạn sanh tử là do tứ trụ phiền não phát nghiệp nhuận sanh mà cảm lấy quả báo. Bởi nhơn phiền não dẫn phát mà tạo thành nghiệp quả thiện, bất thiện, bất động nghiệp tổng xưng là phát nghiệp. Chẳng hạn như khởi thiện tâm bố thí v.v….tạo các thiện nghiệp thì cũng là do phiền não gián tiếp dẫn phát. Ngoài dẫn phát nghiệp ra, phiền não còn có công lực nhuận nghiệp khiến sanh khởi. Chẳng khác như giống lúa mạnh gieo xuống đất còn cần phải tưới nước bón phân mới có thể nẩy mầm. Do phiền não tạo nghiệp rồi lại do phiền não xúc tác huân phát mới có thể cảm quả. Nghiệp do bởi phiền não kích phát nhuận sanh, nên gọi là nhuận nghiệp. Lậu là biệt danh của phiền não. Phiền nãotrợ duyên chiêu cảm sanh tử. Hữu lậu nghiệp chính là nhơn đích thật chiêu cảm sanh tử khổ quả. Do nhơn và duyên này mà sanh tam hữu. Tam hữu là danh từ trong Phật pháp để gọi ba cõi Dục hữu, Sắc hữuVô sắc hữu, cũng gọi là Dục giới, Sắc giớiVô sắc giới. Tức là nghiệp báo của chúng sanh trong tam giớiphần đoạn sanh tử. Phiền não có kiến nhất thiết trụ địa v.v….thường có bốn tên gọi, nhưng hay chiêu cảm phần đoạn sanh tử thì có ba. Ấy là: Tạo thiện nghiệp được sanh về nhơn thiên cõi Dục giới. Tạo bất thiện nghiệp thì đọa sanh trong ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Bất động nghiệp thì sanh cõi trời Sắc và Vô sắc.

Đặc tánh của phần đoạn sanh tử có ba là: phiền não, nghiệp và quả. Nay nêu lên để làm thí dụ: “ Như thế vô minh trụ địatrợ duyên vô lậu nghiệp, là nhơn gần hay chiêu cảm ba thứ ý sanh thân biến dịch sanh tử của A la hán, Bích chi Phậtđại lực Bồ Tát”. Thế nào là vô lậu nghiệp nhơn? Nhà Duy Thức Học nói: “ Ấy là từ bi nguyện lực v.v…” Nhưng vô lậu nghiệp nhơn vẫn chẳng thể là chánh nhơn cảm sanh tử. Đây là ý nghĩa tinh diệu, nguyên nhân vi tếsơ quả, nhị quả, tam quả Thanh văn đối với hữu ái trụ địa phiền não chưa đoạn hết, đến như hồi tiểu hướng đại vẫn do phiền não nhuận nghiệp. Nhưng nhơn vì tâm bi nguyện v.v…, mang đặc tánh vô lậu nghiệp, huân phát hữu lậu nghiệp có khả năng chuyển phần đoạn thân làm biến dịch ý thành thân, chẳng hạn như thần thông sống lâu thêm. Nếu như hành giả Nhị thừa chứng A la hán quả, nhập Vô dư Niết bàn, tứ trụ phiền não đã hết thì không còn hồi tiểu hướng đại nữa. Nhưng kinh đây lại không nói như vậy. Y cứ Gia Tường Đại sư nói thì, Nhị thừa không biết nhiễm ô, nhưng đối Đại thừa thì còn thấy có nhiễm ô. Cũng như trạng thái biến dịch sanh tử của Nhị thừa là còn vi tế sanh tử, nhưng phàm phu nhơn thiên Nhị thừa thì cho đó là vô vi sanh tử. Nhưng kỳ thực vẫn còn trong trạng thái hữu vi. Mà nói Nhị thừa đắc vô lậu nghiệp là đối với phàm nhơn hữu lậu mà nói chứ kỳ thực là còn hữu lậu. Bởi vì chỗ sở tu của A la hán Bích chi Phật giới định huệ. Còn chỗ sở tu của Bồ Tát thì không như Nhị thừa, mà chuyên tâm bi nguyện độ sanh, nên không có cứu cánh thanh tịnh. Vì vậy nói do vô minh làm trợ duyên, vô lậu nghiệp làm nhơn hay cảm biến sanh tử. Đây là nguyên nhân khiến cho hành giả Nhị thừa có thể vào Niết bàn, lại có thể hồi tiểu hướng đại.

Chứng minh cho sự kiện trên đây, Luận Đại Trí Độ nói: “ Có cõi tịnh độ vi diệu, siêu việt tam giới, A la hán, Bích chi Phật sinh hoạt trong đó”. A la hán, Bích chi Phật, đại lực Bồ Tát trong ba thừa đây, ba thứ ý sanh thân sanh và vô lậu nghiệp sanh đều nương vô minh trụ địasanh khởi. Vô lậu nghiệp và ba loại ý sanh thân đều là “hữu duyên” mà sanh khởi chứ chẳng phải là “phi vô duyên”. Xin đừng nghĩ rằng một khi tứ trụ phiền não đã hết, hữu lậu nghiệp không còn hoặc nhuận sanh, tức không có duyên cảm sanh tử. Vì vậy, kinh này nói: “ Thế nên ba thứ ý sanh thân và vô lậu nghiệp đều duyên vô minh trụ địa”. Phàm phu cũng là vô minh trụ địa, nhưng không có tu vô lậu nghiệp, nên không có thành thân, đợi đến khi nào tứ trụ địa phiền não đoạn xong thì tác dụng của vô minh trụ địa mới hiển phát. Chẳng khác nào như tiếng phèn la, tiếng trống ngưng thì mới phát hiện những âm thanh nhỏ. Có nghĩa là khi tứ trụ địa dứt thì vô minh trụ địa liền trợ giúp vô lậu nghiệp cảm sanh ý sanh thân. Như thế, kinh này nói “ hữu ái trụ địa, số ái trụ địa nghiệp không cùng đồng với vô minh trụ địa”. Tứ trụ địa trợ duyên hữu lậu nghiệpchiêu cảm ý sanh thân. Nên nhận định một cách thiết thực rằng “Vô minh trụ địa khác biệt tứ trụ địa”. Kinh đây xác quyết “Phật địa đã đoạn, Bồ đề trí của Phật đã đoạn” mà không phải A la hán, Bích chi Phật, đại lực Bồ tát có thể đoạn được, ấy là đoạn vô minh trụ địa.

CHÁNH VĂN: 

Vì cớ sao? A la hán Bích chi Phật đoạn bốn thứ trụ địa, vô lậu chưa hết, chẳng được sức tự tại, cũng chẳng tác chứng. Vô lậu chưa hết tức là vô minh trụ địa chưa đoạn xong. 

LỜI GIẢI: 

Vì sao chẳng nói A la hán Bích chi Phật cũng đoạn vô minh trụ địa? Bởi vì “A la hán Bích chi Phật đoạn bốn thứ trụ địa”, vô minh trụ địa chưa đoạn, nên vô lậu chưa hết. Lậu là phiền não, có phiền não tức chẳng thanh tịnh, vì vậy vô lậu của Nhị thừa chưa được rốt ráo. Bởi vô lậu chưa hết, nên tuy nói thành đạo mà “chẳng được sức tự tại”. Tuy chứng đắc phần diệt độ mà chẳng thể tác chứng. “Tác chứng” tức là chứng đắc Niết bàn. Nghĩa là sở tác đã xong, được rốt ráo. Ba câu “vô lậu chưa hết thì đoạn tập chẳng cứu cánh”, tức là còn cảm biết khổ. “Chẳng được sức tự tại” tức là tu đạo chưa rốt ráo. “Chẳng tác chứng” tức là chứng tịch diệt chưa hoàn toàn, nên nói là “vô lậu chưa hết”. Điều này chỉ cho vô minh trụ địa mà nói. Đây hiển bày rõ ràng vô lậu của Nhị thừa chưa rốt ráo.

CHÁNH VĂN: 

Bạch Thế Tôn! A la hán Bích chi Phật, tối hậu thân của Bồ Tát vì bị vô minh trụ địa chướng ngại che lấp, đối với các pháp chẳng hay, chẳng biết. Do vì chẳng hay biết, nên phiền não đáng đoạn mà chẳng đoạn, nên chẳng rốt ráo.

LỜI GIẢI: 

A la hán Bích chi Phật chỉ mới đoạn phần đoạn sanh tử mà tự cho đó là Niết bàn. Kỳ thực, chưa được chân thật diệt độ (Niết bàn). Bồ Tát lấy mục đích thành Phật làm cứu cánh, nên khi chưa thành Phật đương nhiên các Ngài chẳng cho là cứu cánh. Vì vậy, Nhị thừatối hậu thân Bồ Tát ngay cả một sát na trước khi thành Phật cũng còn bị vô minh trụ địa làm chướng ngại. Do vô minh trụ địa che lấp chân thật, nên không thấy rõ như thật tánh tướng của các pháp, nên nói: “Đối các pháp chẳng hay chẳng biết”. Chẳng biết tức là chẳng thấy rõ, chẳng thấu suốt. Hoặc thấu đạt tất cả các tướng các pháp như huyễn, mà chỗ thấy còn chướng ngại, nên chưa liễu giải tất cả pháp không tánh. Bất giác tức là chẳng thấy biết. Tri là thấu đạt tất cả pháp tướng như huyễn. Kiến là chung biết tất cả pháp tướng không tánh. Bồ Tát tuy cũng đắc pháp không trí, kiến pháp không, nhưng chưa viên mãn rốt ráo, nên nói là bất tri bất giác. Kinh nói, Bồ Tát kiến pháp tánh giống như thấy cảnh vật qua màn mỏng.

Trên là thuyết minh về trí hữu dư, nghĩa là chẳng phải được chân thật tri kiến, nên nói “đáng đoạn đều chưa đoạn”. Nghĩa là đoạn hoặc chưa rốt ráo. Đây là nói đoạn chưa xong (đoạn hữu dư). Ngoại trừ Phật ra, tam thừa Thánh giả đoạn phiền não hoặc chưa cứu cánh, ấy bởi do vô minh trụ địa phiền não quá sâu dày vi tế

CHÁNH VĂN: 

Vì chưa đoạn rốt ráo, nên gọi là hữu dư quá giải thoát, mà thật ra chẳng phải lìa tất cả phiền não được giải thoát. Gọi là hữu dư thanh tịnh, mà thật ra chẳng phải hết thảy đều thanh tịnh. Gọi là thành tựu hữu dư công đức, mà thật ra chẳng phải thành tựu hết thảy công đức.

LỜI GIẢI: 

Đây phân tích để nói. Trước nói ba việc hữu dư. Vì chưa đoạn vô minh trụ địa, nên gọi “hữu dư quá giải thoát”. Quá là đã vượt qua lỗi lầm, mà chưa rốt ráo giải thoát phiền não. Vì vậy chỉ là được hữu dư giải thoát, chớ chẳng phải lìa hẳn tất cả lỗi lầm được vô dư giải thoát. Quá ở đây hàm hữu ý nghĩa chỉ vượt qua phiền não chứ chưa đoạn sạch phiền não, nghĩa là chưa rốt ráo giải thoát, nên phải lìa hoặc để hiển chơn pháp tánh. Nhị thừa chỉ thấy Ngã không chơn như, còn đại lực Bồ tát thấy một phần Pháp không chơn như chứ chưa triệt để thấy, nên chưa trọn thanh tịnh, do đó mới “gọi là hữu dư thanh tịnh mà kỳ thật chẳng phải hết thảy thanh tịnh”. 

Chỉ có Phật chứng đắc tối thanh tịnh pháp giới mới được gọi là vô dư thanh tịnh. Công đức giới định huệ của A la hán, Bích chi Phật, công đức bi nguyện lực độ sanh của Bồ Tát đều chưa cứu cánh. Vì thế, nên “gọi là thành tựu hữu dư công đức mà thật ra chẳng phải thành tựu tất cả công đức”. Trong đây luận về giải thoát tức là đức giải thoát; luận về thanh tịnh là nói về đức tánh pháp thân; luận về công đức là nói về đức Bát nhã. Đối với thanh tịnh giải thoát, pháp thân, Bát nhã thì hàng tam thánh chỉ có hữu dư mà chẳng phải cứu cánh vô dư tịch diệt.

CHÁNH VĂN: 

Bởi vì thành tựu hữu dư giải thoát, hữu dư thanh tịnh, hữu dư công đức, tri hữu dư khổ, đoạn hữu dư tập, chứng hữu dư diệt, tu hữu dư đạo, nên gọi là đắc thiểu phần Niết bàn, là hướng Niết bàn giới

LỜI GIẢI: 

Bởi A la hán, Bích chi Phậtđại lực Bồ tát “thành tựu hữu dư giải thoát, hữu dư thanh tịnh, hữu dư công đức”, nên hay biết khổ nhưng chỉ có thể biết “hữu dư khổ”, hay đoạn tập (phiền não), mà chỉ có thể “đoạn hữu dư tập”, hay chứng Niết bàn (diệt) nhưng chỉ có thể “chứng Hữu dư Niết bàn”. Tuy cũng tu thánh đạo, nhưng chỉ có thể “tu hữu dư đạo”. A la hán Bích chi Phậtđại lực Bồ tát đối với thành phần nhân tố trong Tứ đế thì Tri, Đoạn, Chứng, Tu đều còn là trong lãnh vực chứng cảnh hữu dư. Nghĩa là đối với căn nguyên phiền não vô minh trụ địa chưa đoạn trừ.

Như trên, chúng ta thấy tri đoạn hữu dư, ba việc hữu dư, bốn đế hữu dư, đủ biết A la hán, Bích chi Phật chứng đắc Niết bàn chỉ mới “được phần ít của Niết bàn” mà thôi. Bởi được thiểu phần của Niết bàn, nên gọi là “hướng Niết bàn giới”, nghĩa là còn trên đường hướng về Niết bàn, chứ chưa phải là đã đến đích rốt ráo của Niết bàn. Bởi lý do này mà những đoạn kinh trên nói “còn cách xa cảnh giới Niết bàn”. Niết bàn của Nhị thừa chẳng phải là chơn thật Niết bàn. Thế nên kinh nói: Nhị thừa đang trên đường hướng về cảnh giới Niết bàn. Bồ Tát chưa được Bát nhã Niết bàn. Lược nói điều này đủ để cho hành giả nhận chân thứ bậc quả vị tu chứng

CHÁNH VĂN: 

Nếu liễu tri nhứt thiết khổ, đoạn tất cả tập, chứng hết thảy diệt, tu đạo viên mãn thì đối với thế gian vô thường hoại, vô thường bịnh, đắc thường trú Niết bàn. Như thế, đối với thế gian không được che chở hộ trì, không nơi nương tựa, thì nên hộ trì, làm nơi nương tựa cho thế gian.

LỜI GIẢI: 

Đây là đối với Nhị thừa hữu dư mà nói Như Lai vô dư cứu cánh. Trước nêu ra đức tướng của thường trú Niết bànNhư Lai sở đắc. Ở trên kia nói Nhị thừaBồ tát thì bất tri, bất kiến, bất đoạn, vì vậy ba đức, tứ đế đều là hữu dư chẳng phải cứu cánh Niết bàn. Trái lại, nếu suốt biết tất cả trong ngoài tam giới về (khổ) phần đoạn sanh tửbiến dịch sanh tử; đoạn tất cả (tập) phiền não tứ trụ địavô minh trụ địa; chứng (diệt) tất cả hữu lậu giải thoát hệ nghiệp trong ngoài ba cõi; tu (đạo) tất cả thánh đạo ba thừa cộng và Đại thừa bất cộng. Như thế thì mới có thể được rốt ráo thường trú Niết bàn.

Thế gian: Thế có nghĩa là lưu chuyển đổi dời, biến hoá. Hễ phàm rơi vào trong vòng lưu chuyển biến hoá thì gọi là thế gian. Thế gian còn mang ý nghĩa vô thường. Hoại là trạng thái của suy tàn, hoại chết. Nói theo danh từ Phật giáo thì hoại là phần vị đột biến của phần đoạn tử, nên nói là “thế gian vô thường biến hoại”. Bịnh là tiệm biến của trạng thái biến dịch tử. Tiệm biến là biến thái chậm dần dần. Thế nên gọi là “thế gian vô thường bệnh”. Lìa hai trạng thái hoại và bệnh tức là hai thứ sát na vô thường thì được thường trụ cứu cánh Niết bàn. Trong cảnh giới cứu cánh Niết bàn bất sanh bất diệt, cũng lại không có vô thường chuyển biến. Nếu đạt đến thường trụ Niết bàn thì có thể đối với việc “không che chở hộ trì thế gian làm hộ trì che chở, đối với việc thế gian không nơi nương tựa thì làm nơi nương tựa cho thế gian”. Hữu tình thế gian sở dĩ không được che chở, hộ trì, nương tựa là bởi tất cả ở trong trạng thái luân chuyển biến dịch không ngừng, không có chỗ rốt ráo để nương náu, lại cũng không có nơi an ổn rốt ráo. Nếu chứng đắc Thường trụ Niết bàn tức là chỗ nương náu rốt ráo, thân tâm tuyệt đối an lạc, không còn có sự lo âu sợ sệt, là nơi nuơng tựa hộ trì thế gian. Chẳng khác nào trong gió mưa có được chỗ ẩn trú, trong hiểm nạn có được sự hộ trì, trong khổ sở cô đơn phiêu bạt có chỗ nương tựa. Cái ý nghĩa thâm diệu ở đây không phải nói. Phật là chỗ chúng sanh nương tựa, hộ trì thế gian, mà là nói thường trụ Niết bànnơi nương tựa của thế gian vô thường. Nghĩa là tu thoát kiếp vô thường thế gian để được an lạc Niết bàn. Kinh A Hàm nói: “Niết bàn là nơi che chở, nương tựa, hộ trì, là xứ sở, nhà cửa v.v…”đều là mang ý nghĩa lìa xa tất cả sanh tử sợ hãi mà nói. Thế gian vô thường, vô thường tức là khổ. Vì vậy trong kinh thường nói: “Ta lấy tất cả hành vô thường nói ba giới là khổ”. Niết bànthường trụ, lìa vô thường hoại bệnh tức là lìa khổ được cứu cánh an ổn.

CHÁNH VĂN: 

Vì sao? Bởi pháp khôngưu liệt, nên được Niết bàn, Giải thoát v.v….nên được Niết bàn. Thanh tịnh v.v…nên được Niết bàn. Thế cho nên Niết bàn thì đồng một vị, ấy là vị giải thoát.

LỜI GIẢI: 

Kinh đây nói đến thường trụ Niết bàn. Thế nào gọi là thường trú Niết bàn? Nghĩa là đạt đến pháp không ưu liệt, nên đắc Niết bàn. Đây là tổng nói. Bản tánh của tất cả pháp đều bình đẳng không có ưu liệt. Như Kinh Kim Cang nói: “Các pháp bình đẳng không có cao thấp”. Thường thì người ta nói Đại thừa ưu, Tiểu thừa liệt; Nhất thừa ưu, Tam thừa liệt, cao thấp cạn sâu đều là vì chuyển mê khai ngộ cho chúng sanhthiết lập. Nếu luận về tánh của tất cả các pháp, pháp tánh thì bình đẳng không có gì ưu liệt cả. Khi nói đây là ưu, kia là liệt, đó là đứng về pháp tương đối mà nói, nên thấy có hai. Kỳ thực các pháp xưa nay đều bình đẳng. Bởi tánh các pháp xưa nay đều bình đẳng như thế, nên nếu chứng đắc bình đẳng tánh không ưu liệt thì thể hiện được thường trú Niết bàn. Nếu có ưu liệt là có vô thường biến hoá không phải là Niết bàn. Bởi tất cả pháp xưa nay bình đẳng, nên chứng đắc trí huệ cũng bình đẳng, gọi là bình đẳng đại huệ.

Bình đẳng có nghĩa là phổ biến. Trí huệ đạt thấu tất cả pháp bình đẳng, khắp tất cả pháp nên đắc bình đẳng trí. Dùng đại huệ bình đẳng đoạn tất cả phiền não lỗi lầm thì được đại giải thoát tự tại. Vì vậy giải thoát cũng là bình đẳng. Nếu đứng về ly cấu tri chứng hiển bày pháp giới thanh tịnh mà nói thì, tuy chỉ mới đạt tùy trí cảnh giới mà tợ hồ như có phần viên mãn, thật bản tánh thanh tịnh, bình đẳng.

Trí huệ v.v….là đức Bát nhã. Giải thoát v.v…là đức Giải thoát. Thanh tịnh v.v..là đức Pháp thân. Từ ba đức bình đẳng này mà hiển đắc Đại Bát Niết Bàn thường trụ cứu cánh. Thế nên Kinh Đại Bát Niết Bàn nói: Niết bàn mật tàng ba đức. Ba đức bình đẳng này từ pháp tánh bình đẳng không ưu liệthiển bày. Vì vậy, ở trong pháp tánh vô nhị, tất cả trí huệ, tất cả giải thoát, tất cả thanh tịnh đều viên dung không hai (bất nhị). Chữ bất của đoạn kinh đây mang ý nghĩa bất ly, tương nhiếp tương nhậpĐại Bát Niết Bàn. Ba đức Pháp thân, Bát nhã, Giải thoát, mỗi mỗi tuyệt đối rốt ráo không hai. Luận Bảo Tánh khi đề cập về ba đức tánh này xác định rằng, không một, không khác, không lớn, không nhỏ, bất ly nhứt thiết. Kinh nói: “Thế nên Niết bàn chỉ có một vị bình đẳng, tức là vị giải thoát”. Một tức là không hai. Không hai, bình đẳng tức là viên mãn cứu cánh. Chữ vị ở đây mang ý nghĩa hiển bày đặc tánh Niết bàn an vui tự tại. Tất cả bậc Thánh giả lấy việc chứng đắc pháp vị làm cứu cánh. Cứu cánh tứcbình đẳng bất nhị. Như nước các nước sông suối hồ ao một khi vào biển cả thì thành một vị mặn. Chúng sanh khi còn sanh tử lưu chuyển thì ngàn sai muôn khác. Đến khi đạt rốt ráo Niết bàn thì chỉ có một vị bình đẳng giải thoát. Kinh A Hàm nói: Niết bàntrạng thái thanh tịnh tự tại, giải thoát. Nhưng nay đây bằng vào ba đức bình đẳng Bát nhã, pháp thân, giải thoát để hiển minh Niết bàn là một vị bình đẳng. Rõ ràng Vô dư Niết bàncứu cánh thường trú, chẳng phải chỗ thấy của Nhị thừa Hữu dư Niết bàn, thân tàn trí diệt mà có thể sánh được. 

CHÁNH VĂN: 

Bạch Đức Thế Tôn! Nếu vô minh trụ địa không đoạn rốt ráo thì không thể đạt được bình đẳng. Vị, nghĩa là chưa đến giải thoát vị. Vì cớ sao? Bởi vì vô minh trụ địa không đoạn rốt ráo, thì lỗi lầm quá hơn hằng hà sa, là pháp đáng đoạn mà không đoạn rốt ráo. Vì lỗi lầm quá hơn hằng hà sa, là pháp đáng đoạn mà không đoạn, nên pháp bình dẳng quá hơn hằng hà sa đáng được mà chẳng được, đáng chứng mà chẳng chứng. 

LỜI GIẢI: 

Văn trên nêu ra thể tướng của Niết bàn cứu cánh. Nhưng vô minh trụ địa chưa đoạn thì không thể chứng được loại Niết bàn này. Cần phải Phật địa, không còn đoạn hoặc, liễu đạo mới có thể viên thành. Vì vậy nói: “Nếu vô minh trụ địa không đoạn rốt ráo” thì không thể “đắc nhất đẳng vị”, “minh liễu giải thoát vị”. Chữ minh ở đây mang ý nghĩa Bát nhã. Trên kia Luận Bảo Tánh dẫn giải “minh” là minh giải thoát vị. Như thế minh còn có ý nghĩagiải thoát. Xưa nay, khi luận về ý nghĩa Niết bàn thì không có hai, đầy đủ ba đức. Vì vậy giảng luận về Niết bàn, khi thì nói Niết bàngiải thoát, khi nói là Bát nhã (minh) giải thoát, khi thì nói gồm cả ba đặc tánh Bát nhã, Giải thoátPháp thân. Tất cả ba ý nghĩa của ba đức này đều chỉ cho đặc tánh Niết bàn.

“Vô minh trụ địa” nếu như “chẳng đoạn rốt ráo”, vì nó là phiền não căn bổn, nên quá hơn hằng hà sa số phiền não là “pháp phiền não đáng đoạn” mà “chẳng đoạn”. Pháp phiền não quá hơn hằng hà sa nên đoạn mà chẳng đoạn rốt ráo, như thế tất cả pháp công đức số quá hơn hằng hà sa nên được mà chẳng được, nên chứng mà chẳng chứng. Vô lượng đạo nên được mà chẳng được, vô lượng diệt nên chứng mà chẳng chứng. Phiền não và đạo thì tương phản. Tu đạt đạo, phiền não tự nhiên diệt. Còn khởi phiền não thì tu không đắc. Phiền não và diệt (Niết bàn) tương phản. Chứng diệt tức đoạn phiền não. Phiền não chẳng đoạn thì không thể chứng diệt (Niết bàn tịch diệt). Nói một cách tổng quát, vô minh không đoạn rốt ráo thì không thể đoạn tất cả phiền não, và cũng không thể được tất cả (đạo và diệt) công đức.

CHÁNH VĂN: 

Thế nên, vô minh trụ địa tích tụ và sanh trưởng tất cả phiền não, thượng phiền não, tu đạo phải đoạn. Vô minh trụ địa sanh tâm thượng phiền não, ngưng thượng phiền não, quán thượng phiền não, thiền thượng phiền não, chánh thọ thượng phiền não, phương tiện thượng phiền não, trí thượng phiền não, quả thượng phiền não, đắc thượng phiền não, lực thượng phiền não, vô úy thượng phiền não. Như thế, quá hằng hà sa số các phiền não, chỉ Trí Bồ Đề của Như Lai mới là đã đoạn. Tất cả phiền não đều y vô minh trụ địa kiến lập. Tất cả thượng phiền não đều nhơn vô minh trụ địa, duyên vô minh trụ địasanh khởi. Bạch Đức Thế Tôn! Đối với việc khởi sanh phiền não này, tương ưng với sát na tâm! Bạch Đức Thế Tôn! Tâm bất tương ưng vô thỉ vô minh trụ địa.

LỜI GIẢI: 

Vô minh trụ địa hàm nhiếp tất cả chủng tử của sở tri chướng phiền não tập khí, nên gọi là “tích tụ”. Kinh luận Phật pháp thường nói A lại da là nơi tích tụ tất cả chủng tử phiền não từ vô thỉ đến nay. Thế nên nói A lại da là chỗ chứa nhóm chủng tử tội lỗi đồng với nghĩa này. Vô minh trụ địa là nơi chứa nhóm chủng tử tội lỗi, nên kinh nói:“ Sanh tất cả phiền não của tu đạo sở đoạn”. Câu này có thể giải thuyết rằng: Sanh tất cả phiền não của tu đạo đoạn, ấy là thượng phiền não. Nói cách đơn giảnsanh khởi tất cả tùy phiền não. Tất cả tùy phiền não này là tu đạo đoạn trừ. (Bản dịch đời Đường thiếu câu “tu đạo đoạn phiền não”).

Trong đây nói tu đạo đoạn chẳng phải đối đãi tu đạo sở đoạn với kiến đạo sở đoạn, mà là chỉ chung đạo đế cần phải tu. Tu đạotùy phiền não đối ngược nhau. Tùy phiền não làm chướng ngại tu đạo. Tu đạo thì hay đoạn các tùy phiền não. Phiền não không có nghĩa nào riêng biệt mà chỉ chung cho tất cả đặc tánh phàm phu. Nhưng nhị thừa Thánh giả nói đắc vô lậu đạo mà vẫn còn căn chướng, định chướng thì không thể nào được thân định đại trí như Phật. Thanh văn học giả gọi đây là bất nhiễm ô vô tri. Nay nói từ vô minh trụ địa mà khởi sanh tùy phiền não, khiến trở ngại cho Nhị thừaBồ Tát tu đạo khó có thể cứu cánh viên mãn. Loại phiền não chướng này đối với tu đạo chính là Đại thừa bất cộng tu đạo đoạn, là đoạn sở tri chướng.

Tâm thượng phiền não là loại phiền não làm chướng ngại tâm trí. Hay nói cách khác, bản tánh của tâm vốn tịnh, khi tu đạo, phiền não làm chướng ngại tâm, nên không được rốt ráo thanh tịnh. Tâm thượng phiền não là danh từ đặc biệt để tổng nói về phiền não. Bởi vì tất cả tùy phiền não đều là tùy trục tâm làm phiền động não loạn. Tiếp theo đây lược giải những danh từ phiền não. Chỉ thượng phiền não: Chỉ là ngừng, yên lặng, là tịch tĩnh, buộc tâm một chỗ không tán loạn. Có nghĩa là chấm dứt phiền não. Quán thượng phiền não: Quán là quán sát. Có nghĩa là quán sát truy nguyên cội nguồn của phiền não để đoạn tận gốc. Chỉ quánđịnh huệ nhân quả tương quan đồng nhau. Nhưng cổ đức nói: “Chỉ quán là cội gốc của định huệ”, tức nói chỉ quántrọng yếu ở bước tu ban đầu.

Thiền và chánh thọ đều là do tu chỉ mà thành định. Thiền nói cho đủ là Thiền na, Trung Hoa dịch là Tĩnh lự. Có nghĩa là tĩnh tâm suy tư, chỉ cho căn bổn định của sắc giới tứ tĩnh lự. Chánh thọ, Phạn ngữ là Samâdhi, tức là tam muội, là chỉ tứ vô sắc địnhdiệt thọ tưởng định. Phương tiện và trí là chỉ cho trí huệ đều do tu quán mà thành. Phương tiện, Phạn ngữ Upàya có nghĩa trí huệ thiện xảo. Trí ở đây chỉ cho Bát nhã. Đạt chân tánh các pháp là trí. Rõ sự tướng sai biệtphương tiện. Bát nhã còn gọi là căn bổn trí, như lý trí. Phương tiện còn có tên là hậu đắc trí, như lượng trí. Quả ở đây chỉ cho Thanh văn quả, Bích chi Phật quả, Bồ Tát phần chứng quả lấy đạo và diệt làm thể công đức. Đắc là nói về năng chứng năng đắc. Cũng có thể nói là Đạo quả, đắc là Diệt đắc. Lực là mười lực. Vô úy là bốn vô sở uý. Nhưng Bồ Tát cũng có mười lực. Như đã nói mười một món thượng phiền não đều thuộc tu đạo chứng định huệ có sự liên hệ nhau, nên nói là tu đạo sở đoạn thượng phiền não. Tu đạo phải trải qua hằng hà sa đẳng thượng phiền não, không phải quả trí Nhị thừa hay nhơn trí của Bồ Tát mà có thể đoạn được, chỉ đại Bồ đề trí của Như Lai mới có thể đoạn. Vô minh trụ địanhơn duyên hiện khởi tất cả phiền não.

Tổng kết, đây là căn nguyên phiền não, là hậu quả của vô biên lỗi lầm nguồn gốc do chẳng đoạn vô minh. Kinh Đại Thọ Khẩn Na La Vương ghi rằng: “Khẩn Na La Vương trổi nhạc, Đại Ca Diếp nghe nhạc của Khẩn Na La liền hớn hở đứng dậy nhảy múa, Thiên Quan Bồ Tát thấy vậy nói với Ca Diếp rằng: “Ông là bậc tôn đức Thượng Tọa của Đức Thế Tôn, sao lại nghe âm nhạc mà mừng rỡ giống như trẻ con vậy?” Ca Diếp nói: “Tôi là hàng Thanh văn đối với ngũ dục trong tam giới tuy không có nhiễm trước, nhưng đối với Đại thừa vi diệu công đức thì còn nhiễm”. Trên đây chứng minh cho chúng ta thấy Nhị thừa còn tập khí sở tri chướng. Vì thế, Nhị thừa đoạn phiền não chướng trong ba cõi, nhưng so với Đại thừa vô lậu công đức vẫn còn có tùy phiền não vi tế ẩn tàng thoạt lúc hiện hành.

Cổ đức gọi hiện trạng này là giới ngoại phiền não. Ở cuối đoạn kinh trên, câu: “Bạch Đức Thế Tôn! Trong đây khởi phiền não”. Thích hợp năm đoạn văn kinh trước, tức là kết luận chỉ bày sự sai biệt giữa vô minh trụ địa và khởi phiền não. Như văn kinh trên, ban đầu nói trụ địa phiền não có bốn rồi tiếp đó nói sanh khởi phiền não. Tứ trụ địatứ sanh khởi phiền não thì Nhị thừa đã đoạn. Nhưng tiếp đó, luận về sự sai khác khởi phiền nãovô minh trụ địa, tức nói tâm tương ưng và tâm bất tương ưng. Trong đây nói vô minh trụ địatác dụng sanh khởi hoá hằng sa thượng phiền não chỉ có trí Bồ đề của Như Lai mới đoạn, mà chẳng phải khả năng trí Nhị thừa có thể đoạn được. Tiếp đó, luận về sự khác biệt giữa khởi phiền nãovô minh trụ địa. Văn nghĩa hiển bày rõ ràng, sơ kỳ Phật pháp chỉ thuyết minh tứ trụ phiền não và tứ khởi phiền não, sau đó, trong tứ trụ địa lại nêu cái nghĩa sâu sắc của vô minh trụ địa. Từ đây dẫn đến thuyết minh khởi phiền não hằng hà sa. Thời đại A Hàm nêu lên phiền não là kiến, ái, vô minh. Ngũ trụ địa tợ hồ thiên về thắng nghĩa đặc biệt này, cho rằng Nhị thừa kiến đạo sở đoạnđoạn kiến. Nhị thừa tu đạo sở đoạn là đoạn ái, Như Lai cứu cánh đoạn tận là đoạn sạch vô minh 

CHÁNH VĂN: 

Bạch Đức Thế Tôn! Nếu pháp lại quá hơn hằng hà sa trí Bồ đề của Như Lai nên đoạn, thì tất cả đều là do vô minh trụ địa duy trì kiến lập. Cũng thí như tất cả hạt giống đều nương đất mà sanh mầm phát triển. Nếu đất hư thì cây giống cũng theo đó mà hư. Cũng như thế, trí Bồ đề của Như Lai quá hơn hằng hà sa pháp đáng đoạn, tất cả pháp đều từ vô minh trụ địasanh khởi phát triển. Nếu vô minh trụ địa đoạn thì trí Bồ đề của Như Lai quá hơn hằng hà sa pháp đáng nên đoạn cũng đều từ đó mà đoạn.

LỜI GIẢI: 

Đây là thuyết minh về vô minh trụ địa đoạn, thì tất cả pháp đều đoạn. Trước nói y cứ vào vô minh mà lập thuyết. Phiền não nhiều hơn cát sông Hằng, mà trí Bồ đề của Như Lai quá hơn cát sông Hằng, nên tất cả phiền não không thể còn. Tất cả phiền não đều từ vô minh trụ địa sanh khởi. Vô minh đoạn sạch thì phiền não không chỗ ẩn trú. Cũng như hạt giống nhờ đất mà sanh. Đất hư thì giống mầm phải hoại diệt, đó là lẽ tất nhiên. Tam thừa chưa thể đoạn sạch tất cả phiền não. Bởi tại chưa đoạn sạch vô minh trụ địa. Chỉ có trí Bồ đề của Phật quá hơn hằng sa mới đoạn trừ tận gốc rễ của vô minh phiền não.

CHÁNH VĂN:

Như thế chơn thành phiền não, thượng phiền não, Như Lai đắc tất cả pháp hoá hơn hằng hà sa, nhất thiết tri kiến thông đạt vô ngại, lìa tất cả lỗi lầm, được tất cả công đức, đắc pháp vương pháp chủ tự tại, chứng bậc Nhất thiết pháp tự tại. Như Lai đúng là bậc Chánh đẳng Chánh giác, như tiếng sư tử rống: Ta sanh tử đã hết, phạm hạnh đã tròn, chỗ làm đã xong, không còn luân hồi tử sanh. Thế cho nên Thế Tôn gióng lên tiếng rống sư tử, trước sau nói tinh ròng pháp Đại thừa liễu nghĩa

LỜI GIẢI: 

Trên đây nói Nhị thừaBồ Tát bị vô minh trụ địa che lấp mà không biết, nên chẳng đoạn sạch được phiền não. Như thế, tất cả trụ địa phiền não và hiện khởi thượng phiền não chỉ Như Lai chứng đắc tất cả các pháp công đức quá hằng hà sa đẳng mới dứt sạch thanh tịnh. Nhị thừatối hậu thân Bồ Tátvô minh trụ địa che lấp, nên đối với tất cả pháp không thể hiểu biết như thật. Còn Như Lai đoạn hết vô minh nghiệp lậu, nên đối với tất cả pháp suốt thông vô ngại, đắc tất cả tri kiến, không điều gì mà không biết, không việc gì mà không thấy, thành tựu Nhất thiết chủng trí. Như thế, Phật đối với ba việc không thừa và bốn việc không thiếu. Nhị thừaBồ Tát thì trái lại.

Giờ đây nói ba việc không thừa: Một là “lìa tất cả tội ác” thì liền giải thoát tất cả; hai là “được tất cả công đức” là tất cả công đức Bát nhã; ba là: “Đắc pháp vương pháp chủ tự tại, chứng bậc Nhất thiết pháp tự tại” thì đắc nhất thiết thanh tịnh, đạt đức Pháp thân. Quốc vương đối với quốc dân thì tự do tự tại. Phật đối với tất cả pháp thì tự tại vô ngại, nên nói là Pháp vương. Chủ là chủ hành động tạo tác. Phật hay chuyển tất cả pháp, tất cả pháp theo Phật chuyển, nên gọi là Pháp chủ, tức là chủ động đối với tất cả các pháp. Nếu đối tất cả pháp không được thanh tịnh, bị phiền não ràng buộc thì không thể gọi là Pháp chủ Pháp vương. Đối với tất cả pháp được tự tại vô ngại thì gọi là Phật địa hoặc Niết bàn hay còn gọi là Bảo sở

Pháp thânhai nghĩa: Nếu đứng về pháp tánh mà nói thì gọi là nhất thiết thanh tịnh. Đắc tối thanh tịnh pháp giới, đủ tất cả công đức, lìa tất cả phiền não, vì vậy Pháp thân hàm hữu ý nghĩa đối các pháp thanh tịnh, đức tánh thanh tịnh làm thân, công đức tụ tròn đầy gọi là Pháp thân. Do lìa triền phượcthành tựu tất cả công đức. Thế nên Pháp thân có nghĩa là Nhất thiết tự tại.

Tiếp theo đây nói bốn việc không thiếu: “Như Lai ứng đẳng chánh giác”, như trên đã nói, tròn chứng ba đức Đại Bát Niết Bàn. Vì vậy chánh nhơn làm việc đại sự như tiếng sư tử rống: “Ta sanh tử đã hết, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không còn sanh tử nữa”. Câu tuyên bố này mang ý nghĩa tất cả khổ đã hết, tất cả tập đã đoạn, tất cả đạo đã tu, tất cả diệt đã chứng, như thế bốn việc đã viên mãn.

Ba đức là Phật nói chứng công đức biểu thị ra bên ngoài. Biểu thị bằng cách tuyên nói, ta sanh tử đã hết. “Thế cho nên Đức Như Lai nói pháp này như tiếng rống sư tử, y nơi liễu nghĩa chuyên ròng giảng nói”, để tổng kết ý nghĩa Như Lai trí đức cứu cánh. Đặc biệt chỉ có Phật mới khẳng định tuyên nói liễu nghĩa triệt để. A la hán tuy cũng nói như thế, nhưng kỳ thực phần ít, bất liễu nghĩa, còn cần phải giải thuyết

Trên đây rộng nói về Nhị thừa ba việc, bốn việc chưa xong. Còn Phật thì viên mãn, rốt ráo. Ở đây cốt tủy của vấn đề là đoạn hay chẳng đoạn xong vô minh trụ địa. Chẳng đoạn vô minh trụ địa thì còn biến dịch sanh tử, còn hằng sa phiền não, chẳng đủ tất cả công đức. Đoạn vô minh trụ địa thì không có biến dịch sanh tử, dứt trừ hằng hà sa phiền não, được tất cả công đức. Vô minh trụ địasở tri chướng, đối với hàng Thanh văn học giả xưng là bất nhiễm ô vô tri. Y đây mà rõ Nhị thừa chưa cứu cánh. Điều này đối với học giả Nhị thừa chơn chánh không thể không thừa nhận.

CHÁNH VĂN: 

Bạch Đức Thế Tôn! Chẳng thọ hậu hữu trí có hai thứ.

LỜI GIẢI: 

Nhị thừa còn sợ hãi sanh tử, nói tứ tríphương tiện nói, nên nay quy kết về ý nghĩa cứu cánh, tức là qui hướng Nhị thừa về Nhất thừa.

Trước kia nói trí có bốn thứ, ấy là: Sanh tử đã hết, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không còn sanh tử. Không còn sanh tử tức là chấm dứt phiền não. Hết sạch chịu nghiệp thọ sanh. Thánh giả chứng đắc thánh quả, có tự chứng “trí” biết được về sau không còn phải chịu sanh tử. Nhưng bất thọ hậu hữu trí có hai thứ: 1/ Như Lai trí, 2/ Nhị thừa trí.

CHÁNH VĂN: 

Nói Như Lai dùng vô thượng điều ngự hàng phục bốn ma, ra khỏi tất cả thế gian, là chỗ chiêm ngưỡng cho tất cả chúng sanh, được bất tư nghì pháp thân, đối với tất cả pháp vô ngại tự tại, không còn sở tác, không có sở đắc, thập lực dõng mãnh, thẳng đến bậc đệ nhất vô thượng vô úy, đắc vô ngại trí quán, chẳng thọ hậu hữu trí, như tiếng gầm sư tử.

LỜI GIẢI: 

Đây là y những điều đã nêu trước kia để giải thích. Trước nhất thuyết minh về Như Lai không thọ hậu hữu trí. “Như Lai dùng vô thượng điều ngự hàng phục tứ ma”. Điều ngự, như ngựa rừng voi núi tánh tình hung hãn, cần phải trải qua sự điều phục huấn luyện mới có thể sử dụng. Chúng sanh phiền não, tánh chất bạo ngược khó điều phục, phải lấy sự tu trì Phật pháp mới có thể hàng phục được. Trong các bậc Thánh giả điều ngự phiền não thì duy có Đức Phật là bậc điều ngự vô thượng, tự mình dứt sạch phiền não rốt ráo, ấy là tự điều phục, rồi lại hay làm Điều ngự sư giáo hoá đệ tử, ấy là tha điều ngự.

Đức Như Lai có khả năng vô thượng điều ngự phiền não, lìa tất cả lỗi lầm, nên hay hàng phục bốn ma. Những gì là bốn ma? 1/ Phiền não ma: Tức là ma trong tâm thức chúng sanh. Do ma này tung hoành làm chướng ngại tất cả pháp lành công đức. 2/ Ngũ uẩn ma: Tức là thân tâm hữu lậu của chúng sanh tạp nhiễm bất tịnh. Có thân phàm nên có đói khát, lạnh nóng bệnh đau khốn khó buộc ràng, khởi sanh các thứ phiền não. 3/ Tử ma: Tức là phát tâm tu hành chưa được là bao thì vô thường đến chặt đứt mạng sống, khiến cho pháp lành không được thành tựu. Chết là điều phiền khổ lớn cho nên gọi là ma. 4/ Thiên ma: Tức là ma ở cõi trời Tha Hoá Tự Tại. Ba loại ma trước có từ thân tâm hữu lậu của chúng sanh. Còn loại thiên ma này từ ngoại cảnh vào. Phật đoạn sạch tất cả phiền não, tức là hàng phục phiền não ma. Đắc pháp thân, tức là hàng phục uẩn ma. Thanh tịnh pháp thân vô vi thường trú, tức là hàng phục tử ma. Đắc bất động tam muội thần thông tự tại, tức là hàng phục thiên ma. Do hàng phục bốn thứ ma, nên Như Lai siêu thoát tất cả thế gian.

Tất cả chúng sanh quy y nơi Phật, lấy Phật làm điển phạm, do lòng sùng ngưỡng mà phát tâm để cầu thành đạo như Phật. Như trên đã nói, Đức Phật đã đoạn sạch phiền lụy chứng đắc giải thoát. Do dứt lìa tất cả lỗi lầm tức là đắc bất tư nghì pháp thân. Đối tất cả phiền não thiêu đốt, Phật đắc pháp tự tại vô ngại. Bởi do Đức Phật quảng đại tu hành, nên được quả thành tựu vô biên trí huệ. Như thế, tức đạt đến cứu cánh giải thoát. Tất cả công đức đều viên mãn, tất cả cảnh giới đều thông đạt, tất cả lỗi lầm đều tiêu trừ, nên không còn tạo tác hữu lậu. Thế là, Phật đã trụ nơi Phật quả vô sở đắc địa, cao tột không còn quả địa nào để chứng nữa. Đây do lìa tất cả hý luận vọng tưởng phân biệt. Khi Đức Phật sở chứng công đức thì đồng thời có đủ thập lực dõng mãnh. Những gì là thập lực dõng mãnh? Ấy là:

1) Tri giác xứ phi xứ trí lực: Tức là trí lực nhận rõ nghĩa lý chánh xác việc đúng hay không đúng. Lực là năng lực định lượng quả tốt xấu của sự việc.

2) Tri tam thế nghiệp báo trí lực: Tức là trí lực suốt biết nhơn quả nghiệp báo của chúng sanh trong suốt ba đời.

3) Tri chư thiền giải thoát tam muội trí lực: Tức là trí lực biết rõ năng lực trình độ thiền định của chúng sanh.

4) Tri chư căn thắng liệt trí lực: Tức là biết rõ căn tánh của mỗi chúng sanh.

5) Tri chủng chủng giải trí lực: Tức là biết rõ trình độ hỉểu biết, khả năng hiểu đạo của chúng sanh chánh tà như thế nào.

6) Tri chủng chủng giới trí lực: Tức là trí lực suốt biết cảnh giới chúng sanh trong mười phương các cõi, nhân quả như thế nào.

7) Trí nhứt thiết chí sở đạo trí lực: Tức là trí lực rõ biết những điều lành thiện nào sẽ đạt đến cảnh giới nào. Như hành ngũ giới thập thiện thì sẽ được cảnh nhơn thiên. Hành Bát chánh đạo thì sẽ đạt đến quả vô lậu Niết bàn. Đạo lý nhơn quả mỗi mỗi đều rõ biết.

8) Tri thiên nhãn vô ngại trí lực: Tức là trí lực thấy biết sự sanh tử nghiệp duyên thiện ác của chúng sanh từ vô thỉ đến nay không chướng ngại.

9) Tri túc mạng vô lậu trí lực: Tức là biết rõ vô lượng đời trước và biết rõ vô lậu Niết bànchúng sanh sẽ đạt đến.

10) Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực: Đối với tất cả vọng tưởng hoặc nghiệp tập khí dư thừa đều vĩnh viễn đoạn sạch như thật chơn tánh, không lại sanh khởi nữa. 

Phật đầy đủ mười trí lực công đức không việc gì mà không làm được, nên gọi là dõng mãnh công đức. Dõng mãnh công đức còn gọi là đệ nhất vô thượng vô uý địa. Đây là Niết bàn địa xa lìa nhất thiết sanh tử sợ hãi. Vô úy tức Tứ vô sở úy. Nghĩa là tự sở chứng đắc, tự thuyết pháp quyết chẳng bị người áp bức khiển trách, hay tự tín mà không có sự sợ hãi.

Từ Như Lai điều ngự vô thượng đến tất cả chúng sanh chiêm ngưỡng, ấy là đức Giải thoát của Phật nói không cùng tận. Từ nhất thiết trí giải địa đến đệ nhất vô thượng úy địa là Bát nhã đức, ấy là tỏ rõ đức tròn đầy. Trong hai điều này được bất tư nghì, ấy là Pháp thân đức. Đắc Pháp thân bất tư nghì thì không còn lầm lỗi, đức thành tựu viên mãn. Hệ lụy đã sạch, nên được Pháp thân. Pháp thân là do kết quả tu chứng tất cả công đức thành tựu. Như Lai tròn đủ ba đức, đối với trí cảnh lấy vô ngại trí để quán sát không phải do tha nhơn ngoại cảnh, mà do tự tri tự chứng. Tự chứng biết năm trụ phiền não đoạn sạch hai thứ sanh tửphần đoạn sanh tửbiến dịch sanh tử, nên hay dõng dạc thuyết pháp Sư tử hống: “Ta sanh tử đã dứt, phạm hạnh đã lập, việc làm (công hạnh) đã xong, không còn sanh tử”.

CHÁNH VĂN: 

Bạch Đức Thế Tôn! A la hán Bích chi Phật qua được sợ hãi sanh tử, thứ tự được vui giải thoát, mà nghĩ như thế này: Ta lìa sợ hãi sanh tử, không còn chịu khổ sanh tử. Bạch Đức Thế Tôn! Khi A la hán Bích chi Phật quán sát thấy không còn chịu khổ hoạn hậu hữu sanh tử, được cái vui Niết bàn.

LỜI GIẢI: 

Kinh nói A la hán Bích chi Phật chứng đắc địa không còn chịu sanh tử. Đây là đối với việc sợ phần đoạn sanh tử của A la hán Bích chi Phật mà nói. Nhị thừa theo thứ lớp tu hành được quả an vui giải thoát. Nếu y cứ kiến chứng đế mà nói thì: Trước thấy Khổ đế, thứ đến thấy Tập đế, kế nữa thấy Diệt đế, sau cùng thấy Đạo đế. Nếu bằng vào đoạn phiền não mà nói thì: Trước đoạn kiến nhứt xứ trụ địa, thứ đến đoạn dục ái trụ địa , thứ nữa đoạn sắc ái trụ địa, sau cùng đoạn hữu ái trụ địa. Nếu căn cứ theo thứ lớp chứng quả mà nói thì: Trước chứng sơ quả, kế đến chứng nhị quả, thứ nữa chứng tam quả, sau cùng chứng tứ quả. Đây là thứ lớp đoạn hoặc tu chứng của Nhị thừa, cũng là quá trình tu tập lần lượt được vui giải thoát liền khởi ý nghĩ như thế này: “Ta lìa sanh tử sợ hãi, không còn cái khổ sanh tử”. Lìa sanh tử sợ hãi tức là tâm thể hiện pháp an lạc. Không chịu khổ sanh tử nghĩa là tương lai sẽ không còn chịu quả khổ. Nhị thừa đoạn tứ trụ phiền não, chứng phần đoạn sanh tử, xác thực không còn nghiệp báo sanh tử, nhưng vẫn chưa đạt Phật địa.

CHÁNH VĂN: 

Bạch Thế Tôn! Hàng Nhị thừa trước đã chứng quả địa, chẳng ngu muội nơi pháp, chẳng do ai khác mà cũng tự biết được hữu dư địa, quyết sẽ được A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề. Vì cớ sao? Bởi Thanh văn Duyên giác thừa cũng đều nhập Đại thừa. Đại thừa tức là Phật thừa, vì thế cho nên nói tam thừa tức là Nhất thừa.

LỜI GIẢI: 

Như trước đã nói Như LaiNhị thừa đều không còn hậu hữu trí. Nhưng trí lực của Nhị thừa chẳng cứu cánh. Vì chưa cứu cánh, nên hướng nhập Đại thừa kết thành cứu cánh Nhất thừa. Nhị thừa trước khi sở đắc cảnh địa quyết chẳng chấp nơi Tiểu thừa, cự tuyệt Đại thừa. Bởi đối với Như Lai thuyết pháp chỉ lấy Phật thừa hoá độ chúng sanh, Nhị thừa không cự tuyệt, rõ ràng là đối với giáo pháp chẳng ngu. Vì vậy, A la hán, Bích chi Phật không kham nhận Đại thừa pháp, chẳng do ai khác mà chính tự biết sở tri chứng. Tự biết sở đắc vẫn là hữu dư địa. Tự biết tương lai quyết phải đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Nhị thừa tự biết hữu dư và như trên nói, Nhị thừa chẳng chịu hậu hữu trí tức là không còn phàm trí nghiệp báo. Điều này mới nghe qua tựa hồ mâu thuẩn, kỳ thật không phải vậy. Như Kinh Pháp Hoa nói Xá Lợi Phất v.v….đắc quả A la hán là do từ trước đã từng theo Phật phát tâm Bồ đề. Khi ban đầu được Phật giáo hoá phát tâm Bồ đề cầu thành Phật đạo, điều này chứng tỏ không ngu nơi pháp. Y kinh này nói thì đủ thấy rằng trước kia đã có chỗ sở đắc. Nghĩa là quá khứ từng thiết lập nhơn địa phát tâm Bồ đề theo Phật. Kinh này cũng nói: “Ba thừa sơ nghiệp (sơ phát tâm học đạo), chẳng ngu nơi pháp, đối nghĩa (Đại thừa) kia nên giác nên đắc”. Y Kinh Bát Nhã v.v…nói, trước có chỗ sở đắc tức là cảnh địa ba thừa đã chứng. Kinh nói: “Trí đức đoạn đức của A la hánBích chi Phật đều là Bồ Tát vô sanh pháp nhẫn”. Thế nên, khi luận đến những ai hay tín thọ thâm sâu Bát nhã Ba la mật tức nói kiến đế, tức là sơ quả A la hán, thì hay tin thọ. Nếu không thể tin thọ, theo Kinh Pháp Hoa nói thì đó là kẻ tăng thượng mạn, kẻ nghiệp chướng si mê sâu dày. Hậu thế, kẻ Tiểu thừa học giả phủ nhận Đại thừa, điều này đủ để chứng minh hạng người không thể thâm sâu tin thọ Bát nhã Ba la mật và không có tự chứng giác Phật cảnh. Không luận y Pháp Hoa Kinh thuyết minh quá khứ nhơn địa hay y Bát Nhã Kinh nói hiện tại chứng địa, Nhị thừa đều tự biết là chẳng cứu cánh, nếu hay tin sâu pháp môn Đại thừa thì thành Phật. Nhưng kiến đạo chứng quả trụ nơi Nhị thừa quả, tự biết chưa có thể tiến học Đại thừa, điều này cũng có vậy. Như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên v.v…ở trước pháp hội Pháp Hoa không tự biết mình đã là Bồ Tát. Trong Phật pháp có số kinh điển nói A la hán đối với pháp môn Đại thừa thành Phật cảm thấy cao diệu, rồi tự thống tiếc mình sao chỉ cầu đắc A la hán. Y Kinh Pháp Hoa nói, hễ đã phát tâm Bồ đề mà nửa chừng thối thất thì Phật liền dùng phương tiện giáo hoá nhiếp dẫn cho hạng người này. Vì vậy mà hạng người này không tự biết mình đang hành Bồ Tát đạo. Nhưng Nhị thừa chứng trí tự nghĩ rằng mình đã làm xong, đồng thời lại từ chỗ tự chứng kiến địa cảm thấy rằng mình đáng chứng quả nhất vị bình đẳng. Như Xá Lợi Phất nói: “Chúng ta đồng nhập nhất pháp tánh, tại sao Đức Như Lai lại dùng pháp Tiều thừa mà tế độ?”. Nhị thừa tự biết đồng nhập một pháp tánh, tuy không dám nói ra, nhưng trong lòng vẫn còn có cảm giác như thế. Bởi có cảm giác hiểu bíết như thế nên mới tham dự vào pháp hội Đại thừa, thậm chí còn vì Bồ Tát mà nói Bát nhã Đại thừa. Một khi Phật nói với họ: “Chỗ sở hành của các ông là Bồ Tát đạo”, thì gọi giật mình tự ngộ, xoay tâm hồi tiểu hướng đại

A la hán quả chứng đắc pháp tánh vô tam sai biệt, tại sao không cầu hướng về Đại thừa? Đây là bởi căn tánh nhàm chán sanh tử trong ba cõi, xem ba cõi như lao ngục oan gia, nên chỉ một mạch cầu giải thoát an lạc. Bởi ngoài nhàm chán sanh tử, trong cầu định tĩnh an lạc, chú trọng tu tập thiền định, đợi đến khi thâm nhập thiền định giải thoát an lạc cũng là lúc cảm thấy được an nhiên to lớn không còn ưu tư, nên không cần tiến thêm bước nữa để nhập vào Đại thừa cảnh. Đây cũng có hai hạng:1/ Hiện sanh, tức là nhơn Phật thuyết pháp mà hồi tiểu hướng đại. 2/ An vui thâm sâu thiền định mà rơi vào hầm vô vi, rồi không chuyển ra được. Trải qua thời gian từ trong lạc thú thiền định khởi xuất như người tỉnh rượu. Lúc đó, tự mình cảm thấy phiền não, nghiệp, khổ vẫn còn. Do thế, nhứt định theo Phật nghe pháp, hồi tâm hướng Đại thừa. Như Kinh Pháp Hoa nói: “Sau khi ta diệt độ, lại có hạng đệ tử không nghe kinh này, nên chẳng hay biết chỗ sở hành của Bồ Tát, rồi tự nghĩ rằng mình có công đức diệt độ, nên vào Niết bàn. Ta ở vào nước khác làm Phật, lại có tên khác. Hạng người này tuy có nảy ra ý tưởng diệt độ, nhập Niết bàn để mà ở nước kia cầu được trí huệ Phật, nghe được kinh này thì chỉ biết có Phật thừa khi được diệt độ”. Vì vậy A la hán, Bích chi Phật đời trước đã có sở đắc đều là không ngu nơi pháp. Người tu Nhị thừa rốt cùng tự mình cũng biết là hữu dư nghiệp quả

Nhị thừa tự biết chỗ sở chứng của mình chưa cứu cánh, nên cần phải tiến thêm để cầu chứng Phật quả. Vì sao lại có chuyện lạ như vậy? Bởi Thanh văn, Duyên giác thừa đều sẽ nhập Đại thừa. Như chương nhiếp thọ chánh pháp nói, Nhị thừa pháp do từ Đại thừa pháp mà sanh. Nhị thừa pháp là phần nhỏ của Đại thừa pháp, tức là nhơn địa ban đầu của Đại thừa. Vì vậy, Thanh văn, Duyên giác thừa đều hồi quy Đại thừa. Đại thừa lấy sự thành Phật làm mục đích, lấy sự chứng Phật quả mà nói, tức là Phật thừa. Như thế, tuy nói ba thừa mà kỳ thực chỉ có một thừa. Kinh Lăng Già ghi: Nói có Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát chủng tánh ba thừa. Tuy nói có ba thừa sai biệt, đó là do vì sơ họcthiết lập. Chứng nhập vô sai biệt tánh đều là vô sở đắc, tức là ba thừa, mà kỳ thực nhất thừa

CHÁNH VĂN: 

Hành giả đắc Nhất thừa, tức đắc A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề. A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề tức là cảnh giới Niết bàn. Niết bàn cảnh giới tức là pháp thân Như Lai.

LỜI GIẢI: 

Kinh điển Đại thừa bộ loại không giống nhau. Mỗi bộ loại đều có luận đề trọng tâm của nó. Kỳ thực luận đề của những kinh Đại thừa bất đồng, nhưng nếu chơn thật liễu giải nghĩa lý của nó, thì đều nhất trí giống nhau. Như Kinh Pháp Hoa chuyên nói Nhất thừa. Kinh Đại Bát Niết Bàn đặc biệt thuyết minh Niết bàn. Kinh Bát Nhã rộng nói về trí huệ Bát nhã. Kinh Hoa Nghiêm nói về pháp giới. Kinh Đại Tập nói về tam muội. Kinh Kim Cang nói về vô thượng chánh đẳng Bồ đề v.v…Nếu như học giả không ngộ lý, thể, chỉ có một mà danh xưng sai khác thì sẽ theo văn mà thiên chấp không thể nào dung hợp. Y kinh này nói, Phật pháp chỉ một thừa. Nhất thừa tức là thông Bồ đề Niết bàn v.v…Nên nói: “Đắc nhất thừa tức là đắc A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề. Đắc A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề tức là đắc Niết bàn. Đắc Niết bàn tức là Như Lai pháp thân”. Nhất thừa, Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Niết bàn, Như Lai pháp thân, nội dung của bốn danh xưng này là một lý thể. Luận Đại Trí Độ khi nói về La Hầu La Bạt Đà La làm kệ tán Bát nhã cũng nói: “Bát nhã thì nhất pháp, tùy cơ lập khác tên”. Y nghĩa này, Thiên Thai Tông khi nêu thể của ngũ trùng huyền nghĩa tất phải lấy luận đề trọng yếu của kinh này làm thể mới hội thông với những luận đề khác, ấy là khác tên mà đồng thể. Nhưng thể tuy một mà diễn nghĩa có chỗ bất đồng. Vì vậy dẫn đến văn tự bất đồng. Như Nhất thừaước định duy nhất vô nhị, đó là đứng về ý nghĩa chuyển cận thành Phật mà nói. A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề là chỉ trí đức của Như Lai mà nói. Niết bàn chỉ đoạn đức của Như Lai. Pháp thân là chỉ về thanh tịnh công đức sở hiển của Như Lai. Tùy danh xưng khác nên mang ý nghĩa khác, kỳ thực những đức tánh này thảy đều thể nhiếp viên dung.

CHÁNH VĂN: 

Đắc cứu cánh Pháp thân tức là cứu cánh Nhất thừa, Như Laipháp thân không khác. Như Lai tức pháp thân. Đắc cứu cánh Pháp thân cũng là đắc cứu cánh Nhất thừa. Cứu cánh nghĩa là vô biên bất đoạn

LỜI GIẢI: 

Như trên đã nói Nhất thừa tức là vô thượng Bồ đề. Niết bàn tức là Như Lai pháp thân. Nay nói Pháp thânNhất thừa không những là một mà còn có nghĩa cứu cánh nữa. Nếu đứng về Pháp thân mà nói thì tất cả chúng sanh vốn có đầy đủ, nhưng chưa hiển bày đầy đủ. Pháp thân của Như Lai gọi là cứu cánh pháp thân, lấy vô biên công đức trang nghiêm. Nên nói: “Đắc cứu cánh pháp thân”. Cứu cánh pháp thân tức là đứng về quả đức mà nói, nên cũng là cứu cánh Nhất thừa. Nhất thừa cũng là duy nhất Phật quả.

Đại thừa trọng nơi nhân hạnh Bồ Tát. Nhất thừa trọng nơi cứu cánh quả đức của Phật. Như Kinh Pháp Hoa nói: “Phật tự trụ Đại thừa, định huệ lực trang nghiêm, dùng đây độ chúng sanh”. Tức là Đại thừaNhất thừa đồng nhất, là Phật đức vậy. Tiếp đây nói về Pháp thân cứu cánh giải thoát. Pháp thân chẳng khác Như Lai. Kinh Kim Cang nói: “Như Lai tức là nghĩa chân như chân thật của các pháp”. Như LaiPháp thân không hai không khác. Tất cả chúng sanh vốn đủ Pháp thân, tự thể chân như cứu cánh hay hiển bày Pháp thân, nên nói Như Lai tức là pháp thân. Thế nên, cứu cánh Pháp thân tức là cứu cánh Nhất thừa. Tại sao gọi là cứu cánh? Cứu cánh có nghĩa là vô biên bất đoạn, rốt ráo thanh tịnh, thường trụ vô tận. Đứng về thời gian mà nói thì suốt cùng ba đời. Vô biên, nghĩa là khắp cùng không biên giới, không có giới hạn. Nếu đứng về không gian mà nói thì khắp cùng mười phương, quán triệt thuỷ chung trong ngoài, vô thỉ vô chung không giữa, không bên này bên kia, ấy là ý nghĩa của cứu cánh. Kinh Đại thừa nói về Niết bàn, Pháp thân, Bát nhã v.v….đều mang ý nghĩa tận hư không biến pháp giới, suốt cùng vị lai. Tuyệt đối không có tương đối, đây mới là đạt đến cảnh giới của ý nghĩa cứu cánh viên mãn.

Trên kia nói Nhị thừasợ hãi sanh tử. Ở đây sẽ nói đến Như Lai thường trú quy y. Quy y Tam Bảo mọi người đều biết. Nhưng cứu cánh của ý nghĩa quy y, ở đây cần nên giản trạch tích giải. Chúng sanh hữu tình sở dĩ cầu quy y là do trong lòng có nỗi lo sợ không đạt đến chỗ cứu cánh an ổn. Thế cho nên nơi quy y đương nhiên phải là nơi cứu cánh. Trong Phật Pháp Tăng Tam Bảo, Tăng là đại chúng xuất gia học Phật. Pháp là lời dạy của Phật, đại chúng y vào đạo lý đó mà phụng hành. Những người tu học còn có hữu lậu, nghĩa là còn có sợ sệt. Pháp cũng có hữu lậu pháp, chưa cứu cánh pháp, như thế thì làm sao có thể quy y? Vì vậy, không luận là Đại thừa hay Tiểu thừa, người học Phật mỗi mỗi đều phải cẩn trọng chọn lựa. Có những Thanh văn học giả nói: Quy y Phậtquy y công đức vô lậu của Phật. Quy y Tăngquy y công đức vô lậu của các bậc Tăng già hữu học vô học. Quy y Pháp tức là Niết bàn, Pháp giải thoát Niết bàn, là chỗ đáng quy y. Về điểm này, kinh đây nói không hoàn toàn giống như vậy. Pháp là chỉ cho đạo hướng đến Niết bàn. Đạo là pháp hữu vi, pháp sanh. Tăng là chúng của ba thừa (Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát) chưa cứu cánh thành Phật. Như thế thì làm sao có thể quy y? Chỉ có Phật chứng đắc cứu cánh Niết bàn mới là chỗ chơn chánh quy y. Nhưng sự thật không Tăng thì không thể duy trì Phật pháp. Chỉ điều quan trọng là chánh tín chọn chân tăng, hướng tâm Đại thừa để quy y. Nhưng kinh này đặc biệt xiển dương công đức Phật quả, lấy diệt làm đệ nhất nghĩa diệt, thuộc sở chứng sở hiển của Đức Như Lai, nên nói chỉ có Như Lai mới là nơi quy y. Đây là điểm khác biệt của Kinh Thắng Man. 

CHÁNH VĂN: 

Bạch Đức Thế Tôn! Như Lai thường trụ không có giới hạn thời gian. Như Lai ứng đẳng chánh giác trụ suốt khắp đời sau. Như Lai đại bi vô lượng, an ủi thế gian không lường. Bởi đại bi vô lượng an ủi thế gian không lường, nói như thế mới là khéo nói rõ nghĩa Như Lai. Nếu lại nói rằng: Vô tận pháp, thường trụ pháp là chỗ quy y của tất cả thế gian, như thế cũng gọi là khéo nói rõ nghĩa Như Lai. Thế cho nên đối với thế gian chưa độ, thế gian chưa quy y không cùng tận, chỗ thường trụ quy y, như thế mới gọi là Như Lai ứng đẳng chánh giác.

LỜI GIẢI: 

Như trên đã nói, Như Laicứu cánh vô biên bất đoạn, nên Như Lai không còn hạn độ quá khứ hiện tại vị lai. Nghĩa là chỗ cứu cánh của Như Lai không còn biên giới thời gian không gian. Như Lai không giới hạn thời gian không gian, nên gọi là thường trụ. Như Lai ứng đẳng chánh giác lại là hậu tế đẳng trụ, tức là trụ suốt đời vị lai. Nên Kinh Pháp Hoa nói: “Như Lai thọ lượng như vi trần không thể hết, thọ mạng vô lượng a tăng kỳ kiếp thường trụ bất diệt”. Hoặc cho rằng, Phật nhập Niết bàn tức là dứt sự hiện hành hoá độthế gian. Đại thừa nói, thành Phật chứng đại Niết bàn, như thế có nghĩa là thường tại tận suốt đời vị lai. Thường trú có nghĩa là siêu việt thời gian tánh. Nhưng khi khởi dụng trong thời gian thì vô tận tức hằng thường. Đồng thời, Như Lai đại bi tâm vô hạn không phải là cho riêng một thế giới nào, một loại hữu tình chúng sanh nào, mà là đối với tất cả chúng sanh khởi đại bi tâm. Bi là tâm hạnh cứu khổ. Nội tại có vô hạn đại bi tâm, nên biểu hiện ra ngoài. Nghĩa là bi tâm không có hạn lượng an ủi chúng sanh không phân biệt, đây tức là bi tâm bi hạnh vô hạn. Trên đây là trực minh Như Lai chơn tướng. Vì vậy nói vô hạn đại bi hay vô hạn an ủi thời gian. Lại có người nói như thế này: Vô tận pháp suốt đời vị lai, thường trụ pháp vượt ngoài thời hạn, hay làm chỗ quy y cho tất cả thế gian, không trực tiếp nói là Như Laithực ra khéo diễn đạt về Như Lai. Thế cho nên đối với thế gian chưa độ chưa giải thoát không chỗ nương tựa, không được hộ trì thì Như Lai chánh chơn là nơi nương tựa hộ trì, hay đối với hết thảy đời sau, làm chỗ quy y không cùng, thường trú quy y. Như thế là Như Lai ứng đẳng chánh giác. Công đức Phật quả không thuộc Đạo đếDiệt đế thường trụ Niết bàn. Nghĩa là tất cả đức dụngsở hữu của Diệt đế, Như Lai hàm hữu tất cả thể dụng thường trụ vô lậu vô vi. Do đó chỉ Phật mới là chân thật quy y xứ.

CHÁNH VĂN: 

Pháp tức là nói đạo Nhất thừa. Tăng là nói chúng của ba thừa. Quy y hai thứ này chưa phải là cứu cánh quy y mà gọi là thiểu phần quy y. Vì sao? Bởi vì nói đạo pháp Nhất thừa, được Pháp thân cứu cánh. Còn nói thiểu phần trên kia thì không nói việc Nhất thừa pháp. Chúng của ba thừa còn có tâm sợ sệt, quy y Như Lai, cầu xuất tu học hướng đến A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề , tức là hướng đến vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thế cho nên nhị quy y (Pháp, Tăng) chưa phải là cứu cánh quy y, mà là giới hạn quy y . Chỉ có tam quy y mới là viên mãn quy y, vô hạn độ quy y.

LỜI GIẢI: 

Pháp, Tăng có phải là chỗ để quy y không? Vậy thực sự Pháp và Tăng là gì? Pháp tức là đạo Nhất thừa Phật nói ra. Pháp là phương pháp tu hành Phật giảng bày, là Đạo đế. Mục đích Phật nói đạo pháp là để “khai thị ngộ nhập tri kiến của Phật” để thành Phật chứng đại Niết bàn, nên gọi là đạo Nhất thừa. Tuy có lúc Phật nói tam thừa, nhưng đây chỉ là phương tiện mà nói, thực tế chỉ có một đạo Nhất thừa. Nên kinh nói: “Chỗ sở hành của các ông là Bồ Tát đạo”. Tăng là đại chúng của ba thừa. Phật vì thích ứng thế gian sơ cơ mà nói pháp ba thừa. Y Phật pháp xuất gia tu hànhba thừa chúng là Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát. Tăng có nghĩa là hoà hợp, tức là học chúng của ba thừa hoà hợp sống chung, đồng lấy việc tu chứng nhập Niết bàn làm lý tưởngmục đích. Nếu chỉ quy y Pháp và Tăng thì chỉ chưa phải là cứu cánh quy y, mà thiếu đi hết một, ấy là Phật bảo. Nếu chỉ quy y Pháp, Tăng hoặc quy y Phật, Pháp ấy là tương đối, là phiến diện quy y, chưa phải là tuyệt đối viên mãn quy y. Vì sao? Bởi vì Phật nói đạo pháp Nhất thừa quan trọng là thực hành cái nhơn, nhơn trọn vẹn thì mới đạt mục đích cứu cánh Pháp thân. Đối với việc chứng cứu cánh Pháp thân mà không từ nơi Nhất thừa pháp, thì chẳng khác nào như qua sông mà không cần thuyền. Nhưng thuyền chẳng phải là mục đích, nên đến bên kia bờ thì không dùng thuyền nữa. Vì vậy nên nói: “Qua sông dùng phà, đến bờ không dùng nữa”. Đạo Nhất thừa là phương tiện chứ chẳng phải là mục đích cứu cánh. Vì vậy mới nói quy y Pháp chẳng phải là chỗ cứu cánh quy y. Thánh chúng của ba thừa tuy nói là đắc đạo giải thoát, nhưng còn có tâm sợ, còn phải quy y Như Lai, cần được rốt ráo ra khỏi sanh tử, còn tu học Nhất thừa đạo hướng đến A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề. Chúng của ba thừa xả thân y pháp tu học theo Phật. Người học Phật cần phải có thầy hiền bạn tốt là nơi nên quy y. Kinh nói: “Quy y Tăng, Tăng như người hộ bịnh”. Cứ theo nghĩa này thì nếu người chỉ quy y Tăng, hoặc quy y Tăngquy y Pháp mà không quy y Phật, thì chẳng khác nào đỉnh hai chân sẽ bị lật ngã, đều không hợp với thường trú vô tận, chưa phải là nghĩa vô hạn đại bi an trú.

CHÁNH VĂN: 

Nếu có chúng sanh được Như Lai điều phục, quy y Như Lai, được thấm nhuần giáo pháp, sanh hoan hỷ tín tâm quy y Pháp Tăng, thì chính là quy y Như Lai.

LỜI GIẢI: 

Đứng về cứu cánh đệ nhất nghĩa đế thì tam quy y cũng là Nhất quy y. Nếu có chúng sanh nhân nơi Như Lai thần thông diệu dụng, nghe Như Lai giáo hoá, đối Phật khởi tâm cung kính không sanh ngã mạn cố chấp, thì gọi đó là điều phục. Nhưng chúng sanh được điều phục quy y Như Lai, nghe Phật thuyết pháp, được tân trạch Phật pháp, cũng như bình sành nứt bể, dầu từ lằn nứt rịn thấm ra ngoài, gọi đó là tân trạch. Được tân trạch Phật pháp nghĩa là thấm nhuần pháp nhủ từ Phật, được pháp vị của Phật. Do được pháp vị của Phật, nên sanh khởi tâm vui tín ngưỡng ái mộ. Vì vậykhởi tâm quy y nơi Pháp và quy y nơi Tăng. Nghĩa là căn bản từ Như Lai. Cứ như nghĩa đây rõ ràng quy y Pháp Tăng mà kỳ thật là quy y Phật. Nếu như có người nói chỉ quy y Phật thôi thì rơi vào thiên chấp. Như nói chỉ quy y Phật Pháp thôi thì rơi vào khinh Tăng, mắc tội nghi mạn Tam Bảo, chưa phải là người chơn tâm diệt chấp ngã. Ngã chấp đã không đoạn thì pháp chấp kiếp nào mới trừ? Đó là hạng người ngoại đạo, muôn kiếp vẫn đứng ngoài rào của nhà chánh pháp. Chánh pháp đã không vào thì làm sao chứng được đạo quả? Dù họ có hành trì kinh cũng chỉ hưởng được phước nhỏ hữu lậu. Nếu không khéo lại rơi vào thế giới của ma nghi mạn.

CHÁNH VĂN: 

Quy y đệ nhất nghĩaquy y Như Lai, Nhị quy y này cũng là đệ Nhất nghĩa, cũng tức là cứu cánh quy y Như Lai. Vì sao? Bởi vì nhị quy y không khác với quy y Như Lai. Đã không khác nhị quy y thì Như Lai tức là tam quy y.

LỜI GIẢI: 

Thế thì Pháp và Tăng đều là chỗ đáng quy y. Tuy chẳng phải tuyệt đối, nhưng là chỗ đáng quy y. Bởi vì quy y tối thắng đệ nhất nghĩa đế tức là quy y Như Lai, quy y thường trú đại bi Như Lai, chớ chẳng phải quy y hoá tướng hiện sanh hiện diệt của Như Lai. Đệ nhất nghĩa đế là chỉ chơn thể bất khả tư nghì vi diệu thường trú Như Lai.v.v…, với ý nghĩa này thì không phải là quy y cái thân bằng da thịt thế gian của Như Lai.

Nếu đứng từ Như Lai, tức là đệ nhất nghĩa mà nói, thì Pháp và Tăng là đệ nhứt nghĩa đế nhị quy, cũng tức là cứu cánh quy y Như Lai. Nếu cứ vào tục tướng mà nói thì, chúng ba thừa còn sợ hãi, chẳng phải cứu cánh quy y. Nhưng đứng về đệ nhất nghĩa mà nói thì chúng tam thừa đồng có tàng tánh Như Lai, cùng với Như Lai không khác. Nhất thừa đạo pháp cũng giống như thế. Nghĩa là các pháp không lìa pháp tánh, không lìa đệ nhất nghĩa Như Lai tàng tánh. Từ đây, chúng ta có thể thấy nhị quy y Pháp và Tăng cũng là quy y đệ nhất nghĩa, tức là quy y Như Lai. Bởi Pháp và Tăng cũng là chơn nghĩa quy y.

Như Laithể hiện cho thành tựu đệ nhất nghĩa. Đạo pháp bất ly đệ nhất nghĩa. Hành giả hành đạo pháp là còn trong quá trình tu hành để đạt đến chứng đệ nhất nghĩa Như Lai tàng tánh. Như vàng khoáng có phải là vàng không? Đúng là vàng. Nhưng hình tướng của nó chưa được đãi lọc nung luyện đó thôi. Nếu trải qua đãi lọc nung luyện thành vàng ròng nguyên chất. Vậy thì chánh pháp chân Tăng nào có khác? Bởi lẽ này mà đây nói đệ nhất nghĩa, Pháp và Tăng cũng là chỗ quy y, vì không lìa đệ nhất nghĩa. Nghĩa là đồng tánh bình đẳng với Như Lai. Nói thế có nghĩa là quy y đệ nhất nghĩaquy y Pháp và Tăng. Pháp, Tăng với Như Lai bình đẳng tánh. Nên quy y Pháp, Tăng là quy y Như Lai đệ nhất nghĩa, là quy y Tam Bảo.

Y luận giải mà bình tâm đây suy nghiệm đủ rõ, quy y Phật Pháp Tăng Tam Bảo, đích thực là quy y tự tánh của mình, tức là chúng sanh quy y tự tánh chúng sanh. Ý nghĩa thâm diệu của Phật pháp không giống với ngoại đạo cũng chính điểm này. Ngoại đạo thì cần phải quy y một vị thần ngoại tại. Trong khi đó, Phật pháp nói quy y Tam Bảo hoặc quy y Như Lai cũng tức là tự quy y với chính bản tâm sẳn có của mình đầy đủ Như Lai tạng tánh. Đây mới đích thực là chỗ chơn chánh quy y, là chỗ trở về nương tựa, là hồi quang phản chiếu. Người y giáo pháp, theo như đời sống của Phật mà tu hành là Tăng. Lời Phật dạy là Pháp. Tu hành thành tựu viên mãn là Phật. Đây là ý nghĩa tất cả chúng sanh đầy đủ Như Lai tạng tánh. Quy y Tam Bảo có nghĩa là quay lại y nơi tàng tánh của mình là đủ, mà còn phải làm cho tàng tánh hiển bày đạt đến cứu cánh. Nói cách khác, quy y Tam Bảo là lấy đức tướng của Phật đối chiếu thân tướng mình, lấy lời Phật dạy soi sáng tâm mình, lấy Tăng làm mô phạm cho hành vi cử chỉ của mình. Đức tướng của Phật trang nghiêm, đối chiếu thân tướng của mình xét thử như thế nào? Pháp của Phật từ bi hỷ xả, bình đẳng giải thoát phản chiếu lại tâm pháp của ta đã thể hiện chưa? Tăng cắt ái từ thân, ly trần đoạn dục, liên tục tu hành ngày đêm thời khắc, hiến trọn đời phụng sự cho đạo và chúng sanh, hy sinh cho đại nghĩa, đối lại với mình đã có hành vi tâm niệm thoát tục nào chưa? Từ đó, phát nguyện đoạn phàm tâm tục hạnh để quy y Tam Bảo, như thế mới là ý nghĩa quy y.

CHÁNH VĂN: 

Vì sao? Vì nói đạo Nhất thừa, Như Lai thành tựu bốn vô úy, nên nói pháp âm như sư tử rống. Nếu Như Lai không tùy thuận chỗ sở thích của chúng sanh lại không phương tiện nói, tức là Đại thừa không có tam thừa. Tam thừa cũng là để đưa về Nhất thừa. Nhất thừa tức là đệ nhất nghĩa đế.

LỜI GIẢI: 

Như trên đã nói, khi quy y là hướng đến Nhất thừa, phương tiện hiển bày tam thừa để hội nhập Nhất thừa. Vì nguyên nhân nào mà Phật nói Nhất thừa? Cứ vào giáo nghĩa Nhất thừa mà nói thì đây là Như Lai thành tựu bốn vô úy, nên nói pháp như sư tử rống. Tiếng rống sư tử oai phong lẫm liệt khiến các loài thú khác kiêng nể. Đây là tiêu biểu pháp liễu nghĩa, tức là pháp môn chơn thật khế lý. Như Lai tùy thuận tâm tánh ước muốn của chúng sanhphương tiện thiện xảo pháp môn. Phật pháp không chỉ cần khế lý mà cần cả khế cơ nữa. Bởi lý do này, nên Nhất thừa Phật pháp vốn là cứu cánh. Nhưng vì chúng sanh không có khả năng tiếp thọ, nên không thể tuyên thuyết Nhất thừa ngay trong buổi đầu. Vì vậy, Như Lai không thể không vì hiển thực mà quyền nói tam thừa. Khi tam thừa học giả căn tánh có thể lãnh hội hướng thượng thì Như Lai mới xứng cơ nói Nhất thừa. Nói pháp Nhất thừatiêu biểu tiếng sư tử rống. Kinh này tên là “Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện” hàm hữu ý nghĩa khế lý khế cơ Nhất thừa giáo. Nếu đứng về nghĩa Nhất thừa mà nói thì Nhất thừa tức là Đại thừa, không có tam thừa. Như Kinh Pháp Hoa nói khi ông Trưởng giả muốn dẫn dụ các con ra khỏi nhà lửa, ông bảo với chúng có ba thứ xe tùy thích lựa lấy, đợi đến khi chúng sanh ra khỏi nhà lửa rồi thì chỉ có một thứ xe là Đại Bạch Ngưu Xa. Tam thừa từ Đại thừa xuất sanh, nên lại hội nhập vào Nhất thừa. Ở đây nói Nhất thừa tức là đệ Nhất nghĩa thừa, là Pháp thân Như Lai tàng thường đức thậm thâm vi diệu không thể nghĩ bàn. Trên đây là thuyết minh về nghĩa Nhị thừa còn có sợ hãi. Như Lai là chỗ chúng sanh quy y. Cứu cánh Phật pháp là Nhất thừa đạo quả. 

CHÁNH VĂN: 

Bạch Đức Thế Tôn! Thanh văn, Duyên giác khi mới quán thánh đế dùng đệ nhất thánh trí đoạn các trụ địa, dùng đệ nhất thánh trí đoạn tứ trụ phiền não, tri công đức tác chứng, cũng khéo biết nghĩa bốn pháp này. Bạch Đức Thế Tôn! Không có bậc thượng thượng trí xuất thế gian, thì bốn trí tiệm đến và bốn duyên tiệm đến, không có pháp tiệm đến, ấy là bậc thượng thượng trí xuất thế gian.

LỜI GIẢI: 

Cảnh trí của Như Lai tức là quả đức của Như Lai trọng nơi trí huệ và đế lý để luận cứu. Trí huệ Như Lai chứng ngộ đế lý Thanh văn, Duyên giác. Để rõ điều này, trước khi lược nói về thánh trí, thì trước nên nói về thượng thượng trí.

“Thanh văn Duyên giác khi mới quán thánh đế” . Thánh đế tức là Thánh nhơn đã được thành tựuchân thật các pháp còn gọi là đệ nhất nghĩa đế. Đế nghĩa là như thật, không điên đảo sai lầm. Nói dễ hiểu, đế là chân lý muôn đời. Thanh văn Duyên giác lúc ban sơ quán thánh đế. Sơ quán tức là sơ khởi, lần đầu tiên dùng trí quán thánh đế không đồng với loại quán thánh đế trí thứ hai của Như Lai. Trí năng Thanh văn Duyên giác quán thánh đế là loại thánh trí thứ nhất đoạn các trụ địa, mà đích thực là đoạn tứ trụ địa. Lại dùng đệ nhất trí để làm xong bốn việc đoạn Tập, biết Khổ, tu Đạo và chứng Niết bàn. Đệ nhất trí Thanh văn Duyên giác cũng rõ biết pháp nghĩa của bốn đế này. Nhưng đây chẳng qua là thánh đế trí của Thanh văn, Duyên giác đoạn tứ trụ phiền não, đối tứ đế có thể khéo biết, đoạn chứng, tu mà thôi, chứ không phải là đạt đến cứu cánh cảnh giới thánh quả. Bởi vì Nhị thừa ban sơ chưa vận dụng được đệ nhị loại xuất thế gian thượng thượng trí. Xuất thế gian trí là chỉ chung cho cả Thanh vănDuyên giác. Còn xuất thế gian thượng thượng tríNhư Lai trí. Vì vậy nói trí của Thanh văn, Duyên giác là “bốn trí tiệm đến”. Nghĩa là thứ lớp trước biết Khổ đế, kế đến biết Tập đế, rồi tới biết Diệt đế, sau cùng là biết Đạo đế. Lại “bốn duyên tiệm đến”, nghĩa là trước duyên nơi khổ mà biết khổ, rồi tiếp theo diệt, đạo đế. Thanh văn, Duyên giác không luận đoạn phiền não, sanh trí huệ, chứng đế lý thế nào nhưng cũng đều là phương pháp tiệm. Nghĩa là hành giả tu theo phương pháp dần dần tiến bước theo thứ lớp, quán đế này đến đế khác, do đó chứng quả cũng thứ lớp. Vì vậy, không phải là xuất thế gian thượng thượng trí, tức là không có trí vô thượng tuyệt đỉnh xuất thế gian. Như Lai sở đắc xuất thế gian thượng thượng trí, không luận là đoạn phiền não, sanh trí huệ, chứng đế lý như thế nào cũng đều là “không có pháp tiệm đến”. Nói cách khác là đốn chứng đế lý, tức là đốn sanh Phật trí, đốn chứng đế lý, đốn đoạn vô minh trụ địa phiền não. Phật là đốn trí chứng chứ không phải theo thứ lớp, nên gọi là xuất thế gian thượng thượng trí.

Tiệm đoạn phiền não thì tiệm chứng chân lý. Đốn đoạn phiền não thì đốn chứng Niết Bàn. Đây là vấn đề lớn và quan trọng trong Phật pháp. Trong các học phái Tiểu thừa như thuyết Nhất Thiết Hữu, Kinh Bộ, Độc Tử Bộ v.v…đều chủ trương tiệm kiến tứ đế, tiệm chứng đạo quả. Còn đại chúng, phân biệt thuyết hệ như Pháp Tạng Bộ v.v…thì chủ trương đốn chứng diệt đế, đốn chứng chơn lý. Nếu đứng về đốn kiến mà nói thì hành giả sơ học tuy đối với khổ tập, diệt độ thứ lớp tu tập tiệm quán, nhưng luận đến chơn trí kiến lý thì đây tất nhiên là đốn quán. Chẳng kiến đế thì thôi, mà khi chứng đạt kiến đế thì liền đốn nhập tứ đế. Đại thừa lấy bình đẳng pháp tánh làm đệ nhất nghĩa đế, nên lý tất đốn ngộ. Kinh này nói tiệm là thuộc pháp Thanh văn Duyên giác, đốn là thuộc Như Lai pháp. Do sự khác biệt giữa đốn và tiệm đưa đến quá trình tu hành chứng quả của Tiểu thừaĐại thừa bất đồng. Tóm lại, cốt tủy ý nghĩa Tiểu thừaĐại thừa là cứ vào lý chứng đốn và tiệm.

CHÁNH VĂN: 

Bạch Đức Thế Tôn! Kim cang là dụ cho đệ nhất nghĩa trí. Bạch Đức Thế Tôn! Nếu Thanh văn, Duyên giác đoạn vô minh trụ địa thì sơ thánh đế trí tức là đệ nhất nghĩa trí. Bạch Đức Thế Tôn! Dùng vô nhị thánh đế trí đoạn các trụ địa! Bạch Đức Thế Tôn! Như Lai đúng là bậc Chánh đẳng Chánh giác, chẳng phải là cảnh giới của tất cả Thanh văn, Duyên giác, bất tư nghì không trí, đoạn nhất thiết phiền não tạng. Bạch Đức Thế Tôn! Nếu tất cả phiền não tạng hoại diệt đắc cứu cánh trí thì gọi là đệ nhất nghĩa trí. Sơ thánh đế trí chẳng phải là cứu cánh trí mà còn hướng lên A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề trí.

LỜI GIẢI: 

Xuất thế gian thượng thượng trí tức là đệ nhất nghĩa trí. Kim cang dụ cho định, còn dụ cho trí đứcđệ nhất nghĩa trí. Kim cang dụ cho trí huệ hay phá tất cả phiền não, đoạn sạch tất cả vô minh. Kim cang vốn là dụ chung tam thừa. Như một niệm khởi lên trước khi chứng A la hán thì gọi đó là Kim cang dụ định hay còn gọi là Kim cang dụ trí, tức đoạn phiền não chứng quả vô học. Nhưng nếu căn cứ vào ý nghĩa thâm sâu Kim cang dụ cho trí phá hết tất cả phiền não mà nói thì, Thanh văn Duyên giác không xứng hợp với Kim cang trí. Kim cang dụ trí với ý nghĩa tâm sau cùng (hậu tâm đắc) của đẳng giác. Hậu tâm đắc đoạn sạch tất cả phiền não, dẫn khởi Phật trí.

Vì vậy nói: “Thanh văn, Duyên giác đoạn vô minh trụ địa sơ thánh nghĩa tríđệ nhất nghĩa trí”. Nghĩa là nói sơ thánh đế trí của Thanh văn, Duyên giác chỉ đoạn tứ trụ địa phiền não mà không thể đoạn sạch vô minh trụ địa. Vì vậy không thể gọi Nhị thừa trí là Kim cang dụ trí. Thanh văn, Duyên giác sở dĩ không thể xứng hợp với đệ nhất nghĩa trí theo đúng nghĩa Đại thừa. Bởi vì không có đệ nhị thánh đế trí hay còn gọi là đệ nhất nghĩa trí, là chỉ Như Lai ứng đẳng chánh giác đã thành tựu viên mãn, chẳng phải là cảnh giới của Thanh văn, Duyên giác đạt đến.

Như Lai viên thành bất tư nghì không trí, tức là Phật trí bất khả tư nghì. Trí này không phải phàm phu, nhị thừa, thập địa cho đến tối hậu thân Bồ Tát có thể nghĩ bàn được. Không trí tức là Bát Nhã thông đạt nhứt thiết pháp tánh không. Chỉ có Phật mới hay cứu cánh thông đạt. Không trí cùng với ý nghĩa Kinh Bát Nhã tương đồng, nhưng khi giải thích thì ít nhiều có chỗ bất đồng. Nhị thừa chẳng đạt pháp tánh không. Điều này chẳng đồng với giáo pháp của Bát Nhã nói tam thừa cùng chứng pháp không. Các nhà Duy Thức Học cũng nói hành giả Nhị thừa chưa đoạn sở tri chướng, vì vậy không thể không đạt nhất thiết viên thành thật tánh pháp không. Kinh này nói cùng với tư tưởng Duy Tâm Luận tương đồng. Bất tư nghì không trí của Phật đoạn tất cả phiền não tàng. Tàng có nghĩa tích lũy chứa nhóm, cũng như kho chứa. Tàng còn có nghĩa là ẩn tàng. Vô minh trụ địa chứa nhóm rất nhiều, sanh khởi tất cả phiền não thô tế, nên gọi là nhất thiết phiền não tàng. Nếu cứu cánh trí tiêu hoại cả phiền não tàng thì gọi đó là đệ nhất nghĩa trí, tức là Phật trí. Thanh văn, Duyên giác không có loại trí này, nên không thể tiêu hoại được nhất thiết phiền não tàng. 

Trên đây là thuyết minh về thượng thượng trí xuất thế gian để nói lên ý nghĩa đốn tiệm hữu dư vô dư Niết bàn. Thanh văn, Duyên giác trí tiệm đắc chứ chẳng phải là trí đốn đắc, phần đoạn chứ không phải là cứu cánh, nên nói là “sơ thánh đế trí, thì không phải là cứu cánh trí”, vì vậy chỉ có thể nói sơ thánh đế trí là “hướng A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề trí”. Đây chẳng qua thuyết minh quá trình của sự lập nhơn trí hướng thượng Bồ đề, chứ không phải là luận giải quả trí cứu cánh. Kinh Bát Nhã cũng nói: “Do một niệm tương ưng diệu huệ đoạn nhứt thiết phiền não tập khí mà thành Phật”, tức là căn cứ vào nhơn cứu cánh mà nói.

CHÁNH VĂN:

Bạch Đức Thế Tôn! Nghĩa của danh từ Thánh chẳng phải chỉ cho tất cả Thanh văn Duyên giác. Thanh văn Duyên giác thành tựu hữu lượng công đức. Thanh văn Duyên giác thành tựu thiểu phần công đức. Vì thế, nên gọi là thánh. Thánh đế thì chẳng phải là Thanh văn Duyên giác đế, cũng chẳng phải Thanh văn Duyên giác công đức. Bạch Đức Thế Tôn! Đế này là giác tri sơ thỉ của Như Lai khi chứng đẳng chánh giác, rồi sau đó vì thế gian vô minh tàng chứa sâu dày vi tế mà khai hiện diễn nói thế nên gọi là Thánh đế.

LỜI GIẢI: 

Thuyết minh Thánh đế, trước tiên tưởng nên giải nói nghĩa của chữ Thánh. Thánh tiếng Phạn là Ãrya, có nghĩa là chơn chánh, chánh trực đạt đến công đức cứu cánh. Tức là hay chứng thấy chánh pháp, đắc chánh tánh đích thực, gọi là Thánh. Thánh còn có nghĩa là cứu cánh viên mãn. Không cứu cánh viên mãn thì không xứng hợp với thánh, không thể gọi là Thánh. Từ ý nghĩa này, nên “chẳng phải tất cả Thanh văn, Duyên giác có thể được xưng là Thánh”. Bởi vì “Thanh văn, Duyên giác thành tựu hữu lượng công đức, thiểu phần công đức, chẳng cứu cánh, chẳng viên mãn”. Kinh A Hàm v.v….cũng xưng Thanh văn, Duyên giác là Thánh. Nhưng đây chỉ là y cứ thành tựu công đức thiểu phần hữu lượng mà nói “nên gọi là vô Thánh”. Chứ không phải là Thánh. Nếu cứ vào cứu cánh viên mãn công đức mà nói thì chỉ có Phật mới xứng đáng gọi là Thánh. Có nghĩa là Thánh nhơn đã thành tựu công đức. Thánh nhơn đã tuyên nói chánh pháp công đức nên gọi là Thánh.

Như thế, luận đến nghĩa rốt ráo của thánh đế “thì chẳng phải là Thanh văn, Duyên giác đế”. Từ ý nghĩa này, dù là Thanh văn, Duyên giác chưa thành thành tựu, cũng chẳng phải là “Thanh văn, Duyên giác công đức”, thì cũng chưa đạt toàn triệt thánh đế. Thánh đế cứu cánh như thật chỉ “Như Lai ứng đẳng chánh giác khi mới giác tri”, tức là chỉ Phật với Phật mới có thể gọi là cứu cánh. “Mới giác tri” như Kinh Niết Bàn nói: “Thế gian đều bị che lấp trong vô minh, không có trí huệ nào có thể phá được, chỉ có Như Lai mới có thể phá được, thế nên gọi là tối đại giác”. Phật viên mãn chứng giác “rồi sau mới vì thế gian bị vô minh che lấphiển bày diễn nói”. Chúng sanh thế gian đều ở trong vỏ vô minh. Chúng sanh hữu tình nằm trong trứng, vỏ trứng bao kín không nhìn thấy sự vật bên ngoài. Cũng vậy, chúng sanh bị bao kín trong vỏ vô minh không trí huệ, không nhìn thấy chân lý vạn pháp, không thể chứng Vô thượng giác. Chúng sanh trong trứng, nếu không phá được vỏ trứng thì không thể trưởng thành, không thể nhìn thấy vẻ đẹp muôn hình muôn thể của vạn vật, không thể thong dong tự tại, không thấy được bao la của vũ trụ. Chúng sanh thế gian không phá được vỏ vô minh thì không thể thấy được chân tướng các pháp, không thể đạt được Pháp thân, không thể tự tại giải thoát, Đức Phật phá vỡ vỏ vô minh đắc đạt trí huệ, đắc đại tự tại, mới vì chúng sanh bị che lấp trong vỏ vô minh mà khai thị hiển bày diễn nói Thánh đế pháp. Đế lý như thật được Phật thành tựu tuyên nói “nên gọi là Thánh đế”.

Đế mang ý nghĩa như thật tánh không điên đảo, hiển bày thật tướng các pháp. Thế nên đế là tên gọi khác của pháp tánh. Phật là thể hiện cho thật tướng, pháp tánh của tất cả các pháp, thế nên Phật xuất thế hay chẳng xuất thế giống nhau. Với nghĩa này thì chứng và chẳng chứng giống nhau. Thật tướng, pháp tánh, hoặc Phật tánh, tuy tất cả chúng sanh bình đẳng, nhưng chỉ Phật mới hay viên mãn chứng giác, nên mới xưng là Thánh đế.

CHÁNH VĂN: 

Thánh đế nói lên cái nghĩa sâu xa vi diệu khó hiểu. Thánh đế chẳng phải là cảnh giới có thể nghĩ lường, mà chỉ có kẻ trí mới thấu biết. Vì thế nên tất cả thế gian chẳng thể tin được. Vì sao? Bởi vì thánh đế là nói cái nghĩa bí tạng thâm sâu của Như Lai. Như Lai tạngcảnh giới của Như Lai. Cảnh giới này chẳng phải Thanh văn, Duyên giác có thể biết được. Như Lai tạng xứ là chỗ nói lên nghĩa thánh đế. Như Lai tạng xứ thâm sâu, thế nên nói thánh đế rất thâm sâu vi diệu khó hiểu, chẳng phải là cảnh giới nghĩ lường được, chỉ bậc trí giả mới có thể biết, còn tất cả thế gian không thể tin.

LỜI GIẢI: 

Dưới đây rộng nói rõ về Như Lai tạng cũng tức Phật tánh. Như Lai thuyết minh thể tánh thánh đế. Thánh đế là gì? Là thuyết minh nghĩa thâm sâu vi diệu trí hữu vi, khó có thể hiểu được. Kinh Đại thừa thường nói: “Thâm sâu rất thâm sâu, vi diệi rất vi diệu, khó thông đạt thật khó thông đạt”. Bởi vì thánh đế thì phàm phu, Nhị thừa cho đến Bồ Tát cũng chẳng thể hoàn toàn liễu đạt mà phải Diệu Phật trí mới có thể liễu đạt. Thánh đế chẳng phải là cảnh giới nghĩ lường. Nghĩ lường ở đây là khả năng tri thức truy tìm suy nghĩ của hàng phàm phu Nhị thừa Bồ Tát. Dùng hữu lậu tâm, tâm sở duyên việc thế tục phân biệt cảnh giới tức là tư lương cảnh giới. Thánh đếvô lậu vô vi, nên không phải dùng tâm tìm cầu suy nghĩ mà có thể thấu kịp. Vì vậy, “bậc trí giả” tự giác tự chứng “sơ tri”, điều mà “tất cả thế gian không dễ gì tin” 

Phật pháp thì chỉ có bậc Thánh giả chứng biết, còn người thường thì xưa nay chưa biết, nên nói không xứng hợp với Phật pháp.Tâm phân biệt không thể quảng diễn hết lý đạo. Nhưng nghe và suy nghĩ Phật pháp chẳng phải là không hữu ích. Như Phật vì cái vỏ vô minh của thế gian mà mở bày diễn nói, để cho thế gian nhận thức phá vỏ vô minh được giải thoát tự tại. Từ chỗ không thể diễn nói mà Phật vì phương tiện quyền biến diễn nói. Phật nói pháp để diễn đạt chân lý chẳng khác nào hoạ sĩ vẽ mặt trăng. Hoạ sĩ dùng có một giấy mực để vẽ núi mây cây cỏ tô điểm làm cho khán giả nhìn rõ mặt trăng, thưởng thức phong cảnh hữu tình. Mặt trăng vẽ đương nhiên không phải là mặt trăng thật. Nhưng có thể từ mặt trăng vẽ mà nhận thức mặt trăng thật. Y Phật nói pháp theo đó nghe, suy nghĩ, y pháp thực hành thì có thể chứng đắc. Chớ nên vì pháp ngữ thâm sâu vi diệu khó hiểu mà sanh khởi quan niệm sai lầm là không thể minh liễu chân lý thì không thể chứng đắc pháp tánh.

Ở trên là lược nói thánh đế khó tin khó hiểu. Nhưng thánh đế vì sao lại khó như vậy? Bởi vì thánh đế là nói bí tạng thâm sâu của Như Lai. Như Lai tạngcảnh giới của Như Lai. Cảnh giới này không phải tất cả hàng Thanh văn Duyên giác đều thấu biết. Thánh đế vi diệu khó hiểu. Bởi lẽ do từ nơi Như Lai tạng thâm sâu nói thánh đế. Như Lai tạng thâm sâu vì là cảnh giới của Như Lai chứng tri, cảnh giới này không phải Thanh văn Duyên giác có thể chứng biết được. Vì vậy, thánh đế mang diệu nghĩa thâm sâu khó hiểu.

Thế nào là Như Lai tạng? Y Phật tánh mà luận thì khái được có ba nghĩa: 1/ Sở y chỉ tàng. 2/ Ấn phúc tàng. 3/ Năng nhiếp trì. Như nghĩa là như như, đế lý không hai không khác. Chân đế là pháp pháp như thị. Như như vốn tự nó không có lai hay bất lai, không có đến đi còn mất. Như bảo châu ngọc quý tự nó vốn sáng sạch, tức là không có gì và chỗ nào để có thể nói là lai hay bất lai. Nhưng cứ vào mài dũa trần cấu của bảo châu làm cho bảo châu sáng sạch, hiển lộ đặc tánh cụ thể của nó gọi là hai. Nhơn đây, nên trong Phật pháp thường nói Như Lai tức là thể như mà lai, như như thật không có gì lai hay chẳng lai để luận bàn. Như là Như Lai, tức là pháp tánh không tịch. Kinh Kim Cang nói: “Như Lai tức là các pháp như nghĩa”. Đứng về sở chứng mà nói thì gọi là như như. Nếu đứng về năng chứng mà nói thì gọi là như như trí. Như nhưnhư như trí bình đẳng không hai, gọi là Như Lai.

Thế nào là tạng của Như Lai? Tạng là tàng của thai tạng. Nếu cứ vào y chỉ nghĩa mà nói thì tạng có nghĩa y chỉ. Vậy thai tạng là chỗ y chỉ. Như Lai là chỉ nhất thiết bình đẳng pháp tánh, biến khắp tất cả chỗ, hết thảy chúng sanh không lìa tánh này, không ngoài pháp tánh này. Như như pháp tánh là chỗ y chỉ của chúng sanh, tức là Như Lai tạng. Vì vậy có chỗ nói: “Tất cả chúng sanhNhư Lai tạng”. Nếu cứ vào nghĩa ẩn tàng mà nói thì pháp tánh chính là bản lai thanh tịnh, nhưng từ vô thỉ đến nay bị phiền não cấu nhiễm làm che lấp ẩn tàng không thể hiển bày. Giống như hài nhi trong bào thai. Còn trong bào thai không được tự tại, không thấy cảnh vật. Như Lai bình đẳng pháp tánh bị phiền não che lấp, nên gọi là Như Lai tạng. Nếu y cứ nghĩa nhiếp trì mà nói thì Như Lai là khế chứng như pháp tánh, nên đầy đủ thập lực, tứ vô sở úy, tam bất hộ, thập bát bất cộng pháp v.v… nên đầy đủ vô biên công đức.

Nhưng những công đức của Như Lai không phải đợi đến thành Phật mới sanh, nếu không thế thì thành ra mang tính chất vô thường. Nói cách khác, khi phát tâm cầu thành Phật thì đã trưởng dưỡng công đức, nghĩa là công đức thường hằng tăng trưởng từ khi mới phát tâm. Người phát tâm cầu thành Phật dù còn ở vào cương vị chúng sanh cũng đã có nền tảng nhiếp trì vô biên công đức tánh. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ Như Lai trí huệ đức tướng, nhưng vì vọng tưởng chấp trước mà không chứng đắc”. Lời này nói lên ý nghĩa của Như Lai tạng. Thế nên ở cương vị chúng sanh trong hằng hà sa đã xứng tánh công đức. Điểm này gần với tư tưởng Duy Thức Tông: “Chúng sanh vốn có chủng tử pháp vô lậu”. Trong pháp giới bình đẳng nhiếp trì đắc vô biên công đức tánh, nên gọi là tạng. Nghĩa Như Lai tạng là cứ nơi vị trí chúng sanh mà nói, tức là hiển thị cái nhơn chơn tịnh của tất cả chúng sanh. Như Lai tạng xứng tánh công đức ở mỗi chúng sanh vốn có đầy đủ. Đến khi thành Phật nhiếp đắc Như Lai tạngcông đức tánh cả hai giống nhau. Khi thành Phật thì công đức vô biên, lìa cấu chướng thì công đức trọn vẹn. Kinh điển Phật pháp thuyết minh chơn thường diệu hữu nhứt thừa đều lấy đây làm căn bổn.

Kinh này y từ “Như Lai tạng xứ nói thánh đế nghĩa. Như Lai tạng xứ thâm diệu, nên gọi là thánh đế”. Thánh đế cùng Như Lai tạng thâm sâu vi diệu khó hiểu, chẳng phải là cảnh giới có thể nghĩ lường, mà chỉ trí giả mới thấu hiểu, vì thế tất cả thế gian đều chẳng thể tin”.

CHÁNH VĂN: 

Nếu vô lượng phiền não tạng trói buộc Như Lai tạng là điều chẳng còn nghi hoặc, thì đối với việc ra khỏi vô lượng phiền não tạng để được Pháp thân cũng không thể nghi hoặc. Nói Như Lai tạng, Như Lai pháp thâncảnh giới của Phật không thể nghĩ bàn, cho đến Phật phương tiện nói quyết định tâm đắc cảnh giới, thì có thể tin hiểu được cái nghĩa nhị thánh đế Phật nói. Như thế điều khó hiểu khó biết, chính để thuyết minh nghĩa nhị thánh đế.

LỜI GIẢI: 

Như Lai tạng thâm sâu khó biết khó hiểu ấy là bởi căn cứ vào nhơn địa đức tánh mà nói. Dù là điều khó tin khó hiểu, nhưng lại không thể không tin không hiểu. Nếu không thể tin hiểu, thì đối với quả đức Nhất thừa của Như Lai lại càng không thể tin hiểu. Như Lai tạng tuy là nhiếp trì được công năng tịnh pháp tự tánh thanh tịnh, nhưng vì vô lượng phiền não ràng buộc mà không thể hiển hiện. Chẳng khác nào ma ni bảo châu bị bùn nhơ che lấp. Nếu người đối với việc bổn tánh thanh tịnh Như Lai tạng bị vô lượng phiền não tạng trói buộc mà sanh tâm tin, không nghi hoặc, thì người ấy đối với việc xuất ly vô lượng phiền não tạng, Pháp thân hiển bày không có gì nghi hoặc. Điều này chẳng khác nào như ma ni bảo châu được chùi rửa thì sáng sạch là điều tất nhiên không gì phải nghi hoặc. Khi nói chúng sanh bị tạp nhiễm hoặc nghiệp khổ, điều này dễ khiến cho người tín thọ hơn. Còn nói chúng sanhNhư Lai tạng, có khả năng nhiếp trì nhất thiết công đức Phật quả, thì người ta thật khó tin khó hiểu. Nhưng đối với việc ngọc chùi rửa được sáng sạch không nghi, thì đối với tâm Đức Như Lai pháp thân cũng không có gì để mà nghi. Vì ngọc Ma ni được chùi rửa thì sáng sạch. Hành giả tu rửa phiền não tức là Như Lai tạng lìa phiền não, thì Pháp thân hiển bày. Lý này quá hiển nhiên. Vậy hành giả tin có Như Lai tạng tánh thật là điều trọng yếu đối với người có tâm thành hướng về Phật quả.

Đối với Như Lai tạng, Như Lai pháp thân chỉ có Phật mới liễu đạt cảnh giới bất khả tư nghì này. Còn đối với Nhị thừa phàm phu, Phật phải đại phương tiện khéo diễn bày để chúng sanh ý thức. Nếu chúng ta đối với cảnh Phật đã chứng, điều Phật đã nói, tâm sanh tín giải quyết chẳng nghi, thì có thể tin hiểu Phật nói nghĩa nhị thánh đế. Như thế đối Như Lai tạng Pháp thân, nhị thánh đế nghĩa không ngại, không nghi với người chánh tâm chánh tín.

CHÁNH VĂN: 

Hai thánh đế nghĩa thuyết minh những gì? Thuyết minh tác thánh đế nghĩa và vô tác thánh đế nghĩa.

LỜI GIẢI: 

Hai thánh đế nghĩa: 1/ Tác thánh đế nghĩa. 2/ Vô tác thánh đế nghĩa. Tác thánh đế nghĩa còn gọi là hữu lượng Tứ đế. Vô tác thánh đế nghĩa còn có tên là vô lượng Tứ đế. Thiên Thai Tông y đây mà lập thành giáo tứ đế, gồm có: a/ Tạng giáosanh diệt tứ đế. b/ Thông giáovô sanh diệt tứ đế. c/ Biệt giáovô lượng tứ đế. d/ Viên giáovô tác tứ đế. Nhưng y kinh này nói thì chỉ có hai thứ tứ đế: 1/ Thanh văn Duyên giác trí cảnh thuyết, tức là tác thánh đế, hoặc gọi là hữu lượng thánh đế. 2 Như Lai trí cảnh thuyết, tức là vô tác thánh đế hoặc gọi là vô lượng thánh đế. Tác ở đây có nghĩa là công huân, gia hạnh, y cứ vào tu hành mà nói, nghĩa là tứ đế tu hành, biết khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo. Nhị thừa gọi là tác thánh đế. Bởi đối với sự lý tứ đế chưa cứu cánh liễu đạt, nên còn có khổ phải biết, tập phải đoạn, diệt phải chứng, đạo phải tu. Chỉ Phật đối với tứ đế đã viên mãn rốt ráo, chẳng phải còn gia tác công hạnh, nên gọi là vô tác thánh đế.

CHÁNH VĂN: 

Nói tác thánh đế nghĩa tức là nói hữu lượng tứ thánh đế nghĩa. Vì sao? Bởi vì chẳng phải nhơn nó mà có thể biết tất cả khổ, đoạn tất cả tập, chứng tất cả diệt, tu tất cả đạo. Bởi thế, bạch Đức Như Lai! Hữu vi sanh tử, vô vi sanh tử. Niết bàn cũng thế, cũng có hữu dưvô dư.

LỜI GIẢI: 

“Tác thánh đế nghĩa thuyết”, tức là hữu lượng thánh đế nghĩa. Hữu lượng ở đây có nghĩa hữu hạn, là chỉ sở đắc một bộ phận, một phần nào chẳng hạn, như biết một phần ít khổ, tu một phần ít đạo. Tại sao nói đây là tác hữu lượng? Bởi vì không nhơn có (Tứ đế) thì từ đâu có thể biết tất cả khổ, đoạn tất cả tập, tu tất cả đạo. Nhị thừa thì không phải tự lực mà y nương nơi Phật. Nhờ Phật thuyết Tứ đế, y theo Tứ đế tu hành. Thuyết Thập nhị nhơn duyên, y theo Thập nhị nhơn duyên tu hành. Nhị thừa y nương Tứ đế, Thập nhị nhơn duyên, trí huệ cứu cánh cạn hẹp quyết không thể biết hết tất cả khổ, chứng tất cả diệt. Thế cho nên còn có hai trạng thái sanh tử: Hữu vi sanh tửvô vi sanh tử. Hữu vi sanh tửphần đoạn sanh tử. Vô vi sanh tử lả biến dịch sanh tử.

Thường thì người ta nói Nhị thừa đã chứng nhập vô vi sanh tử. Vô vi sanh tửđạt đến cảnh giới bất sanh bất diệt. Đã nói Nhị thừa đắc vô vi mà còn có biến dịch sanh tử, điều này tợ hồ mâu thuẫn. Kỳ thật, tận cùng lý vi tế mà nói thì, Nhị thừa tuy chứng nhập vô vi, nhưng không rốt ráo. Vì vậy nên trên danh nghĩachứng nhập vô vi mà kỳ thật vẫn còn có trạng thái sanh tử. Như đại lực của hàng Bồ Tát đã chứng đắc pháp tánh mà còn có “pháp tánh sở sanh thân”. Tuy là khởi từ sức bi nguyện vô lậu của Bồ Tát, nhưng cũng còn thân sanh tử. Sanh tử có hai thứ như thế thì Niết bàn cũng như thế. Tức là Hữu dư Niết bànVô dư Niết bàn. Hữu dư Niết bànNiết bàn của hàng Nhị thừa chứng đắc. Vô dư Niết bàncảnh giới Phật chứng. Trong hữu lượng tứ đế nói đoạn sanh tử chứng Niết bàn, nhưng kỳ thật chẳng qua đó chỉ mới đoạn hữu vi sanh tử, chứng hữu dư Niết bàn mà thôi. Trong kinh này y luận Bảo Tánh trích dẫn, nên văn lược có sự bất đồng. Bản dịch đời Đường chỉ có câu ngắn “Niết bàn cũng như thế”. Trong lúc đó Luận Bảo Tánh tương đối nói rõ hơn: Có hữu vi Niết bàn, có vô vi Niết bàn”. Đây là chỗ sai biệt về văn cú giữa cựu dịchtân dịch, nhưng ý nghĩa không khác nhau.

CHÁNH VĂN: 

Nói vô tác thánh đế nghĩa, tức là nói vô lượng tứ thánh đế nghĩa. Vì sao? Bởi vì tự năng lực mình có thể biết tất cả thọ khổ, đoạn tất cả thọ tập, chứng tất cả diệt thọ, tu tất cả đạo diệt thọ.

LỜI GIẢI: 

“Nói vô tác thánh đế nghĩa” tức là nói vô lượng thánh đế nghĩa. Vô lượng là không có hạn lượng, tức là nói cái nghĩa cứu cánh viên mãn. Hữu lượngvô lượng ở đây không mang tính chất đối lập mà là hữu lượng hàm nhiếp vô lượng. Như Hữu lượng khổ đếphần đoạn sanh tử khổ. Vô lượng khổ đế hàm hữu hai sanh tử khổ là phần đoạn, biến dịch. Hữu lượng tập đế chỉ cho tứ trụ phiền não. Vô lượng tập đế gồm tứ trụ địavô minh trụ địa. Hữu lượng diệt đế tức là Hữu dư Niết bàn. Vô lượng diệt đế gồm Hữu dưVô dư Niết bàn. Hữu lượng đạo đế là tịnh trí đạo thiểu phần. Vô lượng đạo đế tức là nhất thiết vô lậu đạo.

Tại sao Phật đế là vô tác vô lượng? Bởi vì Như Lai “có lực hay tự biết rõ tất cả sự thọ khổ, đoạn tất cả sự thọ tập, chứng chân lý diệt tất cả thọ khổ, triệt để tu tất cả đạo diệt khổ”, nên xưng Phật đế là vô tác vô lượng. Vô tác có nghĩa là không còn phiền não tác dụng, không còn phải dụng công tu tập. Vô lượng ở đây mang ý nghĩaphước đức trí huệ không ngằn mé. Tức là cứu cánh viên mãn, nên gọi là vô tác vô lượng. Tiến thêm bước nữa mà nói thì, khổ có vô lượng tướng khổ, như già khổ, có các thứ khổ của già không giống nhau. Tập, Diệt, Đạo cũng như thế. Nhị thừa không những không biết khổ biến dịch sanh tử mà cả khổ phần đoạn sanh tử cũng không biết một cách thấu đáo. Như Kinh Niết Bàn nói: “Phân biệt các khổ có vô lượng thứ, chẳng phải hàng Thanh văn Duyên giác có thể triệt để biết hết được. Như Lai đối với họ lại cũng không nói đó”.Trong bốn đế này đều nói đến thọ. Thọ, các nhà cựu dịch dùng cùng ý nghĩa, các nhà tân dịch thì dùng danh từ thủ để chỉ thọ. Thọ, các nhà cựu dịch dùng cùng ý nghĩa, các nhà tân dịch thì dùng danh từ thủ để chỉ thọ. Hữu lậu sanh tử khổ đều nhơn nơi thọ (thủ) mà sanh. Thọ, thủ và khổ không rời nhau, nên gọi là thọ khổ. Thọ là căn bản phiền não, nên gọi là thọ tập. Nếu biết lìa tất cả thủ (thọ) thì chứng Niết bàn, gọi là diệt. Tu đạo diệt thọ gọi đó là diệt đạo. Thủ là cái nhơn tất yếu của sanh tử. Xa lìa thủ là tông yếu, là điều kiện của sự chứng nhập Niết bàn. Thế nên trong kinh thường nói không nên thủ v.v….

CHÁNH VĂN: 

Như thế bát thánh đế, mà Như Lai nói là tứ thánh đế.

LỜI GIẢI:

Trên đây thuyết minh nghĩa của nhị thánh đế. Trong mỗi thánh đế này lại bao hàm bốn thánh đế. Như thế tổng hợp gồm tám thánh đế, mà Như Lai thật chỉ nói có mỗi một bốn thánh đế mà thôi. Dù vậy, trên bình diện viên mãn và bộ phận mà luận thì chẳng đồng, nên phân làm hai thánh đế. Ấy là chỉ cho tác tứ đếvô tác tứ đế

CHÁNH VĂN: 

Như thế, nghĩa của vô tác tứ thánh đế chỉ có Như Lai ứng chánh đẳng giác mới cứu cánh sự thể chứ chẳng phải là A la hán, Bích chi Phật có thể cứu cánh được. Vì sao? Bởi vì chẳng phải pháp hạ, pháp trung, pháp thượng mà được Niết bàn.

LỜI GIẢI: 

Tuy nói nhị thánh đế mà kỳ thực duy nhất một tứ thánh đế. Như thế, duy nhất “vô tác tác thánh đế nghĩa” tức là “duy chỉ Như Lai ứng chánh đẳng giác”, đối với bốn việc tri khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo đắc cứu cánh, chớ chẳng phải hàng Nhị thừa đối với bốn việc này hay đắc cứu cánh. Vì sao vậy? Bởi thánh đếcứu cánh viên mãn, chứng ngộ Nhất thừa chỉ một không hai, mà Nhị thừa thì tiệm thứ chứng ngộ, từ hạ rồi trung đến thượng. Nhất thừa đốn ngộ không có hạ, trung, thượng, tiệm, Niết bàn, mà ngộ là đốn ngộ; đắc là đốn đắc; Niết bàn là đốn Niết bàn. Vì vậy nên không có pháp hạ, trung, thượng như Nhị thừa. Nhị thừa chẳng qua là hướng Niết bàn giới, hướng Bồ đề đạo.

CHÁNH VĂN: 

Vì sao Như Lai đắc ứng đẳng giác, cứu cánh vô tác thánh đế nghĩa? Bởi vì tất cả các Đức Như Lai ứng đẳng chánh giác, biết tất cả các khổ vị lai, đoạn tất cả phiền nãothượng phiền não, nhiếp thọ nơi tập, diệt tất cả ý sanh thân, trừ tất cả khổ, tác chứng diệt.

LỜI GIẢI: 

Đây là luận về sở đắc của Như Lai đối với thánh đế, nên trước có lời hỏi “vì sao Như Lai đắc ứng đẳng chánh giác đạt cứu cánh, đối với nghĩa của vô tác tứ thánh đế”. Bởi tất cả Như Lai ứng chánh đẳng giác biết rõ tất cả khổ vị lai. Chư Phật thật rõ khắp khổ trong ba đời. Nhưng điều trọng yếu là thấu suốt khổ vị lai rốt ráo không sanh. Bởi Phật đoạn tận gốc tập, là nơi chứa nhóm tất cả phiền não thô tế. Kinh đây thường nói phiền nãothượng phiền não. Phiền não là chỉ căn bản phiền não. Thượng phiền não là chỉ tuỳ phiền não. Tổng nhiếp tất cả hai phiền não này gọi là tập, không những phần đoạn thân mà còn diệt nhất thiết ý sanh thân. Trừ tất cả khổ đắc tác chứng diệt. Kinh này văn cú giản lược ý nghĩa súc tích. Nếu dịch bản đời Đường thì hai câu này luận về diệt đếđạo đế phải là “Hay chứng nhất thiết ý sanh thân diệt khổ uẩn, và tu đạo diệt tất cả khổ”.

CHÁNH VĂN: 

Bạch Đức Thế Tôn! Chẳng phải vì các pháp hoại mà gọi là khổ diệt. Nói khổ diệt, tức là nói vô thỉ vô tác, vô khởi vô tận, ly tận thường trụ, tự tánh thanh tịnh, ly nhất thiết phiền não tạng. Bạch Thế Tôn! Quá hằng hà sa bất ly bất thoát, bất dị bất tư nghì Phật pháp thành tựu mà nói Pháp thân Như Lai.

LỜI GIẢI: 

Phật đã chứng thánh đế, tức là chứng Như Lai tạng pháp thân, cũng tức là diệt đế. Khổ và tập là hữu pháp lậu sanh tử. Đạo cũng là hữu vi hữu công dụng pháp. Cả ba thứ này đều không phải là thường trụ pháp. Mục đích cứu cánh của tu học Phật pháp là chứng diệt đế. Khổ như là bịnh. Tập là nhơn của bịnh. Đạo như thuốc trị bịnh. Diệt như mạnh khoẻ không bịnh. Trị bịnh cần phải biết bịnh, biết nguyên nhân gây ra bịnh, uống thuốc trị bịnh, tất cả việc làm này nhằm mục đíchdiệt thánh đế giáo. Bởi thế đó, nên kinh này nhằm khai triển lượng tứ đế mà nói vô lượng tứ đế, nhưng đặc biệt minh giải diệt thánh đế.

Danh từ “vô thỉ vô tác”. Vô thỉ vì vậy nên vô tác. Nếu có sở tác tánh thì là hữu thỉ, có thể khởi thỉ bắt đầu. Niết bàn là diệt, là phi tác pháp, cũng không có bắt đầu. Với ý nghĩa này, diệt đế không có sanh khởi, cũng không có diệt tận, là pháp vô vi bất sanh bất diệt, không giống như phiền não nghiệp khổ thánh đạo vô lậu vô khởi có diệt. Tuy nói đắc Niết bàn mà thật chẳng phải là mới khởi, chưa đắc nhưng chẳng mất. Niết bàn còn có nghĩa ly, tức là lìa nhất thiết phiền não. Kỳ thật Như Lai tạng tánh của chúng sanh cùng với phiền não xưa nay không có hợp thành một. Như Lai tạngphiền não chẳng khác nào như nước và dầu, tuy đồng là tánh chất lỏng mà xưa nay vẫn chưa từng hợp nhất, Kinh Phật nói Vô dư Niết bàn là hàm hữu ý nghĩa đoạn, ly, diệt. Nghĩa là Niết bàn lìa sạch phiền não, là pháp thường trú, tự tánh thanh tịnh. Tất cả pháp tập nhiễm đối với tự tánh Niết bàn xưa nay không có dính líu gì nhau. Diệt như ánh sáng mặt trời. Sanh tử pháp như tăm tối. Sáng là sáng, tối là tối. Khi sức ánh sáng không đủ cho ta cái cảm giác sáng thì tương hợp hắc ám. Kỳ thực quang minh lìa hắc ám, ánh sáng thì không có bóng tối. Đây chính là cái nghĩa lìa tận phiền não, đắc diệt đế thường trú, đạt tự tánh thanh tịnh. Như cái nghĩa “lìa nhất thiết phiền não tạng” mà “vượt quá hằng hà sa số” bất ly, bất thuyết, bất dị, bất tư nghì Phật pháp thành tựu “Như Lai pháp thân”. Vô biên công đức tánh cùng với diệt đế bất phân ly, không sai khác, hôn nhiên nhứt thể. Tự tánh thanh tịnh thường trú Niết bàn như mặt trời. Nhiếp trì thập lực, tứ vô sở úy, đại từ đại bi bất tư nghì công đức như tánh quang minh. Ánh sáng cùng mặt trời không lìa nhau. Có sáng tức có mặt trời và ngược lại. Chúng sanh tuy xưa nay nhiếp trì công đức mà lìa chướng hoặc, hiển hiện nhứt thiết công đức thành tựu, tức gọi đây là Như Lai pháp thân. Pháp thân có nghĩa là đại công đức pháp tụ, tức là diệt đế, khi quả địa viên mãn, pháp thân hỉển bày, chính đó là Đại Bát Niết Bàn.

CHÁNH VĂN: 

Bạch Đức Thế Tôn! Như thế thì Như Lai pháp thân chẳng lìa phiền não tạng, gọi là Như Lai tạng.

LỜI GIẢI: 

Phật viên chứng thường trụ diệt đế, chẳng tạo tác chẳng bắt đầu. Chúng sanh cũng như vậy, tức là chúng sanh xưa nay có đầy đủ viên chứng thường trụ diệt đế. Nên nói “như thế thì Như Lai pháp thân” khi còn địa vị phàm phu bị phiền não trói buộc “chẳng lìa phiền não tạng”, nên chỉ gọi “Như Lai tạng” mà không gọi là Pháp thân. Như Lai tạng là nhơn địa của tự tánh Niết bàn. Như Lai tạng tuy chưa thành tựu bất tư nghì Phật pháp, nhưng cũng có thể nhiếp trì quá hằng hà sa số công đức. Như Lai tạngPháp thân bản chất giống nhau, chỉ khác biệt ở chỗ là, lia phiền não trói buộc và còn bị trói buộc. Còn phiền não trói buộc gọi là Như Lai tạng . Lìa phiền não gọi là Như Lai pháp thân. Phàm phu gọi là Như Lai tạng. Phật gọi là Như Lai Pháp thân. Cũng như mặt trời bị mây mù che lấp mờ tối và mặt trời ra khỏi mây mờ và ánh sáng chiếu soi. Nhơn gọi là Như Lai tạng, quả gọi là Pháp thân, không hai không khác. Nếu đứng về tứ đế, thì là diệt đế, là vô tác thánh đế trong diệt đế

CHÁNH VĂN: 

Bạch Đức Thế Tôn! Như Lai tạng trí là Như Lai không trí. Bạch Thế Tôn! Đối với Như Lai tạng thì tất cả A la hán, Bích chi Phật đại lực Bồ tát chẳng thể thấy, cũng chẳng thể đắc. 

 LỜI GIẢI: 

Chứng trí và đế lý không cách biệt nhau. Trước nói về trí nhất như: “Như Lai tạng trí tức là Như Lai không trí”. Như Lai tạng là đứng về nhất thiết pháp tánh không của chúng sanh mà nói. Trong như như pháp tánh hàm nhiếp vô biên công đức tánh. Trong vô biên công đức tánh chủ yếu là Bát nhã. Bát nhã trí tánh cùng Như Lai không hai. Chúng sanh tuy vốn có đầy đủ tánh này, nhưng chưa từng hiển phát đại dụng, phải đợi đến khi nào tu đạo thành tựu viên mãn phát hiện, tức là đắc Như Lai không trí. Nhơn địa của Như Lai tạng trí cùng với quả chứng của Như Lai không trí tương đồng không hai. Nói đến Như Lai không trí, người ta cho rằng Như Lai trí, không chỉ không những biết không mà cũng là biết chẳng không. Lại nữa có không trí cũng có bất không trí. Nhưng theo kinh này thì Như Lai trí tức là Không tánh trí. Như Lai trí rốt ráo chứng nhập bình đẳng pháp tánh không, cũng đạt rốt ráo liễu tri vô biên pháp tướng. Dù thông đạt các thứ pháp tướng trí cũng không rời không trí, tức là từ không trí khởi dụng phương tiện. Do đó ly tướng, vô sở đắc, vô lậu xuất thế gian cũng giống như vậy. Nên Như Lai trí đồng tên gọi là không trí. Lý này chẳng khác nào thấy bóng hình trong gương, gương sáng bóng hiện rõ không thiếu vật gì. Thấy gương sáng cùng với thấy ảnh tượng trong gương có thể nói là hai mà thật ra là không lìa tánh sáng của gương. Như thế, lý trí nhất như Như Lai tạng là tất cả A la hán Bích chi Phật, đại lực Bồ tát xưa nay vốn không thấy, vốn chưa từng chứng đắc. Bởi đây chỉ cho cảnh giới của Như Lai trí.

CHÁNH VĂN: 

Bạch Đức Thế Tôn! Có hai thứ Như Lai tạng không trí. Bạch Thế Tôn! Một là không Như Lai tạng, tức là nếu lìa thoát, khác tất cả phiền não tạng. Bạch Thế Tôn! Hai là bất không Như Lai tạng, tức là quá hằng hà sa chẳng ly, chẳng thoát, chẳng khác bất tư nghì Phật pháp.

LỜI GIẢI: 

Đây là tổng hợp lý trí nhất như của Như Lai tạng trí và Như Lai không trí, gọi là Như Lai tạng không trí. Phần này không luận đứng về đế lý hay đứng về chứng trí đều có hai thứ. Nhưng chứng trí là do chứng đế lý mà đắc. Vì vậy, y cứ đế lý để thuyết minh Như Lai tạng không trí là đứng về tổng thể mà nói. Nếu đứng về biệt nghĩa mà nói thì có hai loại, tức là Như Lai tạng không và bất không. Đối với Như Lai tạng không trí, vì sao gọi là không Như Lai tạng? Bởi Như Lai tạng từ vô thỉ đến nay bị tất cả phiền não ô uế trói buộc, tuy là bị phiền não trói buộc, nhưng không phải vì vậy mà hợp nhất với phiền não. Căn cứ vào đặc tánh của Như Lai tạng lìa, thoát khác, tất cả phiền não mà nói thì gọi là Như Lai tạng không. Luận Khởi Tín nói: “Không có, nghĩa là tất cả phiền não từ vô thỉ đến nay không còn”. Khi nói Như Lai tạng không, thì không có nghĩa là Như Lai tạng không có tự thể. Bản tánh Như Lai tạngthanh tịnh, tự tánh thường trụ. Tuy trong sanh tử mà chẳng nhiễm ô. Chẳng khác nào như châu báu bị rớt trong phẩn rác, bùn nhơ, nhưng thể tánh châu báu vẫn trong sạch. Vì vậy nói Như Lai tạng đối với tất cả phiền não vẫn mang tự tánh lìa, thoát, khác.

Vì sao gọi là bất không Như Lai tạng? Bởi Như Lai tạng tự thể của nó có đầy đủ quá ư hằng hà sa chẳng lìa chẳng thoát chẳng khác. Phật pháp bất tư nghì. Nếu đứng về lìa vọng nhiễm mà nói thì Như Lai tạng gọi là không Như Lai tạng. Nếu đứng về pháp đầy đủ quá hằng hà sa bất tư nghì công đức của Phật mà nói thì gọi là bất không Như Lai tạng. Chỉ duy nhất Như Lai tạngtương ưng với nhiễm pháp, chỉ tương ưng với tịnh pháp. Nói cách khác, dù ở trong trường hợp hoàn cảnh bậc địa thánh hay phàm nào, thì thể tánh Như Lai tạng cũng không bị nhiễm ô. Nên Như Lai tạng mới có hai tên là Không Như Lai TạngBất Không Như Lai Tạng. Do đặc tánh thù thắng này của Như Lai tạng mà các nhà Duy Thức Học nói là Viên thành thật. Với danh xưng này cũng có hai ý nghĩa để diễn đạt Như Lai tạng: 1/ Đứng về đặc tánh xa lìa tất cả nhiễm pháp mà nói thì gọi là không tánh, nhưng thực thểbất không. Nhưng kinh đây nói bất không lại không có nghĩa là cứ pháp tánh bất không mà nói, mà là trọng tâm nơi thể đầy đủ quá ư hằng hà sa công đức tánh. Như Kinh Lăng Già, Khởi Tín Luận v.v…đều chẳng y cứ từ nhơn duyên sanh pháp, hư vọng sanh pháp để luận về nghĩa “không và bất không”, mà là y cứ Như Lai tạng tánhthuyết minh nghĩa khôngbất không.

CHÁNH VĂN: 

 Bạch Đức Thế Tôn! Hai thứ không trí này các vị đại Thanh văn có thể tin được, thưa Như Lai. Tất cả các bậc không trí A la hán Bích chi Phật chuyển ở trong bốn cảnh bất điên đảo. Còn tất cả A la hán Bích chi Phật khác thì vốn chẳng được thấy cũng chẳng được đắc. Đối với sự diệt tất cả khổ chỉ có Phật mới chứng đắc, hoại tất cả phiền não tạng, tu tất cả đạo diệt khổ.

LỜI GIẢI: 

Như trên đã giải thích Như Lai tạng không trí. Giờ đây giải thích Nhị thừa chẳng thấy. Đây có danh từ “không nghĩa” và “bất không nghĩa” của “hai không trí”. Điều này chỉ có các vị đại Thanh văn như Xá Lợi Phất, Tu Bồ Đề, Phú Lâu Na v.v…là những bậc Thanh văn trí huệ rộng lớn mới có khả năng tin thọ lời Như Lai nói, phát tâm hồi tiểu hướng đại. Còn hạng A la hán độn căn thì tạm thời chẳng có năng lực lãnh hội lời Phật nói. Thế thì nếu đứng về chứng ngộ hai trí này mà nói thì tất cả A la hán Bích chi Phật không trí chưa có khả năng giác liễu chứng đắc. Cũng nên biết rằng Nhị thừa không trí và Như Lai không trí chẳng đồng. Để phân minh điều đó, nên kinh này nói là tịnh trí. Có nghĩa là tịnh trừ một phần phiền não chướng, lìa bốn điên đảo ngã không trí. Trong giáo pháp Đại thừa có chỗ cho rằng: Tất cả pháp khôngNiết bàn không tịch cùng với vô thường, khổ, không, vô ngã và đến cả vô thường, khổ, bất tịnh, không vô ngã không chẳng đồng. Pháp tánh không tịch vốn là pháp tánh bình đẳng lìa hý luận, không vô ngã nhưng do nơi ngũ uẩn hoà hợp mà nói vô ngãngã sở đó thôi. Thế nên, Nhị thừa không trí đối với vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, bốn cảnh giới điên đảo này mà chuyển nên gọi là lìa tứ điên đảo. Nói cách khác, hàng Nhị thừa không trí ở trong bốn hiện tượng điên đảo vô thường, vô ngã, bất tịnh, khổ này nổ lực gia công tu hành phát huệ nhận chân đạt lý mà khởi tâm chuyển vô thường là thường, vô ngã là ngã, bất tịnh là tịnh, khổ là vui, nên chưa thể chứng nhập Như Lai tạng trí. Vì vậy kinh nói tất cả A la hán Bích chi Phật vốn chẳng được thấy, cũng chẳng được đắc. Vì sao? Bởi vì trình độ liễu ngộ của Thanh văn Bích chi Phật chỉ giải thoát bốn điên đảo chớ chưa giải thoát bốn an lạc. Nghĩa là còn thấy tức là còn thấy không, còn thấy vui tức là còn thấy khổ. Mà cảnh giới diệt đế là diệt sạch tất cả khổ chỉ có Phật mới chứng đắc. Như Lai chứng đắc Như Lai tạngthành tựu Pháp thân là do diệt sạch nhứt thiết phiền não tạng. Mà muốn diệt sạch được nhứt thiết phiền não tạng thì khởi tâm tinh tấn tu nhứt thiết khổ đạo. Nhị thừa chẳng thấy, chẳng đắc Như Lai tạng không trí, tại sao? Điều này kinh văn đã thuyết giải quá rõ ràng.

CHÁNH VĂN: 

Bạch Đức Thế Tôn! Bốn thánh đế này ba đếvô thường, một đế là thường. Vì sao vậy? Bởi vì ba đế thuộc hữu vi tướng, hữu vi tướng là vô thường, vô thường là pháp hư vọng, pháp hư vọng chẳng phải là chắc thật, chẳng phải thường, chẳng phải chỗ y tựa. Thế cho nên ba đếKhổ đế, Tập đế, Đạo đế chẳng phải là đệ nhất nghĩa đế. Vì là chẳng phải thường, chẳng phải chỗ sở y. Duy nhất chỉ có diệt đế mới lìa hữu vi tướng, lìa hữu vi tướng là thường. Thường thì chẳng phải pháp hư vọng, chẳng phải pháp hư vọng mới thật là đế, là thường, là y. Thế nên, Diệt đếđệ nhất nghĩa đế.

LỜI GIẢI: 

 Y Như Lai tạng mà thuyết minh thánh đế nghĩa thì sâu xa khó hiểu, ấy là nói Diệt đế trong Tứ đế. Điều này trên kia đã nói, nơi đây chỉ giản lược giải thích. “Bốn thánh đế này, ba thuộc vô thường pháp, một thuộc thường pháp”. Đây là lược nêu lên. Bất cứ pháp nào hễ đã có tướng sanh trụ dị diệt là thuộc vô thường. Ngược lại là thường. Ba pháp trong Tứ đế hợp với sanh tử tạp nhiễm pháp, nên là hữu vi pháp. Đạo đế là chỗ sanh khởi tu tập, khởi đi để đoạn trừ, nên cũng là pháp hữu vi. Do đó, Khổ, Tập, Đạo ba đế này thuộc hữu vi tướng, nên cũng gọi là phi đế. Hữu vi tướng là còn mang bốn tướng sanh trụ dị diệt. Hoặc có chỗ nói ba tướng sanh dị diệt, hoặc hai tướng sanh diệt đều là để diễn tả pháp hữu vi vô thường. Vô thường hư vọng pháp thì chẳng phải chắc thật, chẳng phải là thường, chẳng phải là pháp tuyệt đối để nương tựa.

Đế nghĩa là chân thật, chẳng hư vọng, chẳng điên đảo. Hư vọng pháp không đủ tư cách làm chỗ y chỉ rốt ráo, nên nói chẳng phải chỗ sở y. Đây không những Khổ, Tập mà Đạo đế cũng như thế. Vì vậy trong Phật pháp thường nói: “Pháp còn xả bỏ huống nữa là phi pháp”. Thế cho nên nói Khổ, Tập, Đạo đế chẳng phải là đệ nhất nghĩa đế, chẳng thường, chẳng phải chỗ y tựa. Phật pháp thường nói Khổ, Tập, Diệt, Đạo gọi chung là Tứ đế, tức là bốn điều chắc thật. Nay đây lại nói Khổ, Tập, Đạo là phi đế, tức là chẳng phải chắc thật, như thế chẳng phải là mâu thuẫn ư? Xin thưa không! Khi nói Khổ, Tập. Đạo là phi đế, đây là đứng về nghĩa chẳng phải đệ nhất nghĩa Như Lai giác chứng mà nói. Nếu đứng về thế tục pháp tác dụng mà nói thì, tuy không phải là chơn thật cứu cánh cũng có thể gọi đó là đế. Như Phật nói vô thường là khổ, đúng thật là khổ, không thể nói không khổ. Phật nói Bát Chánh Đạo là đạo, nếu y đạo đây tu thì xác thật chứng Niết bàn, như thế không thể nói đó không phải là đạo. Vì vậy, nếu căn cứ thế gian pháp (Tục đế) mà nói thì Khổ, Tập, Đạo quả thật là đế, là chắc thật. Nếu đứng về cứu cánh chân thật (Chân đế) mà nói thì chỉ duy nhất Diệt đế, mới thật lìa hữu vi tướng. Hễ đã lìa hữu vi, vi tướng tức là thường trụ pháp. Thường trụ pháp thì chẳng phải pháp hư vọng mà chính là đế, là thường, là chỗ chân thật đáng y nương. Thế cho nên Diệt đếđệ nhất nghĩa đế.

Y vào Tứ đế để biện biệt nhị đế. Học giả Thanh văn thừa có những học thuyết bất đồng. Chẳng hạn như Luận Tỳ Ba Sa quyển 77 có đến bốn nhà lập thuyết. Luận Thuyết Chánh Lý quyển 58 có đến năm hệ thuyết. Hệ thuyết nào cũng thuyết minh về ba đế Khổ, Tập, Đạo, là Tục đế. Diệt đếđệ nhất nghĩa đế, ý nghĩa giống với kinh này, nhưng đều có sự dị biệt khi lập thuyết. Trong khi đó, Kinh Bát Nhã nói Tứ đế đều là giả danh, là thế tục đế, chỉ pháp tánh không của Tứ đế mới là đệ nhất nghĩa đế.

Khi nói ba đế Khổ, Tập, Đạo là Tục đế. Diệt đếđệ nhất nghĩa đế, thì thuyết này đã có từ xưa và đã trở thành chân lý. Kinh đây cũng cùng luận giải như thế đó.

CHÁNH VĂN: 

Diệt đế là pháp bất tư nghì, vượt quá tâm thức sở duyên của tất cả chúng sanh, cũng chẳng phải là cảnh giới trí huệ của tất cả A la hán Bích chi Phật. Cũng như người mù chẳng thấy cảnh sắc, trẻ sơ sanh bảy ngày chẳng thấy mặt trời chuyển. Diệt đế cũng giống như vậy, chẳng phải tâm thức phàm phu có thể duyên đến được, cũng chẳng phải cảnh giới trí huệ của Nhị thừa có thể liễu đạt. Kẻ thức giả phàm phu nhị kiến điên đảo. Tất cả các bậc trí giả A la hán Bích chi Phật thì thanh tịnh.

LỜI GIẢI: 

Đây nói về cảnh giới trí huệ của Như LaiDiệt đế. Diệt đế tức là Như Lai tạng, Pháp thân, Đại Bát Niết Bàn. Đây là chỗ mà phàm phu Nhị thừa không thể thấy không thể chứng. Chỗ kiến địa của phàm phu Nhị thừa không tương hợp với chánh nghĩa Diệt đế, nên phải có sự giản biệt xác định phàm phu Tiểu thừa tổng quát như sau:

-“Diệt đế là pháp bất tư nghì”. Bất tư nghì có nghĩa là không thể nghĩ bàn siêu việt tâm thức sở duyên của tất cả chúng sanh, cũng chẳng phải cảnh giới trí huệ của A la hán Bích chi Phật liễu đạt. Có thể thí dụ rằng: 1/Thí như kẻ mù chẳng thấy cảnh sắc. Dụ cho hạng phàm phu đối với Như Lai tạngPháp thân không thấy được chút gì, giống như người mù từ khi mới sanh ra, đối với cảnh sắc xanh, đỏ, trắng chẳng biết gì. 2/ Như trẻ sơ sanh bảy ngày chẳng thấy mặt trời chuyển xoay. Trẻ sơ sanh tuy có thị giác, nghĩa là tuy có mắt sáng, nhưng không thể nhìn thẳng mặt trời sáng chói mắt không thể mở, nên không thể nhìn thẳng mặt trời giữa không trung. Đây là dụ cho hàng Nhị thừa tuy có tịnh trí biết pháp sanh tử, nhưng đối với Như Lai tạng pháp thân không thể thấy biết. Nghĩa là về Diệt đế, chẳng phải tâm thức phàm phu có thể duyên đến được, và cũng chẳng phải cảnh giới trí huệ của hàng Nhị thừa có thể liễu đạt. Vì sao không duyên không biết được? Bởi vì tâm thức phàm phu vô minh dày đặc chẳng thể thông đạt nhất pháp giới tánh không hai không khác mà thường khởi “nhị kiến”. Do chẳng thể chánh kiến pháp tướng, nên khởi bốn điên đảo. Nhị kiến như chấp hữu chấp vô, chấp nhơn chấp ngã, chấp một chấp khác v.v….Tóm lại, chỗ chúng sanh nhận thức đều là tương đối. Do tương đối mà chấp thật có. Do chấp thật có nên tất cả đều là nhị kiến, tức là thấy tương đối có hai.

Bốn điên đảo là gì? Là vọng thấy thường, lạc, ngã, tịnh. Vọng thấy (vọng kiến) ở đây có nghĩa là truy cầu chấp trước. Trí của tất cả A la hán, Bích chi Phật là trí thanh tịnh. Thanh tịnh theo nghĩa kinh này là thanh tịnh trí, cũng tức là không trí. Không trí của Nhị thừa quán pháp hư vọng tạp nhiễm, đối bốn cảnh (thường, lạc, ngã, tịnh) chẳng điên đảo mà chuyển, không đồng với không trí của Như Lai khế, chứng của Như Lai tạng pháp thân. Đối với thấy biết (kiến tri), Kinh Niết Bàn nói rất rõ rằng: “Phàm phu Nhị thừa không thể thấy biết Như Lai tạng pháp thân, Đại Bát Niết Bàn”.

CHÁNH VĂN:

Biên kiếnphàm phu đối với năm thọ ấm thì ngã kiến vọng tưởng so đo chấp trước sanh nhị kiến, nên gọi là biên kiến. Biên kiến là chấp thường chấp đoạn. Thấy các hành là vô thường ấy là đoạn kiến. Thấy Niết bàn là thường, ấy là thường kiến. Cả hai đều chẳng phải là chánh kiến. Do vọng tưởng, nên thấy như thế. Các căn nơi thân phân biệt suy nghĩ mà sanh ra thấy các pháp hiện hữuhoại diệt. Do không thấy được sự tương tục của các pháp, nên sanh khởi đoạn kiến. Bởi tâm tương tục ngu tối không thấy không hiểu, nên không biết cảnh giới ý thức chuyển biến trong mỗi sát na, lại khởi chấp thường kiến. Vì vọng tưởng mà thấy thế. Do vọng tưởng thấy, nên đối với nghĩa kia hoặc quá siêu việt, hoặc trí chẳng thấu biết, nên khởi tâm phân biệt hoặc đoạn, hoặc thường.

LỜI GIẢI: 

Luận về biên kiến, trước nói nhị kiến của phàm phu, tức là nhị biên kiến. Phàm phu đối với năm thọ ấm lấy ngã kiến làm gốc. Do ngã kiến này mà sanh khởi muôn vàn vọng tưởngchấp trước. Căn bản của ngã kiến có sáu mươi hai. Tất cả vọng kiến do từ ngã kiến phát sanh. Do vọng tưởng chấp trước nên sanh nhị kiến, gọi là biên kiến. Rơi vào nhị biên, là thuộc điên đảo kiến, không phải là chánh kiến, nên gọi là biên kiến. Nhị kiến có rất nhiều, nay lược nêu vài điều trọng yếu về thường kiến đoạn kiến. Vì sao lại đặc biệt nêu hai kiến này? Bởi vì tông bổn của Phật phápthuyết minh pháp sanh tử lưu chuyển và giải thoát Niết bàn. Do hai thứ này mà dẫn sanh các thứ thấy biết điên đảo. Nghĩa là không ngộ nhận thường trụ thì cũng lầm chấp đoạn diệt.

Giờ đây nói về nhị kiến, có hai phần. Trước hết căn cứ vào sanh tử, Niết bàn, sanh khởi thường kiến, đoạn kiến mà luận: “Thấy các hành vô thườngđoạn kiến chẳng phải chánh kiến”. Hành là pháp sanh diệt, như ngũ ấm. Phàm phu thấy có sanh diệt. Thấy sanh thì tất phải liên tưởng đến vô thường diệt. Nhưng lại chẳng biết ngũ ấm vô thường tương tợ tương tục. Rồi chẳng biết Như Lai tạngthường trụ, chẳng mất chẳng hoại, lại khởi đoạn kiến cho rằng Như Lai tạng không tránh khỏi vô thường hoại diệt. Lại có số phàm phu ngoại đạo nhàm sanh tử cầu Niết bàn “thấy Niết bàn là thường, khởi thường kiến”. Như thế lại rơi vào chấp thường, cũng chẳng phải là chánh kiến. Vì sao? Bởi vì phàm phu không thể chân thực hiểu biết Niết bàn, mà chỉ đối với thế gian vô thường sanh tâm nhàm chán rồi khởi tâm muốn thoát ly thế gian, để tìm cảnh giới thường trụ. Thường kiến đây cũng chẳng phải là chánh kiến. Phàm phu đối các hành vô thường khởi đoạn kiến, đối Niết bàn thường trụ khởi thường kiến, do vọng tưởngkiến chấp như thế.

Tiếp theo đây cứ vào thân tâm hữu vi mà khởi đoạn kiến thường kiến để nói: Đối với các căn của thân hữu tình chúng sanh, như mắt thì thấy, tai nghe, cho đến thân chạm xúc phân biệt suy nghĩ các pháp hiện hữu thấy có tướng hư hoại. Hiện pháp là chỉ các pháp hiện hữu thực tại. Tức là các căn trong thân một khi hư hoại, hoặc bộ phận hoặc toàn diện không khởi sanh tác nữa như người chết. Phàm phu do các căn chấp trước nơi vật chất tập thành vọng tưởng. Vì thế, nên một khi các căn hoại thì cho rằng hữu tình đó không còn tồn tại. Họ đối với sự lý ba cõi tương tục không thể thấu hiểu, nên chấp cái gì cũng không có rồi khởi đoạn kiến. Đây cũng là thuộc về thiên kiến của các nhà Duy Vật Luận. Bởi họ không thể ngộ chân nghĩa ba đời tương tục, chỉ bằng vào vọng tưởng kiến chấp mà lụân định như thế. Lại có loại phàm phu ngu muội đối với chân nghĩa về tâm tương tục. Tâm tuy là tương tục, nhưng vì ngu si ám muội, nên không thể như thật liễu giải cảnh giới ý thức sát na sanh diệt, lại khởi ý niệm thường kiến cho tâm là thường. Đây cũng là thiên kiến của các nhà Duy Tâm Luận. Các nhà Duy Tâm Luận chấp có tinh thần thường trụ. Họ cho rằng mắt, tai v.v .. các căn hoại, nhưng tâm vẫn tương tục thường trú bất đoạn. Họ đâu có biết tâm-ý thức-tương tục qua mỗi sát na sanh diệt, giống như lửa cháy, nước chảy, trước sau tương tục bất đoạn, trong trạng thái tương tục, nhưng vẫn không phải là thường trú. Đối tâm tương tục chứ không phải là thường trú mà sanh chấp thường kiến. Đây cũng là do “vọng tưởng kiến” sanh khởi.

Trên đã trình bày do sanh tử Niết bàn mà khởi đoạn kiến thường kiến. Hoặc nói đối với hai pháp tâm vật hữu vi mà khởi đoạn kiến thường kiến, đây là vọng tưởng kiến, đều là “đối với chân nghĩa thường đoạn kia hoặc vượt quá hoặc chẳng hiểu”, nên không thể xứng hợp chân lý thoả đáng mà khởi “vọng tưởng phân biệt” mới cho là “hoặc thường hoặc đoạn”. “Vượt quá và chẳng hiểu” đều không hợp với chánh nghĩa trung đạo. Chẳng hiểu kịp là thấy biết thấp kém, hiểu không đúng chơn thật. Hiểu vượt quá là thấy hiểu xa vời xa chân lý. Như khi thấy mắt, tai v.v… hoại diệt liền phủ nhận pháp duyên khởi nghiệp quả rồi khởi đoạn kiến, thế tức là tổn giảm chẳng hiểu kịp. Thấy tâm thức tương tục lầm cho là thường trú, đây là thấy biết tương tục lầm cho là thường trú, đây là thấy biết quá xa vời chân lý. Như thế, đoạn kiếnthường kiến được thể hiện qua hai trạng thái thấy biết, vượt quá và chẳng kịp là hai thái cực xa rời sự thật, tức đều thuộc về biên kiến

CHÁNH VĂN:

Chúng sanh điên đảo đối với năm thọ ấm vô thường tưởng là thường, khổ tưởng là vui, vô ngã tưởng là ngã, bất tịnh tưởng là tịnh.

LỜI GIẢI:

Điên đảo chỉ cho bốn thứ điên đảo của phàm phu. Chúng sanh điên đảo thọ ngũ ấm mang theo các pháp sanh tử không thể đích thực liễu giải, nên khởi nhận thức sai lầm thác loạn. Như các hành vô thường thì lại cho là thường. Tất cả các hành hữu lậu là khổ thì lại khởi vọng tưởng cho là vui. Tất cả pháp thế gian vô ngã lại sanh khởi ý tưởng thật ngã. Tất cả hữu lậu pháp bất tịnh lại tưởng là thanh tịnh. Bởi điên đảo, nên đối với các pháp hiện hữu ắt phải nghĩ tưởng điên đảo dẫn theo sự thấy sai lầm. Vì vậy kinh Phật đều gọi là “điên đảo tưởng”. Như người là vô thường, nhưng từ bé đến lớn mang cái tướng tương tợ tương tục, không thấu hiểu lý tương tợ tương tục sanh diệt tánh, nên khởi chấp thường. Lại nữa, tâm cảnh của chúng sanh tợ hồ có vui, nhưng đâu có biết trong cái vui ẩn tàng khổ, cái khổ vi tế trong vui. Chẳng khác nào gánh nặng trên vai khổ thống, nhưng khi sang đổi qua vai kia thì vai này thấy nhẹ nhàng thoải mái một chút, nhưng thực sự vẫn là khổ. Các hành đều hữu lậu vô thường, nhưng chúng sanh ngược lại cho là thường là vui. Thân ngũ uẩn do giả tưởng hợp không có tự thể chân thật, không có tự do, nhưng chúng sanh do ngã chấp che lấp điên đảo, chấp có tự ngã tự tại. Hết thảy các pháp sanh tử đều không thanh tịnh. Như thân thể do ba mươi sáu vật kết hợp tích tụ thành khối dơ xấu, nhưng nhờ có lớp da mỏng bao bọc và trang sức bên ngoài mà chúng sanh điên đảo cho là sạch, là thật. Kẻ phàm phu ngoại đạo đều sanh khởi tâm điên đảo chấp trước tìm cách làm cho thân trường sanh bất tử. Trái lại Thanh văn chú trọng thuyết minh vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, tu tứ niệm xứ để cầu giải thoát.

CHÁNH VĂN: 

Tất cả các bậc tịnh trí A la hán Bích chi Phật đối với cảnh giới của nhất thiết tríNhư Lai pháp thân vốn chẳng thấy biết.

LỜI GIẢI: 

Quả trí của tất cả A la hán Bích chi Phật thì thanh tịnh gọi là tịnh trí. Tịnh trí đối với pháp vô thường sanh tử v.v… tuy có hiểu biết, nhưng so với hiểu biết của nhất thiết trí Như Lai về cảnh giới Như Lai tạng, và nhơn Như Lai tạng mà được ra khỏi phiền não sanh tử trói buộc để thành tựu Như Lai pháp thân thì tịnh trí của Nhị thừa vẫn chưa có khả năng thấy biết, vẫn không đạt đắc. Đối với sanh tử, hiểu rõ vô thường, nhận chân các pháp sanh diệt v.v….tuy sanh khởi tịnh trí không điên đảo, nhưng nếu đối với Như Lai pháp thân, Bồ đề Niết bàn mà cũng cho là vô thường, vô khổ, vô ngã, bất tịnh, như thế là điên đảo. Phủ định các pháp sanh tử mà không khẳng định được pháp thường lạc ngã tịnh là chánh kiến Niết bàn, như thế vẫn không phải chơn chánh tri kiến rốt ráo.

CHÁNH VĂN: 

Hoặc có chúng sanh nhơn tin lời Phật nói mà khởi nghỉ tưởng thường, lạc, ngã, tịnh, như thế chẳng phải thấy điên đảo, mà gọi đó là chánh kiến, vì sao? Bởi vì Pháp thân của Như Lai vốn là thường Ba la mật, lạc Ba la mật, ngã Ba la mật, tịnh Ba la mật. Đối với Pháp thân của Phật mà khởi cái thấy như vậy thì gọi là chánh kiến. Chánh kiến mới là chơn Phật tử, từ miệng Phật sanh, từ chánh pháp sanh, từ pháp hoá sanh, được tài sản chánh pháp có thừa.

LỜI GIẢI: 

Chánh kiến biết một cách chơn thật rốt ráo chỉ có Như Lai. Đến như thập địa Bồ Tát cũng còn chưa có thể đích thực liễu đạt như chánh tri kiến. Như phàm phu, Nhị thừa, Bồ Tát cũng có thể đắc chánh tri kiến, nhưng không do trí huệ tự lực chứng tri, mà là do tin lời Phật nói thực hành mà được. Hoặc có hạng Nhị thừa do có tâm hồi tiểu hướng đại, hoặc có hạng phàm phu khi sơ học đạo phát tâm Bồ Tát, đối những chúng sanh này, Đức Phật vì họ mà nói Nhất thừa Như Lai tạng pháp thân, tức là hạng có thể tin lời giảng của Phật. Đối với Như Lai tạng pháp thân sanh khởi ý tưởng thường lạc ngã tịnh, đây chẳng phải là “điên đảo kiến”, mà gọi là chánh kiến.

Vô thường là đối với pháp sanh tử mà nói. Đã là pháp sanh tử thì không thể có thường lạc ngã tịnh. Nhưng Như Lai pháp thân Niết bàn là pháp xuất thế đệ nhất nghĩa, là thường lạc ngã tịnh, không có vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh. Vì sao vậy? Bởi vì pháp thân Như Laithường Ba la mật, lạc Ba la mật, ngã Ba la mật, tịnh Ba la mật. Ba la mật tức là cứu cánh thành tựu. Phật quảcứu cánh viên mãn, có đầy đủ bốn đức thường v.v…nên gọi là bốn Ba la mật. Kinh Niết Bàn nói: “Chẳng khổ chẳng vui gọi là vui lớn”. Xa lìa khổ vui phàm tình thì không còn bị não loạn, phiền động, biến dịch, được cứu cánh an ổn. Đại ngãđại tự tại. Nghĩa là Phật đối tất cả pháp tự tại, nên gọi là Pháp vương. Phật lìa tất cả trói buộc, lìa tất cả tạp nhiễm, gọi là đại tịnh. Như Lai tạng vốn đầy đủ thường lạc ngã tịnh. Nhưng Như Lai pháp thân mới hiển phát thành tựu viên mãn công đức thường lạc ngã tịnh. Như Lai pháp thân có đầy đủ đức tánh như thế, có thể từ nơi Pháp thân Phật khởi kiến, nên gọi là chánh kiến.

Được chánh kiến này mới gọi là chân thật con Phật, mới gọi là Phật tử. Giở đây nói về thí dụ cha con. Bà la môn Ấn độ tự xưng là con của trời Phạm Thiên. Họ cho rằng, họ từ Phạm Thiên sanh ra, từ miệng Phạm Thiên sanh ra, thân tâm họ là một phần của Phạm Thiên. Cũng trong tinh thần đó, nhưng với ý nghĩa cao siêu hơn, để ca ngợi con Phật, tức khen tặng tư cách giá trị Phật tử. Hay từ Phật pháp mà được chánh kiến, là chơn chánh con của Như Lai. Hàng đệ tử Nhị thừa tuy cũng có thể xưng là Phật tử, nhưng trong kinh điển Đại thừa thường thấy chê bai chúng Nhị thừa là con hèn mọn, không phải là đích tử của Như Lai. Đích thật con Phật là hàng Bồ Tátđại tâm dõng chí hướng về Phật thừa. Bởi hạng này nhơn từ miệng Phật thuyết pháp, y âm thanh Phật được pháp khí trí lực, nên nói: “Từ miệng Phật sanh, từ chánh pháp sanh, từ pháp hóa sanh”. Hoá sanh có nghĩa là tiến hoá không ngừng. Con của thế gian được gia tài của cha. Có người chỉ được phòng ốc ruộng đất tài sản của cha . Có người được đạo đức, trí tuệ, uy tín của cha. Người học Phật pháp cũng như thế. Có người chẳng được pháp phần của Phật, nhưng làm bố thí, trì giới mà được phước báo. Có người y theo Phật pháp tu chứng giải thoát tức gọi là đắc pháp phần.

CHÁNH VĂN: 

Bạch Đức Thế Tôn! Nói là tịnh trí tức là trí Ba la mật của tất cả A la hán Bích chi Phật. Tịnh trí này, tuy nói là tịnh trí, nhưng đối với Diệt đế cũng chưa phải đích thực là cảnh giới chơn Diệt đế, huống nữa là tứ y trí! Vì sao? Bởi vì khiến cho sơ phát tâm của hành giả ba thừa chẳng ngu nơi pháp, đối chơn nghĩa kia sẽ giác sẽ đắc, vì nghĩa đó mà Thế Tôn nói tứ y.

LỜI GIẢI: 

Trên kia đã nói: “Pháp hư vọng chẳng phải đế (chơn thật), chẳng phải thường chẳng phải y”. “Chẳng phải pháp hư vọng tức là đế, là thường là y”. Giờ đây đặt trọng nơi “y” để thuyết minh. Sanh tửNiết bàn đều phải có chỗ y chỉ. Có chỗ y chỉ mới hình thành lưu chuyển sanh tử, mới có thể được cảnh giới tịch diệt Niết bàn. Vậy thế nào là y? Tức là chỉ cho Như Lai tạng. Diệt đế. Bởi y đây mà có sanh tử, y đây mà có Niết bàn. Đứng từ quan điểm thế gian phápquan sát thì, tất cả pháp hễ phàm tồn tại đều có chỗ sở y, tức là chỗ nơi nương tựa. Nếu không có chỗ sở y thì không thể nào tồn tại. Chẳng khác nào sách thì y nơi bàn, bàn thì y nơi đất, đất y nơi hư không.

 Trên kia đã nói qua tịnh trí của Nhị thừa. Tịnh trí là trí Ba la mật của tất cả A la hán Bích chi Phật. Quả trí của Nhị thừa như là tận trí, vô sanh trí. Nếu căn cứ Nhị thừa đoạn chứng mà nói thì cũng có thể nói tịnh trí là cứu cánh viên mãn, nên nói tịnh trí Nhị thừaBa la mật trí. Chẳng qua tịnh trí của hàng Nhị thừa vô học này, tuy có thể nói là tịnh trí, nhưng đối với Như Lai sở chứng diệt đế kia cũng chưa phải cảnh giới của diệt đế. Quả trí còn như thế huống nữa là tứ y trí của hàng sơ học chưa phải là tịnh trí? Tứ y trí, xưa có hai thuyết.

- Thuyết thứ nhất gồm có: 1/ Nhị thừa sơ phát tâm y tứ đế tu hànhphát tâm sanh trí huệ gọi đó là tứ y trí. 2/ Y pháp bất y nhơn, y nghĩa bất y ngữ, y liễu nghĩa chẳng y chẳng liễu nghĩa, y trí bất y thức, đấy là tứ y trí.

- Thuyết thứ hai đời Đường dịch có phần tinh hoa hơn gọi là nhập lưu trí. Nghĩa là cựu dịch gọi là tứ y trí, tân dịch xưng là nhập lưu trí. Tức là tứ dự lưu chi. Nghĩa là bốn nhánh của hành giả được dự vào dòng thánh. Tứ dự lưu chi và tứ y danh xưng có khác, nhưng cùng một ý nghĩa. Phật bảo hành giả thân gần thiện tri thức với mục đích là ở nơi pháp chứ không phải ở nơi người. Từ thiện tri thức được nghe chánh pháp mục đíchliễu giải chân nghĩa chớ chẳng phải là nghe biết danh ngôn chương cú. Khuyên học giả như lý mà suy tư. Nghĩa là nên y kinh điển liễu nghĩa mà suy tư. Pháp tùy pháp hạnh, tức y pháphành trì, chớ không phải y nơi thức phân biệtchấp tướng, phải y nơi không trí ly tướng.

Phật vì sao lại phải nói tứ y trí? Bởi vì muốn cho hành giả ba thừa sơ phát tâm đối với chân nghĩa các pháp không bị ngu muội, đối với mục đích căn bản thuyết pháp của Phật, nghĩa lý rốt ráo có thể thấy đúng, biết đúng. Như pháp tức là nhiếp thọ chánh pháp, như chánh pháptu hành, chứng như chánh pháp. Nghĩa ở đây tức là chỉ cho đệ nhất nghĩa đế. Liễu nghĩa tức là quyết định nói Nhất thừa. Trí tức là Như Lai tạng không trí. Đối với chân nghĩa của tứ y, hiện tại tuy chưa thể chứng đắc, nhưng đương lai nhất định sẽ giác chứng, nhứt định có thể đắc. Vì đối hành giả tam thừa sơ phát tâm khiến cho họ không ngu muội nơi pháp, nên Đức Thế Tôn nói tứ y, để nhơn đó mà phát khởi tứ y trí.

CHÁNH VĂN:

Bạch Đức Thế Tôn! Tứ y này là pháp thế gian. Bạch Thế Tôn! Nhất y là nhất thiết thượng y. Xuất thế gian thượng thượng đệ nhất nghĩa y, nên gọi là Diệt đế.

LỜI GIẢI: 

Trên đây nói tứ y là pháp thế gian, là tùy thuận tứ dự lưu chi mà nói tứ y. Nhưng luận đến nghĩa rốt ráo thì chỉ có nhất y. Nhất y là tối thượng y trong nhất thiết y. Đứng từ bình diện thế gianxuất thế gian mà nói thì, nhất y là xuất thế gian y . Nếu đứng về thượng trung hạ mà nói thì thượng thượng yxuất thế gian y. Nếu đứng về nhị đế mà nói thì là đệ nhất nghĩa y. Nhất y này là thường, là đế, là chân thật chẳng hư vọng, là vô vi, là diệt đế trong vô tác tứ đế. Sanh tử cũng y nơi đây. Niết bàn cũng y nơi đây, nên nhất y cũng là nhất thiết cứu cánh y.

CHÁNH VĂN: 

Bạch Đức Thế Tôn! Sanh tử y nương Như Lai tạng. Bởi từ Như Lai tạng mà nói bổn tế (thời gian tối sơ) chẳng thể biết. Bạch Thế Tôn! Vì có Như Lai tạng nên nói có sanh tử, đây gọi là khéo nói.

LỜI GIẢI: 

Trước đây nói Diệt đế là chỗ y nương của sanh tử. Kinh đây văn giản lược mà ý nghĩa thâm sâu khiến cho hành giả khó thấu đạt. Kinh Lăng Già cũng đã từng dẫn kinh này, nói Như Lai tạng là chỗ sở y của sanh tử, nên hành giảthể tham khảo, từ đó có thể thấu hiểu rõ nghĩa này. Sanh tử lưu chuyển tức là uẩn xứ giới lưu chuyển. Sanh tử pháp là pháp vô thường, vô ngã. Nhưng vô thường pháp sát na sanh diệt thì làm thế nào trước sau như nhất lâu bền được? Hiện đời tạo nghiệp tất nhiên thọ quả ở vị lai. Trước không phải là sau và sau chẳng phải trước. Vậy giữa khoảng trước sau đó có cái gì liên hệ mà hình thành sanh tử luân hồi? Ngoại đạo nói có linh hồn thường trụ, liên hệ trước sau ấy là thần ngã. Chúng sanh ở trong luân hồi tạo nghiệp thọ quả nên là thường, là đồng một ngã. Nhưng Phật pháp nói vô thường, vô ngã, lại nói sanh tử lưu chuyển, tức là hàm hữu thuyết minh lý vô thường sâu sắc vậy. Để luận cứu chủ đề này, trong Phật giáo có nhiều phương để giải thích. Nhưng thường thì các nhà Duy Tâm luận nói Như Lai tạng thường trụ bất biến là chỗ sanh tử nương y.

Sanh tử tử sanh y Như Lai tạng mà có. Như Lai tạng thường trụ bất biến bình đẳng pháp tánh không. Như Lai tạng vượt ra ngoài thời gian, không thời gian ban đầuthời gian về sau, nên nói bổn tế không thể biết. Bổn tế là chỉ thời gian tối sơ. Như chúng ta nói hiện đời là từ đời trước mà đến. Đời trước lại từ đời trước nữa. Cứ như thế mà truy cứu luận định thì tối sơ của sanh tử như thế nào? Đối với vấn đề này, Phật thường nói, chúng sanh từ vô thỉ đến nay sanh tử bổn tế không thể biết. Muốn truy tầm biên tế tối sơ của sanh tử chẳng thể được. Theo kinh này giải thuyết thì như đất y hư không, hư không không có chỗ sở y, nên không thể hỏi hư không y nương cái gì. Cũng như thế, sanh tử y Như Lai tạng, Như Lai tạng thường trú không có bổn tế. Nghĩa là Như Lai tạng không có thời gian tối sơ. Do đó sanh tử cũng bổn tế, tức là tối sơ của sanh tử cũng chẳng thể nói được. Vì thế mới nói “có Như Lai tạng nên có sanh tử”. Bởi sanh tử y Như Lai tạng. Nói như đây, kinh đây gọi là khéo nói. Khéo nói có nghĩa là diễn đạt được chỗ sâu sắc của lý. Nếu chẳng nói sanh tử y Như Lai tạng thì không những không thiện xảo thuyết minh mà trên căn bản thuyết minh cũng chẳng thông. 

[12] Xem chú thích 1.

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 11994)
Các chuyên gia đã từng nói cơ năng não bộ của con người so với máy vi tính phức tạp nhất trên thế giới lại càng phức tạp hơn.
(View: 3526)
Phật Đà Thập Đại Đệ Tử Tán - Hòa thượng Tuyên Hóa giảng thuật, Nguyễn Minh Tiến Việt dịch
(View: 6590)
Các tác phẩm của Thầy phần lớn được dịch từ Hán tạng, gồm giới kinh và các nguồn văn học Phật giáo Đại thừa với tư tưởng uyên thâm về triết họctâm lý học.
(View: 26924)
Đã phát khởi chí nguyện Đại thừa, lại kiên quyết thực hiện chí nguyện ấy, đó thực sự là cung cách hùng dũng của con sư tử đang vươn mình, và do đó phải được nhìn đến bằng cung cách của con voi chúa.
(View: 27438)
Vua và phu nhân gởi thơ cho Thắng Man, đại lược ca ngợi công đức vô lượng của Như Lai, rồi sai kẻ nội thị tên Chiên Đề La đem thư đến nước A Du Xà... HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 5694)
Tất cả các nhà đạo học và thế học muốn thành tựu kết quả tốt đẹp trong cuộc đời, thì trước hết, họ phải trải qua quá trình kham nhẫn, nỗ lực, tu, học, rèn luyện tự thân, giúp đỡ, và đem lại lợi ích cho tha nhân.
(View: 8544)
Bảy Đức Thế Tôn quá khứ từ Thế Tôn Tỳ Bà Thi, Thế Tôn Thích Ca, và chư Thế Tôn vị lai đều chứng ngộ Vô Thượng Bồ Đề từ sự chứng ngộ sự thật Duyên khởi.
(View: 9422)
Trong các bản Kinh Pháp Cú, phổ biến nhất hiện nay là Kinh Pháp Cú Nam Truyền, tức là Kinh Pháp Cú dịch theo Tạng Pali.
(View: 8232)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau:
(View: 6545)
Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama
(View: 21344)
Quy Sơn Cảnh Sách Học Giải - Tác Giả: Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu; Thích Thiện Trí (Thánh Tri) Phỏng Việt Dịch và Viết Bài Học Giải
(View: 6623)
Kinh này khởi đầu bằng lời người Bà La Môn hỏi rằng làm thế nào người ta có thể tự thanh tịnh hóa khi nhìn thấy một vị Thượng nhân đã Thanh tịnh,
(View: 47266)
Nguyên xưa ngài Quán Nguyệt Pháp sư đem hai thời kinh khóa tụng: Mai đóng chung và chiều nhập chung lại làm một đại thể làm một tập lớn. - Chú giải: Ngài Quán Nguyệt; Dịch giả: HT Thích Khánh Anh
(View: 7375)
Tôi nghe như vậy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại thành phố Śrāvastī (Xá-vệ), nơi rừng cây Jeta (Kì-đà), vườn của Ông Anāthapiṇḍada (Cấp-cô-độc),
(View: 7443)
Bài kinh này trong đoạn cuối (bài kệ 787), câu “không nắm giữ gì, cũng không bác bỏ gì” được Thanissaro Bhikkhu ghi chú rằng ...
(View: 7388)
Lúc bấy giờ, Bồ tát Đại sĩ Akṣayamatir[1] từ chỗ ngồ đứng dậy, vắt thượng y[2] qua một bên vai, chắp hai tay[3] hướng về đức Thế Tôn và thưa rằng:
(View: 7521)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(View: 9432)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(View: 11297)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(View: 18112)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(View: 7030)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(View: 4777)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(View: 7605)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(View: 8435)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(View: 9392)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(View: 12622)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(View: 13107)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(View: 10339)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(View: 9019)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(View: 8240)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(View: 10905)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(View: 11647)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(View: 6844)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(View: 9233)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(View: 8614)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(View: 12432)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(View: 10800)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(View: 12718)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(View: 9907)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(View: 8975)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(View: 8343)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(View: 12905)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(View: 8614)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(View: 11006)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(View: 8745)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(View: 9410)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(View: 11264)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(View: 9375)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(View: 9543)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(View: 11148)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(View: 15999)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(View: 9937)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(View: 8522)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(View: 16426)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(View: 10445)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(View: 15719)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(View: 13432)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 10108)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(View: 28413)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(View: 9347)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
Quảng Cáo Bảo Trợ