Ni:
bhiksuni (skt)—Tỳ Khưu Ni—Nun—A female bhiksu.
Ni Ba La: Nepala (skt)—Nepal, xưa kia cũng là phần đất Nepal bây
giờ, nằm về phía Đông của tỉnh Kathmandu—Nepal, anciently corresponding to that
part of Nepal which lies east of Kathmandu.
Ni Bách Giới Chúng Học: See Bách Giới Chúng Học Ni.
Ni Ca La: Niskala (skt).
1) Cây Ni Ca La: The name of a tree.
2) Không hột hay trơ trọi: Seedless or barren.
Ni Càn Đà Nhược Đề Tử: Nirgrantha-jnatiputra (skt)—Một người chống đối Đức Phật
khi Ngài còn tại thế, chủ thuyết của ông ta là thuyết “định mệnh,” mọi thứ đều
có sẳn định mệnh, và không có sự tu hành nào có thể cải đổi được định mệnh của
con người—An opponent of Sakyamuni. His doctrines were determinist, everything
being fated, and no religious practices could change one’s lot.
Ni Câu Đà: Nyag-rodha (skt).
1) Một loại cây giống như cây đa, tàng rộng, lá giống như lá
hồng, trái gọi là “đa lặt” được dùng để làm thuốc ho—The down growing tree,
Ficus Indica, or banyan; high and wide spreading, leaves like persimmon leaves,
fruit called “to-lo” used as a cough-medicine.
2) Cũng được diễn dịch như là cây liễu, có lẽ do tính chất rũ
xuống của tàng cây—Also interpreted as the willow, probably from the drooping
characteristic.
Ni Chúng Chủ: The Mistress of the nuns (Gautami—Mahaprajapati, the
foster-mother of Sakyamuni).
Ni Cô: A nun—A young Buddhist Nun—See Tỳ Kheo Ni.
Ni Dạ Ma: Niyama (skt).
1) Nguyện: Restraint—Vow—Determination—Resolve.
2) Bất Thối Bồ tát: A degree of Bodhisattva progress, never
turning back.
Ni Dân Đà La: Nimindhara (skt)—Nemimdhara (skt)—Ni Dân Đạt La.
1) Ni Dân Đạt La là tên của ngọn núi ở ngoài cùng của bảy vòng
núi kim sơn—Nimindhara maintaining the circle, i.e. the outermost ring of the
seven concentric ranges of the world, the mountain that holds the land.
2) Ni Dân Đạt La còn là tên của một loại cá có cái đầu được coi
như giống núi Ni Dân Đạt La vậy—The name of a sea fish whose head is supposed
to resemble this mountain.
Ni Di Lưu Đà: Nirodha (skt).
1) Diệt: Extinction—Annihilation.
2) Diệt Đế hay Diệu Đế thứ ba trong Tứ Diệu Đế. Một khi dây
nghiệp bị bứt đứt thì sẽ không còn dính mắc vào sanh tử luân hồi nữa: The third
of the four noble truths. With the breaking of the chain of karma there is no
further bond to reincarnation.
Ni Đà Na: Nidana (skt).
1) The twelve causes or links in the chain of existence—See
Thập Nhị Nhân Duyên.
2) Trong các kinh thường có bài “Tự” như lời tựa nêu lên lý do
vì sao Đức Phật lại thuyết pháp—Applied to the purpose and occasion of writing
sutras, Nidana means:
a) Biệt Tự: Có người hỏi nên thuyết sự đó—Those written because
of a request or query.
b) Thông Tự: Nidana (skt)—Vì nhân duyên mà thuyết sự hay nói về
một biến cố đặc biệt—Those written because of certain events.
Ni Đà Na Mục Đắc Ca: Nidana-matrka (skt)—Hai trong mười hai bộ Kinh Phật—Two of
the twelve divisions of the sutras:
1) Ni Đà Na: Nidana (skt)—Kinh Nhân Duyên—Dealing with nidanas.
2) Mục Đắc Ca: Matrka (skt)—Kinh Bổn Sự—Dealing with previous
incarnations.
Ni Đại Sư: An abbess.
Ni Đàn: The nun’s altar—A convent or nunery.
Ni Để: Nidhi (skt)—Pranidhana (skt)—Nghi hoặc—To be doubtful.
Ni Giới: Rules for nuns (348).
Ni Kiền: Nirgrantha (skt)—Ni Kiện—Ni Càn Đà.
1) Vô hệ, vô kết hay không bị trói buộc bởi những hệ phược của
tam giới: Freed from all ties.
2) Một loại xuất gia ngoại đạo tu theo lối khổ hạnh cởi truồng
bôi tro—A naked heretic mendicant or devotee who is free from all ties, wanders
naked, and covers himself with ashes.
Ni Kiện Đà Phất Đát La: Nirgrantha-putra (skt)—See Ni Kiền.
Ni Kiện Độ: Bhiksu-khanda (skt)—Một phần trong Tứ Phần Luật nói về
luật của Tỳ Kheo Ni—A division of Vinaya, containing the rules for nuns.
Ni Kiện Tha Ca: Một loại quỷ Dạ Xoa không có cần cổ—A kind of throatless
yaksa.
Ni La: Nila (skt)—Màu xanh da trời đậm hay màu xanh lá cây—Dark
blue or green.
Ni La Âu Bát La: Nilotpala (skt)—Bông sen xanh—The blue lotus.
Ni La Bà Đà La: Nilavajra (skt)—Ni Lam Bà—Kim Cang chùy màu lam—The blue
vajra or thunderbolt.
Ni La Ô Bát La: See Ni La Âu Bát La.
Ni La Phù Đà: Nirarbuda (skt)—See Ni Lạt Bộ Đà.
Ni La Tế Đồ: Nilapita (skt)—Những chiếu chỉ và báo cáo hàng năm được kể
đến trong Tây Du Ký—“The blue collection” of annals and royal edicts, mentioned
in the record of the Voyage to the West.
Ni La Ưu Đàm Bát La: Nila-udumbara (skt)—Loại hoa Ưu Đàm Bát La có hoa màu xanh
đậm—An udumbara with dark blue coloured flowers.
Ni Lạt Bộ Đà: Nirarbuda (skt)—Ni La Phù Đà—tên gọi của địa ngục thứ hai
trong tám địa ngục lạnh—Bursting tumours, the second naraka of the eight cold
hells.
Ni Lâu Đà: Nirodha (skt)—See Ni Di Lưu Đà.
Ni Liên Thiền: Nairanjana (skt)—Neranjara (p)—Ni Liên Thiền Na—Tên của
con sông Ni Liên Thiền, một phụ lưu về hướng Đông của sông Phalgu. Bây giờ dân
Ấn Độ gọi là sông Lilajana với nước trong xanh, tinh khiết và mát mẻ. Dòng sông
phát xuất gần vùng Simeria, trong quận Hazaribad, miền trung tiểu bang Bihar,
thuộc vùng đông bắc Ấn Độ. Nơi mà nhà tu khổ hạnh Sĩ Đạt Đa đã thăm viếng và tắm
sau khi Ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh. Trên bờ sông Ni Liên có khu rừng Sa La, nơi
Đức Phật đã nghỉ ngơi vào buổi chiều trước khi Ngài lên ngồi thiền định 49 ngày
dưới cội Bồ Đề và thành đạo tại Bồ Đề Đạo Tràng, cách một khoảng ngắn về phía
tây sông Ni Liên—The name of a river Nairanjana (Nilajan) that flows past Gaya,
an eastern tributary of the Phalgu, during the Buddha’s time. It is now called
by Indian people the Phalgu or Lilajana river with its clear, blue, pure and
cold water. The river has its source near the Simeria region in the district of
Hazaribad in the central Bihar state of the northeast India. This river was
visited and bathed by Siddarttha after he gave up his ascetic practices. There
was a Sala grove on the banks where the Buddha spent the afternoon before the
night of his enlightenment after sitting meditation forty-nine days under the
Bodhi-Tree, located in the present-day Buddha-Gaya village which is situated at
a short distance to the west of this river.
Ni Ma La: Nirmanarati (skt)—Ni Ma La Thiên—Hóa Lạc Thiên—Lạc Biến
Hóa Thiên—Tu Mật Đà Thiên—Cõi trời hóa lạc, cõi trời thứ năm trong sáu cõi trời
dục giới, nơi thọ mệnh lâu đến 8.000 năm—Devas who delight in transformations,
the fifth of the six devalokas of desire, where life lasts for 8,000
years.
Ni Pháp Sư: A nun teacher—Effeminate.
Ni Sư: An abbess.
Ni Sư Đàn: Nisidana (skt)—A thing to sit or lie on, a mat.
Ni Tát Đàm: Nguyên tử, thành phần vật chất nhỏ nhất—An atom, the
smallest possible particle.
Ni Tát Kỳ Ba Dật Đề: Naihsargika-prayascittika (skt)—Xả Đọa, một trong ngũ
thiên tội:
1) Ni Tát Kỳ (Xả): Tội được xả bỏ vì người phạm biết thú tội và
sám hối—The sin is being forgiven on confession and restoration being made.
2) Ba Dật Đề (Đọa): Tội phải bị đọa vì người phạm không chịu
thú nhận và sám hối—The sin is not being forgiven because of refusal to confess
and restore.
Ni Trưởng: Master of the nuns.
Ni Tư Phật: Sugatacetana (skt)—Một vị đệ tử, người đã khinh thị Đức
Thích Ca Mâu Ni Phật trong tiền kiếp khi Ngài còn là Thường Bất Khinh Bồ Tát,
nhưng về sau nầy nhờ Phật Thích ca thọ ký mà thành Phật Ni Tư—A disciple
who slighted Sakyamuni in his former incarnation of Never-Despite, but who
afterwards attained through him to Buddhahood.
Ni Tự: A nunery or convent.
Ni Tỳ Khưu: Tỳ Khưu Ni—A female bhiksu (bhiksuni)—A nun.
Ni Viện: Ni tự—Nunnery—Ni viện đầu tiên được thành lập tại Trung
Hoa dưới triều đại nhà Hán—The first nunery in China is said to have been
established in the Han dynasty.
Ních: Chật ních—Crowded.
Niêm Cổ: Niêm Đề—Nêu lên những nguyên tắc thời xưa—To refer to
ancient examples.
Niêm Hoa Vi Tiếu: Sự việc nầy không xuất hiện cho mãi đến năm 800 sau Tây
Lịch (vì không được các bậc tông sư đời Tùy và Đường nói đến. Đến đời Tống thì
Vương An Thạch lại nói đến sự việc nầy), nhưng lại được coi như là điểm khởi
đầu của Thiền Tông (theo Kinh Đại Phạm Thiên Vương vấn Phật thì Phạm Vương nhân
đến núi Linh Thứu, đã dâng Phật một cành hoa Ba La vàng rồi xả thân làm
sàng tọa thỉnh Phật thuyết pháp. Đức Thế Tôn đăng tọa, giơ cành hoa lên cho đại
chúng xem, nhưng không ai hiểu Thế Tôn muốn nhắn nhủ gì, duy chỉ một mình Ca
Diếp mỉm cười. Nhân đó Đức Thế Tôn lại nói: “Ta có chính pháp nhãn tạng, Niết
Bàn diệu tâm, thực tướng vô tướng trao lại cho Ma Ha Ca Diếp.”)—“Buddha held up
a flower and Kasyapa smiled.” This incident does not appear till about
800 A.D., but is regarded as the beginning of the tradition on which the Ch’an
or Intuitional sect based its existence.
Niêm Hương: Dâng hương cúng Phật—To take and offer incense.
Niêm Ngữ: Pháp Ngữ Lục, một từ ngữ đặc biệt trong nhà Thiền—To take
up and pass on a verbal tradition, a Zen term.
Niêm Y: Thâu nhặt quần áo—To gather up the garment.
Niềm An Lạc Sâu Xa: A profound peace
Niềm Nở: Warm—To welcome someone with a warm reception.
Niềm Thương: Affection.
Niềm Tin: Belief—Faith—Saddhâ (s).
Niềm Tin Mù Quáng: Blind acceptance.
Niệm: Smrti (skt)—Sati (p).
1) Ký ức không quên đối với cảnh:
Recollection—Mindfulness—Memory—Wrath—Idea—Thought—To think
on—Remembrance—Thinking of or upon—Calling to mind—Reflect—To remember.
2) Niệm Kinh: To read—To recite—To say.
3) Niệm bao gồm những nghĩa sau đây—“Sati” has the following
meanings:
· Sự chăm chú: Attentiveness.
· Sự chú tâm mạnh mẽ vào vấn đề gì:
Fixing the mind strongly on any subject.
· Sự chú tâm vào một điểm:
Mindfulness.
· Sự hồi tưởng: Remembrance.
· Ký ức (sự nhớ): Memory.
· Sự lưu tâm: Attentiveness.
· Sự ngẫm nghĩ: Reflection.
· Sự tưởng nhớ: Recollection.
· Ý thức: Consciousness.
· Tất cả những gì khởi lên từ trong
tâm: All that arise from our mind.
Niệm Biết:
· Biết theo trí phân biệt của phàm
phu: Smriti-vijnanana (skt)—Knowing in accordance with ordinary people’s
knowledge—A thought of knowing—Discerning thought.
· Niệm tỉnh thức: Smriti-buddhi or
Smriti-jnanin (skt)—A thought of awareness
Niệm Căn: Smrtindriya (skt)—Một trong năm căn—The root or organ of
memory, one of the five indriya.
**
For more information, please see Ngũ Căn.
Niệm Châu: Niệm chuỗi—To tell beads.
Niệm Chuỗi: See Niệm châu.
Niệm Định: Chánh niệm và chánh định—Correct memory and correct
samadhi.
Niệm Giác Chi: Một trong bảy giác chi—Holding the memory continually, one of the Sapta bodhyanga.
**
See Thất Bồ Đề Phần.
Niệm Hương Buổi Sáng: Incense Praise at morning recitation.
Niệm Kinh: Đọc kinh hay tụng kinh—To read prayers—To repeat the
sutras.
Niệm Lậu: Dòng trí nhớ của ảo tưởng—The leakages or stream of delusive
memory.
Niệm Lục Tự Di Đà: See Recite Amitabha Buddha.
Niệm Lực: Smrtibala (skt)—Một trong ngũ lực hay một trong thất bồ đề
phần, sức chuyên niệm có thể diệt trừ được ảo tưởng giả tạo—Power of memory or
thought (mindfulness) which destroys falsity, one of the five powers or bala,
or one of the seven bodhyanga.
Niệm Ngôn: Tâm niệm thế nào thì miệng nói ra thế ấy—As the mind
remember, so the mouth speaks; also the words of memory.
Niệm Niệm: Ksana of a ksana (skt)—Khoảng cách giữa hai niệm quá ngắn,
không thể xen tạp bởi bất cứ thứ gì—A ksana is the ninetieth part of the
duration of a thought—An instant—Thought after thought.
Niệm Niệm Tương Tục:
1) Sự tương tục không ngừng nghỉ: Unbroken continuity.
2) Sự tương tục của niệm niệm hay thiền quán vào một vật thể:
Continuing instant in unbroken thought or meditation on a subject.
3) Niệm Phật tương tục không ngừng: Unceasing intonation
(invocation) of a Buddha’s name.
Niệm Niệm Vô Thường: Hết thảy các pháp hữu vi sinh diệt không dừng trụ trong
từng sát na—No-permanence of Instant after instant, i.e. the impermanence of
all phenomena—Unceasing change.
Niệm Pháp: To pray to the Dharma—Mindfulness of the Dharma.
Niệm Phật:
(I) Ý nghĩa của Niệm Phật—The meanings of Buddha Recitation:
1) Niệm hồng danh Phật ra tiếng hay không ra tiếng (gọi tên
Phật bằng lời), hay quán tưởng về tướng tốt của Phật—To repeat the name of a
Buddha audibly or inaudibly, or visualization of the Buddha’s auspicious marks.
(II) Mục đích của niệm Phật—The purpose of
Buddha Recitation:
1) Mục đích trước mắt của việc niệm Phật là đạt được nhất tâm,
từ nhất tâm người ta có thể từ từ thấy tánh để rồi đạt được mục đích tối hậu là
Phật quả—To pray to Buddha—To repeat the name of a Buddha (audibly or
inaudibly)—Mindfulness of the Buddha—The intermediate goal of Buddha Recitation
is to achieve one-pointed mind; from one-pointed mind gradually one can see
one’s own nature or to achieve the ultimate goal of Buddhahood—See Recite
Amitabha Buddha.
2) Trong Kinh Vô Lượng Thọ, Đức Thích Tôn có lời huyền ký như
sau: “Đời tương lai, kinh đạo diệt hết, ta dùng lòng từ bi thương xót, riêng
lưu trụ kinh Vô Lượng Thọ trong khoảng một trăm năm. Nếu chúng sanh nào gặp
kinh nầy, tùy ý sở nguyện, đều được đắc độ.”—In the Long Amitabha Sutra,
Sakyamuni Buddha made the following prediction: “In the days to come, the paths
of the sutras will come to extinction. I, with compassion and mercy, will
purposely make this sutra survive for a hundred years. Anybody who encounters
this sutra will, according to his wish, surely attain Enlightenment.”
3) Trong Kinh Đại Tập, Đức Thế Tôn đã bảo: “Trong thời mạt
pháp, ức ức người tu hành, ít có kẻ nào đắc đạo, chỉ nương theo Pháp môn Niệm
Phật mà thoát luân hồi.”—In the Great Heap Sutra, Sakyamuni Buddha predicted:
“In the Dharma-Ending Age, among multitude of practitioners, very few will
attain the Way. The most they can expect is to rely on the Pure Land method to
escape Birth and Death.
4) Ngài Thiên Như Thiền Sư, sau khi đắc đạo, cũng đã khuyên
dạy: “Mạt pháp về sau, các kinh diệt hết, chỉ còn lưu bốn chữ A Di Đà Phật để
cứu độ chúng sanh. Nếu kẻ nào không tin, tất sẽ bị đọa địa ngục.” Bởi đời mạt
pháp về sau, khi các kinh đều diệt hết, chúng sanh căn cơ đã yếu kém, ngoài câu
niệm Phật, lại không biết pháp môn nào khác để tu trì. Nếu không tin câu niệm
Phật mà tu hành, tất phải bị luân hồi. Và trong nẻo luân hồi, việc lành khó
tạo, điều ác dễ làm, nên sớm muộn gì cũng sẽ bị đọa địa ngục—Elder Zen Master
T’ien-Ju, having attained the Way, also admonished: “In the Dharma-Ending Age,
all sutras will disappear, and only the words”Amitabha Buddha” will remain to
bring liberation to sentient beings.” This is because, in the distant future,
deep in the Degenerate Age, when all sutras have disappeared and people’s
capacities are at a low level, they will not be aware of any method other than
Buddha Recitation. If they do not believe in and practice Pure Land, they will
certainly remain mired in the cycle of Birth and Death. Within that cycle, good
actions are difficult to perform while bad deeds are easy to commit. Thus
sooner or later they are bound to sink into the hellish realms.
5) Theo Ấn Quang pháp sư, một bậc cao Tăng thời cận đại ở Trung
Hoa, cũng đã bảo: “Sự cao siêu nhiệm mầu của pháp môn niệm Phật, chỉ có Phật
với Phật mới hiểu biết hết được. Những kẻ khinh chê pháp môn niệm Phật, không
phải chỉ khinh chê hạng ông già bà cả tu Tịnh Độ, mà chính là khinh chê luôn cả
chư Phật và các bậc đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, và Long Thọ.
Thời mạt pháp đời nay, chúng sanh nghiệp nặng tâm tạp. Nếu ngoài môn Niệm Phật
mà tu các môn khác, nơi phần gieo trí huệ phước đức căn lành thì có, nơi phần
liễu sanh thoát tử trong hiện thế thì không. Tuy có một vài vị cao đức hiện
những kỳ tích phi thường, song đó đều là những bậc Bồ Tát nương theo bản nguyện
để dạy dỗ chúng sanh đời mạt pháp, như trong Kinh Lăng Nghiêm đã nói.
Nhưng các vị ấy cũng chỉ vừa theo trình độ của chúng sanh mà thị hiện ngộ
đạo chớ không phải chứng đạo. Chỉ riêng pháp môn Tịnh Độ, tuy ít người tu chứng
được niệm Phật tam muội như khi xưa, nhưng có thể nương theo nguyện lực của
mình và bản nguyện của Phật A Di Đà, mà đới nghiệp vãng sanh về cõi Tây Phương
Cực Lạc. Khi về cõi ấy rồi thì không còn luân hồi, không bị thối chuyển, lần
lần tu tập cho đến lúc chứng quả vô sanh.”—The Patriarch Yin Kuang, a Chinese
Pure Land Master of recent times, also said: “The magnificence and
extraordinary nature of the Buddha Recitation dharma can only be fully
understood among the Buddhas. For those who look down on this dharma door of
Buddha Recitation, not only will they belittle the ‘old men and elderly women’
who are practicing Pureland, they will also belittle the Buddhas and the
Maha-Bodhisattvas such as Manjusri, Samantabhadra, Asvaghosha, and Nagarjuna.
In the current Dharma-Ending Age, sentient beings bear heavy karma and
their minds are deluded. If they practice other methods rather than Buddha
Recitation, they can expect to sow the seeds of merit, virtue and wisdom but
not to escape the cycle of Birth and Death in their present lifetimes. Although
there are a few instances of great monks exhibiting extraordinary achievement,
they are in reality transformation Bodhisattvas. In accordance with their
vows, they act as examples for sentient beings in the Dharma-Ending Age, as is
taught in the Surangama Sutra (a key Zen text). Even then, these Bodhisattvas,
adapting themselves to people's ’apacities, can only take the expedient
appearance of having awakened to theWay, but not having attained Enlightenment.
In the specific case of Pure Land, very few sentient beings can achieve the
Buddha Recitation Samadhi these days, compared to earlier times. However,
through Buddha Recitation, they can take their residual karma along with them
to the Pure Land by relying on their own vows and those of Amitabha Buddha.
Once there, they have escaped Birth and Death, achieved non-retrogression, and
can progress in cultivation until they reach the stage of
Non-Birth.”
(III) Tịnh Độ và Thiền—The Pure Land and
Zen—Nhiều đại thiền sư Trung Quốc đã ngộ bên Thiền vẫn âm thầm hành trì và
hoằng hóa pháp môn niệm Phật. Trong số các vị nầy, có những vị đã đạt được đại
ngộ như Thiền sư Vĩnh Minh, Thiên Y Hoài, Viên Chiếu Bản, và Tử Tân, vân vân.
Đến như ngài Bách Trượng Hoài Hải, đệ tử kế thừa pháp của Thiền sư Mã Tổ Đạo
Nhất ở Giang Tây, người mà những tòng lâm trong thiên hạ đều phải theo cách
thức kiến lập thanh quy pháp chế. Từ xưa đến nay chưa có ai dám có lời thị phi
hay trái với pháp chế nầy. Theo thanh quy của ngài, thì nghi thức tụng cầu cho
những vị Tăng bệnh nặng có lời văn như sau: “Phải nhóm chúng lại, tất cả đồng
tụng bài kệ tán Phật A Di Đà, rồi cao tiếng niệm Nam Mô A Di Đà Phật, hoặc trăm
câu, hoặc ngàn câu. Khi niệm xong, hồi hướng phục nguyện rằng ‘Nếu các duyên
chưa mãn, sớm được an lành. Như hạn lớn đến kỳ, nguyện sanh về An Dưỡng Địa.’
Đây rõ ràng là bằng chứng chỉ quy Tịnh Độ vậy. Lại trong nghi thức đưa những vị
Tăng đã tịch có đoạn nói: “Đại chúng đồng niệm A Di Đà Phật hồi hướng phục
nguyện rằng: Thần siêu cõi Tịnh, nghiệp dứt đường trần, thượng phẩm sen nở hiện
kim thân, nhứt sanh Phật trao phần quả ký.” Đến như lúc trà tỳ, trong thanh quy
lại dạy: “Vị Duy Na chỉ dẫn khánh niệm ‘Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại
Từ Đại Bi A Di Đà Phật’ mười lần, đại chúng đồng xướng họa theo. Khi xướng xong
lại hồi hướng rằng ‘Trước đây xưng dương mười niệm, phụ giúp vãng sanh.’” Tất
cả những thanh quy nhà Thiền vừa kể trên trong các thiền gia, chứng minh rõ
ràng sự quy hướng Tịnh Độ của các ngài—Many great Zen masters in China, already
achieved great enlightenment in Zen, quietly practiced and propagated Pure Land
Teachings. Among them are found many Elder Masters of high achievement,
including Masters Yung Ming, T’ien-I-Huai, Yuan-Chao-Pen, and Tzu-Shen, etc.
Even Zen Master Pai-Chang-Huai-Hai, direct successor to the great Zen Master
Ma-Tsu-Tao-I in Chiang-His. Zen communities throughout the world are
established on his model and have adopted the “Pure Rules” for monasteries
which he instituted. Since ancient times, no one has dared to criticize or
violate this set of rules. According to these rules, prayers for the benefit of
seriously ill monks and nuns include the following passage: “The fourfold
assembly should gather together , and all shall recite verses of praise to
Amitabha Buddha and chant his name from one hundred to one thousand times. At
the end, the following words of transference should be read ‘If conditions have
not yet come to an end, let him quickly recover. If the time of death has
arrived, we pray that he will be reborn in the Pure Land.’ This is clearly
pointing the way back to the Pure Land.” Moreover, the liturgy for
sending off deceased monks includes this passage: “The great assembly should
all recite the name of Amitabha Buddha in unison, transfering the merits and
making the following vows: Let his soul be reborn in the Pure Land, his karma
in the world of dust severed; let him be rborn in the upper lotus grade, with a
golden body. May he also receive a prediction of Buddhahood in one
lifetime.” Furthermore, at the time of burial or cremation, the Pure Rules
stipulate: “The monk in charge of the service should lead the way, striking the
small bell, and recite the name of Amitabha Buddha ten times, with the great
assembly following the unison. After recitation, the following words of
transference should be read ‘We have just intoned the Buddha’s name ten times
to assist in rebirth.” All of the above mentioned Pure Rules clearly pointing
the way back to the Pure Land.
(IV) Phân loại Niệm Phật—Categories of
Recitation of Buddha-name: Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Tịnh Độ Thập
Nghi Hoặc Vấn Luận, có hai loại niệm Phật—According to Most Venerable Thích
Thiền Tâm in The Treatise on the Ten Doubts, question number three, there are
two kinds of Recitation of Buddha-name:
1) Duyên Tưởng Niệm Phật: Niệm Phật là duyên tưởng theo ba mươi
hai tướng tốt của Phật, làm sao cho khi mở mắt hay nhắm mắt cũng đều thấy
Phật—One method of Buddha Recitation is to focus on or visualize the thirty-two
auspicious signs of the Buddha, concentrating the Mind so that, asleep or
awake, you always see the Buddha.
2) Chuyên Xưng Danh Hiệu: Một phương pháp khác thông dụng hơn
là chuyên xưng danh hiệu, chấp trì không tán loạn, cứ bền giữ như thế, trong
đời nầy cũng được thấy Phật. Phép xưng danh cần phải lắng lòng không cho tán
loạn, mỗi niệm nối tiếp nhau, buộc tâm nơi hiệu Phật. Khi miệng niệm Nam Mô A
Di Đà Phật, tâm phải soi theo mỗi câu mỗi chữ cho rành rẽ rõ ràng. Khi xưng
danh hiệu Phật, không luận ít hay nhiều, đều phải một lòng một ý tâm tâm nối
nhau. Niệm như thế mới có thể diệt được tám triệu kiếp tội nặng nơi đường sanh
tử. Nếu chẳng vậy thì tội chướng khó tiêu trừ—Another, more common employed
method is to concentrate exclusively on reciting the Buddha’s name, holding
fast singlemindedly and without interruption. In this way, the practitioner
will see the Buddha in this very life. This method requires that the Mind be
calm, still and undisturbed, each recitation follows one before, the Mind focus
on the Buddha name. While the mouth recites the Buddha’s name, the Mind should
clearly contemplate each and every utterance, so that each and every word is
clear and distinct. During recitation, regardless of the number of utterances,
Mind and thought should be utterly sincere and focussed. Only with such
singleminded practice can each utterance erase ‘eight million eons of heavy
transgressions.’ Otherwise, karmic obstructions are difficult to
eradicate.
3) Lý Sự Niệm Phật—Theoretical and Practical Buddha Recitation:
Niệm Phật đều có lý và sự—Reciting Buddha has theory and practice.
a) Lý Niệm Phật—Theoretical Buddha Recitation: Lý là lẽ phải là
điều suy luận. Đây là cảnh giới giải ngộ thuộc về phần chơn tánh—Theories are
truths, are the matter of thoughts and reflections. This is the realm of being
able to penetrate deeply into the True Nature.
b) Sự Niệm Phật—Practical Buddha Recitation: Sự là phương
tiện, là công hạnh hành trì tu tập, là hình thức. Đây là cảnh giới thuộc về
phần tướng—Practice is a skillful method or means toward an end, the effort put
forth in cultivation and application of theory. This is regarded as the ralm of
Form-Characteristic.
c) Tuy nhiên, nếu luận đến chỗ cùng cực thì lý là sự và sự là
lý, tánh là tướng, tướng là tánh. Lý tức sự, sự tức lý; lý sự đều viên dung lẫn
nhau mà Kinh Hoa Nghiêm gọi là lý sự vô ngại, sự sự vô ngại. Trên đường tu tập,
lý sự làm trong ngoài cho nhau, phối hợp cùng giúp đỡ lẫn nhau cho được thành
tựu. Có lý thì việc làm mới có giềng mối cương lãnh, có sự mới chứng minh và
thực hiện được điều suy luận để đi đến mục tiêu và thâu đoạt kết quả vãng sanh
hay giác ngộ. Lý như đôi mắt sáng để nhìn đường; sự như đôi chân khỏe để tiến
bước. Nếu không có mắt hoặc có mà lờ lạc, tất dễ lạc đường. Nếu không có chân,
thì dù cho mắt có sáng tỏ bao nhiêu cũng chẳng làm sao đi đến nơi đến chốn
được. Nếu như có lý mà không có sự, thì cũng như người có họa đồ, biết rõ đường
lối mà chẳng chịu đi. Ví bằng có sự mà không có lý, thì cũng như kẻ tuy có đi
nhưng mờ mịt đường đi, không người hướng đạo. Có lý lại thêm có sự, thì cũng
như người đã thông suốt đường lối rồi, vừa cất bước hành trình, tất sẽ về đến
nơi bảo sở. Cho nên trên đường tu hành nếu có sự mà chẳng có lý thì chẳng đi
đến đâu, đôi khi còn bị lầm đường. Tuy nhiên, đáng sợ nhất là những kẻ hiểu lý
mà không hành sự, tức là không thực hành, chỉ ngồi nói suông, thì dù cho có
nhàn đàm hý luận cả đời cũng chẳng tiến được chút nào. Vì vậy Phật pháp có thể
độ hạng người ngu dốt chẳng thông một chữ, chớ vô phương độ những kẻ thế trí
biện thông mà không chịu hành trì—However, if this discussion is taken to the
ultimate level, then theory is practice, practice is theory. True nature is
form characteristic, and form characteristic is true nature. Theory and
practice are perfectly harmonious which the Avatamsaka Sutra called ‘Theory and
practice are without limitation, practice-practice without limitation.’ On the
path of cultivation, theory and practice are the inside and outside of each
other, respectively combining to help each other achieve completeness or
enlightenment. Theory is necessary to provide purpose and direction; practice
gives validation and proof for reasons and deductions of theory to reach goals
and achive results of gaining rebirth or enlightenment. Theory is like two
shining eyes to look on the path of enlightenment; practice is like a pair of
strong healthy legs making strides. If eyes are missing or blind, or are
working insufficiently, it is easy to get lost on the path. If legs are
missing, then no matter how sufficient the eyes are, it is impossible to reach
the aimed destination. Moreover, knowing theory but not practice is similar to
a person who has a map, and clearly knows the path to enlightenment, but
refusing to travel. Having practice but not knowing theory is similar to a
person who despite traveling finds the progress is slow, often gets lost,
without anyone to rely on for guidance. Having both theory and practice is
similar to a person who knows clearly the path and once the travel begins knows
the proper destination will be reached. Therefore, on the cultivated path,
having practice but missing theoretical understanding will not be of any help.
However, the most disturbing thing is those who understand theory but refuse to
practice, instead always speak hollowly, and not practice what they speak. Even
though they are able to debate, discuss, and analyze theory in the most magnificent
manner throughout their entire lives, they will never make any progress in
their whole life. Therefore, the Buddha Dharma can help those who are ignorant
and completely uneducated but have no means to help those with ‘worldly
intelligence’ who lack practice and application of their knowledge.
(V) Chơn Niệm Phật—Truthfully and genuinely recite Buddha: Theo
Đại Sư Ấn Quang—According to Great Master Yin-Kuang:
1) Mỗi câu tràng hạt Phật là Tâm,
2) Phật đã là Tâm chạy uổng tìm.
3) Bể Phật dung hòa Tâm với Cảnh.
4) Trời Tâm bình đẳng Phật cùng sanh.
5) Bỏ Tâm theo Phật còn mơ mộng.
6) Chấp Phật là Tâm chẳng trọn lành.
7) Tâm Phật nguyên lai đều huyễn giả.
8) Phật Tâm đồng diệt đến viên thành.
1) Each recitation overfilled with
Buddha
as the Mind,
2) Buddha is Mind, do not waste time
searching.
3) Buddhahood is Mind and Environment in harmony.
4) Equality of Mind is the birth of a Buddha.
5) Abandon the True Mind but wish to fllow
Buddha is a delusional dream.
6) Attach to Mind is Buddha will not lead to goodness.
7) Mind, Buddha is inherently artificial and ilusory.
8) Buddha, Mind both eliminated, attains Perfection.”
Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ đã
chú giải—Most Venerable explained in the Thirteen Patriarchs of Pureland
Buddhism:
1) Mỗi câu tràng hạt Phật là Tâm—Khi lần chuỗi niệm Phật, thì
tâm phải thanh tịnh, nghĩa là miệng niệm, tai nghe rõ tiếng niệm Phật, và ý
không suy nghĩ vu vơ, nói cách khác, chớ nên khởi sanh vọng tưởng, thì ngay đó
mỗi câu niệm đều được cảm ứng đạo giao hay tương ưng với chư Phật. Đây chính là
“Sự Tướng Hành Trì” là pháp thức niệm Phật của hàng liên hữu hiện nay: Each
recitation overfilled with Buddha as the Mind—When Pureland cultivators count
beads reciting Buddha, the Mind needs to be pure and quiescent; mouth recites
Buddha, ear listens clearly to the sounds of Buddha Recitation, Mind does not wander
and think about any thing else, in other words, do not let any delusional
thought arise. If this is accomplished, in that very moment, each recitation
will be harmonious, establishing the “miraculous connections” with Buddha. This
is presently the “form-Practice,” which is the dharma practice of Buddha
Recitation Lotus cultivators.
2) Phật đã là Tâm uổng chạy tìm—Phải biết Phật không phải từ
bên ngoài đến, mà chính thật là do từ Tâm của mình mà thành. Vì cái tâm ấy nó
bao hàm hết khắp cả mười phương pháp giới (see Tâm I-H). Một tâm mà hay sanh ra
tất cả. Nếu hành giả nhất quyết cầu Phật ở ngoài Tâm mình thì kẻ đó chưa rõ
pháp môn “Lý Tánh Duy Tâm.” Cổ đức dạy: “Phật tại Tây Phương vốn chẳng xa. Tây
phương ngay ở tại lòng ta.” Lại nữa, tam đồ ác đạo vốn không xa, tam đồ ngay ở
tại lòng ta. Cho nên hành giả luôn bình tâm kiểm điểm xem trong Tâm mình có
Phật hay chỉ có Tam Đồ—Buddha is Mind, do not waste time searching—It is
important to understand Buddha does not come from the outside, but is attained
from within the cultivator’s Mind. For the Mind encompasses all the ten
directions of dharma realms (see Tâm I-H). One Mind can give rise to
everything. If anyone who cultivates but is determined to find Buddha outside
of his or her Mind, then such a person is one who is not clear about the
dharma door of “Theory Nature Is Within The Mind” or everything comes from the
Mind. Old saints taught: “The Buddha in the West is inherently not far, Western
direction truly exists within our nature.” Moreover, it is necessary to know
that the three domains, evil paths are inherently not far, three domains truly
exist from within our nature. Therefore, sincere cultivators just calmly and
peacefully re-examine our Minds to see if Buddha exists or the three domains and
unwholesome paths exist.
3) Bể Phật dung hòa Tâm với Cảnh—Muốn được thành đạo giải
thoát, chứng quả vị Đại Bồ Đề của Phật, hành giả phải dung hòa cả hai phần Sự
và Lý. Phải biết Tâm là Lý vì nó vô hình vô tướng. Còn Sự là Cảnh vì nó
có hình có tướng—Buddhahood is Mind and Environment in harmony—If anyone wishes
to attain the Emancipation and the fruit of Ultimate Enlightenment of
Buddhahood, it is necessary to harmonize both Practice and Theory. It is
important to understand that Mind is Theory because it is formless, and
Practice is Environment because it has form.
4) Trời Tâm bình đẳng Phật cùng sanh—Hễ Tâm bình đẳng thì chính
là Tâm Phật, vì các pháp đều bình đẳng, đều có đủ ba môn giải thoát là Không,
Vô Tướng, và Vô Nguyện như nhau cả. Phật được gọi là đấng Bình Đẳng, vì đối với
tất cả các loài chúng sanh, Ngài đều dùng lòng từ bi, thương xót và hóa độ
giống y như nhau. Tổ muốn nhắc chúng ta trong tu hành cho được thành đạo phải
dứt bỏ cái tâm phân biệt—Equality of Mind is the birth of Buddha—If the
Equality of Mind exists then that is the Buddha’s Mind for all dharmas are
equal, fair, non-biased, and are complete with the following three doors
of emancipation and enlightenment of Emptiness, Non-Form, and Non-Vow.
The Buddha is known as the “Equality One” because in associating with all
sentient beings, He uses compassion, mercy, and empathy to transform and aid
them regardless of their forms whether they are heavenly beings or are
hell dwellers. The Patriarch wanted to remind all of us on the cultivated path,
if anyone wishes to attain enlightenment, it is necessary to eliminate the
“Discriminatory Mind.”
5) Bỏ Tâm theo Phật còn mơ mộng—Như có kẻ nào tu hành mà cứ để
cho cái Tâm của mình cứ luôn luôn chạy theo vọng tưởng, tức là phan duyên, quên
mất cái Chân Tâm của mình đi, tu như thế mà muốn được thành đạo hay được Phật
rước về chốn Tây Phương Cựu Lạc, thì kẻ đó chỉ là người mơ mộng mà thôi, quyết
sẽ chẳng bao giờ thành Phật được. Phật tử chơn thuần phải để cho Tâm của mình
luôn thanh tịnh thì mới hợp với Tâm của Phật và mới thấy được Phật—Abandon True
Mind but wish to follow Buddha is a delusional dream—Anyone who cultivates for
enlightenment but always continue to allow the Mind to follow delusional
thoughts or distractions, allowing for the Mind to pull and dictate one’s
being, and to forget about one’s True Mind or Buddha Nature. If cultivated in
this way but wishes to attain the enlightened path, or have Buddha delivered to
the Western Ultimate Bliss World, then such a person is only a delusional
dreamer, such an individual is certain never see the Buddha. Sincere
cultivators should always allow their minds to be pure and quiescent in order
to accord with the Mind of the Buddha, and once this happens they will see the
Buddha.
6) Chấp Phật là Tâm chẳng trọn lành—Người tu hành nào mà cứ
luôn miệng nói lý rằng tâm tôi đã là Phật, cần chi phải tu hành, cần chi phải
lạy Phật hay niệm Phật, cần chi phải tụnh kinh, xuất gia, thọ giới, cần chi
phải đi chùa nghe pháp, vân vân. Vì thế nên không chịu tu theo cách Hành Trì Sự
Tướng, không chịu Y Giáo Phụng Hành. Ngược lại, Tâm chứa đầy những cống cao,
ngã mạn, kẻ đó ắt chẳng được trọn lành. Khi lành chẳng được trọn, ắt phải là
trọn ác. Tổ muốn nhắc chúng ta chớ nên nói lý suông “Phật là Tâm” trên đầu môi
chót lưỡi, mà bỏ đi sự thực hành—Attach to Mind is Buddha then will not attain
goodness—For cultivators who often speak hollowly and only in Theory, such as
my Mind is already Buddha, then what is the need for a cultivated path? What
is the need for prostrating to Buddha, or reciting Buddha’s name? What is the
need to chant sutra, leave home, or taking precepts? What is the need for going
to temples to listen to the Dharma? Etc. Thus, they refuse to cultivate, refuse
to apply the teaching to practice, and their minds are filled with egotism and
conceit. Such people will never attain goodness. If they never attain goodness,
then clearly they will attain wickedness. The Patriarch would like to remind
all of us that do not speak hollowly by saying ‘Buddha is Mind’ and then
abandon all ‘form practices and applications’ because to say and to do so one
is guaranteed to ‘not attain goodness’ on the cultivated path.
7) Tâm Phật nguyên lai đều giả huyễn—Trong cái Chơn Như Pháp
Tánh Giới ấy, thì Tâm cũng không có, nghĩa là Tâm bất khả đắc, Phật cũng bất
khả đắc. Nếu người tu hành nào mà còn thấy có Phật có Tâm thì còn bị dính mắc
vào trong các sự chấp trước, ắt sẽ không bao giờ giải thoát được. Tổ muốn khai
thị cho chúng ta về Đệ Nhất Nghĩa Không là cảnh giới đại triệt, đại ngộ của các
bậc Thánh nhân giải thoát, chứ không phải là cảnh giới của hàng phàm phu bạt
địa chúng ta. Vì chúng ta là phàm phu chưa chứng đắc một chút gì cả nên cần
phải chấp vào nơi sự tướng để mà tu. Nghĩa là thấy có vọng tâm cần dứt trừ, hay
thấy có Phật để cầu tiếp dẫn—Mind, Buddha is inherently artificial and
ilusory—In the True Dharma Realm Characteristic, the Mind does not existthe
Buddha does not exist either. Thus, if any cultivator still sees or
discriminates there is Buddha, there is Mind, that cultivator is still trapped
and stucked in ‘attaching to forms and discriminations’ and will never attain
liberation and enlightenment. The Patriarch wanted to open our Minds to follow
the Highest and Most Deeply Penetrating Doctrine belonging in the realm of the
‘Great Enlightenment’ of the Saintly Beings who have attained liberation and
does not belong to the realm of the unenlightened mortals such as
ourselves. Because we are ordinary mortals who have not attained enlightenment,
it is necessary for us to be attached to the practice and form
characteristics in order to cultivate, in other words, we need the dharma as
means for us to attain enlightenment. This means we see the existence of the
delusional mind needing to be eliminated, and we see the existence of Buddha in
order to pray for deliverance.
8) Phật Tâm đồng diệt đến viên thành—Nếu như ai mà tu chứng đắc
đến được cảnh giới không còn thấy có Tâm nữa như ngài Huệ Khả trả lời đức Đạt
Ma Tổ Sư ‘Tôi tìm Tâm không được,’ hay không thấy có Phật, thì các bậc ấy đã
chứng đạo và trở về được cái thể Nhứt Chơn rồi vậy. Bát Nhã Tâm Kinh gọi là
‘Ngũ uẩn giai không’ tức là phủi chân bước lên bờ giải thoát—Buddha, Mind both
eliminated: Attain Perfection—If anyone is able to penetrate fully the state
where the mind no longer exists or no longer seen, as the way the Second
Patriarch said to Bodhidharma ‘I cannot find the Mind,’ or do not see the
existence of Buddha; then such a person has attained enlightenment and has
returned to Oneness of emptiness and Nirvana. The Heart Sutra refers to the
Mind as the ‘Five Skandhas Emptiness.” If this is achieved, one has crossed
over and landed on the shore of enlightenment.
Niệm Phật Giả: Hành giả tu hành bằng cách niệm Phật, đặc biệt là Phật A
Di Đà, với hy vọng được vãng sanh Cực Lạc—One who repeats the name of a Buddha,
especially Amitabha, with the hope of entering the Pure Land.
Niệm Phật Tam Muội: Buddha Recitation Samadhi.
(A) Khi niệm Phật, hành giả phải chú tâm nghĩ tưởng đến pháp
thân Phật. Trong khi niệm Phật, hành giả nên thở ra vô đều đặn thế nào mà mình
cảm thấy thoải mái nhất, chứ đừng gượng ép thở dài thở ngắn; vì gượng ép sẽ có
nguy cơ bịnh đường hô hấp. Người làm công quả giúp việc nhà bếp dốt nát, mặt
mày lem luốc, nhưng chuyên trì niệm hồng danh Phật sẽ thành tựu vãng sanh Cực
lạc; ngược lại người thông minh đĩnh ngộ mà chỉ nhàn đàm hý luận, thì chuyện
vào địa ngục là không thể nghĩ bàn—During repeating the Buddha’s name, the
individual whole-heartedly thinks of the appearance of the Buddha or of the
Dharmakaya. During reciting the Buddha’s name, one should inhale and exhale
regularly and confortably; try not to lengthen or shorten your normal breath
span because by trying to lengthen or shorten your breath, you may develop a
respiratory problem. A person who come to the temple to help in the kitchen,
dull-witted, and face is covered with soot, but diligently practises Buddha
recitation will surely achieve the Pure Land rebirth; in contrast, an
intelligent person spends all time in gossiping, rebirth in hells is
inconceivable. There are two kinds of samadhi:
1) Định Khẩu Tam Muội: A fixed mouth samadhi.
2) Định Tâm Tam Muội: A fixed mind samadhi.
(B) Theo Đại Sư Huệ Viễn trong Liên Tông Thập Tam Tổ, niệm Phật
Tam Muội là nhớ chuyên và tưởng lặng—According to Great Master Hui-Yuan in The
Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism, Buddha Recitation Samadhi means
“often remembering” and “having quiescence.”
1) Nhớ Chuyên—Often Remembering: Tâm trí lúc nào cũng chuyên
nghĩ nhớ đến Đức Phật A Di Đà, chớ không bị chia chẻ nhiều lối, do đó mà được
vào trong cảnh “chí một, tâm đồng.”—Often remembering means always to think and
remember Amitabha Buddha and if this is the case, the mind will not be
split into infinite directions; therefore, the cultivator is able to penetrate
the state of “single mind of complete equality.”
a) Chí một—One mind: Đây là tâm chỉ có duy nhất một chí quyết,
ấy là “cầu vãng sanh Cực Lạc.”—The mind that has only “one determination,” that
is “to gain rebirth in the Ultimate Bliss World.”
b) Tâm Đồng—Complete Equality: Tâm giống y hệt như tâm của chư
Phật, tức là tâm hoàn toàn lặng lẽ, thanh tịnh—This mind is similar to the Mind
of Buddhas, which is a mind of complete purity and quiescence.
2) Tưởng Lặng—Having Quiescence: Tất cả các tư tưởng phù phiếm
của chúng sanh đều bị lặng chìm hết cả. Làm được như vậy là được vào trong cảnh
“khí thanh, thần sáng.” Hai điều nầy tự nhiên thầm hợp, nương về mà phát sanh
ra diệu dụng—It is to have all our sentient beings’ delusional thoughts, filled
with afflictions, become completely tranquil and quiet. If this is achieved,
the cultivator will be able to enter the state of “pure mind and enlightened
spirit.” These two states will naturally and spontaneously combine to depend on
each other to give rise to an unfathomable connection with the Budhas and
Bodhisattvas.
a) Khí Thanh—Pure Mind: Khi khí thanh thì trí huệ phát sanh.
Trí nầy có khả năng soi ngộ đến tất cả các đạo lý nhiệm mầu—When pure mind
exists, it will give rise to Wisdom. This wisdom shines through and penetrates
all of the most profound and magnificient Dharma teachings.
b) Thần Sáng—Enlightened Spirit: Thần sáng có nghĩa là tinh
thần chiếu suốt các nơi tăm tối, không chỗ tối tăm nào mà chẳng được soi
tới—Enlightened spirit means the spirit will shine to all darkness, there is no
area of ignorance does not reach it.
Niệm Phật Tán Loạn: To recite the Buddha’s name in a disturbed and agitated
way—Phật tử chân thuần không nên niệm Phật tán loạn—Devoted practitioner should
never recite the Buddha’s name in a disturbed and agitated way.
Niệm Phật Tông: Tông phái lấy việc xưng tụng hồng danh Đức Phật A Di Đà
với chủ đích cầu nguyện vãng sanh Cực Lạc làm tôn chỉ, được sáng lập bởi các
ngài Đạo Xước, Thiện Đạo và các vị khác vào thời nhà Đường—The sect which
repeats only the name of Amitabha with the intention to go to (be reborn) the
Western Paradise after death, founded in the T’ang dynasty by Tao-Ch’o,
Shan-Tao, and others.
Niệm Phật Và Lục Ba La Mật: Theo ngài Ngẫu Ích Đại Sư, Tổ thứ Chín của Trung Quốc Liên
Tông Thập Tam Tổ, niệm Phật và hành trì Lục Độ không sai khác—According to
Great Master Ou-I, the Ninth Patriarch of the Chinese Thirteen Patriarchs of
the Pureland Buddhism, there are no differences between practicing Buddha
Recitation and practicing the Six Paramitas:
1) Niệm Phật mà buông bỏ được thân tâm và thế giới ấy là Đại Bố
Thí: Reciting the Buddha’s name without being attached to mind and body
is the practice of “Great Giving.”
2) Niệm Phật mà không khởi tham sân si ấy là Đại Trì Giới:
Reciting the Buddha’s name without having greed, hatred, and ignorance, is the
practice of “Great Maintaining Precepts.”
3) Niệm Phật mà không màng đến các điều nhơn ngã hay các lời
thị phi, ấy là Đại Nhẫn Nhục: Reciting the Buddha’s name without attachments to
self, others, right, wrong, better, worse or any similar gossip is the practice
of “Great Tolerance.”
4) Niệm Phật không gián đoạn, không tạp vọng, ấy là Đại Tinh
Tấn: Reciting the Buddha’s name without interruptions and distractions is the
practice of “Great Vigor.”
5) Niệm Phật không còn tưởng nghĩ đến các việc trần tục, dù lớn
hay dù nhỏ, ấy là Đại Thiền Định: Reciting the Buddha’s name without delusional
and chaotic thoughts is the practice of “Great Meditation.”
6) Niệm Phật mà không bị các pháp khác lôi kéo mê hoặc, ấy là
Đại Trí Huệ: Reciting the Buddha’s name without being allured and attracted by
other cultivated paths or Dharma doors is the practice of “Great
Wisdom.”
Niệm Phật Vãng Sanh: Một người chỉ cần niệm Phật, thì dù trong quá khứ người ấy
có phạm phải lỗi lầm, vẫn được phước đức của Phật A Di Đà và được nhận về Tây
phương Cực Lạc—If a person merely repeat the name of Amitabha, no matter how
evil his life may have been in the past, will acquire the merits of Amitabha
and be received into Western Paradise.
Niệm Phật Vãng Sanh Nguyện: The eighteenth vow of the forty-eight vows of Amitabha—See
Tứ Thập Bát Nguyện.
Niệm Phật Vi Bổn: Phật A Di Đà sẽ rước người về Tây phương Cực Lạc dù người
ấy chỉ niệm hồng danh Ngài---Amitabha Buddha will revert or receive the one who
merely repeat his name.
Niệm Tăng: Mindfulness of the Sangha.
Niệm Thiên: Niệm dục giới Thiên hay niệm Tam Giới Thiên, một trong sáu
loại Dục Thiên (Tiểu Thừa nói niệm Dục giới Thiên, Đại Thừa nói niệm Tam Giới
Thiên)—One of the six devalokas, that of recollection and desire.
Niệm Trì: Duy trì trí nhớ không gián đoạn—To apprehend and to hold
in memory.
Niệm Trước: Từ loạn niệm dẫn đến chấp trước vào ảo tưởng—Through
perverted memory to cling to illusion.
Niệm Tụng:
1) Niệm hồng danh một vị Phật: To recite, repeat, intone the
name of a Buddha.
2) Niệm Đà La Ni hay niệm chú: To recite a dharani or
spell.
Niệm Vô Thường: Instant after instant, always think about “no
permanence.”
Niệm Xứ: Smrtyupasthana (skt)—Dùng trí để quán sát cảnh—The
presence in the mind of all memories, or the region which is contemplated by
memory—Objects on which memory or the thought should dwell.
**
For more information, please see Tứ Niệm
Xứ.
Niên: A year.
Niên Giám: Yearbook.
Niên Giới: Số năm thụ giới—The number of years since receiving the
commandments.
Niên Kỵ: Ngày giỗ (kỵ)—Anniversary of a death and the ceremonies
associated with it.
Niên Lạp: Cuối năm—The end of a year.
Niên Mãn Thọ Cụ: Nhận cụ túc giới, thí dụ như thọ cụ túc giới vào tuổi
20—To receive full commandments, i.e. be fully ordained at the regulation age
of 20.
Niên Thiếu Tịnh Hạnh: Người tịnh hạnh trẻ—A young brahman.
Niên Tinh: The year-star of an individual.
Niết:
1) Bùn đen trong đáy ao: Black mud at the bottom of a pool.
2) Bùn lầy: Muddy.
3) Nhuộm đen: To blacken.
4) Uế nhiễm: To defile.
Niết Bàn: Nirvana (skt)—Nibbana (p)—Bát Nê Hoàn—Bát Niết Bàn—Bát
Niết Bàn Na—Nê Viết—Nê Hoàn—Nê Bạn—Niết Bàn Na.
(I) Nghĩa của Niết Bàn—The meanings of Nirvana: Nirvana gồm
‘Nir’ có nghĩa là ra khỏi, và ‘vana’ có nghĩa là khát ái. Nirvana có nghĩa lá
thoát khỏi luân hồi sanh tử, chấm dứt khổ đau, và hoàn toàn tịch diệt, không
còn ham muốn hay khổ đau nữa (Tịch diệt hay diệt độ). Niết Bàn là giai đoạn
cuối cùng cho những ai đã dứt trừ khát ái và chấm dứt khổ đau. Nói cách khác, Niết
Bàn là chấm dứt vô minh và ham muốn để đạt đến sự bình an và tự do nội tại.
Niết Bàn với chữ “n” thường đối lại với sanh tử. Niết bàn còn dùng để chỉ trạng
thái giải thoát qua toàn giác. Niết Bàn cũng được dùng theo nghĩa trở về với
tánh thanh tịnh xưa nay của Phật tánh sau khi thân xác tiêu tan, tức là trở về
với sự tự do hoàn toàn của trạng thái vô ngại. Trạng thái tối hậu là vô trụ
Niết Bàn, nghĩa là sự thành tựu tự do hoàn toàn, không còn bị ràng buộc ở nơi
nào nữa. Niết Bàn là danh từ chung cho cả Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa. Theo Kinh
Lăng Già, Đức Phật bảo Mahamati: “Nầy Mahamati, Niết Bàn nghĩa là thấy suốt vào
trú xứ của thực tính trong ý nghĩa chân thật của nó. Trú xứ của thực tính
là nơi mà một sự vật tự nó trú. Trú trong chính cái chỗ của mình nghĩa là
không xao động, tức là mãi mãi tĩnh lặng. Nhìn thấy suốt vào trú xứ của thực
tính đúng như nó nghĩa là thông hiểu rằng chỉ có cái được nhìn từ chính tâm
mình, chứ không có thể giới nào bên ngoài như thế cả.” Sau khi Đức Phật vắng
bóng, hầu hết các thảo luận suy luận siêu hình tập trung quanh đề tài Niết Bàn.
Kinh Đại Bát Niết Bàn, những đoạn văn bằng tiếng Bắc Phạn vừa được phát kiến
mới đây, một ở Trung Á và đoạn khác ở Cao Dã Sơn cho thấy một thảo luận sống
động về các vấn đề như Phật tánh, Chân như, Pháp giới, Pháp thân, và sự khác
nhau giữa các ý tưởng Tiểu Thừa và Đại Thừa. Tất cả những chủ điểm đó liên quan
đến vấn đề Niết Bàn, và cho thấy mối bận tâm lớn của suy luận được đặt trên vấn
đề vô cùng quan trọng nầy—Nirvana consists of ‘nir’ meaning exit, and
‘vana’ meaning craving. Nirvana means the extinguishing or liberating
from existence by ending all suffering. So Nirvana is the total extinction of
desires and sufferings, or release (giải thoát). It is the final stage of those
who have put an end to suffering by the removal of craving from their mind
(Tranquil extinction: Tịch diệt—Extinction or extinguish: Diệt)—Inaction or
without effort: Vô vi—No rebirth: Bất sanh—Calm joy: An lạc—Transmigration to
extinction: Diệt độ). In other word, Nirvana means extinction of ignorance and
craving and awakening to inner Peace and Freedom. Nirvana with a small “n”
stands against samsara or birth and death. Nirvana also refers to the state of
liberation through full enlightenment. Nirvana is also used in the sense of a
return to the original purity of the Buddha-nature after the disolution of the
physical body, that is to the perfect freedom of the unconditioned state. The
supreme goal of Buddhist endeavor—An attainable state in this life by right
aspiration, purity of life, and the elimination of egoism—The Buddha speaks of
Nirvana as “Unborn, unoriginated, uncreated, and unformed,” contrasting with
the born, originated, created and formed phenomenal world. The ultimate state is the Nirvana of No Abode (Apratisthita-nirvana), that is to say, the
attainment of perfect freedom, not being bound to one place. Nirvana is used in
both Hinayana and Mahayana Buddhist schools. In the Lankavatara Sutra, the
Buddha told Mahamati: “Oh Mahamati, Nirvana means seeing into the abode of
reality in its true significance. The abode of reality is where a thing stands
by itself. To abide in one’s self-station means not to be astir, i.e., to be
eternally quiescent. By seeing into the abode of reality as it is means to
understand that there is only what is seen of one’s own mind, and no external
world as such.” After the Buddha’s departure, most of the metaphysical
discussions and speculations centered around the subject of Nirvana. The
Mahaparinirvana Sutra, the Sanskrit fragments of which were discovered
recently, one in Central Asia and another in Koyasan, indicates a vivid
discussion on the questions as to what is ‘Buddha-nature,’ ‘Thusness,’ ‘the
Realm of Principle,’ ‘Dharma-body’ and the distinction between the Hinayana and
Mahayana ideas. All of these topics relate to the problem of Nirvana, and
indicate the great amount of speculationundertaken on this most important
question.
(II) Đặc tánh của Niết Bàn—The characteristics of Nirvana
(A) Đặc tính tổng quát của Niết Bàn—General characteristics of
Nirvana:
1) Thường Trụ: Permanent.
2) Tịch Diệt: Tranquil extinguish.
3) Bất Lão: No Aging.
4) Bất Tử: No Death.
5) Thanh Tịnh: Purity.
6) Giải Thoát: Release—Liberated from existence.
7) Vô Vi: Inaction—Without effort—Passiveness.
8) Bất Sanh: No rebirth.
9) An lạc: Calm joy.
10) Diệt Độ: Transmigration to extinction
a) Diệt Sanh Tử: Cessation of rebirth—Extinction or end of all
return to reincarnation.
b) Diệt Tham Dục: Extinction of passion.
c) Chấm dứt hết thảy khổ đau để đi vào an lạc: Extinction of
all misery and entry into bliss.
(B) Đặc Tính riêng của Niết Bàn—Special characteristics of
Nirvana:
1) Niết Bàn có thể được vui hưởng ngay trong kiếp nầy như là một
trạng thái có thể đạt được: Nirvana may be enjoyed in the present life as an
attainable state.
2) Theo Kinh Niết Bàn thì Niết Bàn có đầy đủ những bản chất của
cõi siêu việt sau đây—According to the Nirvana Sutra, Nirvana has all of the
followings in the transcendental realm:
a) Thường (không cón bị chi phối bởi vô thường): Permanence
(permanence versus impermanence).
b) Lạc: Bliss (Bliss versus suffering).
c) Ngã: Personality (Supreme self versus personal ego).
d) Tịnh: Purity (Equanimity versus anxiety).
3) Niết Bàn có đầy đủ những bản chất sau—Nirvana has all
of the following characteristics—See Niết Bàn Bát Vị.
4) Theo Bồ Tát Long Thọ trong Triết Học Trung Quán, Niết Bàn
hoặc thực tại tuyệt đối không thể là hữu (vật tồn tại), bởi vì nếu nó là hữu,
nó sẽ bị kềm chế ở nơi sanh, hoại, diệt, vì không có sự tồn tại nào của kinh
nghiệm có thể tránh khỏi bị hoại diệt. Nếu Niết Bàn không thể là hữu, thì nó
càng không thể là vô, hay vật phi tồn tại, bởi vì phi tồn tại chỉ là một
khái niệm tương đối, tùy thuộc vào khái niệm hữu mà thôi. Nếu chính ‘hữu’ được
chứng minh là không thể áp dụng cho thực tại, thì vô lại càng không thể chịu
nổi sự soi xét chi li, bởi vì ‘vô’ chỉ là sự tan biến của ‘hữu’ mà thôi.’ Như
vậy khái niệm ‘hữu’ và ‘vô’ không thể áp dụng đối với thực tại tuyệt đối, lại
càng không thể nghĩ tới chuyện áp dụng những khái niệm nào khác, bởi vì mọi
khái niệm khác đều tùy thuộc vào hai khái niệm nầy. Nói tóm lại, tuyệt đối là
siêu việt đối với tư tưởng, và vì nó siêu việt đối với tư tưởng nên nó không
thể được biểu đạt bằng tư tưởng, những gì không phải là đối tượng của tư tưởng
thì chắc chắn không thể là đối tượng của ngôn từ—According to Nagarjuna
Bodhisattva in the Madhyamaka Philosophy, the absolute is transcendent to both
thought and speech. Neither the concept of ‘bhava’ not ‘abhava’ is applicable
to it. Nirvana or the Absolute Reality cannot be a ‘bhava’ or empirical
existence, for in that case it would be subject to origination, decay, and
death; there is no empirical existence which is free from decay and death. If
it cannot be ‘bhava’ or existence, far less can it be ‘abhava’ or
non-existence, for non-existence is only the concept of absence of existence
(abhava). When ‘bhava’ itself is proved to be inapplicable to Reality, ‘abhava’
cannot stand scrutiny, for abhava is known only as the disappearance of
‘bhava.’ When the concept of ‘bhava’ or empirical existence, and ‘abhava’ or
the negation of bhava cannot be applied to the Abslute, the question of
applying any other concept to it does not arise, for all other concepts depend
upon the above two. In summary, the absolute is transcendent to thought, and
because it is transcendent to thought, it is inexpressible. What cannot be an
object of thought cannot be an object of speech.
(III) Phân loại Niết Bàn—Categories of
Nirvana: Theo Keith trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, có hai loại Niết
Bàn—According to Keith in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms,
there are two kinds of Nirvana:
1) Hữu Dư Niết Bàn: Saupadisesa-nibbana (p)—Hữu Dư Y—Những vị
đã đắc quả Niết Bàn, cái nhân sanh tử luân hồi đã hết, nhưng quả khổ ngũ
uẩn vẫn chưa hoàn toàn dứt hẳn. Vị Thánh nầy có thể nhập Niết Bàn ngay trong
kiếp nầy, nhưng phải đợi đến lúc thân ngũ uẩn chết đi thì quả khổ mới thật sự
chấm dứt—Nirvana with a remnant—Nirvana with remainder—Nirvana with
residue—Nirvana reached by those enlightened beings who have not yet completely
rid themselves of their samsaric burden of skandhas—The cause has been annihilated,
but the remnant of effect still remains. A saint may enter into this nirvana
during life, but has continue to live in this mortal realm (has not yet
eliminated the five aggregates) till the death of his body—See Hữu Dư Niết Bàn.
2) Vô Dư Niết Bàn: Anupadisesa-nibbana or Khandha-parinibbana
(p)—Vô Dư Y—Nơi không còn nhân quả, không còn luân hồi sanh tử—Remnantless
Nirvana or nirvana without residue—Where there are no more cause and effect,
the connection with the chain of mortal life being ended. A saint enters this
perfect nirvana upon the death of his body (the aggregates have been
eliminated)—Final nirvana—Nothing remaining—No further mortal suffering—See Vô
Dư Niết Bàn.
(IV) Những vấn đề liên quan đến Niết
Bàn—Problems concerning Nirvana:
1) Theo Kinh Pháp Cú, mỗi khi có người hỏi Phật còn tồn tại sau
khi chết hay không, hay Ngài đi vào thế giới nào sau khi Niết Bàn, luôn luôn
Ngài im lặng. Khi Phật im lặng trước một câu hỏi cần trả lời là “phải” hay
“không,” thì sự im lặng của Ngài thường có nghĩa là thừa nhận. Nhưng sự im lặng
của Ngài trước câu hỏi về Niết Bàn là bởi vì thính giả của Ngài không thể
hiểu nổi cái triết lý sâu xa nằm trong đó: In the Dharmapada Sutra,
whenever the Buddha was asked by a questioner whether he was to live after
death or what sort of world he was to enter after Nirvana, he always remained
silent. When the When the Buddha remained silent to a question requiring an
answer of ‘yes’ or ‘no,’ his silence usually meant assent. Ut his silence on the
question concerning Nirvana was due to the fact that his listeners could not
understand the profound philosophy involved.
2) Vấn đề then chốt của đạo Phật, dù chủ trương hình thức hay
chủ trương duy tâm, đều quy vào sự tận diệt phiền não; bởi vì trạng thái méo mó
đó của tâm được coi như là cội nguồn của tất cả mọi tội lỗi trong đời sống con
người. Phiền não có thể bị diệt tận ngay trong hiện thế. Do đó, giải thoát sự
méo mó như thế của tâm là đối tượng chính của tu trì trong Phật giáo. Niết Bàn
hay sự tận diệt của phiền não, của dục vọng, của giác năng, của tâm trí, và
ngay cả diệt tận ý thức cá biệt của con người: The main problem of Buddhism
either formalistic or idealistic, was concerning the extinction of human
passion, because this distorted state of mind is considered to be the source of
all evils of human life. Human passion can be extinguished even during one’s lifetime. Therefore liberation from such disorder of mind is the chief
object of Buddhist culture. Nirvana means the extinction of passion, of desire,
of sense, of mind, and even of individual consciousness.
3) Trong tâm của người theo đạo Phật, Niết Bàn không chứa bất
cứ ý tưởng thần thánh hóa nào về Đức Phật. Nó đơn giản chỉ cho sự liên tục vĩnh
cửu của nhân cách của Ngài trong ý nghĩa cao nhất của chữ nầy. Nó chỉ cho việc
trở về Phật tánh bản hữu của Ngài, là thân Chánh Pháp của Ngài chứ không phải
là thân kinh điển như một số lầm tưởng. Pháp có nghĩa là lý thể mà Phật đã nhận
được trong giác ngộ viên mãn. Niết bàn là thân lý thể không bị hạn cuộc trong
ngôn ngữ nào cả: To Buddhist mind, Nirvana did not contain any idea of
deification of the Buddha. It simply meant the eternal continuation of his
personality in the highest sense of the word. It meant returning to his
original state of Buddha-nature, which is his Dharma-body, but not his
scripture-body as misunderstood by people. Dharma means the 'i‘eal' ’tself
which the Buddha conceived in his perfect Enlightenment. Nirvana is this ideal
body which is without any restricting conditions.
4) Các nhà chủ trương hình thức chủ trương kinh điển là sự biểu
dương trọn vẹn cho lý thể của Phật. Do đó họ quan niệm Phật vĩnh viễn tồn tại
trong thân giáo pháp, còn Niết Bàn là diệt tận vô dư của Ngài: The formalists,
on the other hand, hold that the scripture is the perfect representation of the
ideal of the Buddha. Hence their opinion that the Buddha lives forever in the
scripture-body, Nirvana being his entire annihilation and extinction otherwise.
5) Nguyên lý Niết Bàn hay trạng thái tắt lửa trong ánh sáng của
thời gian và không gian. Đối với các triết gia, nhất là triết gia Ấn Độ, nếu
tin rằng không gian và thời gian là vô hạn, thì đó là một ảo tưởng: The
principle of Nirvana or the state of a fire blown out in the light of space and
time. It was an illusion on the part of philosophers, especially some of the
Indian philosophers, to believe that space and time were infinite.
6) Tuy nhiên, đạo Phật chưa từng nói không gian và thời gian là
vô hạn, vì đạo Phật coi chúng là những chất thể vật lý. Lý thuyết không gian
xoắn ốc do các nhà vật lý học hiện đại đề ra, khá đả thông thuyết Niết Bàn. Vũ
trụ hay pháp giới nói theo thuật ngữ là khu vực được chiếm cứ bởi không gian và
thời gian, và trong khu vực đó chúng kiểm soát những ngọn sóng của hiện hữu.
Vậy trên thực tiễn, thế giới thời-không là đại dương của những làn sóng
sinh tử. Nó là môi trường của chu kỳ sinh tử, thế giới của sáng tạo, của năng
lực, của nhân duyên, của ý thể, của tự tạo, và của biến hành. Nó là môi trường
của dục, của sắc và tâm: Buddhism, however, has never treated space and time as
infinite, for Buddhism takes them to be physical matters. The theory that space
is curved, set forth by modern physicists, has considerably facilitated the
elucidation of the doctrine of Nirvana. The universe, or the Realm of Principle
(Dharmadhatu) as it is technically called, is the region which is occupied by
space and time and in which they control all the waves of existence. So
in practice, the space-time world is the ocean of the waves of life and death.
It is the sphere of the flowing cycles of life or samsara, the world of
creation, of energy, of action, of causation and ideation, of self-creation and
of dynamic becoming. It is the sphere of desire, matter (form) and mind.
a) Không gian được coi như là một trong ngũ đại hay năm hành
chất, và đôi khi nó được trình bày là có hình dáng tròn: Space is considered
one of the five elements (earth, water, fire, air, and space), and it is
sometimes represented to be of round shape.
b) Một số trường phái coi thời gian là thực hữu, một số khác
nói nó bất thực. Nhưng cần ghi nhận đặc biệt rằng thời gian chưa hề được coi
như hiện hữu tách biệt không gian . Thế có nghĩa là, mọi loài và mọi vật đều có
thời gian của riêng nó. Không gian và thời gian luôn luôn nương nhau. Loài
người có trường độ sống trung bình, hay tuổi thọ khoảng trăm năm. Nhưng có
người nói loài hạc lại sống cả ngàn năm , rùa sống tới vạn tuổi. Với các loài
trời, người ta nói một ngày một đêm của chúng dài bằng cả 50 năm của người trần
gian. Trái lại, ruồi nhặng chỉ sống ngắn ngủi trong một ngày:Time is treated as
real in some schools while in other schools it is treated as unreal. But it is
to be particularly noted that time has never been considered to exist
separately from space. That is to say, every being or thing has time of its
own. Space and time are always correlative. Men have an average lifetime of one
hundred years. But a crane is said to live for a thousand years, and a tortoise
even ten thousand years. And with the heavenly beings, their one day and night
is said to be as long as the whole fifty years of the earthly men. A day-fly,
on the other hand, live a short wave-length of only one day.
(V) Lời Phật dạy về Niết Bàn trong Kinh Pháp Cú—The Buddha’s
teaching on Nirvana in the Dharmapada Sutra: Một số sinh ra từ bào thai, kẻ ác
thì đọa vào địa ngục, người chính trực thì sinh lên chư thiên, nhưng cõi Niết
bàn chỉ dành riêng cho những ai đã diệt sạch nghiệp sanh tử—Some are born in a
womb; evil-doers are reborn in hells; the righteous people go to blissful
states; the undefiled ones pass away into Nirvana (Dharmapada 126).
Niết
Bàn An Lạc Vĩnh Cửu: Eternal peace-Nirvana.
Niết Bàn Ấn: See Niết Bàn Tịch Tĩnh Ấn.
Niết Bàn Bát Vị: Tám loại pháp vị đầy đủ của Niết Bàn—The eight rasa, i.e.
flavours or characteristics of nirvana.
1) Thường Trụ: Permanence.
2) Tịch Diệt: Peace.
3) Bất Lão: No growing old.
4) Bất Tử: No death.
5) Thanh Tịnh: Purity.
6) Hư Không Siêu Việt: Transcendence.
7) Bất Động: Unperturbedness.
8) Khoái Lạc: Joy.
Niết Bàn Bất Sinh: Anutpado-nirvanam (skt)—Nirvana means no-birth (anything
that is subject to birth-and-death is not Nirvana).
Niết Bàn Châu: Niết Bàn Châu hay dòng sanh tử, nơi mà Đức Phật cứu vớt
chúng sanh bằng thuyền Bát Chánh—Nirvana-island, i.e. the stream of mortality,
from which stream the Buddha save men with his eight-oar boat of truth.
**
For more information, please see Bát
Niết Bàn Cung: Cung điện Niết Bàn của các bậc Thánh—The nirvana palace of
the saints.
Niết Bàn Đường: Diên Thọ Đường—Tĩnh Hành Đường—Vô Thường Viện—Nơi đưa chư
Tăng đau nặng đến để nhập diệt, về hướng mặt trời lặn, góc tây bắc của tự
viện—The nirvana hall, or dying place of a monk in a monastery, in the
direction of the sunset at the north-west corner.
Niết Bàn Giới: Nirvana-dhatu (skt)—Niết Bàn có thể tàng giữ muôn đức vô
vi, nơi sanh ra các việc lợi lạc thế gian và xuất thế gian, một trong tam pháp
vô vi—The realm of nirvana (the abode of Nirvana), or bliss, where all virtues
are stored and whence all good comes, one of the three dharmas of inaction—See
Tam Vô Vi Pháp.
Niết Bàn Hội: Lễ kỷ niệm ngày Đức Phật nhập diệt, ngày rằm tháng hai (có
nơi cho là ngày 8 tháng 2, ngày 8 tháng 8, ngày rằm tháng ba, hay ngày 8 tháng
chín) —The Nirvana assembly, second moon 15th day, on the anniversary of the
Buddha’s death (some countries believe on different dates, 8th of 2nd moon, 8th
of 8th moon, 15th of 3rd moon, or 8th of 9th moon).
Niết Bàn Hữu Dư: Nirvana with remainder—See Niết Bàn (C) (1), and Hữu Dư
Niết Bàn.
Niết Bàn Kinh: Nirvana Sutra—Có hai bộ—There are two versions:
1) Tiểu Thừa—Hinayana:
a) Phật Bát Nê Hoàn Kinh, do Bạch Pháp Tổ đời Tây Tấn dịch—The Mahaparinirvana
Sutra, translated into Chinese by Po-Fa-Tsu from 290 to 306 A.D. of the Western
Chin dynasty.
b) Đại Bát Niết Bàn Kinh, do ngài Pháp Hiển dịch năm 118—The
Mahaparinirvana Sutra, translated by Fa-Hsien around 118.
c) Bát Nê Hoàn Kinh, dịch giả vô danh—The Mahaparinirvana
Sutra, translator unknown.
d) Tiểu Thừa Niết Bàn Kinh trong Kinh Trung Bộ—The Hinayana
Nirvana Sutra in the Middle Length Discourses of the Buddha.
2) Đại Thừa—Mahayana:
a) Phật huyết Phương Đẳng Bát Nê Hoàn Kinh, do ngài Pháp Hộ Đàm
Ma La Sát đời Tây Tấn dịch sang Hoa ngữ khoảng những năm 256 đến 316 sau Tây
Lịch—Caturdaraka-samadhi-sutra, translated into Chinese by Dharmaraksa of the
Western Chin 256-316 A.D.
b) Đại Bát Nê Hoàn Kinh, do ngài Pháp Hiển cùng với ngài Giác
Hiền Phật Đà Bạt Đà La đời Đông Tấn dịch sang Hoa ngữ khoảng những năm 317 đến
420 sau Tây Lịch—Mahaparinirvana sutra, translated into Chinese by Fa-Hsien,
together with Buddhabhadra of the Eastern Chin around 317-420 A.D.
c) Tứ Đồng Tử Tam Muội Kinh: Do Xà Na Quật Đa đời Tùy dịch sang
Hoa ngữ, khoảng những năm 589 đến 618 sau Tây Lịch—Caturdaraka-samadhi-sutra,
translated into Chinese by Jnana-gupta of the Sui dynasty, around 589-618 A.D.
d) Đại Bát Niết Bàn Kinh Bắc Bổn (đầy đủ) do Đàm Vô Sấm dịch
sang Hoa ngữ vào khoảng những năm 423 sau Tây Lịch—The complete translation of
the Mahaparinirvana Sutra, northern book, translated by Dharmaraksa,
around 423 A.D.
e) Đại Bát Niết Bàn Kinh Nam Bổn do hai nhà sư Trung Hoa là các
ngài Tuệ Viễn và Tuệ Quân dịch sang Hoa ngữ—The Mahaparinirvana-sutra, produced
in Chien-Yeh, the modern Nan-King, by two Chinese monks, Hui-Yen and Hui-Kuan,
and a literary man, Hsieh Ling-Yun.
** For more information, please see Kinh Đại
Bát Niết Bàn.
Niết Bàn Kỵ: Niết Bàn Hội—Lễ truy điệu Đức Phật nhập diệt vào ngày rằm
tháng hai (treo tượng Niết Bàn, tụng Kinh Di Giáo)—The nirvana assembly, 2nd
moon 15th day, on the anniversary of the Budha’s death.
Niết Bàn Lạc: Cảnh vui sướng ở Niết Bàn, một trong ba niềm an
lạc—Nirvana-joy or bliss, one of the three kinds of joy.
**
For more information, please see Tam Lạc.
Niết Bàn Môn:
1) Cửa vào Niết Bàn: The gate or door into Nirvana.
2) Cửa bắc nghĩa địa: The northern gate of a cemetery.
Niết Bàn Nguyên Lý: The Principle of Nirvana or Perfect Freedom.
1) Để hiểu đạo Phật một cách chính xác, chúng ta phải bắt đầu ở
cứu cánh công hạnh của Phật. Năm 486 trước Tây Lịch, hay vào khoảng đó, là năm
đã chứng kiến thành kết hoạt động của Đức Phật vói tư cách một đạo sư tại Ấn
Độ. Cái chết của Đức Phật, như mọi người đều rõ, được gọi là Niết Bàn, hay tình
trạng một ngọn lửa đã tắt. Khi một ngọn lửa đã tắt, không thấy còn lưu lại một
chút gì. Cũng vậy, người ta nói Phật đã đi vào cảnh giới vô hình không sao miêu
tả được bằng lời hay bằng cách nào khác: To understand Buddhism properly we
must begin at the end of the Buddha’s career. The year 486 B.C. or thereabouts
saw the conclusion of theBuddha's activity as a teacher in India. The death of
the Buddha is called, as is well known, ‘Nirvana,’ or ‘the state of the fire
blown out.’ When a fire is blown out, nothing remain to be seen. So the Buddha
was considered to have enetered into an invisible state which can in no way be
depicted in word or in form.
2) Trước khi Ngài chứng nhập Niết Bàn, trong rừng Ta La song
thọ trong thành Câu Thi Na, Ngài đã nói những lời di giáo nầy cho các đệ tử:
“Đừng than khóc rằng Đức đạo sư của chúng ta đã đi mất, và chúng ta không
có ai để tuân theo. Những gì ta đã dạy, Pháp cùng với Luật, sẽ là đạo sư của các ngươi sau khi ta vắng bóng. Nếu các người tuân hành Pháp và Luật không
hề gián đoạn, há chẳng khác Pháp thân (Dharmakaya) của Ta vẫn còn ở đây mãi
mãi: Just prior to his attaining Nirvana, in the Sala grove of Kusinagara, the
Buddha spoke to His disciples to the following effect: “Do not wail saying ‘Our
Teacher has pased away, and we have no one to follow.’ What I have taught, the
Dharma (ideal) with the disciplinary (Vinaya) rules, will be your teacher after
my departure. If you adhere to them and practice them uninterruptedly, is it
not the same as if my Dharma-body (Dharmakaya) remained here forever?”
3) Dù có những lời giáo huấn ý nhị đó, một số đệ tử của Ngài đã
nẩy ra một ý kiến dị nghị ngay trước khi lễ táng của Ngài. Do đó đương nhiên
các bậc trưởng lão phải nghĩ đến việc triệu tập một đại hội trưởng lão để bảo
trì giáo pháp chính thống của Phật. Họ khuyến cáo vua A Xà Thế lập tức ra lệnh
cho 18 Tăng viện chung quanh thủ đô phải trang bị phòng xá cho các hội viên của
Đại Hội Vương Xá: In spite of these thoughtful instructions some of his
disciples were expressing a dissenting idea even before his funeral. It was
natural, therefore, for the mindful elders to think of calling a council of
elders in order to preserve the orthodox teaching of the Buddha. They consulted
King Ajatasatru who at once ordered the eighteen monasteries around his capital
to be repaired for housing the members of the coming Council of Rajagriha
4) Khi thời gian đã tới, năm trăm trưởng lão được chọn lựa cùng
hợp nhau lại. Ông A Nan đọc lại kinh pháp (Dharma) và Upali đọc lại luật nghi
(Vinaya). Thật ra không cần đọc lại các Luật, vì chúng đã được Phật soạn tập
khi Ngài còn tại thế. Hội nghị đã kết tập tinh tấn về Pháp và Luật: When
the time arrived five hundred selected elders met together. Ananda rehearsed
the Dharmas (sutras) while Upali explained the origin of each of the Vinaya
rules. There was no necessity of rehearsing the Vinaya rules themselves since
they had been compiled during the Buddha’s lifetime for weekly convocation for
confessions. At the council a fine collection of the Dharma and the Vinaya was
made, the number of Sutras was decided, and the history of the disciplinary
rules was compiled.
5) Kết quả hoạt động của các trưởng lão được thừa nhận như là
có thẩm quyền do những người có khuynh hướng chủ trương hình thức và thực tại
luận. Tuy nhiên, có một số quan điểm dị biệt, Phú Lâu Na là một thí dụ, vị nầy
sau bị giết chết lúc đang giảng pháp. Phú Lâu Na ở trong một khu rừng tre gần
thành Vương Xá suốt thời đại hội, và được một cư sĩ đến hỏi, Ngài trả lời: “Đại
hội có thể tạo ra một kết tập tinh tế. Nhưng tôi sẽ giữ những gì đã tự
mình nghe từ Đức Đạo Sư của tôi.” Vậy chúng ta có thể cho rằng đã có một số
người có các khuynh hướng duy tâm và tự do tư tưởng: The result of the elders’
activity was acknowledged as an authority by those who had a formalistic
and realistic tendency. There were , however, some who differed from them in
their opinion. Purana, for instance, was skilled in preaching. Purana was in a
bamboo grove near Rajagriha during the council, and, being asked by some
layman, is said to have answered: “The council may produce a fine collection.
But I will keep to what I heard from my teacher myself. So we may presume that
there were some who had idealistic and free-thinking tendencies.
Niết Bàn Nguyệt Nhật: Ngày tháng Đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, có nhiều thuyết,
ngày rằm hay mồng 8 tháng hai; ngày mồng 8 tháng tám; ngày rằm tháng ba; ngày 8
tháng chín—The date of the Buddha’s death, variously stated as 2nd moon 15th or
8th day; 8th moon 8th day; 3rd moon 15th day; and 9th moon 8th day.
Niết Bàn Phần: Một phần của Niết Bàn—The part or lot of nirvana.
Niết Bàn Phật:
1) Hình thức Niết Bàn của Phật (Ứng thân giáo hóa của Phật đã
xong, lại thị hiện diệt độ)—The Nirvana-form of Buddha.
2) Niết Bàn Tượng: The sleping Buddha, i.e. the Buddha entering
nirvana—See Niết Bàn Tượng.
3) See Câu Thi Na.
Niết Bàn Phong: Gió Niết Bàn đưa tín hữu vào nẻo Bồ Đề—The nirvana-wind
which wafts the believers into bodhi.
Niết Bàn Phược: Hệ phược của niết bàn hay niềm vui bám víu vào niết bàn mà
không chịu vào Bồ tát địa để làm lợi cho chúng sanh—The fetter of nirvana, i.e.
the desire for nirvana, which hinders entry upon the Bodhisattva life of saving
others.
Niết Bàn Sắc: Màu sắc niết bàn, như màu đen tượng trưng cho hướng
bắc—Nirvana-colour, i.e. black representing north.
Niết Bàn Sơn: Núi Niết Bàn vững chắc, đối lại với sự đổi thay của dòng
luân hồi sanh tử—The steadfast mountain of nirvana in contrast with the
changing stream of mortality.
Niết Bàn Tăng: Nivasana (skt)—Nê Hoàn Tăng—Nê Phược Ta Na—Quyết Tu La—Nội
y của chư Tăng Ni—An inner garment of monks and nuns.
Niết Bàn Tế: Vùng hay khu vực niết bàn, đối lại với vùng của luân hồi
sanh tử—The region of nirvana in contrast with the region with mortality or
samsara (luân hồi sanh tử).
Niết Bàn Thánh: Tên thường gọi của ngài Đạo Sinh đời Tần tìm thấy bộ Niết
Bàn Kinh Lược Bản, phát minh ra nghĩa Phật thân thường trụ—AKA of T’ao-Shêng,
pupil of Kumarajiva, who translated part of the Nirvana sutra, asserted the
eternity of Buddha.
Niết Bàn Thành: Thành Niết Bàn, là nơi ở của các vị Thánh—The Nirvana city,
the abode of the saints.
Niết Bàn Thực: Thực phẩm Niết Bàn, lấy dục vọng làm củi đốt, lấy trí huệ
làm lửa, hai thứ chuẩn bị nấu thực phẩm Niết Bàn—Nirvana food; the passions are
faggots, wisdom is fire, the two prepare nirvana as food.
Niết Bàn Tịch Tĩnh Ấn:
1) Pháp ấn Niết Bàn tịch tĩnh, một trong ba pháp ấn là vô
thường, vô ngã và niết bàn—The seal or teaching of nirvana (one of the three
proofs that the sutra was uttered by the Buddha, its teaching of impermanence,
non-ego, and nirvana).
2) Ấn khế bảo chứng để được chứng quả niết bàn: The witness
within to the attainment of nirvana.
Niết Bàn Tịnh Xaù: Tên của một tịnh xá nổi tiếng trong thị xã Vũng Tàu. Tịnh
xá được xây dựng vào năm 1969 trên triền núi Nhỏ ở Vũng Tàu và hoàn tất năm
1974. Tịnh xá gồm bốn tầng lầu, diện tích 1.000 mét vuông. Ở cổng vào tịnh xá
có bức phù điêu long mã cao 4 mét, rộng 2 mét, làm bằng nhiều mảnh sứ tráng men
bể ghép lại. Đối diện là cây trụ phướn cao 21 mét, có 42 tầng, cũng ốp bằng
những mảnh sứ tráng men bể có màu vàng đỏ, phía trên đầu chia thành hình ba
nhánh sen. Ở chánh điện có tượng Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, dài 12 mét, màu
nâu hồng. Trên tầng ba có thuyền Bát Nhã đầu rồng, làm bằng xi măng đắp gạch
men đủ màu, dài 12 mét. Tịnh xá còn giữ chiếc lư chạm hình tứ linh vật, đắp
bằng các mảnh sứ bể rất công phu và khéo léo. Tịnh xá còn có một đại hồng
chung cao 3 mét 8, nặng 3 tấn 5—Name of a famous monastery, located in Vũng Tàu
City. The monastery was built in 1969 on a slope of Mount Nhỏ and completed in 1974.
The monastery consists of four floors built on an area of 1,000 square meters.
At the gateway, there is a bas-relief of a horse-dragon, 4 meters high, 2
meters wide, made of pieces of broken China earthernware. Across the bas-relief
is a pennon pillar, 21 meters high, , with 42 stairs with yellow and red
enamelled tiles. On the upper part of the pilar emerge three branches of lotus.
The statue of Buddha at His Parinirvana, 12 meters in height and pinkish brown
in colour, is worshipped in the Main Hall. A dragon-deaded boat named Prajna,
12 meters long, is made of cement covered by multicoloured enamelled tiles and
placed on the third floor. The monastery has still kept an incense burner
having the shape of the four sacred animals. It was cast painstakingly by
pieces of broken China earthernware. A great bell of 3.8 meters in height, 3.8
meters in circumference and 3.5 tons in weight is also placed in the
monastery.
Niết Bàn Tông: Tông phái dựa vào Kinh Niết Bàn (một trong 13 tông phái
Phật giáo Trung Quốc). Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học
Phật Giáo, dù việc nghiên cứu kinh Niết Bàn phát khởi ở cả hai miền Nam và Bắc,
nhưng Niết Bàn tông lại được thành lập ở phương Nam, vì đa số học giả có tài
năng đều quy tụ ở phương Nam. Về sau nầy khi tông Thiên Thai được thành lập thì
Tông Niết Bàn được sáp nhập vào tông Thiên Thai—The school based on the
Mahaparanirvana Sutra, one of the thirteen sects in China (Đại Bát Niết Bàn
Kinh). According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist
Philosophy, although the study of the Nirvana text started and continued in the
South and in the North, the Nirvana School was founded in the South where most
of the able scholars lived. When the T’ien-T’ai School appeared, the Southern
branch of the Nirvana Sect merged in the T’ien-T’ai Sect.
Niết Bàn Tướng: Tướng nhập diệt hóa thân thứ tám của Đức Phật, tức là
tướng nhập diệt của Đức Thế Tôn (Đức Phật giáo hóa chúng sanh đến năm 80 tuổi
thì hóa duyên hết, ngài liền đến giữa hai cây Ta La bên bờ sông Bạt Đề, tại
thành Câu Thi Na, vùng trung Ấn Độ, thuyết giảng xong Kinh Niết Bàn rồi nhập
diệt)—The 8th sign of the Buddha, his entry into nirvana, i.e. his death, after
delivering “in one day and night” the Parinirvana Sutra.
Niết Bàn Tượng: Ứng thân giáo hóa của Phật đã xong, lại thị hiện diệt độ.
Chỉ còn lại tượng Niết Bàn (lúc ngài nhập diệt an nhiên tự tại giống như lúc
ngài nằm ngủ)—The sleeping Buddha, i.e. the Buddha entering nirvana.
Niết Bàn Vô Dư: Nirvana without remainder—See Niết Bàn (C)(2), and Vô Dư
Niết Bàn.
Niết Ca La: Niskala (skt).
1) Tuyệt chủng tử: Không hột—Seedless.
2) Bất khả phân: Indivisible.
3) Sống trong giây phút ngắn ngủi: A short time to live.
4) Một thời gian ngắn: A short time.
5) Tạm thời: Temporary.
Niết Lý Để: Nirrti (skt).
1) Sự hoại diệt: Destruction.
2) Vị Nữ Thần của tử thần và sự hoại diệt, cai quản phía tây
nam (Thần Niết Lý): The goddess of death and corruption, regent of the
south-west.
Niết Lý Để Phương: Hướng tây nam—The south-west quarter.
Niết Mạt: Nimat or Calmadana (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật
Học Từ Điển, Niết Mạt là một vương quốc và thành phố cổ, nằm về phía đông nam
biên giới sa mạc Gobi—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English
Buddhist Terms, Calmadana is an ancient kingdom and city at the south-east
borders of the desert of Gobi.
Niệu Sàng Quỷ Tử: Loài quỷ luôn đi tiểu vô cùng hôi thúi—A urinating ghost.
Nín: To be silent—To hold one’s tongue.
Nín Bặt: To stop suddenly.
Nín Hơi: To hold one’s breath
Nín Cười: To refrain from laughing
Ninh: Thà là—Better than—Rather.
Ninh An: Dễ chịu—At ease—Reposeful.
Nịnh: To flatter.
Níu: To grab—To catch—To cling.
Bù Lại: To off-set—To make up for—To recover.
Bù Trừ: To compensate.
Bù Xù: Untidy.
Búa Rìu: Hammer and hatchet.
Bùa: Talisman.
Bùa Mê: Charm.
Bùa Yêu: Love potion.
Bùi Ngùi: Melancholy—Sad.
Bùi Phất Lược: Vaipulya (skt)—See Phương Quảng, and Phương Quảng Đại Trang Nghiêm Kinh in Vietnamese-English Section.
Bùi Tai: Pleasant to hear.
Bụi Rậm: Brushwood—Undergrowth.
Bụi Trần: Những việc trần thế làm mờ bản tánh sáng suốt, gồm sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp—Worldly dust—All mundane things that can cloud our bright self-nature. These include form, sound, scent, taste, touch and dharmas.
Bùn: Mud.
Bùn Lầy: Muddy.
Bủn Rủn: To be paralized.
Bủn Xỉn: Stingy—miserly—Mean.
Bung Ra: To untretch—To unwind.
Bùng Nổ: To break out.
Bụng Dạ: Heart
Bụng Rộng Rãi: See Bụng Tốt.
Bụng Tốt: Good heart—Good-hearted—Generous—Bountiful.
Bụng Trống: Empty stomach.
Buộc: To oblige—To constrain—To compel—To bind—To force.
Buộc Chặt: To bind tightly.
Buộc Tâm Vào Một Điểm: To concentrate exclusively on one point; try to focus on this point and nothing else.
Buộc Tội: To accuse—To indict.
Buổi Giao Thời: Period of transition.
Buổi Họp: Session—Meeting.
Buổi Lễ: Ceremony.
Buổi Sơ Khai: Beginning.
Buổi Thiếu Thời: Early youth.
Buôn Thần Bán Thánh: To earn a living from religion.
Buôn Thúng Bán Mẹt: To be a small vendor or merchant.
Buồn: Sad—Doleful—Melancholy—Dismal—Disconsolate—Drearye.
Buồn Bực: Boredom.
Buồn Chán: Boring.
Buồn Chân Buồn Tay: Not to know what to do with one’s hands.
Buồn Nản: Discouraged.
Buồn Ngủ: To be sleepy.
Buồn Rầu: Sorrowful—To feel grief.
Buồn Rười Rượi: Very sad.
Buồn Hiu: Very sad—Extremely sad.
Buông: To let go—To release.
Buông Bỏ: Letting go.
1) Giáo pháp căn bản của Đức Phật chỉ dạy chúng ta cách trấn an và khống chế “Ý mã.” Khi chúng ta buồn ngũ, chỉ cần nằm xuống, tắt đèn là buông thỏng thân tâm—A basic teaching of the Buddha on how to calm and rein in the “monkey” mind. When we feel asleep, just lie down in a quiet place, put the lights out and let go our minds and bodies.
2) Theo một câu chuyện về Thiền của Nhật Bản—According to a Japanese Zen story:
· Có hai thiền sư Ekido and Tanzan cùng hành trình về Kyoto. Khi đến gần một bờ sông, họ nghe giọng một cô gái kêu cứu. Họ bèn đến nơi thì thấy một cô gái trẻ đẹp đang trôi giạt giữa dòng sông: Zen masters Ekido and Tanzan were on a journey to Kyoto. When they approached the river side, they heard a girl’s voice calling for help. When they arrived they saw a young pretty girl, stranded in the river.
· Ekido lập tức chạy đến và mang cô an toàn sang bờ bên kia. Nơi đó Ekido cùng Tanzan tiếp tục cuộc hành trình: Ekido immediately jumped down the river and carried the girl safely to the other side where, together with Tanzan, he continued his journey.
· Khi mặt trời bắt đầu lặn, họ sắp đặt mọi việc để ổn định chỗ ở qua đêm. Tanzan không thể kềm chế mình được nữa, liền nói toạc ra. “Sao bạn có thể đem cô gái ấy lên? Bạn không nhớ là chúng ta không được phép đụng đến đàn bà hay sao?”—As the sun began to set, and they made arrangements to settle down for the night, Tanzan could no longer contain himself and blurted out: “How could you pick up that girl? Do you remember that we are not allowed to touch women?”
· Ekido liền trả lời: “Tôi chỉ đưa cô gái sang bờ bên kia, nhưng bạn vẫn còn mang cô gái ấy đến đây.”—Ekido replied immediately: “I only carried the girl to the river bank, but you are still carrying her.”
Buông Lời: To utter words.
Buông Lung: Give free rein to one’s emotion.
Những lời Phật dạy về “Buông Lung”—The Buddha’s teachings on “Giving free rein to one’s emotion”
1) Không buông lung đưa tới cõi bất tử, buông lung đưa tới đường tử sanh; người không buông lung thì không chết, kẻ buông lung thì sống như thây ma—Heedfulness (Watchfulness) is the path of immortality. Heedlessness is the path of death. Those who are heedful do not die; those who are heedless are as if already dead (Dharmapada 21).
2) Kẻ trí biết chắc điều ấy, nên gắng làm chứ không buông lung. Không buông lung thì đặng an vui trong các cõi Thánh—Those who have distinctly understood this, advance and rejoice on heedfulness, delight in the Nirvana (Dharmapada 22).
3) Không buông lung, mà ngược lại cố gắng, hăng hái, chánh niệm, khắc kỷ theo tịnh hạnh, sinh hoạt đúng như pháp, thì tiếng lành càng ngày càng tăng trưởng—If a man is earnest, energetic, mindful; his deeds are pure; his acts are considerate and restraint; lives according to the Law, then his glory will increase (Dharmapada 24).
4) Bằng sự cố gắng, hăng hái không buông lung, tự khắc chế lấy mình, kẻ trí tự tạo cho mình một hòn đảo chẳng có ngọn thủy triều nào nhận chìm được—By sustained effort, earnestness, temperance and self-control, the wise man may make for himself an island which no flood can overwhelm (Dharmapada 25).
5) Người ám độn ngu si đắm chìm trong vòng buông lung, nhưng kẻ trí lại chăm giữ tâm mình không cho buông lung như anh nhà giàu chăm lo giữ của—The ignorant and foolish fall into sloth. The wise man guards earnestness as his greatest treasure (Dharmapada 26).
6) Chớ nên đắm chìm trong buông lung, chớ nên mê say với dục lạc; hãy nên cảnh giác và tu thiền, mới mong đặng đại an lạc—Do not indulge in heedlessness, nor sink into the enjoyment of love and lust. He who is earnest and meditative obtains great joy (Dharmapada 27).
7) Nhờ trừ hết buông lung, kẻ trí không còn lo sợ gì. Bậc Thánh Hiền khi bước lên lầu cao của trí tuệ, nhìn lại thấy rõ kẻ ngu si ôm nhiều lo sợ, chẳng khác nào khi lên được núi cao, cúi nhìn lại muôn vật trên mặt đất—When the learned man drives away heedlessness by heedfulness, he is as the wise who, climbing the terraced heights of wisdom, looks down upon the fools, free from sorrow he looks upon sorrowing crowd, as a wise on a mountain peak surveys the ignorant far down on the ground (Dharmapada 28).
8) Tinh tấn giữa đám người buông lung, tỉnh táo giữa đám người mê ngủ, kẻ trí như con tuấn mã thẳng tiến bỏ lại sau con ngựa gầy hèn—Heedful among the heedless, awake among the sleepers, the wise man advances as does a swift racehorse outrun a weak jade (Dharmapada 29).
9) Nhờ không buông lung, Ma Già lên làm chủ cõi chư Thiên, không buông lung luôn luôn được khen ngợi, buông lung luôn luôn bị khinh chê—It was through earnestness that Maghavan rised to the lordship of the gods. Earnestness is ever praised; negligence is always despised (blamed) (Dharmapada 30).
10) Tỳ kheo nào thường ưa không buông lung hoặc sợ thấy sự buông lung, ta ví họ như ngọn lửa hồng, đốt tiêu tất cả kiết sử từ lớn chí nhỏ—A mendicant who delights in earnestness, who looks with fear on thoughtlessness, cannot fall away, advances like a fire, burning all his fetters both great and small (Dharmapada 31).
11) Tỳ kheo nào thường ưa không buông lung hoặc sợ thấy sự buông lung, ta biết họ là người gần tới Niết bàn, nhất định không bị sa đọa dễ dàng như trước—A mendicant who delights in earnestness, who looks with fear on thoughtlessness, cannot fall away, he is in the presence of Nirvana (Dharmapada 32).
12) Người nào thành tựu các giới hạnh, hằng ngày chẳng buông lung, an trụ trong chính trí và giải thoát, thì ác ma không thể dòm ngó được—Mara never finds the path of those who are virtuous, careful in living and freed by right knowledge (Dharmapada 57).
13) Chớ nên theo điều ty liệt, chớ nên đem thân buông lung, chớ nên theo tà thuyết, chớ làm tăng trưởng tục trần—Do not follow the evil law, do not live in heedlessness. Do not embrace false views, do not be a world-upholder (Dharmapada 167).
14) Hăng hái đừng buông lung, làm lành theo Chánh pháp. Người thực hành đúng Chánh pháp thì đời nầy vui đời sau cũng vui—Eagerly try not to be heedless, follow the path of righteousness. He who observes this practice lives happily both in this world and in the next (Dharmapada 168).
15) Nếu buông lung thì tham ái tăng lên hoài như giống cỏ Tỳ-la-na mọc tràn lan, từ đời nầy tiếp đến đời nọ như vượn chuyền cây tìm trái—Craving grows like a creeper which creeps from tree to tree just like the ignorant man wanders from life to life like a fruit-loving monkey in the forest (Dharmapada 334).
Buông Lung Thương Ghét, Là Tự Kết Án Mình Vào Hầm Lửa Vạc Dầu: To let delusive thoughts of love and hate freely arise is to be condemned ourselves to the firepit and the boiling cauldron.
Buông Lung Trong Tham Đắm Dục Lạc: To devote onself entirely (wallow) in endless greed and lust.
Buông Xả: Detachment—Abandonment—To desert—To drop—To foresake.
**For more information, please see Buông Bỏ.
Buốt Lạnh: Ice-cold.
Bút: Cây viết—A pen.
Bút Đàm: Pen conversation.
Bút Ký: Note.
Bút Pháp Thâm Thúy: Abstruse manner.
Bút Tháp: Tên của một ngôi chùa, tên khác của chùa Ninh Phúc, chùa tọa lạc về hướng tây của thôn Bút Tháp, huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, cách Hà Nội chừng 17 dậm. Đây là một trong những ngôi chùa cổ trong tỉnh Hà Bắc. Chùa đã được trùng tu nhiều lần—Name of a temple, another name for Ninh Phúc Tự, located in the west of Bút Tháp hamlet, Đình Tổ village, Thuận Thành district, about 17 miles from Hanoi. This is one of the ancient temples in the area. It has been rebuilt so many times.
Bút Thọ:
1) Ghi lại: To record.
2) Nhận được bằng văn bản: To receive in writing.
3) Viết chánh tả: Write down from dictation.
Bụt: See Phật.
Bừa Bãi: Untidy—In disorder.
Bức: Cưỡng bức—To press—To constrain—To harass—To urge.
Bức Bách: Bắt buộc hay áp lực mạnh mẽ—To compel—To force—To constrain—To bring strong pressure to bear.
Bức Hiếp: To oppress.
Bức Hôn: To force into marriage.
Bức Rức: Fidgety and uneasy.
Bức Sô: See Bật Sô and Tỳ Kheo.
Bức Sô Ni: See Tỳ Kheo Ni.
Bức Thơ: Letter.
Bức Tranh: Painting—Picture.
Bực Bội: Discomfort.
Bực Mình: Displeased—Vexed.
Bực Trung: Middle class—Average.
Bực Tức: To enrage—Hard to tolerate.
Bực Tức Khó Nhẫn: See Bực tức.
Bưng: To carry with both hands.
Bưng Mắt: To blindfold—To blind the eyes.
Bưng Tai: To stop the ear.
Bứng: To uproot—To disroot.
Bừng Bừng Nổi Giận: To ablaze with anger.
Bừng Mắt: To open the eyes suddenly.
Bước: Step—Pace.
Bước Dài: To walk with big strides.
Bước Đầu: To be preliminary.
Bước Lên: To step up.
Bước Lui: To step back.
Bước Mau: To hasten—To quicken.
Bước Một: Step by step.
Bước Ngắn: Short step.
Bước Ra: To step out.
Bước Thấp Bước Cao: To limp.
Bước Thong Thả: To step leisurely.
Bước Tới: To step forward.
Bước Xuống: To step down.
Bướng: To be stubborn.
Bứt Rứt: Irritation—Uneasy.
Bứt Tóc: To tear out one’s hair.
Bửu Hưng: Tên của một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong xã Hòa Long, huyện Lai Vung, tỉnh Sa Đéc, Nam Việt Nam. Chùa đã được xây từ lâu lắm, có lẽ vào giữa thế kỷ thứ 18. Trong chánh điện có ba tấm bao lam chạm trổ rất công phu. Pho tượng Phật A Di Đà bằng gỗ, cao 2 mét 5, do triều đình Huế gửi cúng dường cho chùa. Bên phải chùa có một số tháp mộ của các Hòa Thượng Giác Châu, Bửu Thành, và Giáo Đạo—Name of a famous ancient pagoda located in Hòa Long village, Lai Vung district, Sa Đéc province, South Vietnam. The pagoda was built a long time ago, probably in the middle of the eighteenth century. In the Main Hall, there are three drafts carved painstakingly. A wooden statue of Amitabha Buddha, 2.5 meters high, offered by Huế Court, is worshipped in the Main Hall. On the right-habd side of the pagoda stand the tomb stupas of Most Venerable Giác Châu, Bửu Thành, and Giác Đạo.
Bửu Lâm: Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc ở thôn Bửu Hội, huyện Kiến Hòa, phủ Kiến An, tỉnh Định Tường (nay thuộc phường 3 thị xã Mỹ Tho). Chùa do bà Nguyễn Thị Đại xây dựng vào năm 1803. Vị trụ trì đầu tiên là Hòa Thượng Từ Lâm, nguyên ở chùa Hội Tôn tỉnh Bến Tre. Sau cơn bão lớn năm 1904, chùa được Hòa Thượng Thiên Tường trùng tu năm 1905. Chùa cất theo kiểu chữ “Tam,” chánh điện được chạm trổ rất công phu, nghệ thuật, và có nhiều câu đối có ý nghĩa về Phật Pháp. Chùa đã trải qua 10 đời truyền thừa, các Hòa Thượng Từ Lâm, Huyền Dương, Thông Nam, Thiên Tường, Nguyên Tịnh, Chơn Minh, Tỳ Kheo Ni Diệu Đạt, Hòa Thượng Tịnh Tính, Đại Đức Lệ Tín, và Hòa Thượng Huệ Thông—Name of an ancient pagoda, located in Bửu Hội hamlet, Kiến Hòa district (now is third quarter, Mỹ Tho town), Định Tường province, South Vietnam. Ms. Nguyễn Thị Đại started to build the pagoda in 1803. The first Head of the pagoda was Most Venerable Từ Lâm from Hội Tôn Pagoda of Bến Tre province. After being destroyed by the heavy storm in 1904, the pagoda was restored in 1905 by Most Venerable Thiên Tường. The pagoda was constructed in the “San” shape. In the Main Hall, there are many painstakingly carved drafts and ancient parallel sentences of profound meanings in Dharma. Bửu Lâm Pagoda has apssed through ten successive Heads as Most Venerable Từ Lâm, Huyền Dương, Thông Nam, Thiên Tường, Nguyên Tịnh, and his disciple Chơn Minh, as well as Venerable Bikkhuni Diệu Đạt, Most Venerable Tịnh Tính, Reverend Lệ Quảng, Most Venerable Huệ Thông.
Bửu Phong: Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng, một danh lam thắng cảnh, tọa lạc trên đồi Bửu Long, xã Tân Bửu, thành phố Biên Hòa, Nam Việt Nam. Chùa được dựng lên vào thế kỷ thứ 17, lúc đầu chỉ là một cái am nhỏ, sau đó Hòa Thượng Pháp Thông xây lại thật tôn nghiêm. Năm 1829, chùa được trùng tu và mở rộng. Đặc biệt trước chùa được trang trí rất công phu. Chùa vẫn tiếp tục được mở rộng vào các năm cuối thế kỷ 19 và các năm gần đây. Trong chánh điện có pho tượng cổ A Di Đà. Chung quanh vùng núi có các ngôi tháp cổ và các pho tượng lộ thiên khá lớn như tượng Đức Phật Đản Sinh, và tượng Đức Phật Nhập Niết Bàn—Name of a famous ancient pagoda, a spectacular scenery, located on Bửu Long Hill, Tân Bửu hamlet, Biên Hòa City, South Vietnam. The pagoda was built in the seventeenth century. Formerly, it was only a small temple which was later rebuilt by Most Venerable Pháp Thông. In 1829, the pagoda was rebuilt and enlarged, espcially the facade was decorated so meticulously. It has continuously been extended in the last years of the nineteenth century and in recent years. The ancient statue of Amitabha Buddha is worshipped in the Main Hall. The mountainous area is surrounded with ancient stupas and unroofed big statues sucha as the statue of Lord Buddha at his Holy Birth and that of Nirvan Buddha.
Bửu Quang:
1) Tên của một ngôi chùa mới được xây dựng về sau nầy, tọa lạc trong thị xã Sa Đéc, Nam Việt Nam. Chùa được Hội Phật Học Sa Đéc xây dựng trong thập niên 1950—Name of a recently built pagoda located in Sa Đéc town, South Vietnam. It was built in the 1950s by the Buddhist Studies Association of Sa Đéc.
2) Tên của một ngôi chùa nổi tiếng của Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam, tọa lạc tại ấp Gò Dưa, xã Tam Bình, quận Thủ Đức, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây dựng từ năm 1939 đến 1940. Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam xuất phát từ Cam Bốt do một nhóm cư sĩ tại đây đã nghiên cứu giáo lý Nam Tông, soạn dịch kinh điển Pali ra tiếng Việt và lập chùa Sùng Phước, ngôi tổ đình của Phật Giáo Nguyên Thủy do người Việt Nam sáng lập tại Cam Bốt. Cũng từ ngôi chùa nầy mà Đại Đức Hộ Tông đã du nhập vào Việt Nam và một số chùa được ngài kiến lập như chùa Bửu Quang, Kỳ Viên. Đến năm 1957, một Tổng Hội Phật Giáo Nguyên Thủy được thành lập. Đại Đức Hộ Tông là vị Tăng Thống đầu tiên—Name of a famous Theraveda Pagoda, located in Gò Dưa hamlet, Tam Bình village, Thủ Đức district, Saigon City, South Vietnam. It was built from 1939 to 1940. Vietnam Theraveda Buddhism came from Cambodia. A group of Vietnamese Buddhist monks and lay people have lived there and studied Hinayana, edited, translated many Pali Buddhist Canonical books into Vietnamese and established Sùng Phúc Pagoda, known as the Patriarch Theravada Temple built in Cambodia by Vietnamese. It is from this pagoda that the Theravada Sect has penetrated into Vietnam. Afterwards, other Theravada pagodas were built in Vietnam as Bửu Quang and Kỳ Viên. Up to 1957, Vietnam Theravada Buddhist Association was founded. Venerable Hộ Tông was its first chairman.