Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
15,816,896
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250Logo-Hanh-Huong-AD-2019-tron-250

Địa danh Thủ Dầu Một

27 Tháng Sáu 201100:00(Xem: 12044)
Địa danh Thủ Dầu Một
Hình ảnh
(Đăng lại từ blog 360 plus)

Nam Bộ trước nay tồn tại một số địa danh có thành tố “thủ” đứng trước như:
  • Thủ Dầu Một, Thủ Đồn Sứ, Thủ Nhơn, Thủ Chánh (Bình Dương),
  • Thủ Đức, Thủ Thiêm, Thủ Đào, Thủ Hy, Thủ Huấn, Thủ Khúc, Thủ Tắc, Thủ Tọa, Thủ Thuật (TP. Hồ Chí Minh)
  • Thủ Thừa, Thủ Đoàn (Long An)
  • Thủ Triệu, Thủ Cấm, Thủ Chánh ( Tiền Giang)
  • Thủ Chiến Sai ( An Giang)
  • Thủ Tam Giang ( Cà Mau)
Nguồn gốc các địa danh này thương gây tranh cãi trong giới nghiên cứu, trong đó có địa danh Thủ Dầu Một (TDM).

Theo Huỳnh Tịnh Paulus Của thì: “Thủ ngữ là chức quan giữ của biển” (1869). J.F.M Génibel ghi trong tự điển của mình là: “Quan thủ ngữ: Captaine de port” (Quan canh giữ đồn biển) (1898). Eugène Gouin cũng chua nghĩa tương tự: ”Thủ ngữ: Garder le port” (Đồn canh phía biển) (1957). Về sau này cách nhà nghiên cứu cũng hiểu yếu tố “thủ” trong địa danh theo nghĩa đó, như Sơn Nam: ”Thủ là chăm sóc, giữ gìn, còn có nghĩa là một đồn binh, đồn tuần tra”, Vương Hồng Sển: ”Thủ ngữ, tấn thủ: chức quan giữ của biển, đồn thủ tại của biển”. Theo Nguyễn Đình Đầu: ”Thủ để thu thuế và giữ việc trị an”. được đặt tại nơi xung yếu để giữ an ninh trật tự”. Chú giải của Lý Việt Dũng trong bản dịch Gia Định Thành thông chí: “Thủ sở, thủ ngự sở, gọi trại thành thủ ngự là nơi đóng đồn trên bộ để phòng giặc kiêm luôn thu thuế khóa như Thủ Thiêm, Thủ Đức, Thủ Đoàn, Thủ Dầu Một, Thủ Thừa…” Chỉ thuần túychức năng thu thuế: ”Thủ ngự là viên chức trông coi một thủ (nhỏ hơn tuần ty). Hay có một cách hiểu khác đi một chút như Bùi Đức Tịnh: ”Danh từ chỉ các đồn canh gác dọc theo các đường sông”. Hoặc như Nguyễn Đình Tư bổ sung cách hiểu về “thủ” là trạm gác được lập ở những chỗ giáp giới rừng núi, chỗ chính quyền chưa kiểm soát được về mặt hành chính. Thủ được thiết lập dọc theo các con suối, đường độc đạo, bến đò ngang mục đíchkiểm soát sự đi lại và thu thuế.

Thủ ngự có hai nghĩa :
1. Chức quan võ phụ trách quân đội canh gác dọc biên giới.
2. Chức quan trong coi một thủ nhỏ hơn tuần ty, giữ việc thu thuế.

Thủ Dầu Một đầu tiên là địa danh vùng, rồi địa danh các đơn vị hành chính các cấp: hạt TDM (1869), tỉnh TDM (1899), thị xã TDM (1975).
Hình ảnh
Chợ Thủ Dầu Một, ảnh chụp lại từ cuốn Quê Hương Sông Bé của Sở văn hóa thông tin Tỉnh Sông Bé, 1990 


Trước nay có ba cách giải thích về nguồn gốc địa danh này.

Thuyết thứ nhất cho rằng địa danh có nguồn gốc từ tiếng Khmer “Thun Đoón Bôth” có nghĩa là gò có đỉnh cao nhất. Vương Hồng Sển đã bác bỏ giả thuyết trên khi cho rằng: “Chữ Đoón” không đúng giọng Thổ, phải nói “doeum” có nghĩa là cây. Bôth theo tự điển, pannetier viết doeum pou là “banian” tức cây lâm vồ, cây bồ đề, nơi Phật Thích Ca nhập niết bàn, và người Miên trọng nể cây lâm vồ này lắm.Thul là gò.
Thuyết thứ hai giải thích địa danh TDM là địa danh thuần Việt, được ghép theo phương thức: thủ (đồn , trạm) + tên thực vật + số từ.

Trong “Gia Định Thành thông chí” đã thấy ghi nhận về địa danh “Dầu Một”. Trong “Đại Nam nhất thống chí” (1820) đã thấy ghi nhận về địa danh này: ”Chợ Phú Cường ở thôn Phú Cường, huyện Bình An tục danh chợ Dầu Một ở bên lỵ sở huyện, xe cộ ghe thuyền tấp nập, đông đảo”. Như vậy địa danh “Dầu Một” đã tồn tại trước địa danh Thủ Dầu Một.

L. De Grammont, sĩ quan quân đội Pháp, từng chỉ huy đồn binh Thủ Dầu Một những năm 1861, 1862 đã có những ghi chép về chợ Phú Cường hay chợ Thủ Dầu Một, đoạn bến sông Sài Gòn: “… Những thân cây dầu trần và rất cao tạo thành vòng đai cảng. Dưới chân chúng, một cây đã đã có hơn trăm tuổi đứng hùng vĩ như hình ảnh kẻ vương tay che chở bảo vệ vùng đất này”.

Tác giả Sơn Nam cho biết, địa điểm chợ TDM ngày nay, trước kia là một bến xe trâu, thuận lợi để tắm trâu và rửa xe. Nơi đây có quán trà Huế, quán cơm, dần dần thành chợ. Chỗ mé sông (ngang dinh chủ tỉnh) có cây dầu lớn, trốc gốc sau cơn bão (có lẽ bão năm Thìn 1904), ngọn cây gây cản trở giao thông giữa lòng sông. Người Pháp phải huy động dân phu giải tỏa, gốc to “đôi ba người ôm”.

Hiện nay trong khuôn viên của Tỉnh ủy Bình Dương và trường Sĩ quan Công binh (Phường Phú Cường , TX TDM) cũng còn một số cây dầu. Hay như đoạn đường Bạch Đằng chỗ gần trường trung học Mỹ thuật BD vốn trước đây có cây dầu bị đốn hạ khi mở rộng con đường này.

Ở Ngã ba Nguyễn Tri Phương – Bùi Quốc Khánh thuộc phường Chánh Nghĩa, hiện vẫn còn cây dầu đôi với tên gọi đã trờ thành địa danh Dầu Đôi.

Trên đường Nguyễn Tri Phương , chỗ khu Lò Heo cũ hiện vẫn còn cầu Thủ Ngữ, nằm ranh giới phường Phú Cường và phường Chánh nghĩa.Con rạch chảy từ sông Sài Gòn vào có tên là rạch Thủ Ngữ.Cạnh đấy là cung thiên hậu được xây lại năm 1988 (địa điểm cũ của chùa bà Bình Dương trước 1923).

Người Hoa gọi địa danh Thủ Dầu Một là “Cổ Long Mộc”[1]. Dầu ráy được gọi là mãnh hỏa du, còn gọi là dầu chai để trét thuyền, nhúm lửa v.v.

Sách Phú Cường lịch sử văn hóatruyền thống cách mạng cho biết, cách đây vài trăm năm cây dầu hoang mọc kín cả mấy ngọn đồi Phú Cường và Bà Lụa. Những rừng dầu lâu năm được cư dân ở đây khai thác lấy gỗ để đóng đồ dùng sinh hoạt, đóng thuyền khai thác nhựa để làm chất đốt và chất chai trét thuyền. Xóm Dầu Đặt (tức An Nhất) chuyên đóng ghe thuyền cho địa phương, nằm ở quãng từ chợ TDM lên tới thành Quan. Xóm Dầu vàng (tức thôn Phú Lợi Tây) tương ứng với khu vực ấp Bộng Dầu.

Đây là cách giải thích được đa số ý kiến các nhà nghiên cứu chấp nhận nhất.
Và thuyết thứ ba cho rằng địa danh Dầu Một là do Dầu Miệt (vùng có cây dầu) mà ra.Nếu chữ miệt có nghĩa là vùng thì kiểu kết hợp trong địa danh Dầu Một /Miệt là không phù hợp. Ví dụ, phải nói miệt vườn, miệt biển, miệt trên, miệt dưới, miệt thứ, miệt U Minh, miệt Đồng Tháp…

Như vậy địa danh TDM có thể hiểu là “cây dầu lớn/ cả (duy nhất) mọc vượt lên trên nằm bên cạnh đồn/ thủ”.

Tóm lại, địa danh TDM có kiểu định danh: thủ + tên thực vật + tính chất. Việc nghiên cứu các địa danh có kiểu định danh này sẽ giúp tìm hiểu rõ hơn quy luật cấu thành các địa danh Nam Bộ.
NGUYỄN THANH LỢI
----
Sáng mua báo Xưa và Nay đọc thấy hay, gõ lại cho mọi người xem, cũng mệt nghỉ, đã bỏ bớt một số đoạn nhỏ và cả trang chú thích .
Riêng ba chữ "Cổ Long Mộc" ở trên theo mình là chưa chính xác.Năm nào có lễ hội chùa bà mình cũng coi và thấy đó là ba chữ "Thổ Long Mộc" chứ không phải "Cổ", xem wiki tiếng Hoa http://zh.wikipedia.org/wiki/%E5%B9%B3%E9%99%BD%E7%9C%81 thấy cũng vậy (thử dùng google translate dịch là biết ^^).
Bonus thêm cái hình vòng xoay ngã sáu 
Hình ảnh
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 55)
Có năm phương cách để đối trị sân hận. Chúng giúp xóa tận gốc rễ của sân hận. Đó là gì? Nếu sân nổi lên, cần làm như sau: vun trồng tâm từ, vun trồng tâm bi, vun trồng tâm xả…
(Xem: 100)
Điểm khởi đầu của hành trì Phật pháp là tĩnh tâm và giữ chánh niệm, nghĩa là luôn luôn ghi nhớ việc ý thức về cách mình đang hành động và nói năng với người khác,
(Xem: 355)
Tôn giáo xưa cổ phương Đông này đang giúp nhiều người phương Tây các nan đề tâm bệnh hiện đại. Tác giả: Olga Khazan. Dịch giả: Nguyên Giác
(Xem: 162)
Đức Phật có lần nhắc nhở các thầy rằng, những điều chúng ta cần hiểu và hành, thật ra chúng rất đơn giản và không nhiều, chỉ chừng như những lá cây trong một nắm tay nhỏ thôi.
(Xem: 144)
Thiền vẫn được coi là dành cho hàng có căn cơ bậc trung và thượng. Vì điều động tâm vọng động không phải là việc dễ dàng.
(Xem: 176)
Hoàng hôn. Rồi lại bình minh. Rồi lại một chiều vạt nắng kéo về phương tây. Chim bay mỏi cánh không đuổi kịp mặt trời. Góc trời sẫm tím như hối hả chìm sâu về phía trước.
(Xem: 377)
Nếu có chùa, và có cả đạo tràng… sẽ là tuyệt vời. Thực tế xây chùa dễ, xây dựng đạo tràng mới khó.
(Xem: 128)
Giáo sư, chuyên gia Phật học Rhys Davids cho rằng đạo Phật sở hữu hai lý tưởng lớn có thể được vận dụng để làm lợi lạc cho cuộc đời.
(Xem: 253)
Tạp Chí Hoa Đàm Số 5, với chủ đề “Phật Giáo với Dân Tộc”; “Thiền Trong Hành Động,” do Đạo Sinh dịch Việt; “Những Bước Thăng Trầm” do Phạm Kim Khánh dịch Việt; và “Bóng Bay Gió Ơi” của nhà văn Nguyễn Thị Khánh Minh
(Xem: 179)
Nói theo nhận thức kinh Phật, trần thế này không hẳn hoàn toàn là bể khổ, như người ta thường ví von: “biển khổ mênh mông sóng ngập trời”,
(Xem: 188)
Thiền duyệt có nghĩa là niềm vui trong thiền tập. Khi mới bắt đầu tập thiền, tôi tưởng muốn an tâm và phát triển định lực ta cần phải cố gắng và vất vả ghê gớm lắm.
(Xem: 176)
Theo một số trường phái Phật giáo, Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni lần đầu tiên Giác Ngộ ở Ấn Độ vào thế kỷ thứ 6 trước Dương Lịch, qua sự thực hành con đường tu tập.
(Xem: 227)
Hiện tại có tính bình đẳng cho tất cả mọi người. Dầu ở bất cứ nơi nào trên trái đất, dầu tôi và anh ở múi giờ khác nhau, người ta vẫn chung nhau một hiện tại, ai cũng nói lúc này là bây giờ.
(Xem: 692)
Con ngườimột phần nhỏ của một tổng thể, mà chúng ta gọi là “Vũ Trụ,” phần này bị hạn chế trong thời giankhông gian.
(Xem: 595)
Thế gian có hai sở y, hoặc có hoặc không, bị xúc chạm bởi thủ. Do bị xúc chạm bởi thủ nên hoặc y có hoặc y không.
(Xem: 710)
Trung tuần tháng 12 năm 2018, tôi đọc trên báo, thấy lá thư của Ông Einstein được bán đấu giá với số tiền khủng 2,892,500 dollars
(Xem: 544)
Bút hiệu Mộc Đạc nghe lạ, nhưng hiển nhiên là không dính gi tới chuyện thơ dài hay ngắn, hay hay dở, vui hay buồn, thế sự thực tế hay khoa học viễn tưởng
(Xem: 532)
Muốn tìm được con đường thì cần phải đọc chi tiết toàn bản văn, suy nghiệm những lý lẽ mới thấy được tư tưởng của cổ đức phát tiết ra ngoài hiện thực thiên nhiên
(Xem: 459)
Trời có lúc nắng lúc mưa, người có lúc may mắn hoặc xui xẻo. Nhưng không có cái gì tự dưng sinh ra hay mất đi, tất cả đều có lý do của do của nó.
(Xem: 474)
Nhà sư Phật giáo sống như thế nào sau cánh cửa thiền? Đây là điều mà người bình thường cả Đông lẫn Tây đều khó có điều kiện được biết.
(Xem: 431)
Sự sống vẫn luôn tiếp diễn trong từng khoảnh khắc, bốn mùa thay lá, xuân đến xuân đi, mỗi phút giây đều tuần hoàn vô tận.
(Xem: 375)
Tất cả các tôn giáo ra đời điều vì mục đích phục vụ đời sống tâm linh, tính ngưỡng cho con người.
(Xem: 377)
Bài viết này trước hết sẽ giải thích sự nối kết mật thiết giữa lòng vị thahạnh phúc và sau đó xem xét chứng cứ khoa học mà nó chỉ ra sự tương thuộc giữa hai khía cạnh quan trọng này trong xã hội loài người.
(Xem: 363)
Đầu năm mới, người thế gian mừng tuổi nhau với mong ước gặp điều tốt đẹp may mắn, làm ăn phát tài thăng tiến.
(Xem: 1332)
Nhà sư Nhật bản Kenjitsu Nakagaki đang tìm cách thuyết phục người Tây Phương về ý nghĩa của chữ Vạn (Swastica) mà người Nhật gọi là manji.
(Xem: 479)
Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832) là một văn sĩ, thi sĩ, kịch tác gia, khoa học gia, triết gia, chính tri gia, nói chung là một nhà thông thái lừng danh nhất của nước Đức
(Xem: 356)
Xuân đến Xuân đi nghi Xuân hết Hoa tàn hoa nở chỉ là Xuân. Xuân lai Xuân khứ nghi Xuân tận Hoa lạc hoa khai chỉ thị Xuân.
(Xem: 382)
Khi con người lạc hậu còn đi bộ. Rồi lần lần biết cưỡi ngựa, cưỡi trâu. Rồi lần hồi thông minh tìm ra hơi nước, Rồi máy bay, xe lửa, xe hơi.
(Xem: 459)
Essence of the Heart Sutra: The Dalai Lama’s Heart of Wisdom Teachings” (Tinh Yếu Tâm Kinh: Cốt Lõi Lời Đức Đạt Lai Lạt Ma Dạy Về Trí Tuệ) – tác giả ghi là Tenzin Gyatso The Fourteenth Dalai Lama.
(Xem: 454)
Nhân gian thường không hiểu trong Duyên có Nợ và trong Nợ có Duyên cho nên đã tách biệt Duyên và Nợ.
(Xem: 433)
Tứ nhiếp pháp là bốn phương pháp Bồ-tát dùng để nhiếp hóa chúng sinh, khiến họ khởi tâm cảm mến, rồi dẫn dắt họ vào Phật đạo,
(Xem: 774)
Câu thần chú lạc đề, lạc quẻ “Án ma hôm, bát mê khuya“ của bà lão thành tâm cũng có đủ thần lực sai khiến những hạt đậu nhảy từ bên này sang bên kia
(Xem: 521)
Như quý vị biết hạnh phúc được cảm nhận qua nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau, nhưng chung quy lại, hạnh phúc được cảm nhận ...
(Xem: 612)
Mù tỏa Lô sơn sóng Triết giang, Khi chưa đến đó hận muôn vàn. Đến rồi về lại không gì lạ, Mù tỏa Lô sơn sóng Triết giang.
(Xem: 651)
Mười câu chuyện sức mạnh của chân thật và nguyện cầu chân lý - Trích từ Tiểu Bộ Kinh Nikàya, Tâm Tịnh cẩn tập
(Xem: 567)
Những lúc như thế, hình ảnh khoảng sân cát trắng và lũ nhỏ ê a hiện lên trước mắt tôi lãng đãng y hệt như từ một giấc mơ nhiều ngàn đêm trước.
(Xem: 461)
Trong lời dạy của đức Phật, đất luôn là ẩn dụ quan trọng để Ngài sử dụng trong việc dạy dỗ hàng đệ tử học theo hạnh của đất.
(Xem: 458)
Đã có không ít những bài nghiên cứu về sự tương đồng giữa Duy thức học của Thế Thân và Phân tâm học của Sigmund Freud.
(Xem: 718)
Cư sĩ Nguyên Giác vừa cho xuất bản cuốn Kinh Nhật Tụng Sơ Thời mà theo sự nghiên cứu của các học giả đây là những lời dạy (kinh) cổ xưa nhất của Đức Phật
(Xem: 531)
Lòng từ bi trong Đạo Phật được định nghĩa như nguyện ước tất cả mọi chúng sanh được thoát khỏi khổ đau.
(Xem: 539)
Thời gian trôi qua thật nhanh, mới đó mà đã hết một năm. Tự hỏi, một năm trôi qua chúng ta đã làm được những gì?
(Xem: 667)
Cuối năm 1978, sau khi thành lập Hội Sinh Viên và Kiều Bào Phật tử Việt Nam tỵ nạn tại Đức, chúng tôi xúc tiến ngay việc viết báo để đi in bằng lối Photocopy.
(Xem: 619)
Ngày nay Phật Giáo đã đi vào sinh hoạt thường nhật của người dân Mỹ một cách sâu rộng, từ những giờ phút thực hành Thiền trong quân đội, sở cứu hỏa, ty cảnh sát, trường học và công tư sở đến phương thức trị liệu tâm lý trong y học.
(Xem: 687)
Đôi khi trong đời người ta, viết văn chỉ vì nhu cầu thôi thúc chứ thực ra nhà văn chưa chắc đã nắm vững một số kỹ thuật hoặc nguyên tắc viết văn. Ngay chính bản thân tôi cũng rơi vào trường hợp như vậy.
(Xem: 511)
Ca ngợi Ấn Độủng hộ việc ăn chay, nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng nói hôm thứ Sáu (14-12) rằng tất cả chúng sinh phải được tôn trọng.
(Xem: 504)
Khi chúng ta lần đầu tiên tiếp cận những giáo lý của Đức Phật, chúng ta phải bắt đầu ngay từ đầu, tức là các thực hành sơ khởi (Ngondro).
(Xem: 719)
Với khám phá rất quan trọng, Einstein nhận thấy rằng hai sự vật không có thể được quan niệm như là riêng biệt. Nhị nguyên không phải là nhị nguyên mà là hai diện mục của một bản lai tương tự như hai mặt của một đồng tìền.
(Xem: 807)
Việc sám hối đúng pháp như trong bài Kinh Tàm và Quý Đức Phật đã dạy rất rõ. ... ý nghĩa Tàm Quý là thấy rõ lỗi lầm, xấu hổ ăn năn quay đầu sám hối và nguyện từ bỏ việc xấu ác không bao giờ tái phạm vào nữa.
(Xem: 770)
Nói thoát khổ như thế, nghĩa là thoát ra khỏi sinh tử luân hồi. Nghĩa là thoát ra khỏi những buộc ràng, những phiền trược của tất cả các kinh nghiệm của chúng ta luân hồi trong ba cõi
(Xem: 544)
Tosui là một thiền sư nổi danh vào thời của ông. Ông đã sống trong nhiều thiền viện và giảng dạy tại các tỉnh khác nhau.
Quảng Cáo Bảo Trợ