Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sách Văn Học Phật Giáo
Sitemap Hoavouu.com
Bài Mới Nhất trang Văn Học
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
20,642,769

11. “Hãy đi đi và kết bạn cùng cây cối”

Monday, July 18, 201100:00(View: 6964)
11. “Hãy đi đi và kết bạn cùng cây cối”

TIỂU SỬ CỦA KRISHNAMURTI
Krishnamurti's biography by Pupul Jayakar
Lời dịch: Ông Không
Tháng 4-2011

PHẦN 2

 KRISHNAMURTI Ở ẤN ĐỘ

1947 – 1949

CHƯƠNG 11

“Hãy đi đi và kết bạn cùng cây cối.”

Đ

ầu tháng tư năm 1948, Krishnaji quay lại Madras. Anh ở tại Vasant Vihar, nơi điều hành chính thức công việc của Krishnaji ở Ấn độ. R. Madhavachari là người chủ nhà của anh.

 Vasant Vihar là một khu nhà vững chắc của thuộc địa với những cái cột và những hành lang; cửa ra vào, cửa sổ thuộc loại gỗ cứng teak của Miến điện. Trên tầng trệt, ngôi nhà có một văn phòng và một phòng lớn dành cho những gặp gỡ, nhưng rất ít phòng ngủ – nó đã được cố ý xây dựng để cho chỉ cho vài người có thể sống ở đây. Mặc dù anh có một bộ những căn phòng trên tầng trệt của ngôi nhà, Krishnaji ngủ trên một hành lang có mái. Anh tổ chức những phỏng vấn trong một phòng đối diện với bãi cỏ trước nhà, và những bàn luận trước công chúng được tổ chức dưới những cái cây. Khu nhà được bao bọc bởi cây bồ đề, cây xoài và những cây mưa; những hoa bersali, cassia, gul mohar, và laburnum đang nở cho mùi hương và màu sắc đến vô số màu xanh; và gần cổng là một cái ao nhân tạo đầy hoa loa kèn nước.

 Madhavachari là một người Brahmin khổ hạnh, một môn đệ của giáo phái Madhava. Ông ngây thơ, mộ đạo, cố chấp, và đắm chìm trong một truyền thống đồ sộ có giá trị lâu đời. Sẫm màu, cùng nước da căng, mềm mại có từ nhiều loại dầu tắm Nam Ấn, và với một vóc dáng thẳng, gầy gầy, ông có một hiện diện, khuôn mặt ông tỏa sáng nghị lực và vẻ đẹp. Nhưng phía dưới hình dáng bên ngoài khắc khổ của ông, trong những năm tháng sau, chúng tôi sẽ khám phá một con người rất thiện tâm. Ông có thể cười tủm tỉm với chồng tôi khi nghe những câu chuyện khá khiếm nhã, và có nhiều chuyện vặt vãnh về sống đầu tiên của ông.

 Krishnaji đang bàn luận cùng Sanjeeva Rao và Madhavachari về khả năng xuất bản một tuần báo do Sanjeeva Rao, Maurice Friedman, và tôi là những người biên tập. Trong lá thư đầu tiên của anh gửi cho tôi đề ngày 18 tháng tư năm 1948, anh viết từ Madras:

 

Pupul thân mến của tôi,

 Bởi vì hòn núi sẽ không đến Muhamad vân vân.

 Tôi đã viết cho Nandini, tôi nghĩ ngày hôm qua, bảo với bạn ấy rằng chủ nhà của tôi mời bạn & Nandini ở lại đó một hay hai ngày trước khi đi thẳng đến Ooty. Tôi hy vọng cả hai đều mong muốn. Sau đó chúng ta có thể cùng nhau đến Ooty; chúng ta có thể rời đây khoảng ngày mồng một tháng năm.

 Nếu bạn chấp thuận lời mời của Mr. Madhavachari, mà tôi hy vọng cả hai bạn đều đồng ý, vậy thì trước khi đi đến Ooty, một công việc mới mà chúng tôi dành cho bạn! Tôi hy vọng bạn sẽ thích công việc. Đùa một tí thôi, tôi muốn bàn bạc với bạn & một vài người khác về điều gì đó mà chúng tôi đang nói chuyện ở đây. Họ đang bàn bạc với tôi về việc xuất bản một tuần báo, với bạn, Friedman, Sanjeeva Rao như những người biên tập. Nghe có vẻ ghê gớm nhưng nó nghiêm túc lắm. Chúng ta có thể bàn lại nó khi bạn đến đây. Làm ơn hãy cho chúng tôi biết khi nào bạn & Nandini có thể đến. Nếu các bạn có thể đến vài ngày trước mồng một tháng năm, chúng ta sẽ có cơ hội bàn bạc kỹ lưỡng vấn đề.

Tôi hy vọng bạn và gia đình đều khỏe mạnh. Làm ơn cho tôi gửi lời hỏi thăm họ.

 Nhiều thương yêu,

 J. Krishnamurti

Tôi chưa bao giờ đến Madras, và thế là quyết định đi. Cuối cùng, Nandini cũng thuyết phục được chồng em để theo cùng tôi. Khi đến nơi chúng tôi được đón bởi Krishnaji và Madhavachari, rất nồng nhiệt và ân cần trong sự tiếp đón của họ. Buổi chiều chúng tôi đi cùng Madhavachari đến Tổ chức Thông thái và Garden of Remembrance, vùng đất nơi Annie Besant đã được hỏa tángsamadhi của bà. Krishnaji không đi cùng chúng tôi. Từ khi anh tách khỏi Tổ chức Thông thái, anh không viếng thăm khu Adyar. Sự tách khỏi Tổ chức đã hoàn tất.

Chúng tôi mang về một bông hoa loa kèn từ samadhi của Besant, và trao nó cho Krishna. Anh nhận nó trong hai bàn tay và ôm nó. Chúng tôi có thể thấy anh bị xúc động lắm. Sau đó, chúng tôi theo anh dạo bộ trên bãi biển Adyar. Anh đi tách khỏi chúng tôi, thân thể mặc quần áo trắng thẳng đứng, kéo cao lên, hai cánh tay dài của anh thõng xuống hai bên hông của anh. Khi quay về đôi mắt đen, xanh, sâu thẳm của anh thật xa xôi, khuôn mặt của anh biểu lộ sự ngây ngất. Khi chúng tôi đến nhà anh hỏi Madhavachari (người anh gọi là Mama, “chú”), “Những tiếng chiêng tôi nghe tối qua là gì – hai tiếng dài và một tiếng ngắn? Chúng tuyệt vời quá.” Madhavachari bối rối, trả lời rằng ông không nghe tiếng chiêng và không biết những âm thanh đó từ đâu đến. Krishnaji quả quyết rằng anh đã nghe những âm thanh lạ lùng. K đến phòng anh, và khoảng vài phút sau đi ra nói rằng anh đã hiểu về những tiếng chiêng. Có vẻ rằng âm thanh vang rền, sâu đó được sinh ra bởi hai cái quạt đang quay cùng lúc. Krishnaji đang ở trong một trạng thái ngây ngất, hai bàn tay của anh đập đập vào nhau để nghe vang rền. Hầu như anh không nói gì suốt bữa ăn tối, chúng tôi ăn trên thalis[11], trong khi ngồi trên những tấm chiếu trên nền nhà.

Giữa khuya chúng tôi thức dậy bởi âm thanh giọng nói của Krishnaji đang gọi từ hành lang nơi anh ngủ. Giọng của anh yếu ớt, và chúng tôi bị bối rối và nghĩ rằng anh bị bệnh. Sau một lúc do dự, chúng tôi đi đến ngõ cửa ra vào dẫn đến hành lang và hỏi liệu anh có khỏe không. Krishnaji đang gọi người nào đó, giọng của anh yếu ớt và giống như trẻ em. Anh cứ tiếp tục nói, “Krishna đi khỏi rồi, khi nào anh ấy sẽ trở lại?” Mắt anh mở lớn, nhưng không có sự công nhận. Sau đó dường như anh bắt đầu nhận ra chúng tôi và hỏi, “Em là Rosalind phải không?” Và sau đó, “Ồ, vâng, vâng, anh ấy biết em, điều đó đúng rồi, làm ơn ngồi đây, chờ ở đây.” Sau một chốc lát lại nữa, “Đừng bỏ lại thân thể một mìnhđừng sợ hãi.” Tiếng nói bắt đầu gọi “Krishna” lại. Bàn tay của anh sẽ che miệng và anh sẽ nói, “Anh ấy đã bảo đừng gọi anh ấy.” Tiếp theo một giọng nói của một đứa trẻ, “Khi nào anh ấy sẽ quay lại? Anh ấy sẽ quay lại mau chứ?” Việc này tiếp tục một lúc; anh sẽ im lặng, sau đó lại hét lên “Krishna,” sau đó tự la rầy mình.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau, giọng nói của anh trở nên vui mừng. “Anh ấy quay lại rồi, bạn thấy họ chứ? Họ ở đây nè, tinh khiết.” Hai bàn tay anh diễn tả một tròn đều. Và sau đó, giọng nói thay đổi, nó lại là giọng nói quen thuộc của Krishnaji. Anh ngồi thẳng dậy, xin lỗi vì đã đánh thức chúng tôi. Anh tiễn chúng tôi đến tận phòng của chúng tôi và quay lại. Tất cả điều kỳ lạ đó gây bối rối chúng tôi; chúng tôi bị sửng sốt và thức trắng đêm đó. Sáng hôm sau, tại bữa ăn sáng trông anh trong sáng và tươi trẻ. Chúng tôi hỏi anh về chuyện đã xảy ra. Anh cười và nói anh không biết. Liệu chúng tôi có thể diễn tả việc gì đã xảy ra? Chúng tôi kể lại. Anh trả lời rằng chúng ta sẽ nói về nó trong thời điểm nào đó, mà lúc đó chúng tôi hiểu nó có nghĩa rằng anh không muốn bàn thêm. Ngày hôm sau, chúng tôi quay về Bombay.

 Những căng thẳng và sự đe dọa đáng ngại của chiến tranh đã thay đổi những kế hoạch mùa hè của Krishnaji. Họ quyết định rằng anh sẽ không quay lại Châu âu và Mỹ, nhưng sẽ nghỉ ngơi ở Ấn độ suốt tháng năm đến tháng sáu. Miss Hilla Petit và Maurice Friedman là những chủ nhà của anh. Miss Petit đã thuê Sedgemore, một ngôi nhà ở Ootacamund –chúng tôi gọi nó là Ooty – một nhà ga trên đồi ở Nilgiris tại cao độ tám ngàn feet. Những nhà ga trên đồi của Ấn độ, với những cánh rừng sum suê, những con đường đi dạo đầy bóng mát, những con đường nhỏ dành cho xe ngựa, và những cái vườn chăm sóc thật đẹp, đã được lập kế hoạch để tạo ra không khí của vùng quê nước Anh. Người Anh đã tạo ra những khu nghỉ ngơi rừng rú này để trốn tránh sức nóng của mùa hè dài trên những vùng đồng bằng.

Năm 1948, những nhà ga trên đồi này vẫn chưa được Ấn độ hóa. Những căn nhà nhỏ và những bungalow lớn núp trong cây cối và nhìn ra những cánh đồng cỏ màu xanh lục tươi; những hoa dại, hoa cúc, hoa đừng quên tôi, và hoa bồ công anh nở rộ cùng sự thanh lịch nhã nhặn trong cỏ, và những cây thông, cây khuynh diệp, cây cau phủ dày dặc hai bên đồi. Đây là vùng quê nhấp nhô, không có những tảng đá lớn lởm chởm và hẻm núi hẹp của dãy Himalayas phía Bắc. Nhưng cái vườn vây quanh nhà lộng lẫy bởi hoa hồng, hoa vân anh, hoa anh túc, và hoa bướm. Những bụi hồng leo và cây đậu tía phủ kín những bức tường của những ngôi nhà cổ.

Cửa sổ trong phòng ngủ của Krishnaji nhìn qua một cánh rừng dầy dặc của những cây khuynh diệp có màu xanh bạc; những cành cây và lá xoắn vào nhau để hình thành một vòm che của những cây có thân mảnh khảnh mọc thẳng đứng vút lên bầu trời. Shanta Rao, một người bạn thân của Friedman, đã đến từ Madras và cũng đang sống trong ngôi nhà.

Krishnamurti viết cho Nandini và tôi để mời tham gia cùng anh ở Ootacamund. Chúng tôi vừa quay lại sau khi gặp anh ở Madras. Nhìn lại, dường như không thể hiểu được rằng Krishnaji đã không suy nghĩ trong chốc lát liệu điều đó có thể được, liệu tiền bạc cho chuyến đi và ở lại Ooty có sẵn sàng khi cần đến, liệu Nandini có thể được cho phép đi. Tôi được tự do để đi trong những giới hạn về tài chánh không nhiều lắm của tôi, nhưng với Nandini tình hình hoàn toàn khác hẳn. Sự bất hoà của em với người chồng đang sâu sắc; mặc dù người chồng của em và gia đình cậu ấy khá giàu có, họ rất bảo thủ và cổ hũ. Nandini không có phương tiện độc lập của riêng em.

Nhưng nó luôn luôn như thế với Krishnaji. Khi một cần thiết nảy ra trong anh và được bày tỏ, nó đã xảy ra – tất cả những cản trở có thể được khắc phục. Và thế là Nandini, con cái của em, cha chồng của em, Sir Chunilal Mehta, và tôi cùng con gái của tôi, Radhika đến Ootacamund vào tuần lễ thứ ba của tháng năm. Jammadas Dwarkadas sẽ gia nhập vào chúng tôi ở Ootacamund vài ngày sau. Chúng tôi thấy rằng Krishnaji đã hồi phục sau một căn bệnh và đã để một bộ râu quai nón trong khi anh nằm trên giường. Thời tiết lạnh, và Krishnaji mặc một choga chảy dài thuộc loại vải tus tự nhiên[12].

Đôi mắt lớn nhìn xuyên thấu, khuôn mặt có râu quai nón, và chiếc áo dài tạo cho anh một hình dáng thuộc kinh thánh.

Chúng tôi dạo bộ lâu nhiều lần cùng anh, theo những đường tắt qua những cây thông. Anh bước đi uyển chuyển, thẳng lên những dốc đứng và rất khó khăn để theo kịp anh. Đó là thời gian trước mùa mưa, những cánh rừng mờ mờ đục đục bởi những màn sương ảo ảo đang lơ lửng. Chúng tôi bước cùng anh, đi vào cánh rừng mê hoặc nơi cây cối bị bao phủ trong những đám mây đã chuyển thành sáng nóng, khi ánh mặt trời chạm chúng, để làm tan biến khi những đám mây co cụm lại. Vào một dịp, đang leo lên con đường dốc đứng qua những cây thông, chúng tôi tới gần ba người đàn bà đang đi cẩn thận lên đồi, đang giữ thăng bằng bó củi nặng trên đầu của họ. Krishnaji đứng ép về một bên và nhìn ngắm mọi chuyển động những người đàn bà thực hiện khi họ đi ngang qua anh. Bỗng nhiên, người ta cảm thấy nó – một từ bi đang sinh ra từ anh, một năng lượng và chú ý nhẹ nhàng mà cất đi những nặng nhọc của những người đàn bà đang đi ngang qua, không bao giờ biết được điều gì đã làm cho những bó củi của họ nhẹ nhàng hơn.

Một ngày, khi dạo bộ qua những cây thông, anh hỏi tôi làm thế nào tôi gặp gỡ mọi người. Tôi không biết anh có ý gì, và nói như thế. Khi chúng tôi đi qua một tộc trưởng già Toda và người con gái của ông, anh hỏi lần nữa, “Làm thế nào bạn gặp gỡ con người? Hãy quan sát những người Toda đang đi ngang qua chúng ta – cụ già đó với bộ râu quai nón của ông, và cô gái trẻ với cái khăn choàng đầu có sọc. Phản ứng của bạn đối với họ là gì?” Tôi trả lời rằng khi tôi thấy họ, tôi suy nghĩ về điều gì lúc trước họ đã là. Khi bộ lạc của họ cai trị những quả đồi Nilgiri. Họ đã là những vị vua của mảnh đất này, và lúc này, họ là những người lang thang nghèo khổ, trông gia súc ăn cỏ và tụm lại trong những trảng nhỏ xíu. Anh nói, “Chắc chắn, nếu bạn muốn hiểu rõ họ, bạn không thấy họ qua những suy nghĩ của bạn: Tại sao bạn không chỉ nhận biết họ một cách thụ động, cùng sự tỉnh táo? Tại sao bạn không nhạy cảm đối với họ?” Lát sau, khi chúng tôi đang quay về nhà, anh quay về phía tôi và nói bằng một long lanh tinh nghịch của đôi mắt, “Hãy đi đi và kết bạn cùng cây cối.”

Mặc dù Krishnamurti đang nghỉ ngơi và ẩn dật, tin tức về sự hiện diện của anh ở Ootacamund đã lan truyền thật mau lẹ.

Jawaharlal Nehru, bây giờ là thủ tướng Ấn độ, cũng ở Ootacamund, và tôi nhận được một lá thư từ người thư ký của ông nói rằng thủ tướng muốn viếng thăm anh. Nhưng những vấn đề sắp xếp an toàn được phát hiện rằng rất cực nhọc, và thế là thay vì vậy, Krishnaji đến gặp ông tại Government House. Maurice và tôi theo cùng anh, và hiện diện suốt gặp gỡ trong phòng khách riêng của thủ tướng. Có một lò sưởi mở, và những tô lớn đựng hoa cẩm chướng đặt trên những cái bàn. Krishnaji và Nehru ngồi trên một ghế dài đối diện lò sưởi, trong khi tôi và Friedman ngồi trên những cái ghế dựa bên cạnh ghế dài. Những ngọn lửa thắp sáng hai cái đầu Brahmin cao quý, những khuôn mặt trong trắng đẹp như tranh – một cái đầu từ cao nguyên phía Bắc, và cái đầu kia được khắc từ những tảng đá cổ xưa nhất ở phía Nam của Andhra. Những khuôn mặt được chạm trỗ, nhạy cảm, nước da trong mờ mờ làm nổi bật nét xương và tôn lên sự linh động – đôi mắt của người thấy chứa đựng những khoảng cách mênh mông, sinh ra từ bi và yên lặng; người kia có một năng lượng về thần kinh, bén nhạy của một mũi tên. Nehru là một người lãng mạn, một người của hành động, cùng một trí tuệhọc thức cao; quan tâm, cam kết, không ngưng nghỉ, đang tìm kiếm cái không biết được bên trong tình trạng rối rắm của những điều chỉnh thuộc chính trị.

Cả hai người đều nhút nhát, ngập ngừng. Phải mất một thời gian lâu cho họ thiết lập sự tiếp xúc. Jawaharlal Nehru bắt đầu nói chuyện bằng cách nói rằng ông đã gặp Krishnaji nhiều năm trước, và ông thường suy nghĩ về điều gì anh đã nói. Ông đã rất mong muốn gặp lại Krishnamurti. Achyut Patwardhan và những người bạn khác đã kể nhiều về công việc sâu sắc mà Krishnamurti đang thực hiện ở Madras và Bombay. Nehru có vẻ đau khổ bởi sự tàn sát và bạo lực đã nổi lên sau sự chia cắt và độc lập. Ông nói về nó nhiều lắm; ông thấy hai lực lượng đang vận hànhẤn độ, sự xô đẩy vì tốt lành hay xấu xa. Những lực lượng này đang xung đột; nếu tốt lành không thể kiềm chế sự lan tràn của xấu xa, thế giới sẽ bị hủy diệt. Krishnamurti nói tốt lành và xấu xa luôn luôn hiện diện; trong khi rất khó khăn cho tốt lànhtừ bi vận hành nhiều hơn, xấu xa lại đang mong đợi một nứt rạn trong đó nó có thể chiếm được vị trí vững chắc. Phải cần đến một nhận biếttỉnh táo vô cùng để bảo đảm rằng xấu xa không thể chen vào và kiếm được sức mạnh. K nói, nhận biếttỉnh táo là điều gì sẽ duy trì con người.

Jawaharlal hỏi Krishnamurti liệu lời giảng của anh đã thay đổi qua nhiều năm từ khi họ gặp nhau lần cuối. Kishnaji nói có, nhưng anh không thể nói chính xác nơi nào và như thế nào. Sau đó, Nehru nói về điều gì Krishnamurti phải nói về sự thay đổi. Ông cảm thấy có hai cách trong đó sự thay đổi có thể được thành tựu. Bằng cách cá thể tự thay đổi chính anh ấy và vì vậy thay đổi môi trường sống của anh ấy, và bằng cách môi trường sống làm việc vào nó và thay đổi cá thể. Tại mấu chốt này, Krishnamurti chen vào, “Hai việc đó không giống nhau hay sao? Hai việc đó không thể được nói là những qui trình tách rời.” Nehru đồng ý. Ông đang dò dẫm, đang cố gắng diễn tả sự tuyệt vọng mà ông cảm thấy tại tình trạng hỗn loạn trong thế giới và điều gì đã xảy ra ở Ấn độ trong những tháng mới đây. Bị bối rối vô cùng và không biết quay về hướng nào, ông bắt đầu tìm hiểu tận đáy những suy nghĩ và những hành động của ông.

“Hãy bảo cho tôi, thưa ông,” ông hỏi Krishnaji, “Tôi mong muốn được rõ ràng về sự hoang mang này bên trong tôi. Bảo cho tôi hành động đúng đắn là gì và suy nghĩ đúng đắn là gì.” Đối với chúng tôi, những người lắng nghe, đó là nghi vấn vĩnh viễn tồn tại của cái trí Ấn độ thức dậy.

Có sự yên lặng trên ba phút. Chúng tôi đang phát hiện rằng những yên lặng bao bọc Krishnaji trong đối thoại đã hình thành bộ phận của sự giao tiếp; một yên lặng của cái trí trong đó những khoảng cách giữa những cái trí được xóa sạch đến độ có sự hiệp thông và chuyển tải trực tiếp cái trí-sang-cái trí.

Sau đó, Krishnamurti chầm chậm nói, ngừng lại tại mỗi từ ngữ. “Hành động đúng đắn chỉ có thể xảy ra được khi cái trí yên lặng và có một đang thấy của ‘cái gì là.’ Hành động nảy ra từ đang thấy này được tự do khỏi động cơ, khỏi quá khứ, được tự do khỏi suy nghĩnguyên nhân.” Tiếp theo, anh nói rằng rất khó khăn để tìm hiểu vấn đề rộng lớn này trong một thời gian ngắn ngủi. Jawaharlal Nehru đang lắng nghe thăm thẳm, cái trí của ông lộ vẻ tinh khiếtnhạy cảm, có thể đang thâu nhận và đang phản ứng. Krishnaji nghiêng về phía trước, hai bàn tay của anh diễn tả đầy hùng biện. Anh nói rằng cùng sự hỗn loạn đang gia tăngẤn độthế giới, con người chỉ có thể bắt đầu sự tiến hành của tái sinh nơi chính anh ấy. Anh ấy phải bắt đầu mới mẻ lại. Bởi vì thế giới được cứu rỗi bởi anh ấy, một vài cá thể phải tự làm tự do chính họ khỏi những nhân tố đang làm phân rã và đang hủy diệt thế giới. Họ phải tự thay đổi chính họ thật thăm thẳm, suy nghĩ một cách sáng tạo và thế là thay đổi thêm nữa những con người. Ngay từ tro bụi, cái mới mẻ phải được sinh ra. “Giống như chim Phượng hoàng từ tro bụi,” Nehru nói.

“Vâng,” Krishnaji trả lời, “bởi vì muốn cho sự sống hiện diện, phải có chết của anh ấy. Những người cổ xưa hiểu rõ điều này và đó là lý do tại sao họ tôn sùng sự sống, tình yêu, và chết.”

Tiếp theo, Krishnaji nói về sự hỗn loạn thế giới là một phản ảnh của sự hỗn loạn cá thể. Cái trí con người bị trói buộc trong quá khứ, trong thời gian như sự suy nghĩ, là một cái trí chết rồi. Một cái trí như thế không thể vận hành vào sự hỗn loạn, chỉ có thể thêm vào sự hỗn loạn. Con người phải tự-làm tự do chính anh ấy khỏi thời gian như trở thành, sự chiếu rọi vào ngày mai. Anh ấy phải hành động trong “ngay lúc này” và thế là tự-thay đổi chính anh ấy.

Người thấy và người chính trị anh hùng nói chuyện trên một tiếng rưỡi đồng hồ. Bầu trời buổi chiều đã tối sẫm và vì sao hôm đã lặn sau đường chân trời, khi chúng tôi ra khỏi căn phòng. Thủ tướng tiễn chúng tôi ra tận xe hơi và có sự thương yêu và sự trọng đãi trong chia tay. Họ hứa hẹn gặp nhau lại vào mùa đông, khi Krishnaji sẽ ở Delhi. Sau đó Krishnaji, người viết trong quyển sổ tay mỗi ngày, ghi lại những quan sát này:

 

Anh ấy là một người chính trị rất nổi tiếng, thực tế, chân thật ghê lắm, và yêu nước lạ lùng. Không có cái trí chật hẹp và cũng không đang tự tìm kiếm, tham vọng của anh ấy không dành riêng cho anh ấy, nhưng cho một ý tưởng và cho con người. Anh ấy không là một người hùng biện huênh hoang rỗng tuếch hay một người kiếm phiếu bầu; anh ấy đã chịu đựng đau khổchính nghĩa của anh ấy và, lạ lùng thay, lại không cay đắng; dường như anh ấy là một học giả hơn là một người chính trị. Nhưng chính trị là hơi thở sự sống của anh ấy và đảng phái tuân lệnh anh ấy, mặc dù hơi hơi bực bội. Anh ấy là một người mộng mơ, nhưng anh ấy đã gạt đi tất cả điều đó để ưu tiên cho chính trị.

Về cuối tháng năm, những biến cố nào đó xảy ra mà phơi bày ánh sáng vào sống huyền bí ly kỳ của Krishnamurti.

Tháng tám năm 1922 ở Ojai, khi Krishnaji đang trải qua sự thức dậy mãnh liệt, anh có hai người bạn tin cậy ở cùng anh. Điều này là giống hệt vào những dịp như thế trong sống của anh, và sự nhấn mạnh vào hai người không phải là điều ngẫu nhiên. Từ những năm đầu của Krishnaji, Annie Besant đã khẳng định rằng luôn luôn có hai người ở cùng Krishnaji, để bảo vệ anh. Sự bảo vệ thân thể vị thánh nhân khi nó đang trải qua những tiến trình huyền bí của sự thay đổi và sự thuyên chuyển của ý thức, đã bám rễ chặt chẽ trong truyền thống huyền bí của Ấn độ. Tại thời điểm này thân thể nhạy cảm, mỏng manh lạ thường, và trống không tất cả ý thức của cái tôi.

Trong Indus Valley có một lối chữ vẽ hình trong đó người thấy, đang ngồi kiết già trong thiền định, hai bên sườn là hai con rắn hổ mang vươn thẳng trong tư thế tấn công. Trong một hình ảnh về khoảnh khắc của sáng tạo, một cái cây trồi lên từ tử cung của một người đàn bà có hai con hổ hung hăng đang bảo vệ khoảnh khắc của huyền bí. Một thần thoại diễn tả thân thể của Adi Sankaracharya (người tiêu biểu của Advaita và người thành lập nổi tiếng của trường triết học Advaita Veda) khi nó nằm ở hang Amarnath ở Kashmir. Trong một khoảng thời gian, thân thể nằm trống không, bởi vì Sankaracharya đã vào thân thể của một vị vua, để cho không phá hủy sự trong trắng của thân thể riêng của ông, ông có thể trải nghiệm tình dục và cương vị người cha và vì thế trả lời sự thách thức của Sharda, người vợ của Madan Misra của Mahishmati mà đã thách thức Acharya vĩ đại trong bàn luận tại Varanasi. Trong khi thân thể nằm không phòng vệ ở Amarnath, hai người trong những môn đệ của Sankaracharya chăm sóc nó và bảo đảm rằng nó không bị tổn hại. Sự cần thiết phải bảo vệ thân thể đã là nhiệm vụ chủ yếu và có lẽ là duy nhất của những người hiện diện trong khi Krishnaji trải qua những thay đổi to tát của năng lượng mà mở toang những khu vực không được vận hành trước kia của bộ não. Đưa ra bất kỳ sự quan trọng nào khác đối với sự liên hệ của Krishnamurti cùng những người này, như có lẽ được khẳng định, đều không có giá trị. Điểm giá trị duy nhất là rằng họ là những người Krishnaji tin cậy, những người sẽ bảo đảm rằng không có tổn hại gì cho thân thể, và trên tất cả là những người sẽ không có sợ hãi, không có những phản ứng mạnh mẽ thuộc cảm xúc hay ở trong trạng thái nào đó, đối với điều gì xảy ra.

Những biến cố tại Ooty kéo dài trên một thời kỳ ba tuần lễ, từ khoảng 28 hay 29 tháng năm đến 20 tháng sáu. Chúng xảy ra trong phòng của Krishnaji tại Sedgemoor. Em tôi, Nandini, và tôi hiện diện. Nó gây bối rối cho Nandini và tôi. Không nghi ngờ gì cả, Maurice Friedman đã giải thích cho Shanta Rao và Miss Petit điều gì đó về việc gì đang xảy ra, quen thuộc như anh ở cùng những truyền thống huyền bí của những thánh nhân trong vùng đất này. Dẫu vậy, chúng tôi chẳng có thể làm gì cả.

Nó bắt đầu vào một buổi chiều khi Krishnaji đi dạo cùng chúng tôi. Anh bắt đầu nói rằng anh đang cảm thấy không khỏe, và chúng tôi có thể đi về nhà. Khi chúng tôi hỏi liệu anh muốn khám bác sĩ, anh trả lời, “Không, nó không phải việc đó.” Anh sẽ không giải thích thêm nữa. Khi chúng tôi về nhà anh đi tới phòng của anh, bảo với Friedman rằng sẽ không được làm phiền anh bằng bất kỳ giá nào; nhưng anh yêu cầu Nandini và tôi đi vào trong phòng. Anh đóng cửa và sau đó nhắc nhở chúng tôi đừng sợ hãi, dù bất kỳ chuyện gì xảy ra, và không khi nào được gọi bác sĩ. Anh yêu cầu cả hai chúng tôi ngồi yên lặng và quan sát anh. Sẽ không có sợ hãi. Chúng tôi sẽ không nói với anh, không làm anh tỉnh lại, nhưng khép miệng anh lại nếu anh ngất xỉu. Không khi nào được phép bỏ lại thân thể của anh một mình.

Mặc dù tôi đã được quét sạch bởi sự gặp gỡ của tôi cùng K, tôi có một cái trí ngờ vựcquan sát rất chú ý những biến cố khi nó xảy ra.

Krishnaji có vẻ đau đớn cực độ. Anh rên rỉ vì bị đau răng nhiều và một đau đớn tại gáy cổ, chỏm đầu, và trong cột sống.

Giữa cơn đau anh, sẽ nói, “Họ đang súc sạch bộ não, ôi, quá hoàn hảo, đang làm trống không nó.” Vào những dịp khác, anh sẽ phàn nàn về sức nóng kinh khủng, và thân thể của anh sẽ đổ mồ hôi nhễ nhại. Sự mãnh liệt của cơn đau thay đổi vì khu vực nơi nó được tập trung. Thỉnh thoảng, cơn đau có vị trí trong đầu, trong răng, gáy cổ, hay cột sống. Vào những lúc khác, anh rên rỉ và ôm bụng của anh. Không gì có thể làm dịu bớt cơn đau; nó đến và đi khi nào nó muốn.

Khi tiến trình đang vận hành, thân thể đang nằm trên giường có vẻ giống như một cái vỏ sò; dường như chỉ một ý thức về thân thể hiện diện. Trong trạng thái này giọng nói yếu ớt, như em bé. Sau đó, bỗng nhiên thân thể đầy một hiện diện vút cao. Krishnaji sẽ ngồi bật dậy tư thế kiết già, hai mắt nhắm lại, thân thể mỏng manh có vẻ tăng trưởng và sự hiện diện của anh sẽ phủ đầy căn phòng; có một yên lặng rộn ràng, có thể cảm thấy được và một sức mạnh vô bờ bến tràn vào căn phòng và bao bọc chúng tôi. Trong tình trạng này, giọng nói có khối lượng và chiều sâu vô hạn.

Sau buổi chiều đầu tiên, anh bắt đầu dạo bộ một mình vào những buổi chiều và thường yêu cầu Nandini và tôi đến nhà sau đó. Thoạt đầu, những trải nghiệm bắt đầu lúc 6 giờ chiều và chấm dứt lúc 8 giờ 30 tối, nhưng sau đó thỉnh thoảng, chúng tiếp tục đến nửa đêm. Vào những ngày khi anh phải gặp gỡ người ta (ví dụ, Jawaharlal Nehru), không gì xảy ra. Càng về cuối, những thời kỳ kéo dài hơn, và có một lầntiếp tục suốt đêm. Không lần nào anh nói về sự bẩn thỉu hay bày tỏ một ham muốn rời căn phòng như anh đã làm tại Ojai, mặc dù Sedgemoor không sạch sẽ hơn bình thường; anh cũng không nói về những suy nghĩ gây bực bội. Vào một dịp anh yêu cầu Nandini cầm tay anh, bởi vì nếu không anh sẽ lẻn thoát ra và không quay lại.

Trong khi anh đang ở giữa sự thử thách, thân thể của anh sẽ lăn lộn trên giường. Anh sẽ có những cơn co giật, sẽ gọi vang để kêu Krishna, và sau đó lấy bàn tay bịt miệng lại và nói, “Tôi không được phép gọi anh.”

 __________________

 

Ngày 30 tháng năm năm 1948: [13]

 

 Krishnamurti đang chuẩn bị đi dạo thì bỗng nhiên anh nói anh cảm thấy quá yếu và không hoàn toàn hiện diện ở đó. Anh nói, “Tôi bị đau đớn quá.” Anh ôm đầu và nằm vật xuống. Trong một vài phút, anh Krishnaji mà chúng tôi biết không còn hiện diện ở đó. Suốt hai tiếng đồng hồ, chúng tôi thấy anh trải qua sự đau đớn kinh khủng. Anh nói anh bị đau ở gáy cổ, một cái răng của anh gây phiền muộn anh, bao tử của anh căng phồng và cứng ngắt, và anh rên rỉ và đè xuống. Thỉnh thoảng, anh sẽ la lớn. Anh ngất xỉu nhiều lần. Khi anh hồi tỉnh, lần đầu tiên, anh nói, “Khép miệng tôi lại khi tôi ngất xỉu.”

 Anh cứ liên tục nói, “Amma – ôi, Thượng đế ơi, cho con sự an bình. Con biết họ có trách nhiệm phải thực hiện việc gì. Gọi anh ấy trở lại. Con biết khi sự giới hạn của đau đớn lên đến cực điểm, họ sẽ quay lại. Họ biết thân thể có thể chịu đựng đến mức độ nào. Nếu con trở thành một người điên dại, hãy chăm sóc con – không phải rằng con sẽ trở thành một người điên dại. Họ rất cẩn thận với thân thể. Con cảm thấy quá già nua. Chỉ một ít phần của con đang vận hành. Con giống như một món đồ chơi bằng cao su của Ấn độ, mà một đứa trẻ chơi đùa. Chính là đứa trẻ mới tạo ra sự sống.”

 Suốt tiến trình đang xảy ra, khuôn mặt của anh trông có vẻ mệt mỏikiệt sức và bị nát ra bởi đau đớn. Anh cứ bóp chặt hai nắm tay và những giọt nước mắt trào ra từ hai mắt của anh. Sau hai tiếng đồng hồ, anh ngất xỉu lại. Khi anh hồi tỉnh, anh nói, “Cơn đau đớn đã hết rồi. Tôi biết điều gì đã xảy ra sâu thẳm bên trong tôi. Tôi đã được thấm đầy xăng. Bình xăng đầy rồi.”

 Sau đó, anh nói anh sẽ nói chuyện để cho anh sẽ không phải suy nghĩ về sự đau đớn bên trong anh. “Bạn có thấy mặt trời và những đám mây tơi sốp trĩu nặng nước mưa? Chúng trôi qua mặt trờitiếp theo mưa rơi xuống ầm ầm trên quả đất mà mong chờ giống như tử cung đang mở. Nó rửa sạch. Mỗi bông hoa, mỗi chiếc lá. Có hương thơm, một mới mẻ. Rồi thì, những đám mây trôi đi và mặt trời ló dạng và chạm vào mỗi chiếc lá và mỗi bông hoa. Bông hoa nhỏ xíu thanh thoát giống như một thiếu nữ trẻ bị vùi dập bởi một người đàn ông hung bạo. Bạn có thấy những bộ mặt của những người đàn ông giàu có? Luôn luôn bận rộn bởi những cổ phiếu và kiếm tiền của họ? Họ biết gì về tình yêu? Bạn có khi nào cảm thấy mỗi cành của một cái cây, sờ chạm một chiếc lá, ngồi bên cạnh một đứa trẻ rách rưới? Bạn biết khi tôi lái xe đến một sân bay nhỏ, tôi thấy một nguời đàn bà đang rửa ráy hai mông của một đứa trẻ. Cảnh đó đẹp lắm. Không người nào để ý đến người đàn bà. Tất cả mọi việc họ biết là kiếm tiền và những chỗ ô uế của những người đàn bà của họ. Đối với họ, tình yêu là ái ân. Cầm bàn tay của một người đàn bà, khi bà ta không là một người đàn bà, đó là tình yêu. Các bạn biết tình yêu là gì? Các bạn có những người chồng và con cái. Nhưng làm thế nào các bạn sẽ biết? Bạn không thể nhốt một đám mây trong một cái cũi bằng vàng.”

 Anh im lặng một chốc, sau đó nói, “Đau đớn này làm cho thân thể của tôi như thép – nhưng, ôi, thật mềm dẻo, thật linh động, không một suy nghĩ. Nó giống như một đánh bóng, một sát hạch.” Chúng tôi hỏi liệu anh không thể kết thúc việc bị đau đớn. Anh trả lời: “Bạn có một đứa con. Liệu bạn có thể ngăn cản nó sinh ra khi nó khởi động rồi?” Tiếp theo: “Họ sẽ vui đùa cùng tôi tối nay. Tôi thấy cơn bão đang tụ họp. Ô, Christos!”

 Chốc lát sau, Maurice mang vào ít cháo và sau đó đi ra. Krishnji nhờ bật đèn lên. Anh đã ngồi dậy hai chân kiết già, thân thể thẳng đứng. Sự đau đớn không còn trên khuôn mặt. Hai mắt của anh nhắm lại. Dường như anh đang lớn lên. Chúng tôi cảm thấy quyền năng vô bờ bến tràn vào anh. Có một rộn ràng trong bầu không khí. Nó đầy căn phòng. Hai mắt và hai tai của chúng tôi đầy ắp nó và âm thanh, mặc dù không có âm thanh; và mỗi chân lông của thân thể chúng tôi cảm thấy một tiếp xúc, nhưng không có gì trong phòng. Sau đó, anh mở hai mắt của anh và nói: “Việc gì đó đã xảy ra – các bạn có thấy gì không?” Chúng tôi trả lời anh rằng chúng tôi đã cảm thấy. Anh nói, “Ngày mai khuôn mặt của tôi sẽ khác hẳn.” Anh nằm xuống và hai tay mở ra trong một cử chỉ của no đủ. Anh nói, “Tôi sẽ giống như một giọt mưa – vô nhiễm.” Sau một vài phút, anh bảo với chúng tôi rằng anh khỏe lại rồi và chúng tôi nên về nhà.

 

Ngày 17 tháng sáu năm 1948:

 

 Krishnaji ra ngoài dạo bộ một mình. Anh yêu cầu Nandini và tôi chờ anh. Chúng tôi ngồi bên cạnh lò sưởi và chờ. Anh đi vào phòng như thể anh là một người lạ. Anh đi thẳng đến bàn làm việc của anh và viết cái gì đó trong hồ sơ của anh. Sau một khoảng thời gian, anh bắt đầu nhận biết được chúng tôi. Anh đến và ngồi xuống gần lò sưởi. Anh hỏi chúng tôi rằng chúng tôi đang làm gì và nói rằng anh đã đi qua khỏi Golf Club. Có một cây sáo đang thổi ở xa xa và anh ngồi yên lặng, lắng nghe nó đầy chú ý. Chỉ sau khi nó ngừng thì anh có vẻ ở trong tình trạng nửa mê nửa tỉnh. Hai lần trong khi chúng tôi ngồi đó, sự hiện diện lạ thường bao bọc trọn vẹn anh. Anh cao lên trước chúng tôi. Hai mắt của anh hơi hé mở; khuôn mặt của anh yên lặng và đẹp đẽ lạ thường.

 Rồi sau đó anh nằm trên giường và chỉ có thân thể. Giọng nói xuất phát từ thân thể là giọng nói của một đứa trẻ yếu ớt. Anh Krishnaji mà chúng tôi đã biết không còn ở đó. Thân thể của Krishnamurti bắt đầu nói rằng anh bị đau đớn bên trong lắm, rằng họ đốt cháy anh phía bên trong; rằng có một đau đớn xuyên thủng bộ đầu của anh. Anh đang run rẩy và nói rằng việc gì đó đã xảy ra trong chuyến dạo bộ. Anh quay về phía chúng tôi và hỏi, “Bạn thấy anh quay lại?” Anh không thể làm đồng bộ thân thể và cái trí của anh. Thỉnh thoảng anh cảm thấy anh vẫn còn đang ở trong rừng. “Họ đến và phủ anh lại bằng những chiếc lá.” Anh nói, “Bạn biết không, ngày mai bạn sẽ không thấy anh. Gần như anh không trở lại.” Anh liên tục cảm giác thân thể của anh để xem thử liệu tất cả có còn ở đó hay không. Anh nói, “Tôi phải quay lại và tìm ra việc gì đã xảy ra trong chuyến dạo bộ. Việc gì đó đã xảy ra và họ vội vã quay lại. Nhưng tôi không biết liệu tôi đã quay lại? Có lẽ còn có những mảnh của tôi đang nằm trên đường.” Hai lần anh ra khỏi giường và hướng tới cửa ra vào, nhưng lại nằm xuống. Sau đó, anh chìm vào giấc ngủ. Khi anh thức dậy, anh sờ mó thân thể và nhìn vào hai bàn tay của anh.

 

Ngày 18 tháng sáu năm 1948:

 

 Krishnaji yêu cầu chúng tôi đến vào lúc bảy giờ chiều. Anh đi ra ngoài. Chúng tôi chờ. Anh quay lại nhà sau khoảng thời gian nào đó. Lại nữa anh là người lạ. Anh viết điều gì đó trong quyển sách và sau đó đến ngồi cùng chúng tôi. Anh nói: “Những suy nghĩ về nói chuyện của tôi ở Bangalore đang tràn vào. Lại nữa tôi nhận biết rõ.” Anh nhắm hai mắt và ngồi thẳng đứng, yên lặng trong một lúc. Sau đó anh phàn nàn về sự đau đớn và đi đến giường nằm xuống. Anh nói anh cảm thấy bị đốt cháy. Anh đang khóc. “Bạn biết không, tôi tìm được việc gì đã xảy ra trong chuyến dạo bộ. Anh đến đầy đủ và đảm đương hoàn toàn. Đó là lý do tại sao tôi không biết liệu tôi đã quay lại. Tôi không biết gì cả.” Chốc lát sau, “Sau đó trong tình trạng trống không, có một ánh sáng và một cơn bão và tôi bị hành hạ ngày hôm đó trong cơn gió. Bạn có biết trống không đó mà không có đường chân trời – không giới hạn – nó trải rộng vô hạn?” Bàn tay của anh chuyển động để biểu lộ không gian trống không.

 Chốc lát sau: “Họ đã đốt cháy tôi để cho có thể có nhiều trống không thêm nữa. Họ muốn thấy ‘bao nhiêu của anh ấy’ có thể vào.” Kế tiếp: “Bạn biết trống không? Khi nào không có một suy nghĩ? Khi nào nó hoàn toàn trống không? Nhưng, làm thế nào bạn có thể biết? Chính trống không này mới sáng tạo uy quyền – không phải quyền lực mà họ biết, quyền lực của tiền bạc, quyền lực của địa vị, quyền lực của người chồng đối với người vợ.” Anh ngừng lại. “Đây là uy quyền thuần khiết – giống như quyền lực trong một cái máy phát điện. Bạn biết, trong chuyến dạo bộ, tôi ở trong một ngây ngất. Tôi chưa bao giờ khóc lóc giống như thế. Khi tôi đang bước đi, tôi gặp một người đàn ông nghèo khổ. Ông thấy tôi đang khóc và nghĩ rằng tôi đã mất một người mẹ hay người chị. Sau đó, ông mỉm cười với tôi và tôi không thể hiểu rõ.” Bỗng nhiên anh nói, “Tôi có một suy nghĩthời gian và trống không – tốt lắm. Tôi hy vọng tôi nhớ lại khi tôi thức dậy.”

 Anh bắt đầu nói rằng anh không thể chịu đựng được nó, rằng anh bị đốt cháy tất cả phía bên trong, đau đớn. Sau đó, bỗng nhiên anh ngồi bật dậy và nói, “Đừng chuyển động,” và lại nữa chúng tôi thấy anh giống như đêm trước. Khuôn mặt của anh trong bóng tối, nhưng lò sưởi cháy bừng bừng và bóng của anh đổ dài trên tường. Mọi đau đớn đều biến mất khỏi khuôn mặt. Hai mắt của anh nhắm lại, thân thể của anh đang rộn ràng, như quyền năng nào đó đang thâm nhập vào anh. Khuôn mặt của anh đang rung động. Anh có vẻ to ra và phủ kín căn phòng. Anh ngồi không cử động khoảng ba phút và sau đó anh ngất xỉu. Anh thức dậy an bìnhthanh thản.

_______________

 

 Mặc dù những ghi chú chúng tôi ghi lại đêm cuối bị thất lạc, Nandini và tôi nhớ sự kiện đó rất rõ ràng.

 Krishnaji đã trải qua sự đau đớn hành hạ trong bộ đầu và cổ của anh, bao tử của anh căng phồng, những giọt nước mắt lăn xuống mặt anh. Bỗng nhiên, anh nằm vật ra giường và trở nên bất động. Những dấu vết của đau đớnmệt mỏi được xóa sạch, như xảy ra trong chết. Sau đó sự sống và một bao la bắt đầu thẩm thấu khuôn mặt. Khuôn mặt đẹp đẽ lạ thường. Nó không tuổi tác, thời gian đã không tiếp xúc nó. Hai mắt mở, nhưng không có sự công nhận. Thân thể tỏa sáng; một bất động và một bao la chiếu sáng khuôn mặt. Sự yên lặng là chất lỏng và đậm đặc, giống như mật ong; nó tràn vào căn phòng và vào những thân thể và những cái trí của chúng tôi, bịt kín mỗi tế bào của bộ não, xóa sạch mọi vết tích của thời gian và ký ức. Chúng tôi cảm giác một tiếp xúc mà không có một hiện diện, một cơn gió đang thổi mà không có sự chuyển động. Chúng tôi không thể kiềm hãm và chắp hai tay bày tỏ sự tôn kính. Trong vài phút, anh nằm bất động, sau đó hai mắt của anh mở ra. Chốc lát sau, anh thấy chúng tôi và hỏi, “Bạn có thấy khuôn mặt đó không?” Anh không chờ đợi một câu trả lời. Anh nằm bất động. Tiếp theo, “Buddha hiện diện ở đây, bạn được ban phước lành.”

 Chúng tôi quay về khách sạn, và sự yên lặng theo cùng chúng tôi và vây quanh chúng tôi trong vài ngày kế tiếp. Chúng tôi được bao bọc bởi một hiện diện lan tỏa khắp mọi nơi. Hầu hết mọi thời gian chúng tôi ở trong phòng cùng Krishnaji, chúng tôi không có nhiệm vụ gì cả; tuy nhiên sự có mặt của chúng tôicần thiết. Không có gì cá nhân trong anh trong suốt những biến cố xảy ra – không cảm xúc, không liên hệ với chúng tôi. Sự thử thách có vẻ trên phần thân thể, và tuy nhiên ngày hôm sau lại không để lại dấu vết nào trên khuôn mặt hay thân thể của anh. Anh rực lửa cùng năng lượnghân hoan, háo hức, và tươi trẻ. Không một từ ngữ nào anh nói có những ngụ ý về tâm lý. Một sức nặng, chiều sâu, và sức mạnh hiện diện trong sự yên lặng đã thẩm thấu căn phòng và bầu không khí trong mỗi biến cố. Khi Nandini và tôi so sánh những ghi lại sau đó, chúng tôi đã phát giác rằng cả hai chúng tôi đều có những trải nghiệm giống hệt nhau.

 Khi Nandini và tôi rời Ootacamund, Krishnamurti yêu cầu chúng tôi “đến Bombay và nghỉ ngơi. Các bạn đã trải qua sự thử thách to tát.”

 Trong một trong những lá thư của anh gửi đến tôi, sau này K có đề cập vắn tắt đến việc gì đã xảy ra. Một buổi sáng, tôi đã hỏi anh về lý do có hai giọng nói – một giọng của một đứa trẻ mỏng manh và một giọng thông thường của Krishnamurti. Tôi nói rằng nó trông như thể thực thể nào đó ra khỏi thân thểthực thể nào đó vào lại thân thể. Krishnamurti trả lời trong lá thư của anh, “Đây không là như thế. Không phải rằng có hai thực thể.” Anh nói anh sẽ bàn về điều đó sau; nhưng đã qua quá nhiều năm trước khi anh kể lại về nó.

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 977)
Tư Tưởng Phật Giáo Trong Thi Ca Nguyễn Du - HT Thích Như Điển
(View: 778)
Phật Giáo Việt Nam Tại Châu Âu - HT Thích Như Điển
(View: 2094)
Tư Tưởng Phật Giáo Trong Văn Học Thời Trần - Tác giả: Nguyễn Vĩnh Thượng
(View: 3436)
Emily Elizabeth Dickison là nhà thơ lớn của Mỹ trong thế kỷ thứ 19. Bà sống phần lớn cuộc đời trong cô độc.
(View: 1326)
Ni Giới Việt Nam Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ - Thích Nữ Giới Hương. Hồng Đức Publishing. 2020
(View: 1169)
Tác phẩm “Xây dựng hạnh phúc gia đình” của Hòa thượng Thích Thắng Hoan là cẩm nang hướng dẫn xây dựng hạnh phúc cho người Phật tử tại gia.
(View: 5036)
“Nói Thiền tông Việt Nam là nói Phật giáo Việt Nam. Và những bậc cao Tăng làm sáng cho Phật giáo, làm lợi ích cho dân tộc từ thế kỷ thứ 6 mãi đến nay đều là các Thiền sư.”
(View: 1851)
Ai đã truyền Việt Nam Phật Giáo qua Trung Quốc: Khương Tăng Hội, người Việt Nam. Vào năm nào: năm 247 tây lịch.
(View: 1711)
Tư tưởng Phật giáo trong văn học thời Lý bản PDF - Nguyễn Vĩnh Thượng
(View: 4630)
Thầy Tuệ Sỹ Là Viên Ngọc Quý Của Phật Giáo và Của Việt Nam - Nguyễn Hiền Đức
(View: 3617)
Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác - hồi ký về một ngôi chùa đã đi vào lịch sử Phật giáo tỉnh Quảng Nam. Viên Giác Tùng Thư 2019 - Nhà xuất bản Liên Phật Hội
(View: 23706)
Tác phẩm Trí Quang Tự Truyện bản pdf và bài viết "Đọc “Trí Quang Tự Truyện” của Thầy Thích Trí Quang" của Trần Bình Nam
(View: 3602)
Tôi đặt bút bắt đầu viết "Lời Vào Sách" nầy đúng vào lúc 7 giờ sáng ngày 21 tháng 6 năm 1995 sau khi tụng một thời kinh Lăng Nghiêmtọa thiền tại Chánh điện.
(View: 3385)
Có lẽ đây cũng là một trong những viễn ảnh của tâm thức và mong rằng những trang sách tiếp theo sẽ phơi bày hết mọi khía cạnh của vấn đề, để độc giả có một cái nhìn tổng quát hơn.
(View: 3736)
Ai trói buộc mình? Không biết có bao giờ chúng ta tự đặt câu hỏi đó với chúng ta chưa? Đến chùa học pháp hay đi tu chỉ để cầu giải thoát. Mục đích tu hoặc xuất gia là cầu giải thoát sinh tử. Giải thoát có nghĩa là mở, mở trói ra. Cầu giải thoát là đang bị trói. Nhưng ai trói mình, cái gì trói mình? Khi biết mối manh mới mở được.
(View: 2983)
Sống Trong Từng Sát Naphương pháp thực tập sống tỉnh thức, sống và ý thức về sự sống trong từng mỗi phút giây. Đây là phương thức tu tập dựa trên tinh thần Kinh Bốn Lãnh Vực Quán Niệm.
(View: 3039)
Nguyên bản: How to practice the way to a meaningful life. Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma. Anh dịch: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(View: 4839)
Mối Tơ Vương của Huyền Trân Công Chúa (Phóng tác lịch sử tiểu thuyết vào cuối đời Lý đầu đời Trần) HT Thích Như Điển
(View: 3181)
Nguyệt San Chánh Pháp Số 84 Tháng 11/2018
(View: 8211)
Nhẫn nhục là thù diệu nhất vì người con Phật thực hành hạnh nhẫn nhục thành thục, thì có thể trừ được sân tâm và hại tâm, là nhân tố quan trọng để hành giả thành tựu từ tâm giải thoátbi tâm giải thoát.
(View: 19223)
Tác giả: Diệu Hạnh Giao Trinh sưu tầm và kể chuyện, Nguyễn Minh Tiến hiệu đínhgiới thiệu
(View: 3289)
Cảm Đức Từ Bi - tác giả Huỳnh Kim Quang
(View: 4237)
Một bản dịch về Thiền Nhật Bản vừa ấn hành tuần này. Sách nhan đề “Thiền Lâm Tế Nhật Bản” của tác giả Matsubara Taidoo. Bản Việt dịch do Hòa Thượng Thích Như Điển thực hiện.
(View: 3997)
Tuyển tập “Bát Cơm Hương Tích” của Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng là một phần lớn của đời tác giả, ghi lại những gì Thầy mắt thấy tai nghe một thời và rồi nhớ lại...
(View: 4314)
Quyển sách "Hãy làm một cuộc cách mạng" trên đây của Đức Đạt-lai Lạt-ma khởi sự được thành hình từ một cuộc phỏng vấn mà Ngài đã dành riêng cho một đệ tử thân tín là bà Sofia Stril-Rever vào ngày 3 tháng giêng năm 2017.
(View: 4971)
THIỀN QUÁN VỀ SỐNG VÀ CHẾT - Cẩm Nang Hướng Dẫn Thực Hành - The Zen of Living and Dying A Practical and Spiritual Guide
(View: 3992)
Mùa An Cư Kiết Hạ năm 2016 nầy tôi bắt đầu viết tác phẩm thứ 67 để sang năm 2017 xuất bản với nhan đề là "Nước Mỹ bao lần đi và bao lần đến"
(View: 4171)
Người đứng mãi giữa lòng sông nhuộm nắng, Kể chuyện gì nơi ngày cũ xa xưa, Con bướm nhỏ đi về trong cánh mỏng, Nhưng về đâu một chiếc lá xa mùa (Tuệ Sỹ)
(View: 9750)
TĂNG GIÀ THỜI ĐỨC PHẬT Thích Chơn Thiện Nhà xuất bản Phương Đông
(View: 15545)
Người học Phật có được một tài liệu đầy đủ, chính xác, đáng tin cậy, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ tra cứu khi cần...
(View: 4605)
Tác phẩm nầy chỉ gởi đến những ai chưa một lần đến Mỹ; hoặc cho những ai đã ở Mỹ lâu năm; nhưng chưa một lần đến California...
(View: 4994)
Từ Mảnh Đất Tâm - Huỳnh Kim Quang
(View: 4331)
Một năm lại sắp trôi qua với những vết tích điêu tàn, khổ nạn để lại trên khắp trái đất. Nhìn lại, chúng ta không khỏi giật mình, và chạnh lòng thương tưởng
(View: 4502)
Chung trà cuối năm uống qua ngày đầu năm. Sương lạnh buổi sớm len vào cửa sổ. Trầm hương lãng đãng quyện nơi thư phòng..
(View: 4567)
Một năm lại sắp trôi qua với những vết tích điêu tàn, khổ nạn để lại trên khắp trái đất. Nhìn lại, chúng ta không khỏi giật mình, và chạnh lòng thương tưởng
(View: 5092)
Nước lũ từ thượng nguồn cuồn cuộn đổ về, lại thêm nước từ đập thủy điện ồ ạt xả ra. Dân không được báo trước.
(View: 5016)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dươnglưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoátgiác ngộ cho...
(View: 5900)
Là người mới bắt đầu học Phật hoặc đã học Phật nhưng chưa thấm nhuần Phật pháp chân chính, chúng tôi biên soạn...
(View: 4711)
Hôm nay là ngày 10 tháng 6 năm 2015, tại thư phòng chùa Viên Giác Hannover, Đức Quốc, tôi bắt đầu viết tác phẩm thứ 65 của mình...
(View: 4788)
Bắt đầu vào hạ, trời nóng bức suốt mấy ngày liền. Bãi biển đông người, nhộn nhịp già trẻ lớn bé. Những chiếc...
(View: 8123)
Phật giáo ra đời từ một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại - Ấn Độ - và nhanh chóng phổ biến tại các nước phương Đông...
(View: 15642)
Trong tập sách nhỏ này tôi đã bàn đến hầu hết những gì mọi người đều công nhậngiáo lý tinh yếu và căn bản của Đức Phật... Con Đường Thoát Khổ - Đại đức W. Rahula; Thích Nữ Trí Hải dịch
(View: 26943)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
(View: 12944)
Tập sách do Minh Thiện và Diệu Xuân biên soạn
(View: 15984)
Phật GiáoVũ Trụ Quan (PDF) - Tác giả: Lê Huy Trứ
(View: 9113)
Hạnh Mong Cầu (sách PDF) - Lê Huy Trứ
(View: 11084)
Đọc “Dấu Thời Gian” không phải là đọc sự tư duy sáng tạo mà là đọc những chứng tích lịch sử thời đại, chứng nhân cùng những tâm tình được khơi dậy trong lòng tác giả xuyên qua những chặng đường thời gian...
(View: 6268)
Báo Chánh Pháp Số 48 Tháng 11/2015
(View: 8868)
Nguyệt san Chánh Pháp Tháng 10 năm 2015
(View: 6497)
Báo Chánh Pháp Số 46 Tháng 9/2015 - Chuyên đề Vu Lan - Mùa Báo Hiếu
Quảng Cáo Bảo Trợ