Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
19,035,500

01. Kinh điển Phật Giáo

Sunday, October 9, 201100:00(View: 8168)
01. Kinh điển Phật Giáo

CÁC BÀI
HỌC PHẬT
PHÚC TRUNG Huỳnh Ái Tông

Phần 2: GIÁO LÝ CĂN BẢN

Kinh điển Phật Giáo

Những bài pháp đức Phật thuyết trải qua 45 năm hoằng hóa của ngài, đã không được ghi lại bằng văn tự từ lúc Phật đương thời cho đến mấy thế kỷ sau khi ngài nhập diệt, không phải lúc đó Ấn độ chưa có chữ viết, thật ra kinh Vệ Ðà của Bà La Môn đã được ghi chép bằng chữ Phạn từ trước thời đức Phật.

Những đại đệ tử của Phật như Xá Lợi Phất hay Mục Kiền Liên trước kia ở phái San Xa Dạ thuộc Lục Sư ngoại đạo, mỗi người có đến 100 đệ tử, cũng đại đệ tử như Ðại Ca Diếp vốn thuộc dòng dõi Bà La Môn, còn những vị vương tử khác thuộc dòng dõi Sát Ðế Lợi như A Nan, A Na Luật, Nan Ðà, Ma Ha Nam . . . dĩ nhiên những người đó làu thông chữ nghĩa Sanscrit, nhưng kinh điển đã không được ghi chép vì theo Tạng Luật của nhiều bộ phái còn ghi lại sự kiện sau đây: "Bấy giờ có hai anh em Bà La Môn xin xuất gia theo Phật. Họ yêu cầu Ngài cho phép họ tụng, đọc những lời Ngài dạy theo kiểu tụng đọc kinh điển Vệ Ðà mà họ đã quen đọc, họ cũng yêu cầu sử dụng tiếng Sanscrit và sắp xếp câu văn thế nào cho hoa mỹ như cách hành văn của Sanscrit trong kinh điển ấy". Về lời yêu cầu nầy, Phật dạy rằng trong đạo Ngài không cần văn chương hoa mỹ, chỉ cần nghĩa lý rõ ràng, lập luận chặt chẻ. Lời văn giọng nói cần phải đơn giản, thế nào cho người nghe hiểu được mình muốn nói gì. Ðó là vấn đề chính yếu để giải đáp cho câu hỏi vì sao kinh điển không được ghi chép từ thời đức Phật còn hiện tiền.

Trong kiết tập lần thứ nhất, ngài Ðại Ca Diếp đưa ra ý kiến: "Nếu chúng ta xem học pháp là những giới nhỏ nhặt, có thể loại bỏ thì các Tỳ Kheo khác sẽ bảo: Bốn giới Ba La Ðề Ðề Xá Ni cũng là những giới nhỏ nhặt có thể loại bỏ. Nếu chúng ta bảo bốn giới Ba La Ðề Ðề Xá Ni là những giới nhỏ nhặt, thì các Tỳ Kheo khác sẽ bảo: Các giới Ba Dật Ðề cũng là những giớ nhỏ nhặt... Giờ đây chung ta không thể khẳng định, giới nào là giới nhỏ nhặt mà loại bỏ một cách tùy tiện thì bọn ngoại đạo sẽ bảo: "Pháp của sa môn Thích tử giống như mây khói, khi thầy còn sống thì những pháp do thầy chế định các đệ tử tuân thủ một cách nghiêm túc, nhưng sau khi thầy nhập niết bàn, họ không chịu thực hành nữa" Do vậy, tôi khẳng định lại : "Những gì không do Phật chế thì không được tự ý chế định, và những gì do Phật chế định thì không được vi phạm. Chúng ta phải kính cẩn học tập những gì mà Phật đã truyền dạy". Ý kiến này đã được đại hội quyết nghị chấp thuận, do đó cho chúng ta thấy rằng, tăng đoàn quyết bảo tồnhành trì đúng y theo những lời Phật dạy, Thượng Tọa bộ đã tiếp nối truyền thống nầy nên họ được mệnh danh là bảo thủ, chính truyền thống bảo thủ nầy mà trải qua nhiều thế kỷ, kinh điển vẫn khẩu truyền chớ không được ghi chép.

Tương truyền rằng sau khi mãn Hạ trong lần kiết tập thứ nhất đó, ngài Ưu Bà Ly đem quyển Luật của ngài đã kiết tập ghi 1 điểm, cứ thế sau mỗi Hạ ghi 1 điểm, quyển Luật nầy có tên là Luật Thiện Kiến, sau ngài truyền cho đệ tử là Ðà Ðã Tật, Ðà Ðã Tật truyền cho ngài Tu Câu và cứ thế lưu truyền, đến ngài Bạt Ðà La mang nguyên bổn Luật nầy sang Trung Hoa vào đời Tề, năm Vĩnh Bình Thứ Bảy, dịch ra Hán Văn tại chùa Trúc Lâm ở Quảng Châu, mãn Hạ năm ấy đếm số ghi cuối cùng được 976 điểm, vì do chư thánh Tăng đã điểm vào quyển nầy, nên nó còn có tên là "Chúng Thánh Ðiểm Ký". Phật Lịch được định theo điểm ký nầy.

Nhìn lại lịch sử Phật giáo, chúng ta biết rằng kiết tập lần thứ hai khoảng 100 năm sau Phật nhập diệt, hay ở thế kỷ thứ V trước Công nguyên, lần kiết tập nầy do vấn đề giới luật, Phật giáo lần đầu tiên bị phân phái thành Thượng Tọa bộ và Ðại Chúng bộ. Ðến thời đại vua A Dục, khoảng 236 năm sau khi Phật nhập Niết Bàn, tức năm 250 trước CN nhà vua hộ trì tổ chức kiết tập lần nầy để chỉnh đốn lại hàng ngủ Tăng già, có thuyết cho là do tân thuyết của Ðại Thiên. Lần kiết tập này xuất hiện bộ "Thuyết sự", sau nầy người ta cho rằng từ đó Phật Giáo có đủ Tam Tạng Kinh Ðiển. Lần kiết tập thứ tư dưới triều đại Ca Nhị Sắc Ca (128-151), khoảng 700 năm sau khi Phật nhập niết bàn, khoảng năm 140 CN, lần kiết tập nầy, hội nghị đã sáng tác bộ "Luận Nghị" (Upadesa), để giải thích tạng Kinh, bộ "Tỳ Bà Sa" (Vibhasa) để giải thích tạng Luật và bộ "A Tỳ Ðạt Ma" (Abhidarma) để giải thích tạng Luận. Như vậy cả bốn lần kiết tập, đều cho chúng ta thấy, không lần nào có tổ chức ghi chép kinh điển.

Chúng ta lại biết rằng, sau khi Phật nhập niết bàn 236 năm, dưới triều đại vua A Dục, ngài muốn truyền bá Phật giáo nên phái một đoàn truyền giáo sang Tích Lan, do Trưởng Lão Minhada (là vương tử, con vua A Dục) hướng dẫn, đoàn truyền giáo này đã truyền khẩu Kinh và Luật tại vương quốc Tích Lan bằng tiếng Ma Kiệt Ðà, để giải thích kinh họ dùng ngôn ngữ và chữ Tích Lan để ghi chép. Ðến triều vua Vô Úy Vương (Vatthagàmani-Abhaya thế kỷ I trước Công Nguyên), một vị vua rất hâm mộ và nhiệt tâm hộ trì Phật giáo, đã tạo dựng một ngôi chùa nguy nga đồ sộ tại núi Vô Úy tên là Vô Úy Tự. Thời kỳ này vào những năm 35-32 TCN Phật Giáo Tích Lan họp chư tăng tại chùa Alu gần thị trấn Matale, kiết tập toàn bộ Tam Tạng, kinh điển bắt đầu ghi chép bằng tiếng Pali theo ngôn ngữ Ma Kiệt Ðà. Về nguồn gốc tiếng Pali, các nhà khảo cứu cho rằng nó phát xuất từ nơi nào đó thuộc vương quốc rộng lớn Ma Kiệt Ðà, rồi lan rộng ra các nơi đến tận Tích Lan.

Về sau, đến thế kỷ thứ V, có ngài Phật Âm (Buddhaghoso), người Trung Ấn, đến Tích Lan nghiên cứu giáo lý của Ðại Tự phái (Phật giáo Tích Lan bắt nguồn từ Ðại Tinh Xá phát triển ra, nên gọi là Ðại Tự phái, sau Tăng chúngVô Úy Tự bất đồng ý kiến về giới luật, tách khỏi Ðại Tự phái, thành lập Vô Úy Sơn Tự phái, thuộc pháp hỷ bộ, đầu thế kỷ thứ III, tại chùa Kỳ Ðà Lâm, phát sinh ra một phái nửa gọi là Kỳ Ðà Lâm Tự phái.), ngài Phật Âm đã dùng tiếng Pali để chú thích hầu hết các Kinh, Luật và Luận, phần nào chưa xong, sau nầy có ngài Hộ Pháp (Dhammapàla) hoàn thành, chính ngài Phật Âm (Buddhaghoso) sáng tác ra bộ Thanh Tịnh Ðạo Luận (Visuddhimagga).

Như vậy Phật giáo Tích Lan dùng kinh điển Pali gọi là Phật Giáo Nguyên Thủy hay Phật giáo Nam Tông. Còn Phật Giáo Ðại Thừa hay Bắc Tông dùng kinh điển chữ Sanscrit. Chúng ta biết chữ Sanscrit đã có từ trước thời đức Phật, nhưng kinh điển Phật giáo được ghi chép bằng Sanscrit không rõ từ lúc nào nhưng chắc là khoảng thời thời kỳ kiết tập kinh điển lần thứ tư, những nhà nghiên cứu Phật giáo cho rằng kinh điển ghi bằng chữ Sanscrit cũng như Pali, có thể đã dựa theo nguyên bản ngôn ngữ Ma Kiệt Ðà, hoặc khi ghi kinh điển Sanscrit có tham khảo bản tiếng Pali, cho nên nội dung bộ A Hàm (Agama) của Bắc Tông giống như Ngũ Bộ Kinh (Nikaya) của Nam Tông.

Chúng ta có bảng liệt kê đại cương kinh điển Nam Tông như sau:

I.- Luật Tạng:

Gồm có giới luật, nghi lễ, hành xử cho Nam, Nữ tu sĩ, chia làm 5 bộ:

  1. Ba La Di
  2. Ba Dật Ðề
  3. Ðại Phẩm
  4. Tiểu Phẩm
  5. Toát yếu

II.- Kinh Tạng:

Ghi những lời của Phật hay đệ tử Phật giảng dạy, được chia ra làm 5 bộ gọi là Ngũ Bộ Kinh:

  1. Trường Bộ
  2. Trung Bộ
  3. Tương Ưng Bộ
  4. Tăng Chi Bộ
  5. Tiểu Bộ

Tiểu Bộ không phải là bộ kinh nhỏ hay ngắn, mà chính ra nó là tập họp 15 bộ sách nhỏ :

a- Tiểu Tụng
b- Pháp Cú
c- Phật Tự Thuyết
d- Như Thị Ngữ
e- Kinh Tập
f- Thiên Cung Sự
g- Ngạ Quỹ Sự
h- Trưởng Lão Tăng Kệ
i- Bổn Sanh
j- Nghĩa Thích
k- Vô Ngại Giải Ðạo
l- Thí dụ
m- Phật sử
n- Sở hành tạng

III.- Luận Tạng, còn gọi là Thắng Pháp Tạng hay Vi Diệu Pháp

Nội dung luận giải những lời Phật dạy, hệ thống hóa những lời dạy ấy thành cơ sở triết học . . . gồm có 7 quyển:

  1. Pháp Tụ
  2. Phân Biệt
  3. Giới Thuyết
  4. Nhân Thi Thiết
  5. Biện Giải
  6. Song Luận
  7. Nhân duyên Thuyết

Ngoài ra còn một số tác phẩm quan trọng khác, cũng được xem như thánh điển Nam Tông, được lưu truyền cho đến nay như:

  • Ðảo sử
  • Ðại Sử
  • Tiểu Sử
  • Mi Lan Ðà Vấn Ðạo (Kinh Na Tiên)
  • Thanh Tịnh Ðạo Luận
  • Thắng Pháp Tập Yếu Luận

Kinh điển Bắc Tông, nguyên bản chữ Sanscrit ngày nay phần nhiều không còn, hầu hết là những bản Hán dịch của Thánh Tăng Ấn Ðộ hay 675 bộ kinh điển Trần Huyền Trang mang từ Ấn Ðộ về dịch sang chữ Hán. Chia ra như sau:

I.- Tạng Luật:

  1. Thập Tụng Luật
  2. Tứ Phận Luật
  3. Ma Ha Tăng Kỳ Luật
  4. Ngũ Phận Luật
  5. Tỳ Nại Da

II.- Tạng Kinh:

  1. Trường A Hàm
  2. Trung A Hàm
  3. Tạp A Hàm
  4. Tăng Nhứt A Hàm

III.- Tạng A Tỳ Ðàm:

  1. Phát Trí Luận của Ca Ða Diễn Ni Tử, được xem như là cái thân, có 6 chân là:
  2. Tập Dị Môn Túc Luận (tương truyền của Xá Lợi Phất sáng tác)
  3. Pháp Uẩn Túc Luận (tương truyền của Mục Kiền Liên sáng tác)
  4. Thi Thiết Túc Luận của Ca Chiên Diên
  5. Thức Thân Luận của Ðề Bà Thiết Ma
  6. Phẩm Loại Túc Luận của Thế Hữu
  7. Giới Thân Túc Luận cũng của Thế Hữu

Tạng A Tỳ Ðàm diễn đạt rất trung thực với những lời Phật dạy trong các kinh.

IV.- Tạng Khuất Già Ðà (Ðôi khi xếp chung với Tạng Kinh gọi là Ngũ A Hàm):

  1. Khế Kinh
  2. Ứng tụng
  3. Cô khởi
  4. Nhân duyên
  5. Bản sự
  6. Bản Sanh
  7. Vị Tăng Hữu
  8. Thí dụ
  9. Luận Nghị
  10. Tự Thuyết
  11. Phương quảng hay Tỳ Phật Lược
  12. Thọ Ký

Phần trên là những kinh điển Nam TôngBắc Tông có gần giống nhau, ngoài ra Bắc TôngPhật Giáo phát triển nên có thêm những bộ kinh khác, loại không rõ phương danh Thánh tăng có:

V.- Bát Nhã Bộ: (Riêng bộ nầy nguyên bản Sancrit còn khá đầy đủ)

  1. Ðại Bát Nhã Sơ Phận
  2. Ðại Phẩm Bát Nhã
  3. Tiểu Phẩm Bát Nhã
  4. Văn Thù Bát Nhã
  5. Thắng Thiên Vương Bát Nhã
  6. Lý Thú Bát Nhã
  7. Kim Cương Bát Nhã
  8. Bát Nhã Tâm Kinh

VI.- Hoa Nghiêm Bộ:

  1. Thập Ðịa Phẩm
  2. Hành Nguyện Phẩm tức Tứ Thập Hoa Nghiêm
  3. Phổ Hiền Hạnh Nguyện Tán

VII.- Phương Quảng Bộ:

  1. Pháp Hoa Kinh
  2. A Di Ðà Kinh
  3. Bi Hoa Kinh
  4. Kim Quang Minh Kinh
  5. Nguyệt Ðăng Tam Muội Kinh
  6. Soạn Tập Bách Duyên Kinh
  7. Phật Bản Hạnh Tập Kinh Dị Bản
  8. Duy Ma Kinh

Các kinh đã được sáng tác trong thời đại Long Thọ, khoảng thế kỷ thứ III:

  1. Thắng Man Kinh
  2. Ðại Niết Bàn Kinh
  3. Giải Thâm Mật Kinh
  4. Kinh Lăng Già

VIII.- Bảo Tích Bộ:

  1. Hộ Quốc Tôn Giả Sở Vấn Kinh
  2. Ðại Ca Diếp Hội.
  3. Vô Lượng Thọ Hội tức Vô Lượng Thọ Kinh

IX.- Bí Mật Bộ:

  1. Vô Lượng Thọ Quyết Ðịnh Quang Minh Vương Ðà La Ni
  2. Tán Dương Thánh Ðức Ða La Bồ Tát Nhất Bách Bát Danh Kinh
  3. Kim Cương Thủ Bồ Tát Hàng Phục Nhất Thiết Bộ Ða Ðại Giáo Vương Kinh
  4. Vô Năng Thắng Phan Vương Như Lai Trang Nghiêm Ðà La Ni Kinh
  5. Thánh Cứu Ðộ Phật Mẫu Nhị Thật Nhất Chủng Lễ Tán Kinh
  6. Thánh Diệu Mẫu Ðà La Ni Kinh
  7. Ðại Bi Không Trí Kim Cương Ðại Giáo Vương Nghi Quỹ Kinh
  8. Ðại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh
  9. Phật Mẫu Ðại Khổng Tước Vương Kinh
  10. Ðại Văn Thỉnh Vũ Kinh
  11. Ðại Tùy Cầu Ðà La Ni Kinh
  12. Ðại Bạch Tản Cái Ðà La Ni Kinh
  13. Thủ Hộ Ðại Thiên Quốc Ðộ Kinh
  14. Ðại Hàn Lâm Thánh Nan Noa Ðà La Ni Kinh
  15. Ðại Hộ Minh Ðà La Ni Kinh
  16. Ma Lị Chi Thiên Ðà La Ni Kinh
  17. Văn Thù Sở Thuyết Tối Thắng Danh Nghĩa Kinh
  18. Bát Lan Sa Phược La Ðà La Ni Kinh
  19. Nhất Thiết Như Lai Tam Nghiệp Tối Thượng Bí Mật Ðại Giáo Vương Kinh
  20. Nhất Thiết Như Lai Ô Cầm Nhị Sa Tối Thắng Tổng Trì Kinh
  21. Hoại Tướng Kim Cương Ðà La Ni Kinh
  22. Trì Thế Ðà La Ni Kinh
  23. Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh

X.- Sáng tác của các Thánh Tăng khác:

1. Na Tiên (xuất hiện cuối thế kỷ thứ II trước công nguyên):

  • Na Tiên Tỳ Kheo Kinh

2.- Thế Hữu, ở đầu thế kỷ thứ II, người nước Gandhàra, thượng thủ kỳ kiết tập kinh điển lần thứ IV.

  • Di Bộ Tôn Luận
  • Tôn Bà Tu Mật Bồ Tát Sở Tập Luận

3.- Mã Minh, ngài sanh ở vùng sông Hằng, khoảng hậu bán thế kỷ thứ II.

  • Phật Sở Hạnh Tán
  • Ðại Trang Nghiêm Luận Kinh
  • Thập Bất Thiện Nghiệp Ðạo Kinh
  • Lục Thú Luân Hồi Kinh
  • Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng
  • Ni Kiền Tử Vấn Vô Ngã Nghĩa Kinh
  • Ðại Tôn Ðịa Huyền Văn Bản Luận
  • Ðại Thừa Khởi Tín Luận

4.- Long Thọ, ngài sanh khoảng đầu thế kỷ thứ III, ngườ Nam Ấn, dòng dõi Bà La Môn.

  • Trung Quán Luận
  • Thập Nhị Môn Luận
  • Ðại Trí Ðộ Luận
  • Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận
  • Thập Bát Không Luận
  • Ðại Thừa Phá Hữu Luận
  • Bồ Ðề Tư Lương Luận
  • Bồ Ðề Tâm Ly Tướng Luận
  • Hối Tránh Luận
  • Phương Tiện Tâm Luận
  • Khuyến Phát Chư Vương Yếu Kệ
  • Tán Pháp Giới Tụng
  • Quảng Ðại Phát Nguyện Tụng

5.- Ðề Bà cũng gọi là Thánh Thiên, sinh cuối thế kỷ thứ III, người Nam Ấn.

  • Bách Luận
  • Bách Tự Luận
  • Quảng Bách Luận

6.- La Hầu La Bạt Ðà La (Ràhula-bhadra), người Trung Ấn sinh khoảng cuối thế kỷ thứ III, ngài truyền bá giáo lý Ðại Thừa vùng Trung Ấn.

  • (Sách của ngài chú thích Trung Quán Luận của Long Thọ nhưng đã thất truyền)

7.- Trước tác của Ngài Di Lặc (do Vô Trước ghi chép lại):

  • Du Già Sư Ðịa Luận
  • Ðại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận
  • Thập Ðịa Kinh Luận
  • Trung Biên Phân Biệt Luận

8.- Vô Trước, sinh ở cuối thế kỷ thứ IV thuộc nước Gandhàra, Bắc Ấn, dòng dõi Bà La Môn. Có hai em là Thế Thân và Lân Trì Tử, cả ba cùng xuất gia đầu Phật.

- Hoa Nghiêm Kinh

  • Hiển Dương Thánh Giáo Luận
  • Nhiếp Ðại Thừa Luận
  • Ðại Thừa A Tỳ Ðạt Ma Tạp Luận
  • Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Luận
  • Thuận Trung Luận

9.- Thế Thân, sinh sau Vô Trước chừng 20 năm vào cuối thế kỷ thứ IV, xuất gia theo hệ thống Hữu Bộ (Thượng Tọa Bộ), sau nghe lời khuyên của Vô trước, chuyển sang Ðại Chúng Bộ. Tương truyền ngài là luận chủ của một ngàn bộ luận, đã được dịch sang Hán văn :

  • A Tỳ Ðạt Ma Câu Xá Luận (Hữu bộ)
  • A Tỳ Ðạt Ma Câu Xá Bản Tụng (Hữu bộ)
  • Duy Thức Tam Thập Luận Tụng
  • Duy Thức Nhị Thập Luận
  • Ðại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận
  • Ðại Thừa Ngũ Uẩn Luận
  • Phật Tính Luận
  • Nhiếp Ðại Thừa Luận Thích
  • Thập Ðịa Kinh Luận
  • Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Ưu Ba Ðề Xá
  • Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Ba Ðề Xá
  • Chuyển Pháp Luân Kinh Ưu Ba Ðề Xá
  • Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Ða Kinh Luận
  • Lục Môn Giáo Thụ Tập Ðịnh Luận

10.- Trần Na, sinh vào cuối thế kỷ thứ V, ở nước Dràvida, Nam Ấn, lúc đầu ngài học giáo lý Thượng Tọa Bộ, sau chuyển sang Ðại Chúng Bộ nên thông hiểu giáo nghĩa cả hai, ngài nhận thấy Nhân Minh học lúc ấy còn phức tạp, nên đã hoàn chỉnh thành hệ thống mới gọi là "Tân Nhân Minh", sáng tác của Ngài gồm có :

  • Nhân Minh Chỉnh Lý Môn Luận Bản
  • Quán Sở Duyên Duyên Luận
  • Vô Tướng Tư Trần Luận
  • Thủ Nhân Giả Thiết Luận
  • Quán Tổng Tướng Luận Tụng
  • Chưởng Trung Luận

11.- Thanh Biện, sanh khoảng tiền bán thế kỷ thứ VI, người Trung Ấn, lúc đầu theo học phái Số Luận, sau theo Phật giáo, chịu ảnh hưởng Long Thọ và Dề Bà, sáng tác của ngài có:

  • Ðại Thừa Chưởng Trân Luận
  • Bát Nhã Ðăng Luận Thích

12.- Hộ Pháp, sinh khoảng thế kỷ thứ VII, người nước Dràvida, ông mất lúc 32 tuổi, thầy của Giới Hiền, trước tác ngài gồm có:

  • Thành Duy Thức Luận
  • Thành Duy Thức Bảo Sinh Luận
  • Quán Sở Duyên Duyên Luận Thích
  • Ðại Thừa Quảng Bách Luận

Nói đến Kinh điển Nam Tông, người ta nghĩ ngay đến kinh điển Pali, chẳng những kinh điển Pali lưu truyền trong các nước Tích Lan, Miến Ðiện, Thái Lan, Campuchea mà đã lan truyền sang các nước Tây phương trên 100 năm qua, đó là nhờ có Hiệp Hội Thánh Ðiển Pali (Pàli Text Society) do Tiến sĩ T.W. Rhys Davids (1843-1922) người Anh đã khởi xướng thành lập Hiệp Hội nầy từ năm 1881, trụ sở đặt tại Luân Ðôn, đến nay Hiệp Hội vẫn còn hoạt động và đã dịch trên 100 quyển kinh điển Pali ra Anh ngữ.

Còn nói đến kinh điển Bắc Tông, các kinh điển Sanscrit đã được nhiều dịch giả như Cưu Ma La Thập, Huyền Trang... dịch sang Hán văn hầu hết các kinh điển nêu phần trên, từ trước đến nay đã có nhiều bộ sưu tập như sau:

I.- Bộ 1 (chép tay) sưu tập từ thời Lương Võ Ðế, các kinh điển dịch ra Hán văn có tại Trung quốc từ năm 67 đến năm 517.

II.- Bộ 2 (chép tay) sưu tập dưới thời vua Hiếu Võ nhà Nguyên Ngụy, gồm các kinh điển đến năm 533-534.

III.- Bộ 3 (chép tay) sưu tập tới năm 594, dưới thời Tùy Văn Ðế.

IV.- Bộ 4 (chép tay) sưu tập đến năm 602, dưới thời Tùy Văn Ðế, gồm 2109 bộ, thành 5058 quyển.

V.- Bộ 5 (chép tay) sưu tập đến năm 616 dưới thời Tùy Văn Ðế.

VI.- Năm 644, dưới thời nhà Ðường, lập xong thư tịch của 2847 bộ, thành 8476 quyển kinh đã phiên dịch xong, trong số có 650 bộ do Ngài Huyền Trang thỉnh từ Ấn Ðộ về.

VII.- Bộ 6 (chép tay) hoàn tất năm 695, dưới thời Võ Hậu gồm 3616 bộ, thành 8641 quyển.

VIII.- Bộ 7 (chép tay) hoàn tất năm 730, dưới thời Ðường Huyền Tôn.

IX.- Bộ 8 (in bằng gỗ) hoàn tất năm 972, dưới thời Tống Thái Tổ. Phải khắc 130 ngàn bản gỗ mới in xong bộ Tam Tạng nầy, năm 995, Phật giáo Trung Hoa có cho Cao Ly (Ðại Hàn) thỉnh một bộ Tam Tạng của bản in nầy. Phật giáo Cao Ly khắc và in lại thành bộ Cao Ly bổn.

X.- Bộ 9 (in) năm 1285-1287 dưới thời Thế Tôn nhà Nguyên.

XI.- Năm 1306, hoàn tất thư tịch kinh điển (đã soạn từ đời Tống cho đến đời Nguyên mới xong).

XII.- Bộ 10 (in) năm 1368-1398, dưới thời Minh Thái Tổ, bộ Tam Tạng nầy được gọi là Ðại Minh Nam Kinh Ðại Tạng Kinh, vì đã được in tại Nam kinh (Nankin)

XIII.- Bộ 11 (in) năm 1403-1424, dưới thời Minh Thành Tổ. Bộ Tam Tạng này được gọi là Ðại Minh Bắc Kinh Ðại Tạng Kinh, vì được in tại Bắc kinh (Pékin).

XIV.- Ngài Pháp sư Mật Tạng hổn hợp hai bộ trên thành một và lập thư tịch.

XV.- Bộ 12 (in) năm 1735-1737 dưới thời vua Thế Tôn và Cao Tôn đời nhà Thanh.

XVI.- Bộ 13 (in) năm 1911, Tinh Xá Tần Già ở Thượng Hải in lại bộ Súc Loát Tạng Kinh của Nhật Bản gọi là Tần Già Bản.

XVII.- Bộ 14 (in) Thương vụ ấn quán in lại Tục Tạng Kinh của Nhật Bản.

XVIII.- Bộ 15 (in) khoảng từ năm 1931-1936, có in lại Tống bản Tích Sa tạng kinh và Kim bản Ðại Tạng Kinh, là những sự nghiệp vĩ đại của Phật giáo Trung Quốc, được mệnh danh là Tống Tạng Di Trân.

Về sau nầy, chắc chắn còn có lần in thêm Ðại Tạng Kinh, nhưng bài nầy chưa có đủ tài liệu để tham khảo.

Ngoài Hán Tạng ra, kinh điển Sanscrit được Tây Tạng dịch trực tiếp từ nguyên bản rất tinh tườngchính xác, gọi là Tây Tạng Phật điển, chia làm 2 phần, một phần gọi là Cam Thù (Kanjur) và một phần gọi là Ðan Thù (Tanjur), cả hai gồm đủ Kinh, Luật và Luận, phân chia như sau:

I. Cam Thù:

  1. Luật Bộ
  2. Bát Nhã Bộ
  3. Hoa Nghiêm Bộ
  4. Bảo Tích Bộ
  5. Kinh Tập (hơn 200 bộ)
  6. Ðại Niết Bàn
  7. Bí Mật Bộ

II. Ðan Thù:

  1. Tán Ca Tập (gồm 58 bộ)
  2. Bí Mật Nghi Quỹ (hơn 2600 bộ)
  3. Luận Thích Tập (rất quan trọng vì có nhiều sớ thích kinh điển, các môn học khác như Nhân Minh, Văn pháp, Âm nhạc, Toán số ...

Việt Nam, từ trước kinh điển dùng chữ Hán, vào những thập niên 30 trở đi mới phiên âm chữ Việt, từ thập niên 50 trở đi mới dịch kinh sang chữ Việt, những dịch giả tên tuổi như Ðoàn Trung Còn, Thích Thiện Hoa, Thích Trí Tịnh, Thích Thiện Siêu, Thích Minh Châu, Thích Thanh Từ ...

I. Luật :

  1. Luật Sa DiSa Di Ni
  2. Luật Sa Di Giải

II. Kinh :

  • Trường A hàm (2 quyển)
  • Trung A Hàm (4 quyển)
  • Tạp A Hàm (4 quyển)
  • Tăng Nhứt A Hàm (3 quyển)
  • Trường Bộ Kinh (2 quyển)
  • Trung Bộ Kinh (3 quyển)
  • Tương Ưng Bộ Kinh (5 quyển)
  • Tăng Chi Bộ Kinh (4 quyển)
  • Ðại Bát Niết Bàn
  • Hoa Nghiêm
  • Pháp Hoa
  • Thủ Lăng Nghiêm
  • Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh
  • Bảo Tích
  • Vị Tằng Hữu
  • Giải Thâm Mật
  • Kinh Hiền Ngu
  • ...

III. Luận:

  • Luận Nhiếp Ðại Thừa
  • Luận Thành Duy Thức
  • Luận Ðại Trí Ðộ
  • Luận Ðại Thừa Khởi Tín
  • Ðại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận
  • Ðại trí Ðộ Luận
  • Trung Quán Luận
  • ...

Bảng kê trên đây còn thiếu sót nhiều, nhưng những kinh quan trọng đều đã được dịch, Tiểu Bộ gồm 15 quyển trong Ngũ Bộ Kinh cũng đã được dịch xong, cuối năm 1999 đã in các tập 1, 2, 3. Kết quả dịch kinh, cho thấy từ trước tuy chưa có tổ chức, nhưng công việc dịch kinh ra Việt Ngữ được chư Tăng, cư sĩ dịch khá nhiều, khá đầy đủ.

Theo trào lưu phát triển khoa học, Ðại Tạng Kinh Pali ở Tích Lan, Thái Lan đã đưa vào CD Rom, Hán Tạng cũng được một hãng điện tử Nhật tài trợ đưa vào CD Rom.

Theo ngài Phật Âm (hay Phật Minh), có 7 cách phân loại thánh điển:

1. Hương vị: Trong Tăng Nhứt Bộ Kinh, Trung A Hàm, Tăng Nhứt A Hàm đều có ghi chép lời Phật dạy sau đây: "Giống như nước biển chỉ có một vị mặn, giáo phápgiới luật của Phật cũng chỉ có một hương vị duy nhất, đó là hương vị giải thoát."

2. Pháp và Luật: Những lời Phật dạy gồm có giáo lý gọi là Pháp, và những phép tắc hành trì mà người tu phải tuân thủ gọi là Luật.

3. Ba phần pháp âm : Những lời Phật dạy gồm có 3 phần : đầu giữa và cuối có ghi trong các kinh: Trường bộ, Trung bộ, Tương Ưng bộ, Tăng Nhứt bộ và trong tạng Luật như sau : "Pháp Phật giảng dạy thuần thiện cả phần mở đầu, phần giữa lẫn phần cuối. Pháp ấy tốt đẹp cả ý nghĩa lẫn lời văn. Toàn bộ pháp âm đều đồng nhất, viên mãntrong suốt, thể hiện trọn vẹn phạm hạnh thanh tịnh."

4. Năm Bộ Kinh. Theo bi ký ở Sanci và Bharhut thì Năm Bộ Kinh là chỉ cho toàn bộ những lời Phật dạy, nhưng theo ngài Phật Âm, Năm Bộ KinhTrường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Nhứt Bộ và Tạp Bộ, trong Tạp Bộ gồm cả Tiểu Bộ, tạng Luật và A Tỳ Ðàm.

5. Chín Bộ Loại: Giáo điển Nam Phương chia thành chín bộ loại là:

  • Khế kinh
  • Ưng Tụng hay Trùng Tụng
  • Cô Khởi
  • Tự Thuyết
  • Bản Sự
  • Bản Sanh
  • Vị Tằng Hữu
  • Vệ Ðà La
  • Vê Da

6. 84,000 Pháp Uẩn

Có nhiều vị cao tăng cho rằng phiền não của chúng sanh có đến 84 ngàn phương cách cho nên Phật dạy 84 ngàn pháp môn để đối trị. Ðây chỉ là ước lệ mà thôi, bởi vì Phật thuyết pháp trong 45 năm, vị chi có 16,436 ngày chẳng lẽ mỗi ngày Phật phải dạy trên 5 pháp môn để đối trị với phiền não ?

7. Tam Tạng, có nghĩa là 3 cái kho chứa, đó là Kinh, Luật và Luận, Phật chỉ thuyết Kinh và Luật còn Luận do các Thánh Tăng hệ thống hóa thành cơ sở triết lý và nó chỉ bắt đầu hình thành trong kỳ Kiết Tập lần thứ ba với tác phẩmThuyết Sự” do ngài Ðế Tử Tu trước tác.

Theo ngài Trí Khải thuộc Thiên Thai Tông ở Trung Hoa, ngài chia Kinh điển Phật thuyết ra làm 5 thời :

Thời thứ nhất: Sau khi Phật đắc đạo ngồi lại dưới gốc cây Bồ Ðề giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên nghe.

Thời kỳ thứ hai: Thấy lời nói của mình khôn ai hiểu, Phật đến Vườn Nai, giảng Tứ Diệu Ðế và Thập Nhị Nhân Duyên cho nhóm ông Kiều Trần Như nghe, những lời Phật giảng trong thời gian nầy được ghi vào kinh A Hàm, nên gọi là thời A Hàm, kéo dài 12 năm.

Thời kỳ thứ ba: Giáo lý của Phật đã lan rộng trong dân gian, bị ngoại đạo và các phái triết học khác công kích, nên Phật giảng dạy cho đệ tử các giảng minh giải đáp được ghi trong kinh Duy Ma, Ðại Tập, thời kỳ nầy kéo dài trong 8 năm, gọi là thời Phương Ðẳng.

Thời thứ tư: Do các phái triết họcngoại đạo công kích với những triết thuyết cao siêu, nên Phật phải giảng về những nguyên lý cùng tột của vũ trụ, đó là thời kỳ kinh Bát Nhã, kéo dài trong 22 năm.

Thời kỳ thứ năm: Phật giáo đã vượt lên các học thuyết đương thời, bấy giờ Phật đem lý tưởng Bồ Tát đạo và Nhất Thừa Phật Giáo giảng cho đệ tử, thời kỳ nầy là thời Pháp Hoa, kéo dài trong 8 năm và cuối cùng Phật thuyết về Niết Bàn trước khi tịch diệt.

Từ thế kỷ thứ VIII quân Hồi luôn xâm chiếm Ấn Ðộ, đốt phá chùa chiền, hảm hại Tăng, Ni, cho đến năm 1203, quân Hồi đem quân đánh chiếm Ấn Ðộ lần cuối cùng, hoàn tất cuộc xâm lăng đất Ấn, đạo Phật bị diệt vong ngay quê hương của Ðức Phật, do vậy mà không còn những Thánh Tăng sáng tác kinh, luận để truyền bá Phật Giáo, chẳng những thế mà Tam Tạng kinh điển ghi chép bằng Sanscrit hầu hết đều không còn.

Liệt kê những Kinh Sách nêu trên, để thấy Kinh điển nguyên thủy Nam TôngBắc Tông không sai khác nhiều, chỉ có những kinh điển do Thánh Tăng Ấn Ðộ sáng tác mang lại cho Phật Giáo Bắc Tông nhiều kinh điển hơn. chung quy vì lợi ích chúng sinh, đề cao lý tưởng Bồ Tát Ðạo và quy nguyên Nhất Thừa Phật Giáo.

Có một điều quan trọng, xin nhắc lại lời Phật dạy trong kinh Kim Cang : "Tu Bồ Ðề ! Ông đừng cho là Như Lai nghĩ như vầy: Ta Có Thuyết Pháp. Tại sao vậy ? Nếu người ta nói: Như Laithuyết pháp, tức là phỉ báng Phật, vì không thể hiểu nổi lời ta nói. Tu Bồ Ðề! Thuyết pháp là không có pháp chi để thuyết. Tạm gọi là thuyết pháp."

Và trong Kinh Lăng Già Tâm Ấn Phật dạy: Thế nên nói rằng: "Ta từ đêm ấy được tối chánh giác, cho đến đêm ấy vào niết bàn, ở trong khoảng giữa không nói một chữ, cũng chẳng đã nói, sẽ nói".

Khởi thảo Feb. 20, 2000
Sửa chữa Mar. 12, 2000

Sách tham khảo :

HT Thích Thanh Kiểm Lịch Sử Phật Giáo Ấn Ðộ ,Vạn Hạnh, Sàigòn, Việt Nam, 1963
HT Thích Thanh Từ Kinh Lăng Già Tâm Ấn, Tu Viện Chơn Không, Việt Nam, 1989
HT Thích Thiền Tâm Phật Học Tinh Yếu, Việt Nam, 1999
Nguyễn Duy Cần Phật Học Tinh Hoa, tái bản lần I, Hồng Ân, Việt Nam, 1996
Cao Hữu Ðính Văn Học Sử Phật Giáo, Tập 1, Hương Sen, Việt Nam, 1996
Nhiều tác giả Phật Học Cơ Bản Việt Nam, 1999
Kinh Nhật Tụng,
Kinh Kim Cang, Việt Nam, 1992

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 80)
Sống chết là vấn đề lớn nhất của đời người. Trong đạo Phật, chữ sanh tử (sống chết) là một từ được nhắc đến thuộc loại nhiều nhất
(View: 363)
Kinh Kim Cang Bát Nhã được ngài Cưu Ma La Thập (344-413) dịch từ tiếng Phạn sang Hán văn, và được thái tử Chiêu Minh (499-529) chia bố cục ra 32 chương.
(View: 153)
Đức Phật xuất hiện trên thế gian như mặt trời phá tan màn đêm u tối. Giáo pháp của Ngài đã mang lại những giá trị phổ quát cho...
(View: 235)
Khái niệm Niết-Bàn không phải là sản phẩm bắt nguồn từ Phật Giáo, mà nó đã xuất hiện từ thời cổ đại Ấn Độ khoảng hơn 4,000 năm trước Tây Lịch.
(View: 360)
Quán Thế Âm tiếng Sanskrit là Avalokitésvara. Thuật ngữ Avalokitésvara vốn bắt nguồn từ hai chữ Avalokita và isvara
(View: 287)
Trong khi thế giới đang có nhiều biến động phức tạp, chiến tranh, khủng bố, thù hận diễn ra khắp nơi, mâu thuẩn chính trị, kinh tế, và văn hóa luôn là vấn đề nan giải.
(View: 355)
Trong cõi đời, chúng ta phải chịu đựng những sự đau đớn, khổ não nơi thân và tâm, nhưng tâm bệnh có thể được chữa khỏi bằng Phật pháp.
(View: 437)
Thiên Trúc (天竺) là tên mà người Trung Quốc thường gọi cho Ấn Độ cổ đại. Nó cũng được dịch “Trung tâm của cõi trời”, (nghĩa là trung tâm tinh thần);
(View: 461)
Thông thường hai chữ tu hành đi đôi với nhau; sử dụng quá quen nên hiểu một cách chung chung, đã giảm tầm mức quan trọng mà tự thân nó mang một ý nghĩa sâu sắc.
(View: 395)
Đã hơn 2500 năm kể từ khi Đức Phật Thích Ca đã nhập Niết Bàn. Hiện tại chúng ta sống trong thời đại gọi là “Mạt Pháp”, trong đó ta không thể nào thấy Đức Phật thực sự được nữa.
(View: 299)
Pháp thân của chư Phật, là muốn nhấn mạnh đến loại pháp thân không còn ẩn tàng trong thân ngũ uẩn như pháp thân của chúng sinh.
(View: 464)
Giáo lý Tam thân (trikāya), như đã được tất cả các tông phái Phật giáo Đại thừaTrung QuốcNhật Bản chấp nhận hiện nay
(View: 561)
Ngày xưa chúng đệ tử của Đức Phật có nhiều hạng người khác nhau. Tùy theo căn cơ của mỗi người, Đức Phật áp dụng phương pháp giáo hóa khác nhau.
(View: 581)
Ngày nay, chúng ta thấy hầu hết các ảnh, tượng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đều được tạo hình có tóc, điều này khiến
(View: 633)
“Chiếc đồng hồ của tôi không đánh số 1 đến 12 mà chỉ có ‘now’, ‘now’, ‘now’ để nhắc nhở rằng ta đang sống”,
(View: 533)
Trong tác phẩm Jataka, truyện số 238 đã đề cập về chuyện một chữ (ekapadaṃ) nhưng có nhiều nghĩa (anekatthapadassitaṃ).
(View: 535)
Về tiểu sửcông nghiệp của Huyền Trang (602-664) chúng ta đã có phần viết riêng trong phần phụ lục của sách Kinh Phật
(View: 655)
Đã sanh làm kiếp con người, có ai mà không khổ? Cái khổ nó theo mình từ nhỏ đến khi khôn lớn, và sẽ khổ hoài cho tới...
(View: 873)
Khi Bồ-tát Long Thọ nói “bất sanh bất diệt” thì hẳn nhiên trước đó phải có cái gì đó có sanh và diệt.
(View: 822)
Trong nghĩa đơn giản nhất, tu Hạnh Bồ Tát là những người ra sức hoằng pháp và không muốn Chánh pháp bị đoạn đứt, bất kể người này có thọ giới Bồ Tát hay không.
(View: 618)
Bài viết này sẽ khảo sát về Vô Tướng Tam Muội, một pháp môn ít được chú ý hiện nay.
(View: 823)
Cứ mỗi lần chúng ta chứng kiến người thân qua đời là mỗi lần chúng ta đau xót, buồn rầu, vì từ nay chúng ta vĩnh viễn sẽ không bao giờ được nhìn thấy người thân yêu đó trên cõi đời này nữa.
(View: 678)
Như các phần trước đã nói, chân tâm không sinh diệt và vọng tâm sinh diệt luôn tồn tại nơi mỗi con người chúng ta.
(View: 697)
Thiền học là một môn học nhằm mục đích đào luyện trí tuệ để được giác ngộgiải thoát sanh tử mong đạt đến niết bàn tịch tịnh
(View: 659)
Khi đức Phật đản sinh, trên trời có chín rồng phun hai dòng nước ấm mát tắm rửa cho Ngài
(View: 687)
Mỗi độ tháng Tư về, trong tâm thức của những người con Phật đều hiển hiện hình ảnh huy hoàng Phật đản sinh bước đi trên bảy đóa sen
(View: 923)
Phật giáo Đại thừa có cách nhìn nhận mới về đức Phật và lời dạy của ngài.
(View: 790)
Đức Phật Thích Ca là một đức Phật lịch sử xuất hiện giữa thế gian để dẫn dắt chúng sinh thoát khỏi khổ đau, đạt đến an lạc giải thoát.
(View: 1014)
Con người được sanh ra từ đâu là một nghi vấn vô cùng nan giải cho tất cả mọi giới và mãi cho đến thế kỷ 21 này vấn đề con người vẫn còn phức tạp chưa được ai minh chứng cụ thể.
(View: 835)
Kinh Pháp Cú dành riêng hẳn một phẩm gọi là “Phẩm Tỳ kheo” để đề cập tới các người xuất gia.
(View: 1577)
Cuộc sống biến đổi không ngừng, mỗi một thời gian, mỗi một thế hệ có cách sống và nghĩ suy ứng xử có khác nhau.
(View: 769)
Trước hết, thời gian vật lý là khách quan và tồn tại bên ngoài tâm trí con người và là một phần của thế giới tự nhiên, thứ hai, thời gian tâm lý chủ quan và có sự tồn tại phụ thuộc vào ý thức.
(View: 1193)
Hôm nay nhân ngày đầu năm, tôi có vài điều nhắc nhở tất cả Tăng Ni, Phật tử nghe hiểu ráng ứng dụng tu để xứng đáng với sở nguyện của mình.
(View: 868)
Huyễn: Có nhiều nghĩa như tạm bợ, hư dối, phù du, huyễn hoặc, ảo ảnh, thay đổi luôn luôn, có đó rồi mất đó, biến dịch hoài trong từng sát-na.
(View: 1492)
Ngạ quỷ nghe kinh là một trong những đề tài khá quen thuộc trong kinh Phật. Người phàm thì không ai thấy loài ngạ quỷ, trừ một vài trường hợp đặc biệt.
(View: 1042)
Từ thế kỷ trước, người ta đã tìm được rải rác các thủ cảo (manuscripts) kinh Phật cổ xưa nhất viết bằng văn tự Kharosthi chôn ở các di tích Phật giáo ở Gandhāra, Bắc Afghanistan.
(View: 1185)
Thư Viện Quốc Hội Mỹ đã công bố một văn bản quí hiếm từ 2.000 năm trước của Phật Giáo và văn bản cổ này đã giúp cho chúng ta ...
(View: 1297)
Giới, Định và Tuệ là ba môn tu học quan trọng trong Phật giáo. Ta thường hay nói “Nhân Giới sanh Định, nhân Định phát Tuệ”.
(View: 963)
Trước hết xin giới thiệu sơ lược những nét chính của hai bộ kinh Đại thừa lớn ở Ấn Độ mà chúng đã trở nên đặc biệt quan trọng trong Phật Giáo Đông Á.
(View: 871)
Từ khi Đức Như Lai Thế Tôn thị hiện cho đến hiện tại là 2019, theo dòng thời gian tính đếm của thế nhân thì cũng đã gần 2600 năm.
(View: 899)
Tôn giả Tịch Thiên (Shantideva) là con của vua Surastra, sinh vào khoảng thế kỷ thứ VII ở Sri Nagara thuộc miền Nam nước Ấn.
(View: 973)
Theo nghĩa đen của khái niệm, độc nhất là chỉ có một, mang nghĩa duy nhất. Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là
(View: 1072)
Này các Tỳ-kheo, ta cho phép học tập lời dạy của Đức Phật bằng tiếng địa phương của chính bản thân (sakāya niruttiyā)
(View: 1198)
Phật giáo có hai hệ là Theravada và Phát-Triển. Hệ Theravada quan niệm quả vị cao nhất mà hành giảthể đạt được là quả vị A-La-Hán.
(View: 1015)
Định học là một chi phần quan trọng trong Tam vô lậu học giới, định, tuệ .
(View: 1091)
Trí tuệ là sự thấu hiểu, là kiến thức liên quan đến tư tưởng đạo đức giúp ta đi sâu vào đặc điểm và biểu hiện của các đạ o lộ thông qua sự nỗ lực tinh tấn.
(View: 906)
Trung đạo là khái niệm được dùng khá nhiều trong Phật giáo. Tùy duyênTrung đạo được định nghĩa khác nhau, nhưng...
(View: 1476)
Có một chuyện rất khoa học, tôi không bắt quý vị phải nhắm mắt tin Phật nhưng tôi cho quý vị một gợi ý.
(View: 1129)
Đối với một người đã giác ngộ, sẽ không còn thấy nữ tính và nam tính nữa. Với một số vị thường quán bạch cốt, sẽ thấy thân mình và người chỉ là một nhóm xương khô đang đi đứng nằm ngồi.
(View: 1167)
Long Thọ hay Long Thụ (Nāgārjuna) không phải chỉ là tổ của tông Trung Quán (Madhyamika),[1] trong lịch sử phát triển Phật giáo ngài được coi là vị Phật thứ hai sau Đức Thế Tôn
(View: 895)
Hạnh phúctrạng thái cảm xúc khi ta thỏa mãn được nhu cầu nào đó của bản thân. Hạnh phúc khi được nhận. Có một loại hạnh phúc khác mà cảm xúc mang đến cho bạn nhiều hơn nữa: Đó là hạnh phúc từ sự cho đi.
(View: 1020)
Kỳ thực, trên đời này không ai có thể khiến chúng ta đau khổ ngoài chính bản thân mình, và cũng không ai có thể mang lại hạnh phúc cho chúng ta ngoài bản thân mình ra…
(View: 1427)
Bài kinh "Viết Trên Đá, Trên Đất, Trên Nước" là bài kinh ngắn, trích trong Kinh Tăng Chi Bộ, chương Ba, phẩm Kusinàra.
(View: 924)
Đã gần vào Hạ mà đức Thế Tôn vẫn chưa khuyên giải được mâu thuẫn giữa hai nhóm Tỳ-kheo đều là đệ tử của Ngài.
(View: 980)
Cuộc sống giản đơn sẽ tháo bỏ cho chúng ta những gông cùm trách nhiệm do chính chúng ta tự đeo vào cổ, giúp chúng ta có nhiều thời gian hơn để sống với những người thân yêu.
(View: 1385)
Bài kinh "Thanh Tịnh" là bài kinh ngắn, Đức Phật giảng cho các vị Tỷ-kheo khi Ngài còn tại thế.
(View: 954)
Sa-môn (Samana), Tỳ-kheo (Bhikkhu) hay Bí-sô (Bhiksu) là những danh xưng chỉ cho vị tu sĩ Phật giáo.
(View: 990)
Kinh Trung A-Hàm được dịch sang Hán đầu tiên vào niên hiệu Kiến Nguyên năm thứ mười chín (383) do một nhóm các vị tăng nhân người Ấn Độ nói chung thực hiện.
(View: 1239)
Trung đạo (madhyamā-pratipad) là con đường tu tập được kinh nghiệm từ chính Đức Phật.
(View: 1570)
Tâm lý thường tình của con người là tò mò, ưa những điều lạ lùng, kỳ dị và khác thường vì họ đã quá quen với cuộc sống bình thường, nên ...
Quảng Cáo Bảo Trợ