Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
14,691,384
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Con Đường Mây Trắng

21 Tháng Năm 201200:00(Xem: 9798)
Con Đường Mây Trắng


Con Đường Mây Trắng

 

Hôm nay, là buổi chiều cuối cùng của chuyến Hoằng Pháp tại Hoa Kỳ - Canada năm 2012 của phái đoàn Hoằng Pháp Âu Châu do HT Thích Như Điển – Phương trượng Chùa Viên Giác, Đức Quốc làm trưởng đoàn. Ngồi trong chánh điện của Chùa Kim Quang tại thành phố Toronto, Canada do TT Thích Như Thanh trụ trì, là pháp đệ của Hòa Thượng Phương Trượng, nhìn những áng mây vân du qua nền trời xanh hun hút, tôi cảm thấy lòng an vui một cách lạ lùng.

Tám tuần hoằng pháp, không dài và cũng không ngắn để chư tôn đức Tăng Ni khắp nơi: Âu Châu, Úc Châu, Hoa Kỳ thu gọn hành trang và Phật sự địa phương của mình để cất bước vân du hóa độ. Mỗi trú xứ đi qua, mỗi đạo tràng dừng bước, quý ngài đều đem hết những tinh hoa của giáo pháp mà trong cuộc đời tu học của quí ngài đã thiện thệ để chia sẻ, bồi đắp, gầy dựng, khuyến tấn hàng Phật tử tại gia. Nơi đầu tiên mà phái đoàn đến là Đạo tràng Phổ Quang ở Las Vegas và nơi cuối cùng để kết thúc chuyến hoằng pháp là Chùa Kim Quang ở Toronto, Canada, mỗi nơi đều lưu giữ lại một dấu ấn tốt đẹp của phái đoàn qua những bài thuyết pháp, những bài đạo ca, những bài thơ, những bài văn, những bài báo, những bài cảm niệm của Phật tử, những lời phỏng vấn của báo chí, đài phát thanh địa phương… tất cả đó, đã nói lên tinh thần ham học, ham tu của người nam nữ Phật tử thân thương. Đặc biệt năm nay, khi Hòa Thượng quyết định dừng lại không tiếp tục tổ chức chuyến hoằng pháp tại Hoa Kỳ - Canada nữa mà thể theo nguyện vọng của nhiều Phật tử ở Âu Châu, Hòa Thượng sẽ tổ chức đoàn đi hoằng pháp ở Âu Châu trong mùa xuân năm tới. Quí Phật tử ở các đạo tràng đã có 8 năm tham dự học hỏi với Đoàn đã biểu hiện sự nuối tiếc bằng những giọt nước mắt thân thương đầy trìu mến lăn dài trên đôi má vốn đã in hằn lên nếp thời gian. Nhu cầu học Phật và tu theo Phật, vẫn là một nhu cầu rất cần thiết của người Phật tử tại gia. Đặc biệt là những nơi không có chư tôn đức Tăng Ni thường xuyên lui tới thuyết giảng, những vùng sâu xa ít người Việt, nhiều Phật tử đã phải lái xe 5, 6 giờ để đến tham dự khóa tu. Có những Phật tử tâm sự rằng: Chúng con chưa từng nghe thấy một buổi lễ nào mà quí thầy tụng kinh hay đến vậy, một thời công phu khuya với chuông, mõ, tang, linh, khánh, trống… cùng hòa âm vang lừng, thanh thoát. Những thể điệu nghi lễ trong một thời khóa tụng kinh vốn rất bình thường của một già lam, tự viện sẽ rất khó để thể hiện đầy đủ cung bậc nếu như chỉ có một vị Tăng hay Ni. Vì vậy, giá trị của một Đoàn Hoằng pháp không phải chỉ thuyết giảng không thôi mà còn làm cho Phật tử ở trú xứ ấy thấy được nền văn hóa lễ nhạc truyền thống của Phật giáo Việt Nam ngót hơn 2000 năm đồng hành cùng dân tộc, làm cho tín tâm của người Phật tử nâng caoniềm tin nơi Phật giáo vững chắc hơn giữa những chiêu dụ của các tôn giáo khát tín đồ.

Đạo Phật là đạo của nhân duyênnhân duyên thì không thể áp đặt. Người thì có duyên với vị thầy này, người thì lại có duyên với vị thầy khác. Người thì có duyên với pháp môn Tịnh Độ tông, người thì có duyên với Thiền tông, rồi người thì lại có duyên với Mật tông… Tất cả các tông phái ấy chỉ là phương tiện để dẫn dắt hành giả đến với con đường giải thoátgiác ngộ. Tất cả các tông phái ấy đã hài hòa để cùng vận chuyển bánh xe pháp, làm cho Phật pháp được phổ biến thập phương, cữu trụ Ta bà. Tất cả ấy đã tạo nên một bức tranh Phật giáo sống động, hài hòa, đầy màu sắc.

Cái gì rồi cũng sẽ qua đi, chưa từng có cái gì tồn tại vĩnh hằng trong cuộc đời vốn vô thường sinh diệt; nhưng mấy ai chấp nhận cái lẽ đơn sơ mất – còn này để sống không bám chấp, không câu nệ, không giận hờn nhau… Từ lúc sinh ra cho đến bây giờ, có ai đếm được mình đã bao lần cười, bao lần khóc, bao lần vinh, bao lần nhục, bao lần hạnh phúc, bao lần khổ đau…, tất cả ấy đến với tất cả chúng ta, trên thân phận con người và muôn loại hữu tình, rồi tất cả ấy cũng lần lượt ra đi không để lại tỳ vết gì trong tiến trình sinh diệt vô cùng của trường thiên sinh tử. Ấy vậy mà, nhiều người sống chỉ bằng cái buồn vui thoáng hiện thoáng mất và ganh ăn ghét ở với đời. Ai đã từng cau có với người thân, bạn bè, đồng nghiệp, người dưng… hãy nghĩ là cuộc đời này ai rồi cũng chết; mà chết là bỏ lại tất cả sau lưng những gì mình đang có, ngay cả cái ghét và thương đang hiện hữu này. Nghĩ như thế, ta sẽ nhẹ nhàng bỏ lại những gì không thuộc về ta, những gì hết duyên với ta… Ta sẽ giải thoát khỏi sự cau có, chấp chặt trong lòng mình. Ta sẽ thong dong. Ta sẽ đi qua cuộc đời này không sầu muộn. Lòng ta sẽ rộng hơn để bao dung nhân thế, muôn loài.

“Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương”, người xuất gia là bước đi trên con đường cao rộng. Con đường cao rộng của thân và tâm. Con đường của “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Con đường mà tâm của người xuất gia trải nghiệm đó là không bám chấp; vì các pháp là duyên sinh, mà duyên sinh thì vô ngã, mà vô ngã thì có gì để bám chấp. “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi sự nghiệp”, vận chuyển bánh xe pháp là việc nhà và làm lợi ích cho chúng nhân là sự nghiệp. Với hoài bảo của người xuất gia cao lớn như vậy, mấy ai đã bằng lòng rằng con đường mình đang đi đã trọn vẹn. Huống chi “chúng sanh không số lượng, thề nguyện đều độ khắp, Phật đạo không gì hơn, thề nguyện đều viên thành.” Những suy nghĩ hiện ra trong đầu như vậy, tôi thấy mình nhỏ bé giữa những bộn bề trách nhiệm của kẻ xuất gia. Thôi thì nương nhờ ân đức của Chư Phật, chư vị Bồ TátHiền Thánh Chúng để phát nguyện dấn thân mà tiếp bước trên con đường cao rộng ấy. Bởi vì, chưa từng có một vị Phật nào, một vị Bồ Tát nào không phát nguyện phụng sự chúng sanh mà đạt thành quả vị cả.

Nhìn ra ô cửa sổ nhỏ của chánh điện chiều nay, mây trên trời vẫn còn ung dung phiêu lãng. Những áng mây ấy lúc đục, lúc trong, lúc thì hình này, khi thì thù nọ… Chúng chưa từng giữ nguyên hình dáng từ lúc ban sơ hội tụ làm mây cho đến khi tan biến vào vô cùng của dặm dài cuộc đời trôi nổi. Cũng giống như tâm thức của vạn loại chúng sanh, tâm thức ấy cũng lúc tỉnh, lúc động, lúc thương, lúc ghét, lúc hạnh phúc, lúc đau khổ… tất cả đó chỉ là cái hình thức phô diễn ra bên ngoài còn cái bản chất ẩn tàng bên trong tâm vẫn là vắng lặng.

Một chuyến hoằng pháp với nhiều bài học, “học ăn, học nói, học gói, học mở”... từ chư tôn đức và học nhiều thật nhiều từ đại chúng, kẻ xa, người gần, kẻ nói năng, người im lặng…

 

Chùa Kim Quang, Toronto, ngày 21/5/2012

Thích Hạnh Tuệ

Xem thêm: Lịch trình Đoàn Hoằng Pháp Âu Châu năm 2012

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 16)
Pháp Như Thật là pháp thực hành thuộc về Thiền Huệ, nhưng tại sao lại cần phải thực hành pháp Như Thật? Tại sao phải học Thiền Huệ?
(Xem: 53)
Mẹ Hiền, hai tiếng nầy nghe thân thương, êm ái, ngọt ngào biết bao. Nghe mãi không nhàm, nghe hoài không chán.
(Xem: 58)
Tôi hiểu ngay là cả nhà, mỗi người đều đang dán mắt và bấm bấm, quẹt quẹt vào mặt kính cái smartphone của mình.
(Xem: 108)
Trong quan hệ 12 nhân duyên, nhân vì xúc (căn tiếp xúc trần) nên sinh thọ (cảm giác vui, khổ và trung tính), nhân vì thọ nên sinh ái (yêu ghét)...
(Xem: 129)
Nguyên bản: Gaining favorable condition for the time of death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D.; Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 224)
Bùi Giáng là nhà thơ, là dịch giả, là nhà bình luận văn học. Ông sinh ngày 17 tháng 12/1926 tại huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam; từ trần ngày 7 tháng 10/1998 (thọ 71 tuổi) tại Sài Gòn
(Xem: 100)
Để đạt đến pháp giới vốn là pháp giới thể tánh, vốn là pháp giới bạch tịnh này, kinh điển thường dạy VănTư-Tu.
(Xem: 175)
Sau khi kết thúc đời sống hiện tại, chúng ta sẽ theo nghiệp mà thọ sinh vào cảnh giới tương ứng.
(Xem: 141)
Muốn thấy Phật thì Tâm phải như gương sáng. Thấy hết, biết hết mà không bao giờ khởi niệm.
(Xem: 150)
Công việc được hoàn tất tốt đẹp qua sự hưởng ứng và trợ giúp của quý Phật tử tại địa phương và các anh chị em huynh trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử tại Đức Quốc.
(Xem: 230)
Nhiều Kinh điển Đại thừa (Mahayana Sutras)/Kinh điển Phật giáo Phát triển đã giảng 3 phương pháp thiền quán để đạt đến giải thoát, đó là ba cánh cửa của giải thoát.
(Xem: 239)
Kính Mừng Thọ 70 tuổi HT Thích Như Điển tổng hợp những bài viết cho Hoà Thượng Phương Trượng
(Xem: 152)
Xuất gia là tu hạnh giải thoát. Tự mình tu để được giải thoát,đồng thời hướng dẫn chỉ dạy cho người khác tu cùng giải thoát nữa.
(Xem: 268)
Một trong những biệt tài thuyết pháp của Thế Tôn là dùng hình ảnh để ví dụ minh họa chothính chúng dễ hiểu, dễ cảm nhận vấn đề Ngài muốn nói.
(Xem: 267)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết. Mọi thứ như dừng đứng để chờ đợi một phép lạ.
(Xem: 145)
Bà mẹ già ngồi ở băng ghế sau chiếc xe hơi bỏ mui màu đỏ sậm đang rẽ quặt xuống xa lộ. Bà ghì chặt lấy cái giỏ đồ ...
(Xem: 151)
Đạo đức là nền tảng luân lý mà bất kỳ thời đại nào cũng cần phải xây dựng, cũng cố và phát triển.Con người nếu khôngđạo đức thì không dùng được.
(Xem: 227)
Hôm nay nhân đọc bản dịch từ Phạn văn ra Việt ngữ nầy của Giáo Sư Lê Tự Hỷ, chúng tôi vô cùng hoan hỷ vì rằng đây là những tài liệu rất bổ ích cần phải tham khảo
(Xem: 140)
Những ngày cuối hạ oi bức, không làn gió thoảng. Cây cối trơ ra như những tượng đá trong vườn thần chết.
(Xem: 254)
Những người chưa vào đạo Phật, hoặc chưa hiểu đạo Phật, thường nghĩ rất sai lầm, tưởng rằng đạo Phật là một đạo chán đời, bi quan...
(Xem: 220)
Bạn có thể cho con cái bạn sống trong một căn nhà to lớn, ăn uống đầy đủ ngon lành, lại học chơi cả đàn dương cầm...
(Xem: 388)
Học Phật là một công cuộc bền bỉ và trường kỳ, mà đơn vị để đo đạc ấy phải tính bằng “hằng-hà-sa kiếp sống” cũng như...
(Xem: 256)
Mọi sinh vật có thật đâu Thảy đều “vô ngã”, “ta” nào là “ta” Trí người nếu hiểu rõ ra Thoát ly phiền não cho xa tức thời, Theo đường thanh tịnh tuyệt vời.
(Xem: 213)
Bà Thanh Đề là mẹ của ngài Mục Kiền Liên (cũng gọi là Mục Liên), Bà tính tình tham lam,độc ác, không tin Tam Bảo, tạo ra nhiều tội lỗi...
(Xem: 355)
Tu thiền (Bhavanã Jhãna) Phật giáo là tiến trình tu tập, hành trì miên mật một pháp môn nào đó để kinh nghiệm trực tiếp trên ...
(Xem: 212)
Trong nhiều bài kinh từ Hán tạng cho đến Pali tạng, Đức Phật tán thán hạnh hiếu dưỡng cha mẹcông ơn ...
(Xem: 215)
Bút Phật không thủ chấp Mà vẫn ngát tâm hương Trong muôn ngàn ý tưởng Toả sáng lẽ Chơn Thường .
(Xem: 253)
Viên thành đạo nghiệp Tây Âu quốc. Giác ngộ chúng sanh đạo lý truyền.
(Xem: 215)
Nhiều người biết thầy Minh Đạo là một nhà thư pháp có nét chữ phóng khoáng với những phong cách đặc thù không lẫn với ai được.
(Xem: 278)
Nguyên tác: Preparing to Die; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 276)
Người tu hành lấy Nhẫn nhục làm sức mạnh. Nhẫn nhục là nhẫn về thân, khẩu, ý.
(Xem: 314)
“Về đâu, khi giông bão?” chính là câu hỏi cho cơn bão tâm, âm thầm mà cực kỳ dữ dội!
(Xem: 363)
Chủ nhật, 27 tháng 5, vợ chồng và con chúng tôi cùng bốn người bạn đến Chùa Hương Sen dự lễ Phật Đản. Đây là lấn đầu tiên chúng tôi đến Hương Sen.
(Xem: 526)
Tu là để SốngTỉnh Thức, và sống tỉnh thứclối sống thoát ly khỏi thân phận của ếch ngồi đáy giếng, tù đó có được tự dohạnh phúc thực thụ.
(Xem: 263)
Lý do đơn thuần chỉ vì việc học; nên chư Tăng Ni kẻ đến người đi, suốt một thời gian dài như thế, nay mới là thời điểm bắt đầu cho việc hoạt động phật sự tại đây trở thành nề nếp, quy cũ.
(Xem: 330)
Từ xa xưa có câu để lại là " đức năng thắng số", vậy đức năng ở đây được hiểu như thế nào? và cái gì tạo ra số và số được thể hiện ra sao?
(Xem: 256)
Nguyên bản: Liberation from Fear; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 303)
Hiện nay trên thế giới có rất nhiều người thích việc sát sinh và có rất ít người tôn trọng sự sống.
(Xem: 212)
Đệ nhất Ban Thiền Lạt Ma đã viết mười bảy thi kệ mà người Tây Tạng thường tập trung quán chiếu trong đời sống hàng ngày về sự chết. Đức Đạt Lai Lạt Ma
(Xem: 247)
Văn nghệ trong khoá tu học Phật pháp Âu Châu lần thứ 30 năm 2018
(Xem: 320)
Thật quan trọng để tỉnh thức về sự chết – để quán chiếu rằng ta sẽ không sống mãi trên cuộc đời này.
(Xem: 184)
Tôi thật sự cảm thấy vinh dự lớn để nói chuyện với quý vị. Đặc biệt tại trường đại học, vì đây là trường Đại học Bombay rất nổi tiếng.
(Xem: 264)
Thượng võ, có nhiều nghĩa. Trong danh từ, nghĩa đơn giản là đề cao, ưa thích võ thuật. Nhưng tĩnh từ, có nghĩa là tâm hồn cao thượng của người đã sống được võ đạo, nghĩa là tử tế, công bằng, không gian lận.
(Xem: 392)
Những gì không phải của mình thì nên buông hết, chẳng nên nắm giữ làm gì, buông hết mới được an vui.
(Xem: 171)
Chúng tôi rất ngạc nhiên vì trong khi nghiên cứu, đối khảo kinh điển Phật giáo từ Pāli và Hán tạng, đã phát hiện nhiều trường hợp tương đồng giữa ngôn ngữ Pāli và tiếng Việt.
(Xem: 421)
Người không hiểu đặt câu hỏi “Tại sao cá đã bắt lên rồi lại đem thả, như thế có giả tạo không?; “Sao không đem tiền cho người nghèo mà đi cứu mấy con cá?”
(Xem: 328)
Người học Phật hẳn ai cũng từng nghe biết thuật ngữ vô minh, nghĩa đensi mê, tối tăm. Ngược lại với vô minh là minh, tức tuệ giác, sáng tỏ.
(Xem: 371)
Theo như lời dạy thì trong bất cứ một hoàn cảnh nào, dù có thể là ngay giữa những khó khăn hay khổ đau, chúng ta cũng vẫn có thể tu tập được.
(Xem: 209)
Người con Phật nghĩ gì về án tử hình? Đứng về phương diện cá nhân, rất minh bạch rằng không Phật tử nào ủng hộ án tử hình.
(Xem: 265)
Thật là niềm vinh dự và nỗi vui mừng lớn lao cho tôi khi gặp lại anh chị em là những người đã từng một thời có duyên lành khoác chiếc Áo Lam và cài Hoa Sen Trắng lên người tại các trại tị nạn Đông Nam Á cách nay hơn 30 năm trong hành trình đi tìm tự do đầy gian nan và nguy khốn.
Quảng Cáo Bảo Trợ