Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,262,822
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Đức Phật Báo Ân Cha Mẹ

22 Tháng Bảy 201300:00(Xem: 8165)
Đức Phật Báo Ân Cha Mẹ

ĐỨC PHẬT
BÁO ÂN CHA MẸ

Toàn Không

(Lược Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân)

tuong_nho_cha_me 

1)- NHÂN DUYÊN:

 Một thời đức Phật ngự tại núi Kỳ Xà Quật gần thành Vương Xá nước Ma Kiệt với mấy nghìn Tỳ Kheo, mấy vạn Bồ Tát, và vô số trăm nghìn Chư Thiên rải hoa trỗi nhạc cúng dường Phật. Lại có vô số Thiên Long Bát Bộ. Tất cả đều vây quanh Phật từ trên không trung cho đến dưới đất, cung kính cúng dàng, tôn trọng khen ngợi đức Như Lai.

 Khi ấy, vào nửa buổi sáng, Tôn Giả A Nan Đà, Thị Giả của đức Thế Tôn vào thành Vương Xá theo thứ lớp đi khất thực. Đang khi khất thực, Tôn Giả thấy có hai mẹ con Bà La Môngia cảnh suy sút gia tài chánh kiệt nên phải đi ăn xin và cũng theo thứ lớp đi từng nhà xin bố thí thức ăn. Tôn giả để ý thấy mỗi khi nhận được món ăn ngon hay trái cây tươi người con dâng cho người mẹ, còn khi nhận được thức ăn không ngon hay quả héo thì người con ăn. Tôn Giả A Nan Đà thấy thế lòng sinh vui mừngtán thán khen ngợi rằng:

- Quý hóa thay! Quý hóa thay: Thiện nam tử cúng dàng cha mẹ, người con có hiếu với cha mẹ như thế rất là hiếm có, thực khó có người sánh kịp.

 Lúc đó, có một Phạm Chí nghe lời nói ấy, người này thuộc ngoại đạotà kiến khi có cơ hội thường hay ghen tỵ hủy báng Phật Pháp Tỳ Kheo Tăng, nên khi nghe những lời khen ngợi của Tôn Giả, người ấy liền nói với Tôn Giả rằng:

- Thầy của anh là Cù Đàm và những người trong dòng họ Thích tự cho là hay là giỏi, có những công đức lớn lao, chẳng qua cũng chỉ là có danh mà không có thực (hữu danh vô thực); Thầy Cù Đàm của anh mới là người bạc phước nếu không như vậy, tại sao người mẹ vừa mới sinh ra ông ta được có bảy ngày thì chết để ông ta phải côi cút, như thế chẳng phải là người bạc phúc là gì? v.v...

 Tôn Giả A Nan Đà nghe mấy lời như thế, im lặng không trả lời. Khi khất thực xong trở về chỗ Phật, sau khi lễ, Tôn Giả chắp tay bạch Phật:

- Thưa đức Thế Tôn, trong Phật pháp có sự hiếu dưỡng cha mẹ không? Kính xin Thế Tôn cho con được biết.

 Đức Phật hỏi:

- A Nan! Ai nói: khiến ông hỏi Ta điều ấy, hay ông tự đem trí lực của mình để hỏi Như Lai?

- Thưa Thế Tôn, đó là vừa rồi lúc đi khất thực ở giữa đường, con gặp ngoại đạo Tát Gia Ni Kiền Tử đem lời chê bai nhục mạ.

 Rồi Tôn Giả thuật hết những gì Tát Gia Ni Kiền Tử đã nói, khi nghe xong, đức Thế Tôn mỉm cười; từ giữa trán Ngài phóng ra hào quang năm màu (ngũ sắc) chiếu qua vô lượng cõi Phật (vô số giải Ngân Hà) về phương Đông tới thế giới Thắng Thượng có đức Phật hiệu Hỷ Vương tại nước Nghiêm Tịnh. Khi ấy có vô số Bồ Tát vây quanh thấy hào quang lạ chiếu soi đến làm cho tâm ý mọi người đều an lạc, nên đều đồng thanh bạch với Phật Hỷ Vương:

- Kính xin đức Thế Tôn chỉ dạy vì nhân duyên gì có hào quang chiếu soi này? 

 Đức Hỷ Vương nói:

- Ở về phương Tây cách đây vô lượng nghìn muôn cõi Phật, có một thế giới gọi là Sa Bà (có sách ghi là Ta Bà), có đức Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni, hiện đang có vô số Bồ Tát, Nhân, Thiên Long Bát Bộ vây quanh. Nay Phật Thích Ca muốn vì đại chúng ấy nói Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân, vì Phật Thích Ca muốn làm lợi ích chúng sinh, muốn nhổ tà nghi, muốn cho đại chúng phát Bồ Đề tâm kiên cố, muốn tất cả chúng sinh nhớ nghĩ trọng ân, vượt qua bể khổ, muốn tất cả chúng sanh hiếu dưỡng phụ mẫu v.v..., nên Phật Thích Ca phóng hào quang này.

 Bấy giờ một vạn (mười ngàn) Bồ Tátcõi Phật Hỷ Vương đứng dậy chắp tay bạch Phật xin được qua cõi Sa Bà để cúng dường chiêm bái Phật Thích Ca và để được nghe Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân. Phật Hỷ Vương bảo các Bồ Tát phải sinh lòng cung kính cúng dàng, nghĩ tưởng khó gặp, vì Phật Thích Ca đã từng ở trong vô lượng A Tăng Kỳ Kiếp làm những việc khó làm và đã phát đại bi nguyện rằng: “Khi tôi thành Phật sẽ ở cõi nước tệ ác, núi đồi gò đống, sành sỏi gai góc, chúng sinh ở cõi đó có đủ mọi phiền não ngũ nghịch, thập ác, tôi sẽ tu thành Phật ở đó để làm lợi ích, đoạn trừ phiền não cho họ, khiến tất cả chúng sanh đều được an vui...”, lời của Phật Thích Ca là như thế, các ông tới cõi ấy cũng như ở đây vậy.

 Khi ấy một vạn Bồ Tát đem theo vô số chúng Bồ Tát quyến thuộc, trước sau vây quanh mà đi, biến mất khỏi cõi Thắng Thượng. Khi đoàn Bồ Tát ấy đi ngang qua các cõi Phật khác, các thế giới ấy đều rung động (động đất) và nhạc trời vang khắp cõi ấy. Khi đoàn Bồ Tát đến chỗ Phật Thích Ca ngự tại núi Kỳ Xà Quật, tất cả đồng loạt lễ Phật, đi nhiễu ba vòng, rồi lui qua một phía ngồi.

 Đức Thế Tôn sau khi phóng hào quang về hướng Đông, Ngài quay hào quang qua hướng Nam qua tám mươi vạn ức cõi Phậtthế giới trang nghiêm Quảng ĐứcPhật hiệu Tu Di Tướng nơi nước Thiện Tịnh, cõi này vô cùng đẹp đẽ v.v.....

 Rồi đức Phật quay hào quang qua hướng Tây qua trăm vạn cõi Phật nơi có thế giới đẹp đẽ Tịnh Trụ của Phật Nhật Nguyệt Đăng Quang tại nước Diệu Hỷ, có đất bằng phẳng có bảy báu v.v...

 Sau nữa đức Như Lai quay phóng hào quang qua hướng Bắc qua năm trăm vạn ức na do tha (vô số) cõi Phật nơi có thế giới trang nghiêm Tự Tại Xưng Vương của Phật hiệu Hồng Liên Hoa Quang nơi nước Ly Cấu. Nơi này cũng giống như hai cõi trên, rất đẹp đẽ v.v....

 Cho đến phương Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, phương Trên (Thượng), phương Dưới (Hạ), tất cả mười phương, đức Thích Ca đều lần lượt phóng hào quang tới các cõi Phật trang nghiêm đẹp đẽ. Cả mười cõi đều có vô số Bồ Tát xin Phật ở cõi ấy được đi chiêm bái cúng dàng Phật Thích Ca và đều muốn được nghe Kinh Phật Báo Ân, như thế vô lượng Bồ Tátquyến thuộc Bồ Tát mười phương đồng loạt trước sau chỉ trong vòng khoảng chốc lát (một phút đồng hồ) đến cõi Sa Bà.

 Khi mười phương vô lượng Bồ Tát đến vây quanh rồi, thì mặt đất cõi Sa Bà này biến thành bằng phẳng, thanh tịnh, các chúng sinh nhận được hào quang, được thấy Phật nên sinh tâm vui mừng, chắp tay kính lễ.

 Sau khi vô lượng Chư Bồ Tát mười phương an vị đâu đó, đức Phật thu nhiếp hào quang ấy trở lại nhiễu quanh thân Ngài bảy vòng, rồi hào quang trở lại nơi đỉnh đầu của Ngài.

 Tôn Giả A Nan vì lợi ích chúng sinh nên đứng lên lễ Phật rồi Bạch:

- Mỗi khi Phật mỉm cười là có nguyên nhân, xin Thế Tôn chỉ dạy sự mỉm cười vừa rồi để trừ mối nghi cho đại chúng.

 Bấy giờ trước đức Phật tự nhiên có một hoa sen lớn bảy báu tự đất hóa sinh ra, rồi đức Phật Thích Ca từ tòa ngồi đứng dậy đi tới bước lên hoa sen và ngồi trên đài hoa sen ấy . Vừa ngồi xong Ngài hiện năm thân mỗi thân một phía, rồi từ mỗi thân kết hợp bởi vô số thân nhỏ, mỗi vô số thân nhỏ lại hợp bởi vô lượng thân nhỏ hơn nữa, mỗi vô lưọng thân nhỏ hơn nữa lại hợp bởi vô lương thân li ti như hạt cát hạt bụi.

 Sau khi hiện ra vô lượng thân như thế, đức Phật bảo đại chúng:

- Này Thiện nam tử, Như Lai khắp biết chân chính, tuyên nói lời chân thực rằng: “Pháp (mọi sự việc) vốn không ngôn thuyết (không thể nói được), Như Lai dùng phương tiện nhiệm mầu, dùng pháp không danh tướng mà nói danh tướng. Như Lai khi còn ở trong đường sinh tử, ở trong tất cả các loài chúng sanh, cũng đã chịu khổ đủ mọi thứ thân hình nhiều như cát bụi, vì phải chịu nhiều thân như thế, cho nên tất cả chúng sinh đã từng là cha mẹ của Như Lai, Như Lai cũng làm cha mẹ của chúng sanh. Vì cha mẹ nên Như Lai đã làm khổ hạnh khó làm, bỏ những sự khó bỏ như tay chân, mắt mũi, tủy não, thịt da, đầu mặt, quốc thành (đất nước thành quách), vợ con, cho đến voi ngựa, bảy báu, kiệu cáng, xe cộ, quần áo, thức ăn, thuốc thang, vật dụng, v.v..., cấp cho tất cả.

 Như Lai siêng tu trì giới, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ v.v..., cho đến đầy đủ vạn hạnh, thường không dừng nghỉ, tâm không mệt mỏi hiếu dưỡng cha mẹ, biết ơn đền trả, nên mới mau thành chính quả. Bởi chính chúng sinh là trọng ân của Như Lai nên Như Lai không thể bỏ chúng sinh. Như Lai đem tâm đại bi để cứu độ chúng sinh trong ba cõi (Trời, Thần, Người) mà không nghĩ đến công lao của mình. Như Lai tu học mọi phương tiện, thường tu hành từ bi bình đẳng, không chấp không cũng chẳng chấp có nên thấu suốt tất cả đều là huyển cho nên thấu suốt được thực tướng của mọi pháp, nên không thoái mất đại nguyện, không bỏ chúng sinh chìm đắm trong bể khổ.

 Như Lai tùy căn cơ của chúng sinh nói pháp, trước sau có khác, nhưng chúng sanh do bị ái dục che đậy, bị mê lầm làm chìm trong bể khổ, vì sao? Vì bốn thứ điên đảo: Đối với thân mình là vô ngã (không có cái ta), vô thường, khổ, bất tịnh (không sạch), chúng sinh lại cho là có cái ta, thường, vui, sạch sẽ thơm tho. Sinh già bệnh chết, thay đổi biệt ly, mỗi giây phút đổi khác, bị năm triền cái che đậy (Ngũ cái gồm: Tham ái, sân giận, hôn trầm, phóng dật, nghi ngờ) làm cho chìm đắm trong bể khổ luân hồi sinh tử như bánh xe quay không ngưng nghỉ.

 Do đó, Như Lai nói ba Tạng mười hai bộ Kinh, tùy theo nông cạn của chúng sanh, khiến cho chúng sinh có thể liễu ngộ được thực tướng của các pháp mà chứng Niết Bàn giải thoát. Bởi thế Như Lai chiêu tập tất cả chúng sinh hữu duyên trong mười phương hôm nay hội tụ trong đại chúng này, diễn nói chỉ bày chỉ dẫn những lời dạy bảo muôn đời lưu truyền khiến chúng sanh được đại an lạc, được giác ngộ giải thoát. Như Lai đã làm vô số việc không thể nghĩ bàn như từ cõi trời Đâu Xuất thị hiện xuống trần nơi cõi Diêm Phù Đề, nói ra vũ trụ vô biên, thế giới nhiều hơn cát sông Hằng, nói ra nghiệp báo nhân quả, chúng sinh vô lượng v.v...,tất cả đều là không thể nghĩ bàn.

 Này A Nan! nay ông phát ra được lời hỏi ấy, thực là do lòng đại bi thương xót chúng sanh, ông hãy nghe cho kỹ, Ta sẽ vì ông, các đại Bồ Tát, và tất cả đại chúng, mà lược nói về nhân duyên hiếu dưỡng cha mẹ:

2)- BÁO ÂN CHA MẸ:

 Về thời lâu xa, bấy giờ có một nước nọ tên là Ba Na Lại, trong nước đó có Phật ra đời hiệu là Tỳ Bà Thi Như Lai (Cách nay 91 kiếp về trước = khoảng 6.5 tỷ năm). Khi đức Phật ấy nhập Niết Bàn đến thời tượng pháp, có một ông Vua tên là La Xà có rất nhiều đại thần, thống lãnh 16 nước phụ thuộc. Vua có ba người con đều làm Vua ở các nước phụ thuộc, Đại Vương La Xà dùng luật lệ nhân đức phân minh, không làm việc gì hại nước hại dân, nên được mưa thuận gió hòa, hoa mầu tốt tươi, nhân dân no ấm thanh bình.

 Bấy giờ, có một người đại Thần tên là La Hầu mưu phản, khởi nghịch dấy binh giết chết Vua La Xà, sau đem quân đến đánh các nước nhỏ giết chết người con lớn, kế đó bắt giết người con thứ hai.

 Khi ấy, người con út thứ ba đang làm Vua tại một nước nhỏ, Vua có thân hình đẹp đẽ, tính tình hiền lành phúc hậu, Vua dùng luật lệ nhân đức phân minh, cõi nước được thịnh vượng, nhân dân an lạc, Vua sinh được một Thái tử tên là Tu Xà Đềthân hình đẹp đẽ, mặt mũi nhân hậu sáng láng, tuấn tú thông minh, lúc ấy đã 17 tuổi, Vua cha mến yêu vô cùng.

 Bấy giờ Vua nằm mơ, mộng nghe có tiếng mách bảo việc Đại Thần La Hầu làm phản giết hại Đại Vương vua cha La Xà, La Hầu đã đem quân đi bắt giết hai người anh đang làm Vua ở hai nước kia, hiện tại La Hầu đang trên đường tiến tới để hại Vua. Trong mộng Vua hỏi: “Ông là ai mà sao chỉ nghe tiếng nói mà không thấy người?” thì có tiếng đáp rằng: “Tôi là Thần coi cung điện, Vua là người nhân đức nên tôi mới báo để mà liệu bề đối phó, nếu chậm sẽ không kịp nữa”.

 Sau khi Vua tỉnh dậy tự nghĩ: “Đây là sự thực, ta nên cấp thời lánh nạn qua nước láng giềng”. Lại tự nghĩ: “Đến nước láng giềng kia có hai đường đi, một lối phải mất 14 ngày, một lối chỉ mất có 7 ngày, ta nên đi một mình theo lối gần 7 ngày cho mau chóng”; nghĩ rồi, Vua ra lệnh cho làm một cách bí mật mau chóng cho mang lương thực cho đủ Vua ăn trong 7 ngày đến để ở một nơi ngoài thành cẩn thận.

 Khi chuẩn bị xong xuôi, nhà Vua trở vào trong hậu cung gọi Thái tử tới rồi ôm vào lòng, rồi đứng dậy, rồi ngồi xuống, có vẻ bối rối không yên, Phu nhân thấy Vua không an như thể có điều gì lo sợ, bà liền tới hỏi:

- Đại Vương hôm nay hình như có điều gì lo sợ nên đứng ngồi không yên, mặt mũi bơ phờ, tựa như giặc đến, xin Đại Vương cho thần thiếp biết.

 Vua bảo:

- Tôi có việc hệ trọng, nhưng không phải là việc phu nhân có thể biết được.

 Phu nhân nói:

- Thiếp cùng với Bệ hạ khác nào như hình với bóng, như chim với hai cánh, như thân thể với chân tay, như đầu với mắt. Hôm nay có việc hệ trọng như thế mà Bệ hạ lại không muốn cho thần thiếp được dự biết!?

 Vua nói:

- Phu nhân có biết chăng? Đại Thần La Hầu làm phản đã giết hại phụ Vương, lại đem quân đi bắt giết cả hai anh ta, nay bọn chúng đang cử binh mã đến đây bắt giết ta, nay ta muốn trốn tránh khỏi tai họa này. Vua nói rồi liền tức tốc nắm tay Thái tử kéo chạy đi. Phu nhân thấy thế cũng chay theo sau.

 Bấy giờ vì tâm thần hoảng hốt, vội vàng, Vua quên không lấy thêm thực phẩm; mới đi được ba ngày đã hết thực phẩm mang theo, vì lúc dự trù chỉ có một người ăn trong 7 ngày, lúc đó có tới ba người nên lương thực mau hết.

 Hai bên đường, cây cối trơ trụi, không một bóng người qua lại, đường đi gập ghềnh hiểm trở, ruồi muỗi nóng nực, lúc đó Vua và Phu nhân cất tiếng than khóc: “Thật là xót xa đau đớn, chúng ta từ khi sinh ra cho đến ngày nay chưa bao giờ bị khổ như thế này, tại sao thế hỡi trời?!, giờ đây đã đến lúc cùng đường, họa sắp tới nơi rồi!, biết làm sao đây? Than khóc rồi tự đấm ngực vỗ đầu, vật mình xuống đất tự trách: “Lũ chúng tôi kiếp trước gây nên nghiệp ác gì? Hay là đã giết cha mẹ, chân nhân? Hay là hủy báng bậc thượng tôn thánh hiền? Hay là đã làm nghề săn bắn chài lưới giết hại chúng sinh? Hay là giết người cướp đoạt của cải, v.v..., làm sao phải chịu họa này? Muốn dừng nghỉ một chút lại sợ oán gia ập tới, nếu để chúng bắt được sẽ bị chết, không còn nghi ngờ gì nữa! Nếu tiến bước chạy trốn, lại bị đói khát bức bách, tính mạng như chỉ treo mành!

 Vua và Phu nhân suy nghĩ những nỗi khổ não, buồn rầu than khóc đến phát xỉu ngã lăn xuống đất bất tỉnh, hồi lâu mới tỉnh lại. Vua tự nghĩ: “Nếu không lập kế sẽ không thoát khỏi nạn này”, rồi bảo Phu nhân: “Nếu không lập kế để sống còn thì không kịp nữa, cả ba đều chết”. Hai người bàn một lúc rồi Vua và Phu nhân đều thỏa thuận rằng: “Vua sẽ giết Phu nhân để lấy thịt cho Vua và Thái Tử ăn để bảo toàn tính mạng cho hai người, xong rồi, Vua tuốt gươm để giết Phu nhân. Thái Tử Tu Xà Đề thấy cử chỉ của Vua như vậy, vội vàng giữ tay nhà Vua lại mà hỏi: “Phụ Vương định làm gì thế? Vua buồn rầu vừa khóc vừa nói: “Ta định giết mẹ con để lấy thịt nuôi sống cha và con, nếu không giết mẹ con thì cả ba người đều chết mất thôi, vì không còn cách nào khác nữa!” Thái tử nói: “Nếu cha giết mẹ con, con thà chết đói chứ không bao giờ con ăn, vì chưa bao giờ có người con nào ăn thịt mẹ mình. Đã chẳng dám ăn thì con cũng sẽ chết mà thôi, vậy cha hãy giết con đi để cứu mạng cho mẹ”. Vua nghe nói vậy thì sầu não nói rằng: “Con cũng như con mắt của ta, chưa bao giờ có ai tự khoét mắt của mình để rồi lại tự ăn vậy, ta sẽ không bao giờ giết con để nuôi sống tính mạng của ta cả.

 Lúc ấy, Thái tử thưa với Vua và Phu nhân: “Con xin nguyện đem thân này để cúng dàng cha mẹ, chỉ xin cha mẹ chấp thuận cho con một điều”. Vua bảo: “Cha mẹ không làm trái ý con, con muốn điều gì cứ nói ra”. Thái tử thưa: “Cha mẹ đừng giết con mà chỉ mỗi ngày xẻo đủ thịt chia cho ba người ăn, hai phần dâng cha mẹ, một phần con ăn để tự nuôi sống”.

 Bấy giờ, Vua theo ý nguyện của Thái tử mà làm như vậy, nhưng sau ba ngày thì thịt ở thân thể Thái tử đã gần hết, chỉ còn chút ít thịt dính với xương. Vì quá kiệt sức, Thái tử ngã lăn ra đất bất tỉnh, Vua và Phu nhân ôm con kêu khóc mà nói: “Cha mẹ thật là người vô dụng, ăn cả thịt con, khiến con phải đau đớn đến chết đi như thế này, biết làm sao bây giờ? Nay đường còn chưa tới, thật là khổ sở trăm bề, chắc phải bỏ thân xác con lại đây thôi!”, hồi lâu, Thái tử tỉnh lại nói trong yếu ớt: “Thưa cha mẹ, con dâng thịt cúng dường cha mẹ đã đi được đến đây, tính ra chỉ còn một ngày nữa là tới nơi an toàn, mà thân con không còn cử động được nữa, chắc con bỏ mạng tại nơi đây, con không thể theo cha mẹ được nữa, xin cha mẹ đừng nghĩ ngợi theo thói thường tình, để rồi chết cả ở đây! Con kính xin cha mẹ một điều không nên trái lòng con, xin cha hãy cắt hết nốt những chỗ thịt còn lại dùng cho cha mẹ đủ sống trong một ngày nữa mà đi đến chỗ thoát nạn.”

 Bấy giờ vua cùng Phu nhân ôm Thái tử khóc nức nở không ngớt, nhưng rồi cũng phải nghe lời con đành lòng phải cắt nốt những thịt còn lại, rồi chia làm ba như trước, ăn rồi, nhà Vua và Phu nhân từ biệt con trong khóc than đau khổ mà đi, trong khi Thái tử nhỏm người lên nhìn cha mẹ xa dần cho đến khuất bóng, rồi ngã lăn ra bất tỉnh.

 Các loài côn trùng ruồi nhặng kiến v.v... đến bâu lại khắp thân thể để châm chích cắn ăn, khó chịu vô cùng, không thể nói cho xiết được. Tỉnh lại, Thái tử thấy thế liền lập lời thệ nguyện: “Nguyện đời trước có điều gì oán ác, từ đây sẽ trừ sạch hết, và từ nay trở đi sẽ không bao giờ làm ác nữa. Nay tôi đem thân này để cúng dàng cha mẹ, nguyện cha mẹ thường được mười một điều phúc đức, đó là:

01 – Khi ngủ được an vui.

02 – Khi thức được yên vui.

03 – Không thấy ác mộng.

04 – Chư vị Trời thường ủng hộ.

05 – Mọi người đều ái kính.

06 – Không gặp các tranh tụng.

07 – Không bị trộm cướp.

08 – Không bị giặc giã.

09 – Không bị mưu hại.

10 – Không bị tiêu diệt.

11 – Gặp mọi điều lành.

 Và còn bao nhiêu máu thịt còn lại tôi nguyện bố thí cho ruồi nhặng muỗi kiến và các côn trùng được no đủ, khiến đời sau tôi được thành Phật, rồi đem thức ăn bằng giáo pháp trừ trọng bệnh sinh tử đau khổ cho chúng sinh tất cả.”

 Khi Thái tử Tu Xà Đề phát nguyện như thế rồi, mặt đất sáu lần rung động, các loài cầm thú kêu vang chạy tứ tán, biển lớn nổi sóng dữ dội, núi Tu Di giao động rung chuyển.

 Bấy giờ Vua Trời Đạo Lợi, Thích Đề Hoàn Nhân đem chư Thiên xuống, giả làm hùm beo sư tử chó sói, gầm rống nhảy tới chỗ Thái tử như để bắt ăn thịt. Thái tử thấy thế mới nói: “Nếu các ngưoi muốn ăn thịt ta thì cứ ăn, sao lại làm ta sợ hãi như vậy?” Vua Đế Thích liền biến ra hình người và nói: “Ta không phải là thú dữ đâu, mà là Đế Thiên Thích đến đây để thử Thái tử mà thôi, Thái tử thấy Đế Thích nói như vậy thì vui mừng, Đế Thích hỏi Thái tử?

- Nhà ngươi bỏ được việc khó bỏ. Ngươi đem hết thịt cúng dàng cha mẹ, có công đức như thế để nguyện sinh làm Phạm Vương, Thiên Ma Vương, Thiên Vương, Chuyển Nhân Thánh Vương, hay Nhân Vương?

 Thái tử Tu Xà Đề trả lời:

- Tôi nay chẳng nguyện làm những thứ ấy, mà chỉ muốn cầu đạo Vô Thượng Bồ Đề để cứu độ tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ đau mà thôi.

 Vua Trời nói:

- Ngươi thật là đại ngôn, đạo Vô Thượng Chính Đẳng Chánh Giác phải chịu cần khổ rất lâu dài, rồi sau mới thành được, làm sao Ngươi có thể chịu nổi những cần khổ ấy?

 Tu Xà Đề trả lời:

- Giả thử vòng sắt nung đỏ để trên đầu, nhưng không vì thế làm cho tôi thoái đạo Vô Thượng.

 Thiên Đế nói:

- Ngươi chỉ nói cho cố, nói suông, làm sao tin được?

 Bấy giờ Tu Xà Đề liền lập thệ nguyện:

- Nếu tôi nói dối Thiên Đế thì thân tôi sẽ mãi mãi bị chia lìa, còn không như vậy thì sẽ bình phục lại.

 Thái tử vừa thệ nguyện xong, thân thể từ từ lành lặn bình phục lại, Vua Trời thấy thế khen ngợi:

- Quý hóa thay! Ta không thể theo kịp Ngươi, Ngươi sẽ đạt đạo Vô Thượng theo ý nguyện, khi ấy nhớ độ cho ta.

 Bấy giờ Vua và Phu nhân đi đến nước kia được Vua nước kia tiếp đón ân cầncung cấp đầy đủ các thứ cần dùng xứng ý. Rồi Vua và Phu nhân thuật hết sự tình về việc nghịch thần gian ác, và việc chạy trốn xảy đến việc Thái tử tình nguyện chịu cắt thịt cứu cha mẹ đến phải hy sinh tính mạng.

 Vì cảm mến đức hạnh từ hiếu ấy mà Vua nước kia khởi lòng muốn giúp đỡ, khởi binh chính nghĩa đi đánh nghịch thần La Hầu gian ác. Thuận đường đi cùng đại quân, Vua và Phu nhân đi ngang qua chỗ Thái tử, nơi cha con, mẹ con từ biệt với ý nghĩ: “Con ta đã chết rồi, ta nên thu lượm xương cốt của con đem về quê hương.” Vì lòng thương con vô bờ bến, nên vừa đi tìm kiếm vừa kêu gào khóc than rất là thảm thiết. Nhưng bỗng xa trông thấy con còn sống, vội chạy đến ôm con vào lòng, vừa thương vừa mừng vừa khóc nức nở mà hỏi con rằng: “Con ơi! Con vẫn còn sống ư, làm thế nào con qua khỏi nạn này, thật là ngoài sức tưởng tượng của cha mẹ!?!”

 Thái tử liền kể hết sự việc cho Vua và Phu nhân nghe, nghe xong, Vua và Phu nhân hết sức vui mừng, rồi cùng nhau trở về nước, Thái tửphúc đức rất lớn như thế, nên chẳng bao lâu lấy lại được nước, Vua cha bèn lập Thái tử lên làm Vua trị vì thiên hạ.

 Bấy giờ đức Phật bảo Tôn giả A Nan Đà:

- A Nan nên biết, phụ Vương La Xà lúc bấy giờ, nay là cha Ta, Duyệt Đầu Đàn phu nhân lúc ấy, nay là mẹ ta, Ma Da phu nhân, còn Thái tử Tu Xà Đề, nay chính là Ta, Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Lại nữa, Vua Trời Đế Thích lúc ấy, nay là Ông Kiều Trần Như ngày nay, được Ta độ trước nhất vậy.

 

LỜI BÀN:

 Đọc Kinh trên, chúng ta nhận thấy:

1 – Khởi đầu của Kinh, chúng ta đã thấy đức Phật lúc đó là Thái tử Tu Xà Đề. Người được sinh vào làm con Vua và là Thái tử, tất phải là người đời trước đã làm được nhiều phúc đức mới được như thế.

2 – Sự báo hiếu của đức Phật đối với bậc cha mẹ thật là hiếm có trên đời, nếu không phải lúc ấy đức Phật đang hành hạnh Bồ Tát rồi thì không thể làm được việc chịu đựng đau đớn khủng khiếp như thế, một việc làm chỉ có bậc Bồ Tát mới làm được mà thôi.

3 – Một điểm cần nêu ra, đó là khi cắt thịt Thái tử vẫn còn đi được, và khi cắt hết thịt rồi mà vẫn còn sống được, nhất là sau đó tự nhiên lành lại, đó là một điều khó tin, tại sao? Vì khi cắt thịt, máu chảy ra hết là phải chết, thiết tưởng, trong trường hợp này chỉ có thể giải thích bằng sự mầu nhiệm nào đó, khiến Thái tử Tu Xà Đề không bị mất máu nhiều, đủ sức chịu đựng sự đau đớn, và sau là lành lại. Ở đây, chúng ta lại thấy trái với khoa học, nhưng nếu chúng ta chấp nhận những gì gọi là huyền bí mầu nhiệm do Chư Thiên làm, thì chúng ta phải chấp nhận trường hợp này.

4 – Từ thời đức Phật Tỳ Bà Thi (91 kiếp về trước = khoảng 6.5 tỷ năm)) đến thời đức Phật Thích Ca đã trải qua một thời gian quá lâu dài, điều này chứng tỏ đức Phật Thích Ca đã hành đạo Bồ Tát rất lâu dài mới đạt quả Phật.

5 – Trong bộ Tăng Nhất A Hàm, quyển 2, Phẩm Lực, từ trang 533, đức Phật nói: “Do công đức che lọng cho Thần tự (chỗ thờ) của Bích Chi Phật mà được lưu chuyển trong Trời Người và làm Vua hoặc Đại Phạm Thiên Vương, hoặc Đế Thiên Thích, hoặc Chuyển Luân Thánh Vương (Đại Vương) mấy trăm nghìn lần; chúng ta thấy công đức cúng dàng Chư Phật, Bích Chi Phật, và A La Hán Thánh Hiềnvô lượng phúc đức vậy.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 473)
Mặc dù Đức Phật đã xuất hiện trên hành tinh trái đất màchúng ta đang có mặt cách nay 2.642 năm về trước, và hiện nay đang bước sang thập niên thứ 2 ...
(Xem: 491)
Có nhiều câu hỏi về tái sanh thường được nêu ra đối với các Phật tử. Có tái sanh không? Nếu có, có thể nhớ chuyện kiếp trước không? Cái gì tái sanh? Có thân trung ấm hay không?
(Xem: 1438)
Nhân ngày lễ vía Xuất gia của Đức Phật, nhằm vào ngày mồng Tám tháng Hai mỗi năm, tôi xin tóm lược lại một vài sự kiện mà trong Kinh Phật Bản Hạnh đã ghi lại để làm quà cho tất cả quý Phật Tử xa gần.
(Xem: 703)
Năm nay trời thiếu mưa, và sương mù cũng không nhiều như những năm mới đến cư ngụ tại thủ phủ Sacramento, bang California.
(Xem: 1154)
Chó vẫy đuôi mừng, vầng trăng thiện hạnh trùm khắp, từ bi toàn thân hỷ lạc.
(Xem: 960)
Nếu Trái Đất mỗi ngày không múa điệu nghê thường lả lướt quanh Vầng Thái Dương rực rỡ thì có lẽ con người cũng chẳng chiêm ngưỡng được vẻ đẹp kỳ diệu của xuân hạ thu đông.
(Xem: 1061)
Lòng từ bi nhân ái, tiếng Tây Tạng là Tse wa (rtse ba) là một thuật ngữ nói lên tình mẫu tử và nỗi âu lo vô biên của chư Phật đối với mỗi chúng sinh.
(Xem: 1389)
Thời thanh xuân, tiếng nói trong trẻo, du dương; trung niên, tiếng trầm như sấm; lão niên, tiếng khàn đục như cối xay.
(Xem: 1093)
Đây là một quyển sách khác thường của Đức Đạt-lai Lạt-ma phân tích bản chất của thiền định thật chi tiết và sâu sắc.
(Xem: 857)
Thiền nhân và thi nhân đều có thể sáng tạo thơ hay. Thơ của các thiền sư thường là sự phóng thích chút bản ngã cuối cùng, nên nó không sanh từ vọng tưởng.
(Xem: 888)
Cũng như Phật Đản, để phù hợp với cuộc sống, sinh hoạt tại hải ngoại, Vu Lan cũng không còn là ngày mà là mùa. Từ giữa tháng 7 kéo dài cho đến cuối tháng 9 khắp năm châu đâu đâu cũng tưng bừng lễ hội Vu Lan
(Xem: 975)
Luyện tập thiền định có thể làm giảm tình trạng căng thẳng tâm thần, các xúc cảm tiêu cựccải thiện giấc ngủ, các hiệu ứng này có thể tạo ra các tác động tích cực đối với quá trình lão hóa của não bộ.
(Xem: 1554)
Dưới đây là một bài giảng ngắn của Lạt-ma Denys Rinpoché, một nhà sư người Pháp. Ông sinh năm 1949, tu tập theo Phật giáo Tây Tạng từ lúc còn trẻ
(Xem: 853)
Hàng năm, từ trung tuần tháng 12 dương lịch, các tự viện khắp nơi đều hoan hỷ chuẩn bị tổ chức các khóa tu để cúng dường lễ vía Đức Phật A Di Đà, vị Phật đã phát 48 đại nguyện cứu độ chúng sanh
(Xem: 1215)
Sống trong thời đại văn minh, con người cần phải học hỏi để theo kịp trào lưu tiến bộ trong nhiều lãnh vực như Y học, Não học, Tâm lý học, Địa chấn học, Thiên văn học, Vũ trụ học v.v
(Xem: 1180)
Trong số các phương pháp thực hành tâm linh, thiền chánh niệm (còn gọi thiền tỉnh thức, thiền minh sát) là một lựa chọn của số đông người.
(Xem: 1332)
Hãy chấp nhận các kinh nghiệm của bạn, ngay cả các kinh nghiệm bạn ghét.
(Xem: 1233)
Tu tập tự thân chính là công phu quan trọng nhất trong toàn bộ cái gọi là Phật giáo.
(Xem: 1007)
Thiền sư Ajaan Fuang Jotiko, sinh năm 1915 tại tỉnh Chanthaburi, Đông nam Thái Lan (gần biên giới Campuchia).
(Xem: 1400)
Lời Thầy thường dạy, lại bàng bạc không gian “Ta là tiếp nối của Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ. Các Ngài ở trong ta và ta ở trong các Ngài...
(Xem: 1467)
Dường như con người có thể phát tiết ra khả năng kỳ lạ để thích ứng với môi trường và hoàn cảnh sống mà có lẽ chính họ đôi khi cũng không ngờ.
(Xem: 1334)
Mỗi người con của Phật xin hãy tinh tấn tu học để báo đáp thâm ân Tam Bảo; báo đáp ơn sinh thành dưỡng dục; nổ lực góp phần vào xây dựng cộng đồng nhơn loại...
(Xem: 1394)
Khởi đầu, thiền định là một phương pháp tu luyện tâm thức (bhāvanā), bắt nguồn từ Ấn Độ cách đây vài ngàn năm, phát triển chủ yếu trong...
(Xem: 1532)
Chỉ vài phút tập tỉnh thức trong các việc nhỏ đời thường, sau này sẽ trở thành những hành trang Phật giáo cực kỳ quý giá cho các em vào đối mặt cuộc đời.
(Xem: 1865)
Trong kinh có một câu chuyện xảy ra làm đau lòng mọi người khi đức Phật còn tại thế. Một người vì quá tham tàn, bạo ngược, bất chấp cả tình cha con...
(Xem: 2924)
Nơi biển khơi ngàn con sóng bạc đầu, hay trên cánh đồng xanh lúa chín rì rào đâu đâu cũng thấy hiện thân nỗi binh an khắp tất cả.
(Xem: 1766)
Kyabje Lama Zopa Rinpoche giải thích cách phát khởi thực chứng về các giai đoạn của đường tu giác ngộ trong Khóa Tu Kopan Thứ Mười Hai...
(Xem: 2331)
Một hiện thể độc nhất, này các Tỷ-kheo, một nhân thể phi thường trác việt khi xuất hiệnthế gian, sự xuất hiện ấy đem lại hạnh phúc cho...
(Xem: 2265)
Không dễ tìm được một chúng sinh nào chưa từng một lần trong quá khứ là mẹ của ngươi…
(Xem: 2798)
Ngày 4-5 vừa qua, Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc António Guterres đã gởi đi Thông điệp nhân Ngày Vesak 2641 (2017)
(Xem: 1620)
Bài này chỉ giới thiệu sơ sài đôi nét độc đáo của bản dịch Việt thơ chữ Hán của Trần Nhân Tông...
(Xem: 2736)
Bước chân ban đầu là bước chân khai mở con đường vượt thoát những phiền não, ràng buộc của kiếp sống...
(Xem: 2331)
Khi một hiện hữu làm linh hiện ý nghĩa hiện sinh trọn vẹn của nó, cả ba ngàn đại thiên thế giới đều rung động.
(Xem: 1585)
Cảnh sát là một nghề căng thẳng hơn rất nhiều nghề khác trong đời thường. Đôi khi, buổi sáng ra đi, không chắc gì buổi chiều đã toàn vẹn trở về.
(Xem: 2538)
Tinh thần tu chứng, cũng như phụng sự tha nhân xây dựng quê hương đất nước, Phật Giáo Việt Nam đã khẳng định sự hiện hữu của mình hơn 2000 năm trên suốt dòng lịch sử của dân tộc Việt...
(Xem: 2941)
Thiền định là phép tu tập chủ yếu của Phật giáo, có thể xem là "cột trụ" chống đỡ cho toàn bộ Phật giáo nói chung.
(Xem: 2180)
Hiện tại có tính bình đẳng cho tất cả mọi người. Dầu ở bất cứ nơi nào trên trái đất, dầu tôi và anh ở múi giờ khác nhau, người ta vẫn chung nhau một hiện tại.
(Xem: 2710)
Mỗi cuối năm khi hoa mai, hoa đào bắt đầu nở, khi ngoài trời vài cơn gió hiu hiu lạnh nhẹ nhàng lướt qua trên cành cây ngọn trúc, thì chúng ta biết là mùa Xuân đang về.
(Xem: 2333)
Năm cũ sắp sửa trôi qua với bao đổi thay của đất trời và con người, để đón nhận một mùa xuân mới tràn đầy hạnh phúc.
(Xem: 3361)
Vào đêm cúng Giao Thừa tại các Chùa Việt Nam cũng đồng lúc cử hành Lễ Khánh Đản của đức Phật Di Lặc, vị Phật tương lai...
(Xem: 2896)
Trong các khóa thiền tập của chúng ta, các thiền sinh phải tập chú niệm trong cả bốn tư thế đi, đứng, ngồi, nằm...
(Xem: 4588)
Vẽ đẹp cao quý trong ngày xuân là mọi người có dịp làm mới lại những truyền thống văn hóa, đạo đứcdi huấn của tổ tiên...
(Xem: 3819)
Cộng đồng Phật giáo chỉ là một nhóm thiểu số tại Cuba. Dù vậy, họ vẫn đang có những bước đi lặng lẽ thơ mộng và trang nghiêm tại đảo quốc xinh đẹp này.
(Xem: 2696)
Đức Phật dạy chúng ta nhìn bất cứ điều gì xuất hiện trước mắt cũng phải nhận biết rằng: sự vật không trường tồn.
(Xem: 4140)
Bài Thuyết Trình Ngày Về Nguồn - Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư Lần Thứ 10 tại Tu Viện Phổ Đà Sơn, Ottawa, Canada ngày 07 – 09 tháng 10, 2016
(Xem: 2518)
hật giáo truyền nhập Tây tạng được xem như chính thức từ vua Srong-btsan sGam-po (569–649?/605–649 Tl?); nhưng phải đợi hơn một thế kỷ sau, dưới triều vua...
(Xem: 16078)
Giáo, Lý, Hạnh, Quả là cương tông của Phật pháp. Nhớ Phật, niệm Phật, thật là đường tắt để đắc đạo. Xưa kia, tu pháp nào cũng đều đủ cả bốn điều này.
(Xem: 3085)
Thiền Vipassana là một phương pháp để giúp chúng ta có được một đời sống nội tâm lành mạnh, an lạc.
(Xem: 3346)
Ngày lễ Vu Lan trong Đạo Phật là ngày “Phật Hoan Hỷ”, ngày “Tự Tứ”. Tăng, Ni tập trung vào sự tu niệm và thỉnh cầu những bậc...
(Xem: 2740)
Kể từ khi Phật giáo du nhập vào nước ta, đến thế kỷ II thì Phật giáo đã định hình và phát triển khá mạnh mẽ, nhất là đã có...
(Xem: 3509)
Có nhiều phương pháp giúp chúng ta giảm bớt đau khổ tạm thời. Khi các bạn gặp đau khổ, các bạn đổi hướng chú ý của ...
(Xem: 2961)
Một hôm, Tôn giả Xá Lợi Phất đi trì bình khất thực trong thành Vương Xá, khi ngang qua...
(Xem: 3113)
Tôi nhớ mãi một buổi chiều, Mẹ ngồi bên thềm sân, Cúi xuống, thoang thoáng một nét buồn.
(Xem: 3865)
Phật dạy chúng ta tu thiền định cốt để buông xả các niệm tạp loạn, tâm lặng lẽ thanh tịnh. Theo kinh Nguyên thủy Phật dạy...
(Xem: 4846)
Ngày Lễ Phật Đản Visak là ngày quan trọng nhất đối với tất cả Phật tử trên toàn thế giới. Đây là ngày...
(Xem: 4645)
Cách đây hơn 2.600 năm, vào ngày trăng tròn tháng Tư, tại vườn ngự uyển Lumbini, thành Kapilavastu...
(Xem: 4233)
Theo truyền thống Phật Giáo, nói về các thời điểm nhất định, thí dụ như Sự Ra Đời Và Sự Giác Ngộ Của Đức Phật, có một nguồn ánh sáng...
(Xem: 4118)
Vẫn như mọi năm, tháng Tư âm lịch ngày trăng tròn là ngày kỉ niệm Đức Phật đản sanh. Theo truyền thống Phật giáo thì ...
(Xem: 4041)
Xin chia buồn cùng tang quyến và cầu nguyện hương linh Đạo hữu Thiện Mẫn Nguyễn Minh Cần vãng sanh Cực Lạc Quốc
(Xem: 4143)
Đức Phật được Liên Hiệp Quốc tôn vinh là nhà văn hóa lớn của nhân loại của 25 thế kỷ qua, hẳn là ...
(Xem: 3572)
Hạnh phúc thay, Đức Phật ra đời. Hạnh phúc thay, bài giảng Phật Pháp đúng đắn. Hạnh phúc thay, Tăng Đoàn hòa hợp.
(Xem: 5579)
Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTN Âu Châu kính gởi đến Chư Tôn Đức Tăng Ni và Phật tử
(Xem: 3967)
Thế Tôn, bậc tôn quý nhất, đấng Giác ngộ duy nhất, tối tôn ở đời. Bởi chỉ có thành tựu tuệ giác vô ngã, kết quả của thiền quán mới ...
(Xem: 4535)
Bảy bước đi liên tòa kết nụ Chỉ đất trời thượng hạ tuyên ngôn "Như Lai vô thượng chí tôn Thân này kiếp chót vĩnh tồn vô sanh"
(Xem: 3798)
Pháp môn Tịnh-độ là một trong 84 vạn pháp môn mà Đức Phật Thích-Ca "phương tiện" chỉ bày cho thập phương chúng sanh kể cã cõi ta-bà nầy hành trì để giải thoát "sanh tử-luân hồi"
(Xem: 12645)
Đại Lễ Phật Đản Phật Lịch 2560 do Giáo Hội PGVNTN Hoa Kỳ và các chùa tại địa phương tổ chức vào ngày 01.05.2016 tại Mile Square Park, 16801 Euclid Street, Fountain Valley 92708
(Xem: 3973)
Thiền, Tịnh, Mật được xem là ba pháp môn tu truyền thống của Phật giáo Việt Nam xưa nay.
(Xem: 3313)
Chánh niệm không phải chỉ là một ý tưởng tốt, một triết lý hoặc một tôn giáo theo nghĩa đen, mà là áp dụng một cách sống.
(Xem: 4882)
Thông Bạch Phật Đản 2016 - Phật Lịch 2560 của Chánh Văn Phòng HĐCM GHPGVNTN Hoa Kỳ
(Xem: 3619)
Phật Đản là ngày sinh của Đức Phật. Theo như trong kinh Phật đã dạy: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”,
(Xem: 3612)
‘Tào khê thuỷ’ (曹溪水) hay ‘Tào Khê’ là đại từ chỉ định về Lục tổ Huệ Năng, cũng chỉ cho dòng suối trí tuệ Phật giáo.
(Xem: 3761)
Chúng ta có hai cách giao lưu với thế giới nội tâm và với thế giới bên ngoài. Một: Tâm cảm thọ (Sensing mind) trực tiếp qua giác quan như ...
(Xem: 3800)
“Thị hiện Đản sanh”, là cụm từ được chỉ chung cho tất cả các bậc Thánh nhân, chư Phật, Bồ Tát khởi lên ý niệm tự phát nguyện...
(Xem: 4215)
Dòng đời cứ cuồn cuộn hay lặng lẽ mãi miết trôi, và mọi cảm nhận tiếp thụ của con người vẫn cứ lan chảy bất tận theo thời gian.
(Xem: 5277)
Phương cách tốt nhất giúp ta tỉnh giác khi hành Thiền là ta biết giữ hơi thở trong tâm.
(Xem: 4460)
Hãy tụng kinh Kim cương nhiều lần. Thầy cũng sẽ cầu nguyện, trì tụng và hồi hướng cho con ngay bây giờ.
(Xem: 6040)
Thân thị Bồ đề thọ, Tâm như minh cảnh đài, Thời thời cần phất thức, Vật sử nhá trần ai.
(Xem: 3934)
Theo giáo lý Tịnh Độ Phật A Di Đà là vị Phật ánh sáng luôn soi chiếu thông suốt mọi cảnh giới, tiếp dẫn chúng sanh vãng sanh.
(Xem: 3862)
Chánh niệm tỉnh giác (Satisampajanna) là một thuật ngữ Phật học ngụ ý một nếp sống thanh thản an lạc trong đời sống sinh hoạt hàng ngày.
(Xem: 4779)
Không biết tự bao giờ, mùa xuân được lấy làm biểu tượng của tâm hồn an lạcthanh tịnh.
(Xem: 5047)
Ngày xuân năm nay, chúng tôi sẽ đem đạo lý khuyến khích nhắc nhở tất cả Phật tử tinh tấn tu hành.
(Xem: 5282)
Nhân Tết con khỉ - Bính Thân, nên xin nói tản mạn về con khỉ, có liên hệ đến những ý tưởngquan niệm trong đạo Phật.
(Xem: 5481)
Hai bài kệ dưới đây trích trong Lục Tổ đàn kinh rất nổi tiếng trong giới Thiền học, được phổ biến, giảng luận không biết bao nhiêu là giấy mực...
(Xem: 5003)
Thiền Tôngpháp môn nguyên thủy và cốt tủy do Đức Phật dạy.
(Xem: 5480)
Không gì tuyệt đẹp hơn hình ảnh của mùa xuân, khi hoa đào hoa mai hé nở, khi những mầm xanh đang e ấp chờ đợi...
(Xem: 4981)
Năm cũ đã hết với bao đổi thay của đất trời và con người, để đón nhận một mùa xuân mới tràn đầy hạnh phúc.
(Xem: 4975)
Cảm ơn Xin cảm ơn Trời đất bốn mùa thay nhau chuyển đổi Xuân sinh, hạ trưởng Thu liễm, đông tàn
(Xem: 5561)
Vào thuở thịnh Đường, Lục tổ Huệ Năng ( 慧 能 638-713 ) sau khi đắc pháp với Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ( 弘忍) và được truyền Y bát,
(Xem: 8446)
Bài này được viết vào khoảng tháng 11 năm 1991, có trong tác phẩm “Sân Trước Cành Mai,” xuất bản năm 1994.
(Xem: 4298)
Tết đã gần kề. Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam có cái chung nhưng cũng có những nét khác nhau tùy theo phong tục tập quán của từng vùng, miền.
(Xem: 4465)
Trong mùa xuân, thiên nhiên tự làm mới lại, con người cũng tự làm mới lại thân tâm mình, mọi vật đều cố gắng chuyển hóa thành mới, trong sạch, thanh tịnh.
(Xem: 14048)
Chúng ta thường nghe nói thế gian là biển khổ, bởi thế gian vui ít khổ nhiều. Nhưng trong chỗ vui đó, rốt cuộc cũng không tránh được khổ.
(Xem: 7956)
Ngày hết Tết đến nhìn thấy còn những người đau khổ chung quanh thì lòng mình không thể dửng dưng...
(Xem: 20927)
Niệm Phật tức là tham thiền không phải hai pháp, ngay lúc niệm Phật, trước tiên phải buông bỏ hết thảy các thứ vọng niệm, tạp loạn phiền não, tham, sân, si...
(Xem: 10122)
Thân của ta hôm nay thật là mong manh như bọt nước, niệm niệm sanh diệt không dừng. Lại sống trong ngôi nhà lửa không an ổn, sao mà cứ tỉnh bơ không chịu quán sát cho kỹ...
(Xem: 4770)
Ngoài kia, từng cánh én đang tung tăng chao lượn, dòng người thì tấp nập ngược xuôi trong tà áo mới, trên gương mặt ai nấy hân hoan rạng ngời
(Xem: 7778)
Tình yêu như bát bún riêu. Bao nhiêu sợi bún bấy nhiêu sợi tình.
(Xem: 8201)
Khách thập phương rảo bước quanh sân chùa, ngắm nhìn cảnh vật, cội mai già, nụ mai còn hàm tiếu.
(Xem: 5346)
Cụm từ trên không biết có tự bao giờ…? Thế nhưng từ lâu cho đến tận ngày hôm nay, thật sự đã đi sâu thẳm vào
(Xem: 5025)
Khi cây mai vàng chưa kịp đưa hương Và bờ cỏ đương đổi màu hoang tái Bóng chiều nghiêng cánh én còn ái ngại Vẫn nghe lòng vời vợi bước xuân phương
Quảng Cáo Bảo Trợ