Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
15,811,474
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250Logo-Hanh-Huong-AD-2019-tron-250

Nguyên Nhân Phân Phái Đầu Tiên Trong Phật Giáo Ấn Độ Và Kỳ Kiết Tập Thứ Hai

28 Tháng Bảy 201300:00(Xem: 4451)
Nguyên Nhân Phân Phái Đầu Tiên Trong Phật Giáo Ấn Độ Và Kỳ Kiết Tập Thứ Hai

Nguyên Nhân Phân Phái Đầu Tiên Trong Phật Giáo Ấn Độ Và Kỳ Kiết Tập Thứ Hai

Thích Nguyên Lộc


Sử liệu Phật giáo lưu lại nhiều thông tin khác nhau về nguyên nhânthời gian phân phái đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ

Lần phân phái đầu tiên giữa Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika) và Trưởng lão bộ (Sthaviravāda) đã xảy ra, hoặc trong cùng năm Đức Thế Tôn diệt độ(1), hoặc vào những năm: 100, 116, 137 và 160 năm sau năm Đức Thế Tôn diệt độ, hoặc vào năm 236 sau năm Đức Thế Tôn diệt độ(2). Tuy nhiên, hai thông tin về lần phân phái đầu tiên xảy ra cùng năm và 236 năm sau Phật diệt độ không có nhiều giá trị lịch sử. Hầu hết các nhà viết sửnghiên cứu sử Phật giáo Ấn Độ khảo cứu và tranh luận thời gian phân phái đầu tiên giữa Đại chúng bộTrưởng lão bộ xảy ra trong khoảng từ 100 đến 160 năm sau năm Phật diệt độ; và có nhiều nguyên nhân khác nhau, mà nổi bật nhất là những bất đồng về “Mười điều” liên quan đến giới luật được đề xuất bởi các Tỳ-kheo Bạt-kỳ, được phân xét trong Đại hội Tăng-già tại thành Tỳ-xá-ly, hoặc “Năm việc” liên quan đến phẩm hạnh của Thánh giả A-la-hán được khởi xướng bởi Tỳ-kheo Đại Thiên hoặc bởi các nhóm Tỳ-kheo, được tranh luận trong một Đại hội Tăng-già tại kinh thành Hoa Thị.

Về Đại hội Tăng-già Phật giáo tại thành Tỳ-xá-ly (Vaiśāli) (thường được gọi là Đại hội kết tập kinh điển lần thứ II), các bộ luật hiện còn của các bộ phái Phật giáo Ấn Độ đều đề cập đến Đại hội này(3). Nhìn chung, những tường thuật về Đại hội này trong các bộ luật đều giống nhau ở những điểm chính yếu. Theo Luật tạng của Thượng tọa bộ (Theravāda), một trăm năm sau năm Phật niết-bàn, các Tỳ-kheo Bạt-kỳ (Vajji), thành Tỳ-xá-ly, cho phép thực hành “Mười điều” (Dasavatthūni). “Mười điều” được phép đó là: 1. Được phép cất giữ muối trong ống sừng để khi cần dùng, sẽ dùng; 2. Được phép ăn quá trưa khi mặt trời ngả bóng chưa quá hai ngón tay;(4) 3. Được phép, ăn đã đủ, oai nghi đã xả, chưa làm phép dư thực, vào trong xóm làng, ăn thêm lần nữa; 4. Được phép khác trú xứ, nhưng cùng một cương giới, yết-ma bố-tát riêng biệt; 5. Được phép biệt chúng yết-ma, nếu các Tỳ-kheo đến sau tùy hỷ pháp yết-ma này; 6. Được phép thực hành theo những điều Hòa thượng tế độHòa thượng A-xà-lê đã thực hành; 7. Được phép uống sữa chưa đông sau bữa ăn; 8. Được phép uống nước trái cây lên men (rượu pha loãng); 9. Được phép cất chứa tọa cụ không làm viền; 10. Được phép cất giữ vàng bạc.

Lúc bấy giờ, Trưởng lão Da-xá (Yasa), du hành trong dân gian, đến thành Tỳ-xá-ly (Skt. Vaiśāli), biết tin các Tỳ-kheo tại thành này cho phép thực hành “Mười điều”. Ngài đã công khai phản đối rằng “Mười điều” này là phi giới, phi luật, trước hội chúng Tỳ-kheo và quần chúng Phật tử. Các Tỳ-kheo thành Tỳ-xá-ly yết-ma quy kết tội ngài đã nói xấu chúng Tăng trước quần chúng Phật tử, khiến họ mất tín tâm vào Tam bảoyêu cầu Trưởng lão Da-xá sám hối trước Đại chúng Tỳ-kheo và nhận là mình nói sai trước quần chúng Phật tử. Trưởng lão Da-xá vẫn giữ nguyên quan điểm của mình khi đề cập về “Mười điều” này với quần chúng Phật tử. Ngài giải thích với họ là ngài không sai, mà các Tỳ-kheo Bạt-kỳ cho phép thực hành “Mười điều” ấy là trái phạm giới luật của Đức Thế Tôn đã cấm chế.

Sau đó, để ngăn chặn những điều, mà theo ngài là sai phạm, của những Tỳ-kheo thành Tỳ-xá-ly (Skt. Vaiśālī), Trưởng lão Da-xá (Yasa) đã gởi sứ giả đến thành Pāvā, Avanti để trình bày sự việc cho các Tỳ-kheo ở đây được rõ. Trưởng lão Da-xá đi về phía Tây, lần lượt đến gặp các vị Trưởng lão: Sambhūta Sāṇavāsī, Revata, Sāḷha, Sabbakāmī để trình bày sự việc và tìm sự ủng hộ của quý ngài. Sau khi nghe trình bày vụ việc, các Trưởng lão cho rằng, muốn tranh luận đúng sai về “Mười điều” của các Tỳ-kheo Bạt-kỳ phải đến nơi xảy ra vụ việc, tại thành Tỳ-xá-ly, để tranh luậngiải quyết. Do đó, một đại hội chúng Tỳ-kheo Tăng gồm 700 Tỳ-kheo được nhóm họp tại tu viện Vālika, thành Tỳ-xá-ly. Đại Tăng chọn ra 8 vị trưởng lão đại diện cho hai phía: Đông và Tây. Những Trưởng lão Tỳ-kheo đại diện cho các Tỳ-kheo thành Tỳ-xá-ly thuộc các Tỳ-kheo phía Đông, gồm: Sabbākāmin, Sāḷha, Khujjasobhita và Vāsabhagāmika. Và những Trưởng lão Tỳ-kheo đại diện cho các Tỳ-kheo Pāvā (Pāṭheyyaka), đứng đầuTrưởng lão Da-xá, thuộc nhóm các Tỳ-kheo phía Tây, gồm: Revata, Sambhūta, Yasa (Da-xá) và Sumana. Tăng sai Trưởng lão Revata lần lượt hỏi Trưởng lão Sabbākāmin về “Mười điều” cho phép của các Tỳ-kheo Bạt-kỳ là phù hợp giới luật hay không phù hợp giới luật. Trưởng lão Sabbākāmin lần lượt trả lời “Mười điều” này là không phù hợp giới luật. Và Đại tăng yết-ma “Mười điều” của các Tỳ-kheo Bạt-kỳ, thành Tỳ-xá-ly là phi giới, phi luật, sai phạm lời dạy của Đức Thế Tôn.

Luật tạng của Pháp tạng bộ (Tứ phần) và của Hữu bộ (Thập tụng) cũng kết thúc tường thuật tương tự như Luật tạng Pāli của Thượng tọa bộ. Tức là, tường thuật về Đại hội chúng Tỳ-kheo Tăng kết thúc tại lời kết luận “Mười điều” của các Tỳ-kheo Bạt-kỳ là phi giới, phi luật. Tuy nhiên, theo Luật tạng của Ma-ha Tăng-kỳ (Mahāsāṃghika), nguyên nhân Đại tăng triệu tập Đại hội chỉ liên quan đến vấn đề cất giữ vàng bạc. Và kết thúc Đại hội, Tôn giả Ðà-ta-bà-la, người chủ trì Đại hội, thưa với đại chúng Tỳ-kheo, có 5 pháp được tùy thuận, trong đó có pháp tùy thuận: nếu Tỳ-kheo nào không có phương tiện thì có thể nhận vàng bạc và tiền mặt.

Tất cả các luật tạng dẫn ở trên không đề cập đến nguyên nhân phân phái giữa Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika) và Trưởng lão bộ (Sthaviravāda).

Đảo sử (Dīpavaṃsa)(5), được biên soạn tại Sri Lanka vào khoảng đầu thế kỷ IV TL, và Đại sử (Mahavaṃsa),(6) cũng được biên soạn tại Sri Lanka vào thế kỷ V TL, tường thuật thêm thông tin phân phái giữa Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika) và Trưởng lão bộ (Sthaviravāda). Theo hai nguồn sử liệu này, sau khi Đại hội tại thành Tỳ-xá-ly (Vaiśālī) trong thời gian trị vì của vua Kālāsoka, kết luận “Mười điều” của các Tỳ-kheo Bạt-kỳ là phi giới phi luật, các Tỳ-kheo ủng hộ “Mười điều” bị các vị Trưởng lão buộc tội và trục xuất. Các Tỳ-kheo ủng hộ “Mười điều” này, gồm 10 ngàn Tỳ-kheo, đã tiến hành một Đại hội kết tập kinh điển khác, gọi là Đại kết tập (mahāsaṅgīti). Mười ngàn Tỳ-kheo trong Đại hội Đại kết tập này thành lập Đại chúng bộ. Từ đây, Tăng đoàn Phật giáo phân rẽ thành hai bộ: Đại chúng bộTrưởng lão bộ.

Những nhà viết sửnghiên cứu sử Phật giáo Ấn Độ chấp nhận những thông tin tường thuật trong hai nguồn sử liệu này thì cho rằng nguyên nhân phân phái đầu tiên giữa Đại chúng bộTrưởng lão bộ là do những quan điểm khác biệt về “Mười điều” được cho phép bởi các Tỳ-kheo Bạt-kỳ trong Đại hội chúng Tỳ-kheo Tăng tại thành Tỳ-xá-ly vào khoảng 100 năm sau Phật diệt độ.

Nhưng, như những tường thuật trong các bộ luật, khi biết Trưởng lão Da-xá (Yasa) đang đi vận động các trưởng lão để triệu tập một Đại hội phân xét về Mười điều được cho phép, các Tỳ-kheo Bạt-kỳ cũng đến thăm và tìm kiếm sự hậu thuẫn của Trưởng lão Revanta. Họ dâng cúng Trưởng lão Revanta nhiều phẩm vật và hy vọng ngài sẽ ủng hộ quan điểm của họ. Nhưng ngài từ chối. Điều này cho thấy, các Tỳ-kheo Bạt-kỳ thành Tỳ-xá-ly đã lúng túng, lo sợ và lường trước kết quả thất bại khi Đại tăng nhóm họp tranh luận về những giới điều cho phép của họ. Nếu các Tỳ-kheo Bạt-kỳ là những Tỳ-kheo lãnh đạo hoặc được sự ủng hộ của 10 ngàn Tỳ-kheo như Đảo sử (Dīpavaṃsa) và Đại sử (Mahāvaṃsa) tường thuật, thì chắc chắn thế lực, ảnh hưởng của họ trong Tăng đoàn rất lớn và mạnh. Họ không thể lúng túng, lo sợ và dễ dàng bị kết tội và trục xuất. Họ cũng không cần phải sử dụng hạ sách bằng dùng phẩm vật (một hình thức dùng phẩm vật để mua chuộc) để tìm sự ủng hộ của Trưởng lão Revanta (Ly-bà-đa). Với số đông Tỳ-kheo ủng hộ “Mười điều” như vậy, nếu muốn thành lập Đại chúng bộ, thì ngay trong Đại hội tại thành Tỳ-xá-ly, họ có thể phủ quyết kết luận của các vị Trưởng lãotuyên bố thành lập Đại chúng bộ, không cần phải đi đến thành Hoa Thị mới tiến hành một Đại hội để lập phái. Vì vậy, có thể nói rằng, các Tỳ-kheo Bạt-kỳ không có nhiều ảnh hưởng trong Tăng đoàn như được tường thuật trong Đảo sửĐại sử. Không có nhiều ảnh hưởnguy tín trong Tăng đoàn thì họ khó có thể triệu tập một Đại hội khác để tách phân Tăng đoànthành lập Đại chúng bộ.

Vả lại, theo É. Lamotte, nội dung về Đại hội Đại kết tập của Đại chúng bộ, sự kiện được tiến hành sau Đại hội tại thành Tỳ-xá-ly được tường thuật trong Đảo sử, không được đề cập trong các tác phẩm lịch sử biên soạn về sau của văn học Pāli. Trong tác phẩm Samantapāsādika, ngài Budhaghosa (Phật Âm), một Đại luận sư của Thượng tọa bộ (Theravāda), không đề cập đến sự kiện Đại kết tập của Đại chúng bộ. Thậm chí, trong Nikāyasagraha, một tác phẩm biên soạn theo quan điểm của Thượng tọa bộ, ngài Saṃgharāja Dharmakīrti cho rằng nguyên nhân phân phái đầu tiên giữa Đại chúng bộTrưởng lão bộ là do những quan điểm khác biệt về giáo nghĩa trong Đại hội kết tập kinh điển tại kinh thành Hoa Thị (Pāṭaliputra) do ngài Mục Liên Đế Tu (Moggaliputta Tissa) chủ trì(7). Điều này có nghĩa là chỉ hai nguồn sử liệu Đảo sửĐại sử của văn học Pāli cho rằng nguyên nhân phân phái đầu tiên, phân rẽ Tăng đoàn thành hai bộ: Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika) và Trưởng lão bộ (Sthaviravāda) là do bất đồng quan điểm về “Mười điều” liên quan đến giới luật.

Do đó, nhiều nhà viết sửnghiên cứu sử Phật giáo Ấn Độ khác, mặc dù chấp nhận những tường thuật về Đại hội Tăng-già Phật giáo tại thành Tỳ-xá-ly trong các bộ luật, nhưng không chấp nhận nguyên nhân phân phái được tường thuật trong Đảo sử (Dīpavaṃsa) và Đại sử (Mahāvaṃsa). Họ khảo cứu những sử liệu liên quan đến lần phân phái giữa Đại chúng bộTrưởng lão bộ được lưu giữ trong văn học của Hữu bộ (Sarvāstivāda) và của Chánh lượng bộ (Saṃmatīya).

Theo sử liệu của Hữu bộChánh lượng bộ,(8) nguyên nhân phân phái là do trong Tăng chúng xuất hiện hai quan điểm khác nhau: một bên là ủng hộ “Năm việc” liên quan đến phẩm hạnh của Thánh giả A-la-hán và một bên là phản đối “Năm việc” này. Và kết quả Tăng đoàn phân ly thành hai bộ: Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika) và Trưởng lão bộ (Sthaviravāda). Những người khởi xướng và ủng hộ “Năm việc” (pañcavastu) này cho rằng: 1. A-la-hán, tuy không còn phiền não và xuất tinh nhưng trong giấc ngủ có thể bị ma vương quấy rối, làm cho xuất tinh; 2. A-la-hán vẫn còn nhiều điều không biết về những vấn đề liên quan đến cuộc sống hàng ngày; 3. A-la-hán, tuy không còn nhiễm ô vô tri nhưng vẫn còn bất nhiễm ô vô tri; 4. A-la-hán vẫn còn nhờ người khác (Đức Phật) dẫn vào Thánh đạo và 5. A-la-hán cũng phải nhờ tiếng “Khổ” (phát ra trong lúc thiền định) mới vào Thánh đạo.

Nguyên nhân phân phái này được thuật lại trong tác phẩm Samayabhedoparacanacakra của ngài Thế Hữu (Vasumitra), một Đại Luận sư của Hữu bộ. Tác phẩm này có ba bản Hán dịch(9) và một bản Tạng dịch. Cả ba bản Hán dịch đều đồng ý là: vào 116 năm sau Phật diệt độ, tại thành Hoa Thị (Pāṭaliputra),(10) trong lúc vua A-dục đang trị vì cõi Diêm Phù Đề (Ấn Độ), có các chúng Tỳ-kheo, hoặc ba chúng tên: Năng, Nhân duyên, Đa văn (Thập bát bộ luận); hoặc bốn chúng: Đại quốc, Ngoại biên, Đa văn, Chủng đức (Bộ chấp dị luận) hoặc Long tượng, Biên đồ, Đa văn, Đại đức (Dị bộ tôn luân luận) ủng hộtruyền bá “Năm việc” liên quan đến phẩm hạnh A-la-hán của những kẻ dị giáo. Do “Năm việc” này, Tăng chúng xảy ra bất đồng và dẫn đến Tăng đoàn phân ra thành hai: Đại chúng bộTrưởng lão bộ (trong các bản Hán dịch là Thượng tọa bộ, nhưng trong bài này dùng từ Trưởng lão bộ (Sthaviravāda), để phân biệt với Thượng tọa bộ được dịch từ Theravāda). Hai bản Tần dịch và Lương dịch không đề cập tên tác giả của “Năm việc” này. Tuy nhiên, bản Đường dịch của ngài Huyền Trang có nêu tên tác giả khởi xướng “Năm việc” này, là Đại Thiên (Mahādeva), nên thường gọi là “Đại thiên ngũ sự”.

Các nhà Tỳ-bà-sa (Vibhāṣā) của Hữu bộ, trong A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa,(11) cũng đồng ý rằng, “Năm việc” này là do Đại Thiên (Mahādeva) khởi xướng và là nguyên nhân phân phái đầu tiên này. Các nhà Tỳ-bà-sa còn đi xa hơn, viết thêm tiểu sử của Đại Thiên; theo đó, trước khi xuất gia, Đại Thiên phạm ba trọng tội ngũ nghịch: giết cha, giết mẹ, giết A-la-hán. Tuy nhiên, các luận sư này thừa nhận, sau khi xuất gia theo Phật, Đại Thiên là người thông minh, học nhiều hiểu rộng, được nhiều người kính trọng, kể cả vua quan và hàng quý tộc. Các luận sư, các nhà dịch thuật và chú giải Trung Hoa, như: Chân Đế, Cát Tạng, Huyền Trang, Khuy Cơ, cũng chấp nhận quan điểm của các Luận sư Hữu bộ về nguyên nhân phân giáo đầu tiên này. Tuy nhiên, ngài Khuy Cơ cho rằng Đại Thiên chỉ là nạn nhân bị tấn công từ các luận sư đối lập. Theo Khuy Cơ, Đại Thiên là một người thông tuệ, đạo cao đức trọng. Mặc dù tuổi còn trẻ, nhưng ngài đã chứng đạt quả vị tâm linh rất cao, được vua quan kính trọng, đồng đạo quý mến. Đó là lý do tại sao Đại Thiên bị quy gán ba tội ngũ nghịch, khi ngài đề xướng “Năm việc” liên quan đến phẩm hạnh A-la-hán(12).

Sử liệu liên quan của Chánh lượng bộ (Saṃmatīya) được ngài Thanh Biện (Bhavya hoặc Bhāvaviveka) ghi lại trong tác phẩm Tarkajvālā (Mdo XIX, tr. 162b 6-163; cf. Mdo XC, No. 12) vào thế kỷ thứ VI TL. Sau đó, những thông tin này được các sử gia Tây Tạng, Bu ston, thế kỷ XIV, Gzon nu dpal, thế kỷ thứ XV và Tāranātha, thế kỷ thứ XVII trích dẫn và thuật lại trong các tác phẩm lịch sử Phật giáo Ấn Độ của họ. Tuy nhiên, Thanh Biện cung cấp hai nguồn thông tin khác nhau liên quan đến lần phân phái lớn này. Theo nguồn sử liệu thứ nhất, 136 năm sau Phật diệt độ, trong giai đoạn trị vì của vua Nanda hoặc Mahāpadma, một Đại hội Tăng-già được nhóm họp để thảo luận về “Năm việc” liên quan đến phẩm hạnh của A-la-hán, được khởi xướng bởi Tỳ-kheo tên Bhadra (một Tăng sĩ nổi tiếng). Do nguyên nhân này, Tăng đoàn bị phân rẽ. Và theo nguồn sử liệu thứ hai, 160 năm sau năm Đức Thế Tôn diệt độ, trong lúc vua A-dục (Aśoka) đang cai trị tại kinh thành Hoa Thị (Pāṭaliputra), Tăng đoàn đã khởi lên tranh luận về một số giáo nghĩa và dẫn đến phân rẽ thành hai bộ: Đại chúng bộTrưởng lão bộ.(13)

Như vậy, tuy những nguồn sử liệu của Hữu bộ (Sarvāstivāda) và Chánh lượng bộ (Saṃmatīya) thuật lại thời gian phân phái có khác nhau, hoặc năm 137 sau Phật diệt độ, trong thời kỳ vua Mahāpadma, hoặc năm 116 và 160 sau Phật diệt độ, trong thời kỳ vua A-dục (Aśoka); nhưng cả hai nguồn sử liệu này đều đồng ý nguyên nhân dẫn đến Tăng đoàn rạn nứt và phân rẽ thành hai bộ: Đại chúng bộTrưởng lão bộ, là do bất đồng “Năm việc” liên quan đến phẩm hạnh của Thánh giả A-la-hán.

Như chúng ta biết, khi Đức Thế Tôn còn tại thế, đã có hai lần cộng đồng Tỳ-kheo bị phân ly: một, do Đề-bà-Đạt-đa lãnh đạo,(14) và một, do bất đồng quan điểm về một điều giới của hai vị Trưởng lão Tỳ-kheo tại Kosambi. Tuy hai lần phân giáo này, sau đó, đều được Đức Thế Tôn bằng nhiều phương cách khác nhau đã tái lập hòa hợp, nhưng cả hai lần phân giáo này có một đặc tính giống nhau là đều được dẫn dắt hoặc lãnh đạo bởi những Tỳ-kheo có ảnh hưởng hoặc uy tín trong cộng đồng Tỳ-kheo và quần chúng Phật tử. Lịch sử phân phái Phật giáo về sau cũng vậy. Hầu hết các lần phân phái đều được dẫn dắt hoặc lãnh đạo bởi một Tỳ-kheo hay một nhóm Tỳ-kheo có uy tínảnh hưởng lớn trong cộng đồng Tỳ-kheo hoặc quần chúng Phật tử. Lần phân phái giữa Đại chúng bộTrưởng lão bộ có thể cũng vậy. Như đã đề cập ở trên, các Tỳ-kheo Bạt-kỳ không phải là các Tỳ-kheo có ảnh hưởnguy tín trong Tăng chúngquần chúng Phật tử, nên họ không đủ khả năng lãnh đạo mười ngàn Tỳ-kheo, phân tách cộng đồng Tăng đoànthành lập Đại chúng bộ. Chỉ có những Tỳ-kheo như Đại Thiên hoặc các nhóm Tỳ-kheo, những Tỳ-kheo đa văn, được Tăng chúng quý mến, có uy tín trong xã hội (như được tường thuật trong các nguồn sử liệu Sanskrit và Trung Hoa), mới có thể lãnh đạo các nhóm Tỳ-kheo ủng hộ quan điểm của họ và thành lập bộ phái mới: Đại chúng bộ.

Bất đồng quan điểm về giáo nghĩa, mà ở đây cụ thể là phẩm hạnh của A-la-hán, là những bất đồng và sau này là mâu thuẫn sâu nặng nhất giữa Đại chúng bộTrưởng lão bộ trong suốt chiều dài lịch sử Phật giáo Ấn Độ. Các nhà Đại chúng bộquan điểm rằng Thánh quả A-la-hán chưa phải là quả vị viên mãn, chỉ có Phật quả mới là quả vị viên mãn. Họ ít quan tâm đến quả vị A-la-hán, mà quan tâm chính đến Phật quả. Theo các nhà Đại chúng bộ, và sau này là Đại thừa, muốn thành Phật quả, phải thực hành con đường của Bồ-tát. Cho nên, các nhà Đại chúng bộ xiển dương con đường của Bồ-tát. Con đường này khác biệt với con đường của Thanh văn A-la-hán. Ngược lại, các nhà Trưởng lão bộ xiển dương Thánh hạnhThánh quả của A-la-hán. Những khác biệt giữa quan điểm của Đại chúng bộ về Bồ-tát và quan điểm của Trưởng lão bộ về A-la-hán là những khác biệt xuyên suốt và chính yếu trong dòng lịch sử bộ phái Phật giáo Ấn Độ. Vì vậy, rất có thể, những bất đồng về phẩm chất của Thánh giả A-la-hán là nguyên nhân chính yếucuối cùng dẫn đến Tăng đoàn phân chia thành hai Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika) và Trưởng lão bộ (Sthaviravāda).

Liên quan đến lần phân phái này, Giáo sư André Bareau, trong tác phẩm đối chiếu văn bản nổi tiếng, Các bộ phái Phật giáo Tiểu thừa, cho rằng những dị biệt của Đại hội kết tập kinh điển tại thành Tỳ-xá-ly không thể là nguyên nhân làm cho Tăng đoàn phân phái. Vì nếu, tại thời điểm đó, Tăng đoàn đã phân ly thì chắc chắn các bộ luật của các bộ phái Phật giáo phải ghi lại thông tin quan trọng này. Và Giáo sư Bareau chấp nhận nguyên nhân phân phái đầu tiên của Tăng đoàn Phật giáo liên quan đến “Năm việc”, mà ông cho là do Đại Thiên khởi xướng. Và lần phân phái này, theo André Bareau, không thể xảy ra trong giai đoạn trị vì của vua A-dục (Aśoka) như tường thuật của ngài Thế Hữu. Nếu nó xảy ra trong thời gian vua A-dục trị vì, thì các sử liệu khác xưa hơn và thuộc các nguồn gốc khác nhau tại vùng Kasmir không thể không ghi lại danh tánh đức vua đại hộ pháp này, nhưng các nguồn sử này không nhắc đến tên vua A-dục liên quan đến lần phân phái này. Và vua A-dục không thể là đức vua trị vì trong khoảng đầu thế kỷ thứ hai sau Phật diệt độ. Giáo sư Bareau kết luận rằng lần phân phái này diễn ra trong khoảng năm 140 sau năm Đức Thế Tôn diệt độ, tại thành Hoa Thị (Pāṭaliputra) dưới triều đại vua Nanda hoặc Mahāpadma do Tăng đoàn bất đồng về “Năm việc” của Đại Thiên.(15) 

Tuy nhiên, theo ngài Huyền Trang, nguyên nhân phân phái này bao gồm cả vấn đề tranh luận về giới luậtgiáo nghĩa trong Tăng đoàn Phật giáo(16). Giáo sư Paul Demiéville cũng có cùng quan điểm như ngài Huyền Trang. Theo Demiéville, trong “A Propos du Concile de Vaiśāli”, nguyên nhân phân phái đầu tiên này bao gồm những bất đồng về “Mười điều” liên quan đến giới luật và “Năm việc” liên quan đến phẩm hạnh của A-la-hán. Nhưng vì, các luật sư quan tâm đến giới luật hơn, nên họ chỉ ghi lại trong các bộ luật về Đại hội Tăng đoàn tại thành Tỳ-xá-ly (Vaiśālī) liên quan đến mười điều giới luật; và các luận sư quan tâm đến giáo nghĩa hơn, nên họ chỉ ghi lại trong các bộ luận về Đại hội Tăng đoàn tại thành Hoa Thị (Pāṭaliputra) liên quan đến năm phẩm hạnh của Thánh giả A-la-hán(17). Tuy nhiên, Giáo sư J. Nattier và Charles S. Prebish phê bình giả thuyết của Demiéville. Theo họ, nếu giả thuyết của Demiéville là đúng, thì giải thích như thế nào về những tường thuật trong Xá-lợi-phất vấn kinh, một luận thư A-tỳ-đàm của Đại chúng bộ, theo đó, nguyên nhân phân phái giữa Đại chúng bộTrưởng lão bộ liên quan đến giới luật. Và họ cho rằng, giả thuyết của Demiéville có chỗ chưa thuyết phục(18). Giáo sư Nalinaksha Dutt đưa ra một giả thuyết khác. Theo N. Dutt, có thể sự phân phái giữa Đại chúng bộTrưởng lão bộ bắt đầu từ những quan điểm khác biệt về một số giới điều (Mười điều của các Tỳ-kheo Bạt-kỳ) và dần dần xuất hiện thêm những khác biệt về giáo nghĩa (Năm việc liên quan đến phẩm cách của A-la-hán)(19).

Giáo sư J. Nattier và Charles S. Prebish(20) đưa ra một giả thuyết khác, phủ nhận những giả thuyết liên quan đến “Mười điều” cho phép của các Tỳ-kheo Bạt-kỳ và “Năm việc” đề cập đến tính chất của A-la-hán. Theo hai giáo sư này, nội dung “Năm việc” này, đặc biệt là nội dung thứ năm liên quan đến “Khổ” thánh đế của Thánh giả A-la-hán, trong thời gian đầu, không xuất hiện trong các chi phái của Đại chúng bộ ở phía Bắc, chỉ được tranh luậntruyền bá trong các chi phái của Đại chúng bộ tại phía Nam, quanh vùng Andhra. Vì vậy, họ phủ nhận giả thuyết cho rằng bất đồng về năm phẩm hạnh của A-la-hán là nguyên nhân phân phái chính. Theo họ, nó chỉ là nguyên nhân phân phái phụ trong các chi phái Đại chúng bộ tại phía Nam Ấn Độ, do Đại Thiên khởi xướng và truyền bá. J. Nattier và Charles S. Prebish cũng đồng ý cách đánh giá của Giáo sư É. Lamotte về nguồn sử liệu đề cập đến nguyên nhân phân phái chính được tường thuật trong Đảo sử (Dīpavaṃsa). Vì vậy, hai giáo sư này phủ nhận nguyên nhân phân phái được tường thuật trong Đảo sử. Giả thuyết của J. Nattier & Charles S. Prebish dựa vào nguồn sử liệu được đề cập trong kinh Xá-lợi-phất vấn. Kinh này được xem là một luận thư của Đại chúng bộ, và được học giả André Bareau đánh giá là một trong những nguồn sử liệu sớm nhất về lịch sử bộ phái Phật giáo Ấn Độ(21). Theo kinh này, lúc bấy giờ, có một Trưởng lão Tỳ-kheo đem luật tạng được kết tập trong Đại hội do ngài Đại Ca-diếp chủ trì, phân loại lại và bổ sung thêm một số giới điều. Do nguyên nhân này, cộng đồng Tỳ-kheo Tăng khởi lên bất hòa. Họ nhờ vua nước này đứng ra phân xử đúng sai. Nhà vua và Tăng chúng quy định, những Tỳ-kheo tuân giữ giới luật truyền thống do ngài Đại Ca-diếp kết tập thì chọn thẻ màu đen, những Tỳ-kheo chấp nhận giới luật được thêm vào thì chọn thẻ màu trắng. Kết quả là số thẻ màu đen có đến 10 ngàn, còn số thẻ màu trắng chỉ có 100. Vua nước này kết luận rằng, cả hai đều tuân giữ đúng theo tinh thần giới luật của Đức Thế Tôn giảng dạy, nhưng vì có một số khác biệt nên không thể sống chung. Vì vậy, cộng đồng Tỳ-kheo phân chia thành hai bộ phái. Mười ngàn Tỳ-kheo tuân giữ giới luật truyền thống thành lập Đại chúng bộ. Số Tỳ-kheo kia thành lập Thượng tọa bộ (Trưởng lão bộ)(22). Kinh này không đề cập tên vị vua trì vị lúc bấy giờ, nhưng Giáo sư É. Lamotte nhận dạng vua này là vua A-dục (Aśoka). Như vậy, theo nội dung tường thuật trong kinh này, nguyên nhân phân phái là do cộng đồng Phật giáo nguyên thủy bất đồng về việc mở rộng một số giới điều trong giới bổnĐại chúng bộbộ phái giữ gìn giới bổn truyền thống do Tôn giả Upāli và Đại tăng kết tập tại thành Vương Xá.

Trong thực tế, so sánh các luật tạng hiện còn của các bộ phái, chúng ta thấy rằng luật Ma-ha Tăng-kỳ của Đại chúng bộ có số giới điều ít nhất: 218 giới. Cụ thể là các Pháp chúng học (Śaikṣa - dharmas) trong giới bổn Tỳ-kheo của các bộ luật. Pháp chúng học của Ma-ha Tăng-kỳ chỉ có 66 giới; trong khi luật Pāli: 75, Tứ phần luật: 100, Thập tụng: 113, Căn bản nhất thiết hữu bộ: 108. Và nhiều học giả, trong những tác phẩm nghiên cứu về giới bổn Tỳ-kheo của họ, nhận định rằng giới bổn Ma-ha Tăng-kỳ của Đại chúng bộ có niên đại sớm nhất(23).

Vì vậy, theo J. Nattier & Charles S. Prebish, rất có thể sau Đại hội kết tập kinh điển tại thành Tỳ-xá-ly, các cộng đồng Tỳ-kheo tại các địa phương lo sợ Tăng đoàn sẽ phân ly, nên nỗ lực điều chỉnh một số tiểu giớiĐức Thế Tôn cho phép thêm giảm cho phù hợp với từng địa phương để giữ cho Tăng đoàn không bị phân chia. Nhưng những nỗ lực này không như ý nguyện của họ, dần dần các cộng đồng địa phương càng nhiều khác biệt về giới luật, Tăng đoàn càng thêm bất đồng và cuối cùng là phân phái. Hai giáo sư này kết luận nguyên nhân tách phân Tăng đoàn Phật giáo liên quan đến việc bổ sung giới điều trong giới bổn, mà cụ thể là những giới điều thuộc Pháp chúng họcthời gian xảy ra lần phân phái này là vào năm 116 sau Phật diệt độ.

Như trên đã trình bày, Thượng tọa bộ, theo Đảo sử, thì cho rằng bộ phái gốc của mình (Trưởng lão bộ) gồm những Trưởng lão Tỳ-kheo tuân giữ giới luật truyền thốngthanh tịnh; và ngược lại, Đại chúng bộ, theo kinh Xá-lợi-phất vấn, cũng tường thuật bộ phái mình là bộ phái gồm những số đông Tỳ-kheo tuân giữ giới luật truyền thốngthanh tịnh. Những tường thuật này phản ánh một phần quan điểm chủ quan của bộ phái. Thật không dễ để kết luận nguyên nhânthời gian chính xác dẫn đến phân ly giữa Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika) và Trưởng lão bộ (Sthaviravāda).

Lời kết

Đại chúng bộbộ phái được xem là tiền thân của Phật giáo Đại thừa hoặc là bộ phái đóng góp nhiều trong lịch sử phát triển Phật giáo Đại thừa tại Ấn Độ. Khảo cứu nguyên nhân phân phái giữa Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika) và Trưởng lão bộ (Sthaviravāda) để có những đánh giánhận định khách quan và tương đối chính xác về Đại chúng bộviệc làm rất cần thiết. Đây là đề tài lớn mà nhiều sử gia Phật giáo đã hao tốn nhiều trí lựcthời gian khảo cứu, tranh luận và đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau trong hơn một thế kỷ qua. Nhưng hiện nay vẫn chưa có một giả thuyết nào đủ sức thuyết phục để các nhà chuyên môn chấp nhận. Vì vậy, chúng ta không thể chỉ y cứ vào một nguồn sử liệu nào đó mà cho rằng Đại chúng bộbộ phái khởi nguyên từ những Tăng sĩ trẻ, lơi lỏng giới luật, hay bộ phái được lãnh đạo bởi những kẻ dị giáo xâm nhập vào Tăng đoàn nhằm làm suy yếu Phật giáo.

Một số quan điểm của người viết trình bày ở trên, chỉ là cách nhìn và cách hiểu của người viết căn cứ vào những sử liệu khác nhau của hai nguồn Pāli và Sanskrit về lần phân phái lớn và đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ. Cách nhìn và cách hiểu ấy có thể hợp lý và cũng có thể không hợp lý. Khi viết bài này, người viết chỉ mang một ước nguyện, hy vọng có thể tìm lại hình ảnh chân thực của Đại chúng bộ (Mahāsāṃghika).

 Chú thích

(1) Trong Đại đường Tây Vực Ký, ngài Huyền Trang thuật lại rằng, khi ngài đến thành Vương Xá, tại đây, có một trụ đá do vua A-dục khắc tạo để đánh dấu nơi Đại chúng bộ đã kết tập kinh điển bên cạnh Đại hội kết tập kinh điển do ngài Đại Ca-diếp chủ trì. Những Tỳ-kheo thuộc Đại chúng bộ là những người không thừa nhận Đại hội kết tập kinh điển do ngài Đại Ca-diếp chủ trì. Họ gồm số đông Tỳ-kheo, khoảng vài trăm ngàn người, nên gọi là Đại chúng bộ. Những Tỳ-kheo thừa nhận Đại hội kết tập kinh điển do ngài Đại Ca-diếp chủ trì gọi là những Tỳ-kheo thuộc Trưởng lão bộ. Étienne Lamotte, History of Indian Buddhism, translated from the French by Sara Webb-Boin, Louvaun-la-neuve, 1988, tr. 286. Tham khảo thêm: 大唐西域記, Đại chánh, số 2087, tr. 923a 2-10.

(2) Theo Nikāyasaṃgraha của ngài Saṃgharāja Dharmakīrti, lần phân phái đầu tiên của Phật giáo Ấn Độ đã xảy ra ngay sau khi kết thúc Đại hội kết tập kinh điển tại Pāṭaliputra (kinh thành Hoa Thị) do ngài Moggaliputta tissa (Mục-liên-đế-tu) chủ trì, vào năm 236. Étienne Lamotte, như trên, tr. 288-289.

(3) Vinaya Pitaka Vol. V (Cullavagga), I. B. Horner dịch, London: Luzac & Company Ltd., 1963, tr.407-430; Luật Ma-ha Tăng-kỳ, Đại chánh, số 1425 tr.493 a28; Luật Tứ phần, Đại chánh, số 1428, tr.968c19; Luật Thập tụng (Hữu bộ), Đại chánh, số 1435, tr.450a 28.

(4) Theo Tứ phần của Pháp tạng bộThập tụng của Hữu bộ, giới điều này cho phép Tỳ-kheo: ăn đã đủ, oai nghi đã xả, chưa làm phép dư thực, được phép dùng hai ngón tay lấy thức ăn để ăn thêm.

(5) Sử liệu về đảo Sri Lanka (Dīpavaṃsa), chương 4, Tỳ-khưu Indacanda dịch Việt, đăng trên trang mạng Budsas.

(6) The Great Chronicle of Sri Lanka (Mahāvaṃsa), Ananda W. P. Guruge dịch, Colombo: S. Godage & Brothers, 2006, tr. 427.

(7) É. Lamotte, History of Indian Buddhism, như trên, tr. 288-9.

(8) Tất cả nguồn sử liệu của Hữu bộChánh lượng bộ liên quan đến lần phân phái này được trình bày trong bài viết dựa theo bài khảo cứu “Buddhist controversy over the Five Propositions” (pañcavastu) của Giáo sư É. Lamotte, đăng trong Studies of Buddhism, do G. Prasad chủ biên, Delhi: NXB. Bharatiya Kala Prakashan, 2006. Người viết tham khảo và ghi chú thêm sử liệu gốc được Giáo sư É. Lamotte khảo cứu.

(9) Bản Hán dịch đầu tiên gọi là Thập bát bộ luận, thường gọi là Tần dịch, dịch khoảng năm 385 đến 413; tên dịch giả tuy trong sách ghi là do ngài Chân Đế dịch, nhưng dịch giả này vẫn còn nhiều nghi vấn (Đại chánh, T 2032, tr. 18a 9-14). Bản Hán dịch thứ hai gọi là Bộ chấp dị luận, do ngài Chân Đế dịch, thường gọi là Lương dịch, dịch khoảng năm 557 đến năm 569 (Đại chánh, T 2033, tr. 20a 15-25). Và bản Hán dịch thứ ba gọi là Di bộ tôn luân luận, do ngài Huyền Trang dịch, thường gọi là Đường dịch, dịch vào năm 662 (Đại chánh, số 2031, tr. 15a 15-23)

(10) Các bản Hán dịch đề cập đến địa danh tranh luận về “Năm việc” khác nhau, nhưng tất cả những địa danh đó, theo Giáo sư É. Lamotte, đều là tên gọi khác của kinh thành Pataliputra.

(11) A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa, Đại chánh, số 1545, ch. 99, tr. 510c - 512a.

(12) Khuy Cơ, Du-già-sư-địa luận lược, Đại chánh, số 1829, tr.1b.

(13) É. Lamotte, “Buddhist controversy over the Five Propositions”, như trên, tr. 51-2.

(14) Trong Đại Đường Tây Vực Ký, ngài Huyền Trang thuật rằng, ngài có gặp những Tỳ-kheo thực hành theo giáo thuyết của Đề-bà Đạt-đa tại ba Tu viện ở Karṇasuvarna. Tuy nhiên, theo tất cả kinh luật của các truyền thống Phật giáo, một thời gian ngắn sau khi Đề-bà Đạt-đa cùng 500 Tỳ-kheo tách phân khỏi cộng đồng Tỳ-kheo được Đức Thế Tôn hướng dẫn, Trưởng lão Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, vâng lời Đức Thế Tôn, đã đến tu viện 500 Tỳ-kheo này đang trú ngụ và hướng dẫn họ trở về với Chánh pháp. Sau đó, Đề-bà Đạt-đa vì tức giận, ngã bệnh, mà qua đời. Và theo Giáo sư Ed. J. Thomas, trong The life of Buddha as Legend and History, thật khó có thể, một cộng đồng Tỳ-kheo, những người theo Đề-bà Đạt-đa, tồn tại hơn 1.000 năm (từ khi Đức Thế Tôn còn tại thế đến lúc các nhà chiêm bái Trung Quốc đến Ấn Độ) mà tất cả các nguồn sử liệu khác toàn hoàn không đề cập đến.

(15) André Bareau, Các bộ phái Phật giáo Tiểu thừa, Pháp Hiền dịch, NXB. Tôn giáo, năm 2003, tr. 54-5.

(16) N. Dutt, Buddhist Sects in India, Delhi: Motilal Banarsidass, 1998, tr. 31.

(17) J. Nattier & Charles S. Presbish, “Mahāsāṃghika Origins: the Beginning of Buddhist Sectarianism” trong Buddhism Critical Concepts in Religious Studies, tập. II, do Paul William chủ biên, London & New York: NXB. Routledge, 2005, tr. 201.

(18) Sđd., tr. 201.

(19) N. Dutt, như trên, tr. 31.

(20) J. Nattier & Charles S. Presbish, như trên, tr. 199-228.

(21) André Bareau, như trên, tr. 26.

(22) Đại chánh, số 1465, tr. 900b 20-28; và tham khảo đoạn dịch sang tiếng Anh từ tiếng Pháp của É. Lamotte, trong History of Indian Buddhism, như trên, tr. 172.

(23) Các giáo sư: Andre Bareau, W. Pachow, Hofinger, Erich Frauwallner, và Gustav Roth.

 

Tài liệu tham khảo

 

1. Luật Tứ phần, quyển 6, Tỳ-kheo Thích Đỗng Minh và Thích Đức Thắng dịch Việt, Tỳ-kheo Thích Nguyên Chứng hiệu đính và chú thích, đăng trên trang mạng Phật Việt.

2. Luật Ma-ha Tăng-kỳ, HT.Thích Phước Sơn dịch Việt, đăng trên trang mạng Quảng Đức.

3. Tiểu phẩm (Cullavagga), Tỳ khưu Indacanda Nguyệt Thiên dịch Việt, đăng trên trang mạng Budsas .

4. Dị bộ tông luân luận, HT.Thích Trí Quang dịch Việt, đăng trên trang mạng Đạo Phật Ngày nay.

5. The Great Chronicle of Sri Lanka (Mahāvaṃsa), Ananda W. P. Guruge dịch, Colombo: S. Godage & Brothers, 2006.

6. Étienne Lamotte, History of Indian Buddhism, translated from the French by Sara Webb-Boin, Louvaun-la-neuve, 1988.

7. N. Dutt, Buddhist Sects in India, Delhi: Motilal Banarsidass, 1998.

8. Studies of Buddhism, G. Prasad chủ biên, Delhi: NXB. Bharatiya Kala Prakashan, 2006.

9. J. Nattier & Charles S. Presbish, “Mahāsāṃghika Origins: the Beginning of Buddhist Sectarianism” trong Buddhism Critical Concepts in Religious Studies, tập. II, do Paul William chủ biên, London & New York: NXB. Routledge, 2005.

Thích Nguyên Lộc
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 6)
Trong các kinh điển có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng chữ Niết Bàn (Nirvana) không ngoài những nghĩa Viên tịch (hoàn toàn vắng lặng),
(Xem: 211)
Nói đến giáo dục chính là xu hướng vươn lên của con người trong lý tính duyên sinh, nhằm đạt thành chân - thiện - mỹ cho cuộc sống chung cùng
(Xem: 579)
Tinh túy của đạo Phật là: nếu có khả năng, ta nên giúp đỡ người khác; nếu không thể giúp họ, thì tối thiểu nên hạn chế việc gây hại cho họ.
(Xem: 812)
àm thế nào để các lậu hoặc đoạn tận lập tức? Nghĩa là, không cần trải qua thời gian. Cũng không cần tu Tứ niệm xứ hay Tứ thiền bát định.
(Xem: 517)
Các pháp không tự sinh Cũng không do cái khác sinh. Không do sự kết hợp cũng chẳng nhân nào sinh. Tất cả đều vô sinh.
(Xem: 829)
Tới cuối kinh này, Đức Phật dạy về pháp Niết Bàn tức khắc, ngay trong hiện tại, giải thoát ngay ở đây và bây giờ.
(Xem: 567)
Tôn giáo nào cũng có những nhà truyền giáo, phát nguyện rao giảng những điều mà họ tin là mang đến hạnh phúc cho nhân loại.
(Xem: 944)
Ấn-độ là một bán đảo lớn ở phía Nam Châu Á. Phía Đông-Nam giáp với Ấn-độ dương (Indian Ocean), phía Tây-Nam giáp với biển Á-rập ( Arabian Sea).
(Xem: 728)
Nguyên bản: The Inner Structure, Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma, Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D., Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 1034)
Thái tử Siddharta Gautama là người đầu tiên đã nghĩ rằng Ngài đã đạt được Giác ngộ. Ngài đã trở thành vị Phật lịch sử. Rồi Ngài đã đem những điều mình giác ngộgiáo hoá cho chúng sanh.
(Xem: 813)
Căn Bản Hành Thiền - Bình Anson biên dịch 2018
(Xem: 684)
Luận Duy thức tam thập tụng này được viết với mục đích khiến cho những ai có sự mê lầm ở trong nhân vô ngãpháp vô ngã mà phát sinh ...
(Xem: 554)
Ba địa mỗi địa mười, Năm phiền não, năm kiến, Năm xúc, năm căn, pháp, Sáu: sáu thân tương ưng.
(Xem: 507)
Bất cứ sắc gì thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại;thuộc nội phần hay ngoại phần, thô hay tế, hạ liệt hay thắng diệu, xa hay gần, mà dồn chung lại, tổng hợp thành một khối. Gọi chung là sắc uẩn.
(Xem: 499)
Kính lễ Nhất thiết trí, Vầng Phật nhật vô cấu, Lời sáng phá tâm ám Nơi nhân thiên, ác thú.
(Xem: 605)
Trong cách nghĩ truyền thống, Tứ Thánh đế (Cattāri Ariyasaccāni) được xem là bài pháp đầu tiên khi Đức Phật chuyển pháp luân độ năm anh em Kiều-trần-như.
(Xem: 648)
Suốt kinh Pháp hội Pháp giới Thể tánh Vô phân biệt, Bồ tát Văn-thù-sư-lợi là người thuyết pháp chính, Đức Phật chỉ ấn khả và thọ ký...
(Xem: 508)
An cư” là từ không còn xa lạ đối với tín đồ Phật giáo; tuy nó không có nghĩa “an cư lạc nghiệp” của đạo Nho, nhưng khía cạnh nào đó, “lạc nghiệp” mang nghĩa...
(Xem: 632)
Trung luận, còn gọi là Trung quán luận, bốn quyển, Bồ-tát Long Thọ trước tác kệ tụng, ngài Thanh Mục làm Thích luận, được dịch ra chữ Hán ...
(Xem: 729)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào?
(Xem: 893)
Trước tiên là về duyên khởi của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Theo truyền thuyết, Kinh này được Phật giảng vào lúc cuối đời, được kết tập trong khoảng năm 200.
(Xem: 615)
Phật và chúng sinh thật ra vẫn đồng một thể tánh chơn tâm, nhưng chư Phật đã hoàn toàn giác ngộ được thể tánh ấy.
(Xem: 1416)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(Xem: 707)
Cúng dườngnuôi dưỡng khiến Tam Bảo hằng còn ở đời. Tất cả những sự bảo bọc giúp đỡ gìn giữ để Tam Bảo thường còn đều gọi là cúng dường.
(Xem: 793)
Bốn cấp độ thiền định hay tứ thiền là bốn mức thiền khi hành giả thực hành thiền có thể đạt được.
(Xem: 881)
Một bào thai sở dĩ có mặt trên cuộc đời này ngoài yếu tố chính là do cha mẹ sinh ra, còn là kết quả của một tiến trình không đơn giản.
(Xem: 690)
Đạo Phật là nguồn sống và lẽ sống của con người, là cương lĩnh cho nhân thế. Với sứ mạng thiêng liêng cao đẹp ấy, đạo Phật không xa lìa thực thể khổ đau của con người.
(Xem: 904)
Mục đích của Đạo Phậtdiệt khổ và đem vui cho mọi loài, nhưng phải là người có trí mới biết được con đường đưa đến an lạchạnh phúc
(Xem: 738)
Người ta thường nói đạo Phật là đạo của từ bitrí tuệ. Đối với nhiều người Phật tử, từ bi là quan trọng hơn cả, và nếu khôngtừ bi thì không có đạo Phật.
(Xem: 800)
Các nhà khảo cổ đang nghiên cứu tại Nepal đã phát hiện bằng chứng về một kiến trúc tại nơi sinh ra Đức Phật có niên đại thế kỷ thứ 6 trước công nguyên.
(Xem: 869)
Theo Đức Phật, tất cả những vật hiện hữu đều biến chuyển không ngừng. Sự biến chuyển này thì vô thuỷ vô chung. Nguồn gốc của vũ trụ không do một Đấng Sáng tạo (Creator God) tạo ra.
(Xem: 913)
Đức Phật đản sanh vào năm 624 trước Công nguyên. Theo lý giải của Phật Giáo Nam Tông thì Đức Phật sanh ngày Rằm tháng Tư Âm lịch.
(Xem: 1098)
Nếu bạn say mê đọc kinh Phật, ưa thích những phân tích kỹ càng về giáo điển, muốn tìm hiểu các chuyện xảy ra thời Đức Phật đi giảng dạy nơi này và nơi kia, hiển nhiên đây là một tác giả bạn không thể bỏ qua
(Xem: 779)
Tánh Không là một trong những khái niệm quan trọng và khó thấu triệt nhất trong giáo lý Phật giáo Đại thừa.
(Xem: 1061)
Nguyên bản: Meditating while dying; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 964)
Ba Mươi Hai Cách ứng hiện của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Bởi vì Quan Thế Âm Bồ Tát đồng một Sức Từ với đức Phật Như Lai cho nên ngài ứng hiện ra 32 thân, vào các quốc độđộ thoát chúng sanh
(Xem: 807)
Thể tánh của tâm là pháp giới thể tánh, bởi vì nếu không như vậy thì tâm không bao giờ có thể hiểu biết, chứng ngộ pháp giới thể tánh.
(Xem: 731)
Trong kinh tạng Nikāya, khái niệm con đường độc nhất (ekāyana magga) là một khái niệm thu hút nhiều sự quan tâm của học giới từ phương Tây cho đến phương Đông
(Xem: 708)
Thuật ngữ pháp (dharma, có căn động tự là dhṛ có nghĩa là “duy trì, nắm giữ”; Pāli: dhamma; Tây Tạng: chos) mang nhiều ý nghĩa và ...
(Xem: 708)
Trì danh là pháp tu Tịnh Độ phổ thông nhứt hiện nay. Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, có Mười cách trì danh khác nhau
(Xem: 794)
Phật dạy tất cả pháp hữu vi đều là vô thường sanh diệt không bền vững, như vậy thìthế gian cái gì có tạo tác có biến đổi đều là vô bền chắc.
(Xem: 814)
Nguyên bản: Removing obstacles to a favorable death; Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma; Anh dịch và hiệu đính: Jeffrey Hopkins, Ph. D. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển
(Xem: 848)
Mối liên hệ giữa hình thức sớm nhất của Phật giáo và những truyền thống khác mà chúng đã phát triển về sau là một vấn đề luôn tái diễn trong lịch sử tư tưởngPhật giáo.
(Xem: 953)
Nghiệp và Luân hồi là hai ý niệm đã có trong Ấn độ giáo, được giảng giải trong các Kinh Veda và Upanishad vào khoảng 1500 năm trước CN.
(Xem: 9813)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 1351)
Mục tiêu cao cả của đạo Phật là dạy con người tu tập để thoát khổ, giác ngộgiải thoát.
(Xem: 862)
Phật giáo du nhập Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI, sau đó trải qua thời kì Nara (710~785), thời kì Heian (794~1192) cho đến thời kì Kamakura (1192~1380), trước sau khoảng 700 năm, rồi phát sinh rất nhiều tông phái.
(Xem: 828)
Tổ Quy Sơn dặn: “Nói ra lời nào phải liên hệ với kinh điển. Đàm luận gì, phải xét lại lời người xưa”.
(Xem: 743)
Nhiều học giả phân vân là làm thế nào và tại sao những nhà Đại chúng bộ (Mahāsāṅghika) đã hình thành nên khái niệm về một Đức Phật siêu việt...
(Xem: 898)
Hoa Sen Diệu Phápgiáo pháp được thuyết giảng trong Kinh Pháp Hoa. Quang Trạch giải thích Diệu Pháp là nhân của đạo Nhất Thừa, là quả của đạo Nhất Thừa.
(Xem: 750)
Con người sống qui tụ lại thành một xã hội, và phát triển tập thể này rộng lớn dần dần thành một quốc gia.
(Xem: 1928)
Trước khi xác định Phật Giáo như là một hệ thống tư tưởng triết học (Buddhism as a philosophy) hay như là một tôn giáo (Buddhism as a religion), chúng ta sẽ tìm hiểu triết học là gì ? và Phật giáo là gì ?
(Xem: 858)
Lục độ Ba-la-mật-đa/ Sáu phương pháp tu Ba-la-mật-đa (Six Paramitas) là 6 pháp tu để giải trừ các khổ ách của Đại thừa Phật giáo.
(Xem: 823)
Theo quan điểm của Đại hoàn thiện thì ánh sáng trong suốt hiển hiện một cách tự nhiên và được gọi là "hoàn-toàn-tốt"
(Xem: 1012)
Đức Phật ra đời vào năm 624 trước tây lịch tại nước Ấn Độ. Ngài thuyết pháp 49 năm. Phật giáo đã trở thành quốc giáo, vì các vua, các quan và dân chúng đa phần đều theo đạo Phật.
(Xem: 1031)
Y Kinh Kinh Cang Bát Nhã Ba La Mật: Đức Thế Tôn Như Lai hỏi ngài Tu Bồ Đề: Như Lainhục nhãn không? Ngài Tu Bồ Đề thưa:
(Xem: 2012)
Cuốn sách “Luân Hồi trong Lăng Kính Lăng Nghiêm” được ra mắt cách đây 9 năm (2008), in lần thứ hai, ba và tư vào năm 2012, 2014 & 2016 tại Nhà xuất bản Phương Đông, và năm nay (2018) cũng tại NXB Hồng Đức
(Xem: 1410)
điều chắc chắn là làm người, ai cũng có ý thức về tội lỗi. Điều này là không đúng, điều này là không tốt, điều này là không đẹp.
(Xem: 989)
Tựa đề của khảo luận này phát xuất từ tồn nghi của một pháp hữu trong khi dịch lại bản kinh Tập (Sutta Nipāta) ở văn hệ Nikāya.
(Xem: 1493)
Khái niệm ‘nghiệp’, thật ra, đã có mặt trong văn học Bà-la-môn giáo từ rất lâu trước khi Đức Phật xuất hiện ở đời.
Quảng Cáo Bảo Trợ