Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
View Counts
15,835,851
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250Logo-Hanh-Huong-AD-2019-tron-250

Phật Ở Trong Tâm Hay Phật Ở Ngoài Tâm

12 Tháng Chín 201300:00(Xem: 6810)
Phật Ở Trong Tâm Hay Phật Ở Ngoài Tâm

Phật Ở Trong Tâm Hay Phật Ở Ngoài Tâm

Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng

phat_va_hoa__10_

Phật! Phật! Phật! Tâm! Tâm! Tâm
Thức! Thức! Thức! Tỉnh! Tỉnh! Tỉnh

Ðó là hai câu thơ của ngài Thượng Sỹ Tuệ Trung, một vị công hầu đời Trần, đã từng cầm quân chống giặc Nguyên, sau bỏ đi tu Phật để suy ngẫm về cái hiện tượng của Tâm và cái lẽ của Thiền.

Hai câu thơ đó có ý nói rằng nền giáo lý của Phật, tuy mênh mang như biển cả, xong có thể thu gọn trong hai chữ Tâm và Phật, hoặc Mê và Ngộ.

Hãy nói về cái Tâm.

Một lần, trên núi Linh Sơn, Ðức Thích Ca ngự trên tòa sen, sắp thuyết pháp. Nhưng Ngài không nói gì cả, chỉ khoan thai đưa một cành hoa, rồi lặng lẽ mỉm cười. Ðó là tịch niện hoa vi tiếu, độc đáo lối thuyết pháp Phật giáo. Ý Ngài muốn nói như thế này: "Ta có một chân lý tối thượng, đó là chân lý của cái Tâm, nhưng cái Tâm này nó lặng lẽ lắm, nó nhỏ nhiệm, tịch mịch, vi diệu lắm. Ta không thể dùng lời lẽ thế giandiễn tả nó được. Vì nếu ta chỉ động một niệm, chỉ nói một chữ, là Tâm đó đã biến thế rồi. Vậy các người phải lặng lẽ, nhỏ nhiệm, tịch mịch, vi diệulãnh hội nó. Nhớ đấy! Nhớ đấy! ..." Nhưng các đệ tử đều ngơ ngác không hiểu, riêng có ngài Ca Diếpmỉm cười đáp lại mà thôi. Do đó, Ngài đã truyền tâm ấn cho Ca Diếp, cùng y bát để làm đệ nhị tổ của Thiền Tông. Trong giòng này, Ðức Ðạt ma là tổ thứ 28.

Một lần khác, Ðức Thích Ca xuất định, giảng về kinh Lăng Nghiêm. Cũng là giảng về Tâm. Nhưng lần này, Ngài bảo ông A Nan đại khái như sau: "Người nên thận trọng, chớ có vọng tưởng. Cái Tâm ấy nó lạ và huyền nhiệm lắm vì nó là nguồn gốc của tất cả phép lạ đã tạo nên vũ trụ này. Nó như cái gương trong đó, vũ trụ này hiện lên như một cảnh huyễn, như một giấc chiêm bao, như tiếng vang, như mặt trăng dưới đáy nước, như bóng chiếc nhạn in dưới hồ thu, như ảo ảnh nước mà kẻ lữ hành nhìn thâý trên sa mạc, như những đóm đỏ vàng mà kẻ dặm mắt nhìn thấy ở hư không. Hãy thức tỉnh! thức tỉnh! Cái tâm ấy hiển hiện dễ dàng lắm, nhưng nó khó nắm, khó bắt lắm! Nó không ở trong thân người, nó không ở ngoài thân người, nó cũng không ở khoảng giữa. Nó không ở chỗ nào hết, nhưng nó ở tất cả. Nó trụ vào cái gì, thì cái đó trở nên có, nó buông cái đó ra thì nó trở nên không. Nó là anh thợ vẽ, và chính nó vẽ vời nên cảnh thế gian này cùng tâm giới. Nó động một niệm là nó nguệch một nét, nét đó biến thành thức, thức đó động lại trên giòng tâm tư của chúng sinh để trở nên cảnh giới của vũ trụ thế gian.... Nhưng nếu người tỉnh cơn mê, dẹp bỏ lục tặclục căn, thì cái thức đó sẽ hồi đầu, rút khỏi các căn và trở về và ngươi sẽ nắm được cái Tâm."

Sau này, Ðức Huệ Năng gọi Tâm đó là bản lai diện mục.

Cũng trong kinh Lăng Nghiêm, Ðức Phật còn dạy: Cái Tâm ấy, bổn tính nó vốn trong sáng. Vì thế, các ngươi mới có "cái thấy". Cái thấy này là nồng cốt của lục căn, nhưng nó không phải là lục cănLục căn có thể bị tiêu hoại, nhưng nó không tiêu hoại. Nó không gián đoạn, nó bất diệt, và chính nó đã triển chuyển theo lẽ nhân quả, trong cái vòng luân hồi qua các kiếp.

Ðọc Tây Du Ký, thì ta thấy Tề Thiên Ðại Thánh là cái Tâm. Nó ngang ngược, thay đổi không ngừng, nhưng quyền năng của nó cũng vô cùng. Nó có thể phá cửa nhà trời, cũng như có thể hồi đầu khi bị giam bởi thần lực của câu chú: Ôm Ma Ni Pát Mê Hồng. Nó muốn lớn là được lớn, muốn nhanh được nhanh, muốn chậm có chậm. Có thể biến hoá cây thiết bổng, có thể bước một bước càn đẩu vân vượt qua 84 ngàn dặm, hoặc muốn bay như con ruồi cũng được. Muốn có một thân cũng được, hoặc phân thân làm trăm ngàn cũng có... Và Ngài Huyền Trang đã phải nương vào cái tâm đó, mới đi tới Tây Trúc cầu một cuốn kinh vô tự.

Bây giờ nói đến Phật

Ðức Bồ Ðề Ðạt Ma, chống cây gậy trúc sang Trung Hoa ngồi quay mặt 9 năm vào vách đá, nhắm đôi mắt biếc lại. Vua Lương Võ Ðế hỏi: Trẫm xây hàng trăm ngôi chùa, nuôi hàng vạn chư Tăng, có công đức gì không? Ðức Ðạt ma bảo, có chút ít, nhưng không ăn thua gì... Sở dĩ Ngài nói thế vì muốn bảo vua rằng cần nhất là phải soi vào Tâm, để trở thành Phật.... Trong một buổi thuyết pháp, Ngài lại bảo: Phật và Bồ Tát cũng đều là huyễn cả, còn là mê. Hỡi ôi, tất cả đều là mê cả!!!

Trong Bổn Kinh A Di Ðà, thì Ðức Thích Ca lại căn dặn: "Về phía Tây, có lạc quốc của Ðức A Di Ðà, bên cạnh có Ðức Quán Âm và Ðại Thế Chí. Ðức Phật ấy có thực đấy và nguyện lực của Ngài lớn lắm. Các người nên cầu nguyện mà sang đó."

Tại sao lại có sự mâu thuẫn như vậy, một đằng bảo Phật là rất có thực, một đằng nói là huyễn?

Thực ra không có gì mâu thuẫn. Chỉ là do mê và ngộ mà thôi.

Chư Phật vừa là huyễn vừa là thực. Khi tâm chúng ta còn mê mờ, chúng sinh coi thân và tâm là thực, thì chư Phật đối với chúng sinh vẫn là thực và có thể dùng tha lực cứu độ. Nhưng khi tâm chúng sinh đã ngộ rồi, thì chúng sinh cũng trở thành huyễn, và chư Phật, vốn là những hình bóng, cũng trở thành huyễn. Vì cái Tâm ngộ đã vượt qua được lãnh vực đối đãi (dualistic) và đạt tới trực quan bất nhị. (phi hữu phi không)

Bởi thế, khi một người niệm Phật, và nuôi một ông Phật trong tâm, thì lúc đầu chỉ có một ông Phật trong tâm thôi. Niệm lâu sẽ gây một luồng cảm ứng làm động tâm Ðức Phật ở bên ngoài, tức Ðức A Di Ðà ở Tây Phương. Ðức A Di Ðà liền làm mọc sẵn một chiếc hoa sen nơi lạc quốc để chờ người niệm Phật. Niệm lâu hơn nữa, thì Ðức A Di Ðà sẽ đến trước mặt người đó. Như thế, là có hai vị Phật, một ở ngoài và một ở trong tâm. Niệm đến chỗ rốt ráo và tâm bất loạn, thì Ðức A Di Ðà sẽ lọt vào tâm người đó, và trở thành một, và Phật thực cũng trở nên huyễn.

Cho nên, không thể nói Phật ở ngoài tâm hay trong tâm được. Nói ở ngoài là nói thấp, nói ở trong là cao hơn một chút. Ðến chỗ rốt ráo, thì Phật là tâm và tâm là Phật. Cả hai vừa là thực vừa là huyễn. Vả lại, Tâm ở tất cả mọi chỗ, nên không có trong hay ngoài.

Có mấy chú học sinh Thiền học ngồi cãi nhau, chỉ một tảng đá trước mặt, và tranh luận hăng hái. Kẻ thì bảio tảng đá ở ngoài tâm, một anh khác hùng biện hơn nói là ở trong tâm, và có vẻ thắng lý. Chợt ông thầy đi qua, cười bảo anh này: Ðá ở trong tâm mày, chắc đầu mày phải nặng, và nhức đầu lắm!....

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 15)
Trong nhà thiền luôn nhắc mọi người, phải sống trở về với cái thực tại đang hiện hữu sáng ngời, đó là thiền chân thật.
(Xem: 38)
Theo nhận thức của số đông, bậc đạo sư phải là vị niên cao lạp trưởng, thâm niên tu hành. Trong khi Thế Tôn chứng đạo và hành đạo khi tuổi đời chỉ dưới bốn mươi đã gây ra dị nghị, phân vân cho không ít người.
(Xem: 112)
Có năm phương cách để đối trị sân hận. Chúng giúp xóa tận gốc rễ của sân hận. Đó là gì? Nếu sân nổi lên, cần làm như sau: vun trồng tâm từ, vun trồng tâm bi, vun trồng tâm xả…
(Xem: 109)
Điểm khởi đầu của hành trì Phật pháp là tĩnh tâm và giữ chánh niệm, nghĩa là luôn luôn ghi nhớ việc ý thức về cách mình đang hành động và nói năng với người khác,
(Xem: 365)
Tôn giáo xưa cổ phương Đông này đang giúp nhiều người phương Tây các nan đề tâm bệnh hiện đại. Tác giả: Olga Khazan. Dịch giả: Nguyên Giác
(Xem: 174)
Đức Phật có lần nhắc nhở các thầy rằng, những điều chúng ta cần hiểu và hành, thật ra chúng rất đơn giản và không nhiều, chỉ chừng như những lá cây trong một nắm tay nhỏ thôi.
(Xem: 152)
Thiền vẫn được coi là dành cho hàng có căn cơ bậc trung và thượng. Vì điều động tâm vọng động không phải là việc dễ dàng.
(Xem: 202)
Hoàng hôn. Rồi lại bình minh. Rồi lại một chiều vạt nắng kéo về phương tây. Chim bay mỏi cánh không đuổi kịp mặt trời. Góc trời sẫm tím như hối hả chìm sâu về phía trước.
(Xem: 392)
Nếu có chùa, và có cả đạo tràng… sẽ là tuyệt vời. Thực tế xây chùa dễ, xây dựng đạo tràng mới khó.
(Xem: 133)
Giáo sư, chuyên gia Phật học Rhys Davids cho rằng đạo Phật sở hữu hai lý tưởng lớn có thể được vận dụng để làm lợi lạc cho cuộc đời.
(Xem: 263)
Tạp Chí Hoa Đàm Số 5, với chủ đề “Phật Giáo với Dân Tộc”; “Thiền Trong Hành Động,” do Đạo Sinh dịch Việt; “Những Bước Thăng Trầm” do Phạm Kim Khánh dịch Việt; và “Bóng Bay Gió Ơi” của nhà văn Nguyễn Thị Khánh Minh
(Xem: 187)
Nói theo nhận thức kinh Phật, trần thế này không hẳn hoàn toàn là bể khổ, như người ta thường ví von: “biển khổ mênh mông sóng ngập trời”,
(Xem: 194)
Thiền duyệt có nghĩa là niềm vui trong thiền tập. Khi mới bắt đầu tập thiền, tôi tưởng muốn an tâm và phát triển định lực ta cần phải cố gắngvất vả ghê gớm lắm.
(Xem: 188)
Theo một số trường phái Phật giáo, Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni lần đầu tiên Giác NgộẤn Độ vào thế kỷ thứ 6 trước Dương Lịch, qua sự thực hành con đường tu tập.
(Xem: 231)
Hiện tại có tính bình đẳng cho tất cả mọi người. Dầu ở bất cứ nơi nào trên trái đất, dầu tôi và anh ở múi giờ khác nhau, người ta vẫn chung nhau một hiện tại, ai cũng nói lúc này là bây giờ.
(Xem: 699)
Con ngườimột phần nhỏ của một tổng thể, mà chúng ta gọi là “Vũ Trụ,” phần này bị hạn chế trong thời giankhông gian.
(Xem: 595)
Thế gian có hai sở y, hoặc có hoặc không, bị xúc chạm bởi thủ. Do bị xúc chạm bởi thủ nên hoặc y có hoặc y không.
(Xem: 718)
Trung tuần tháng 12 năm 2018, tôi đọc trên báo, thấy lá thư của Ông Einstein được bán đấu giá với số tiền khủng 2,892,500 dollars
(Xem: 553)
Bút hiệu Mộc Đạc nghe lạ, nhưng hiển nhiên là không dính gi tới chuyện thơ dài hay ngắn, hay hay dở, vui hay buồn, thế sự thực tế hay khoa học viễn tưởng
(Xem: 535)
Muốn tìm được con đường thì cần phải đọc chi tiết toàn bản văn, suy nghiệm những lý lẽ mới thấy được tư tưởng của cổ đức phát tiết ra ngoài hiện thực thiên nhiên
(Xem: 477)
Trời có lúc nắng lúc mưa, người có lúc may mắn hoặc xui xẻo. Nhưng không có cái gì tự dưng sinh ra hay mất đi, tất cả đều có lý do của do của nó.
(Xem: 483)
Nhà sư Phật giáo sống như thế nào sau cánh cửa thiền? Đây là điều mà người bình thường cả Đông lẫn Tây đều khó có điều kiện được biết.
(Xem: 436)
Sự sống vẫn luôn tiếp diễn trong từng khoảnh khắc, bốn mùa thay lá, xuân đến xuân đi, mỗi phút giây đều tuần hoàn vô tận.
(Xem: 379)
Tất cả các tôn giáo ra đời điều vì mục đích phục vụ đời sống tâm linh, tính ngưỡng cho con người.
(Xem: 382)
Bài viết này trước hết sẽ giải thích sự nối kết mật thiết giữa lòng vị thahạnh phúc và sau đó xem xét chứng cứ khoa học mà nó chỉ ra sự tương thuộc giữa hai khía cạnh quan trọng này trong xã hội loài người.
(Xem: 365)
Đầu năm mới, người thế gian mừng tuổi nhau với mong ước gặp điều tốt đẹp may mắn, làm ăn phát tài thăng tiến.
(Xem: 1338)
Nhà sư Nhật bản Kenjitsu Nakagaki đang tìm cách thuyết phục người Tây Phương về ý nghĩa của chữ Vạn (Swastica) mà người Nhật gọi là manji.
(Xem: 481)
Johann Wolfgang von Goethe (1749-1832) là một văn sĩ, thi sĩ, kịch tác gia, khoa học gia, triết gia, chính tri gia, nói chung là một nhà thông thái lừng danh nhất của nước Đức
(Xem: 359)
Xuân đến Xuân đi nghi Xuân hết Hoa tàn hoa nở chỉ là Xuân. Xuân lai Xuân khứ nghi Xuân tận Hoa lạc hoa khai chỉ thị Xuân.
(Xem: 385)
Khi con người lạc hậu còn đi bộ. Rồi lần lần biết cưỡi ngựa, cưỡi trâu. Rồi lần hồi thông minh tìm ra hơi nước, Rồi máy bay, xe lửa, xe hơi.
(Xem: 463)
Essence of the Heart Sutra: The Dalai Lama’s Heart of Wisdom Teachings” (Tinh Yếu Tâm Kinh: Cốt Lõi Lời Đức Đạt Lai Lạt Ma Dạy Về Trí Tuệ) – tác giả ghi là Tenzin Gyatso The Fourteenth Dalai Lama.
(Xem: 457)
Nhân gian thường không hiểu trong Duyên có Nợ và trong Nợ có Duyên cho nên đã tách biệt Duyên và Nợ.
(Xem: 436)
Tứ nhiếp pháp là bốn phương pháp Bồ-tát dùng để nhiếp hóa chúng sinh, khiến họ khởi tâm cảm mến, rồi dẫn dắt họ vào Phật đạo,
(Xem: 786)
Câu thần chú lạc đề, lạc quẻ “Án ma hôm, bát mê khuya“ của bà lão thành tâm cũng có đủ thần lực sai khiến những hạt đậu nhảy từ bên này sang bên kia
(Xem: 553)
Như quý vị biết hạnh phúc được cảm nhận qua nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau, nhưng chung quy lại, hạnh phúc được cảm nhận ...
(Xem: 644)
Mù tỏa Lô sơn sóng Triết giang, Khi chưa đến đó hận muôn vàn. Đến rồi về lại không gì lạ, Mù tỏa Lô sơn sóng Triết giang.
(Xem: 669)
Mười câu chuyện sức mạnh của chân thật và nguyện cầu chân lý - Trích từ Tiểu Bộ Kinh Nikàya, Tâm Tịnh cẩn tập
(Xem: 574)
Những lúc như thế, hình ảnh khoảng sân cát trắng và lũ nhỏ ê a hiện lên trước mắt tôi lãng đãng y hệt như từ một giấc mơ nhiều ngàn đêm trước.
(Xem: 471)
Trong lời dạy của đức Phật, đất luôn là ẩn dụ quan trọng để Ngài sử dụng trong việc dạy dỗ hàng đệ tử học theo hạnh của đất.
(Xem: 468)
Đã có không ít những bài nghiên cứu về sự tương đồng giữa Duy thức học của Thế Thân và Phân tâm học của Sigmund Freud.
(Xem: 725)
Cư sĩ Nguyên Giác vừa cho xuất bản cuốn Kinh Nhật Tụng Sơ Thời mà theo sự nghiên cứu của các học giả đây là những lời dạy (kinh) cổ xưa nhất của Đức Phật
(Xem: 533)
Lòng từ bi trong Đạo Phật được định nghĩa như nguyện ước tất cả mọi chúng sanh được thoát khỏi khổ đau.
(Xem: 542)
Thời gian trôi qua thật nhanh, mới đó mà đã hết một năm. Tự hỏi, một năm trôi qua chúng ta đã làm được những gì?
(Xem: 673)
Cuối năm 1978, sau khi thành lập Hội Sinh Viên và Kiều Bào Phật tử Việt Nam tỵ nạn tại Đức, chúng tôi xúc tiến ngay việc viết báo để đi in bằng lối Photocopy.
(Xem: 623)
Ngày nay Phật Giáo đã đi vào sinh hoạt thường nhật của người dân Mỹ một cách sâu rộng, từ những giờ phút thực hành Thiền trong quân đội, sở cứu hỏa, ty cảnh sát, trường học và công tư sở đến phương thức trị liệu tâm lý trong y học.
(Xem: 690)
Đôi khi trong đời người ta, viết văn chỉ vì nhu cầu thôi thúc chứ thực ra nhà văn chưa chắc đã nắm vững một số kỹ thuật hoặc nguyên tắc viết văn. Ngay chính bản thân tôi cũng rơi vào trường hợp như vậy.
(Xem: 515)
Ca ngợi Ấn Độủng hộ việc ăn chay, nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng nói hôm thứ Sáu (14-12) rằng tất cả chúng sinh phải được tôn trọng.
(Xem: 507)
Khi chúng ta lần đầu tiên tiếp cận những giáo lý của Đức Phật, chúng ta phải bắt đầu ngay từ đầu, tức là các thực hành sơ khởi (Ngondro).
(Xem: 722)
Với khám phá rất quan trọng, Einstein nhận thấy rằng hai sự vật không có thể được quan niệm như là riêng biệt. Nhị nguyên không phải là nhị nguyên mà là hai diện mục của một bản lai tương tự như hai mặt của một đồng tìền.
(Xem: 809)
Việc sám hối đúng pháp như trong bài Kinh Tàm và Quý Đức Phật đã dạy rất rõ. ... ý nghĩa Tàm Quý là thấy rõ lỗi lầm, xấu hổ ăn năn quay đầu sám hối và nguyện từ bỏ việc xấu ác không bao giờ tái phạm vào nữa.
Quảng Cáo Bảo Trợ