Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
19,623,093

Quyển 8

Tuesday, November 12, 201300:00(View: 7377)
Quyển 8


THIỆN ÁC NGHIỆP BÁO

(CHƯ KINH YẾU TẬP)

No. 2123

thien_ac_nghiep_bao_0


QUYỂN 8

XIII. BÁO ÂN

Gồm bốn phần: Dẫn nhập, Báo ân, Vong ân, Kệ tụng kết khuyến.

XIII.1. Lời dẫn

[67c] Tam bảo có ân rất lớn đối với chúng sinh. Đức Phật là bậc cha lành của bốn loại, giáo hóa rộng khắp mười phương, bình đẳng xem tất cả như con một. Người căn cơ dù kém đến đâu cũng được thấm nhuần; kẻ trí thông lợi cỡ nào vẫn mong dạy dỗ. Vì thế, vua Ưu-điềm tạc tượng chiên-đàn, tượng phóng quang rực rỡ; vua Ba-tư-nặc đúc tượng bằng vàng, tượng rời tòa đi đến đỉnh lễ Phật.

Từ đó về sau, điềm lành nhiều lần ứng hiện, tiếng tốt đồn xa, người người qui hướng. Niệm Phật thì tội diệt phúc sinh; kính Phật thì tâm lành nhiều đời chẳng mất. Nhân vì, Như Lai nuôi dưỡng pháp thân của ta; cha mẹ nuôi nấng nhục thân của ta, ân đức ấy đã sâu, lại cao vời khó báo. Như vậy người trái nghịch với ân nặng, lẽ nào chẳng mãi chìm nổi trong bể khổ?

Thế nên, vợ ngầm bỏ thuốc độc hại chồng mà chồng nhờ đó được vua ban thưởng. Tiều phu phản bội hại gấu liền bị hiện báo rụng tay. Vì vậy, luận Trí độ nói: “Biết ơn là gốc của đại bi, là cửa ngõ đầu tiên để mở ra nghiệp lành, được người kính mến, tiếng tăm vang xa, chết được sinh lên cõi trời, rốt sau thành quả Phật. Người không biết ơn còn tệ hơn cả súc sinh”

XIII.2. Báo ân

Kinh Chính pháp niệm ghi: “Có bốn ân khó báo đáp: một là ân mẹ; hai là ân cha; ba là ân Như Lai; bốn là ân sư trưởng. Nếu có người nào cúng dường bốn hạng người trên thì phúc báo vô lượng, đời này được mọi người khen ngợi, về sau sẽ thành Phật”.

Kinh Đại bát-nhã ghi: “Nếu có người hỏi:

- Ai là người biết ân và báo ân?

Nên đáp ngay rằng:

- Phật là người biết ơnbáo ân.

Vì sao? Vì trong thế gian không ai biết ân và báo ân bằng Phật”.

Kinh Tăng nhất a-hàm ghi: “Bấy giờ, Đức Phật bảo các tì-kheo:

- Nếu có chúng sinh biết ân và báo ân thì dù ân nhỏ còn không quên huống gì ân lớn. [68a] Người ấy thật đáng kính. Hạng người như thế dẫu có cách Ta trăm nghìn do-tuần cũng như ở gần bên Ta, Ta thường khen ngợi. Nếu có chúng sinh không biết ân và báo ân thì ân lớn còn không nhớ huống gì ân nhỏ. Người ấy không thể gần Ta, Ta cũng không gần người ấy. Dẫu người ấy có đắp tăng-già-lê ở bên Ta, nhưng vẫn cách xa Ta. Thế nên, tì-kheo phải biết ân và báo ân, chớ học theo thói bội bạc”.

Kinh Xá-lợi-phất vấn ghi: “Đức Phật dạy:

- Đệ tử Phật tùy theo sức mình mà thực hiện việc báo ân không kể nhiều ít.

Văn-thù-sư-lợi bạch Phật:

- Vì sao Như Lai nói ân cha mẹ không thể không báo đáp, lại nói ân sư trưởng không thể tính lường, vậy ân nào lớn nhất?

Đức Phật dạy:

- Người tại gia phải thường ở bên cạnh hiếu dưỡng cha mẹ, chớ cho rằng ân sinh trưởng bằng ân thầy thế tục. Vì ân sinh dưỡng sâu nặng nên nói là lớn. Nếu theo thầy học thế gian, mở mang kiến thức thì đó là ân lớn thứ hai. Người xuất gia lìa bỏ nhà sinh tử của cha mẹ vào nhà Phật pháp, thụ nhận được giáo pháp vi diệu là nhờ công sức của thầy. Thầy chính là người nuôi lớn pháp thân của ta; đem tài sản công đức vun bồi tuệ mệnh của ta, nên ân ấy to lớn vô cùng, hơn cả ân sinh dưỡng”.

Kinh Trung ấm ghi: “Phật hỏi ngài Di-lặc:

- Ở châu Diêm-phù-đề[13] từ khi đứa bé sinh ra cho đến ba tuổi, người mẹ ẵm bồng cho bú hết bao nhiêu sữa?

Ngài Di-lặc đáp:

- Người châu Diêm-phù-đề bú hết một trăm tám mươi hộc sữa và khi còn trong bụng mẹ lấy hết bốn phần thức ăn của mẹ. Người châu Đông Phất-vu-đãi[14] từ khi sinh ra cho đến ba tuổi bú hết một nghìn tám trăm hộc sữa. Người châu Tây Câu-na-ni[15] từ khi sinh ra cho đến ba tuổi bú hết tám trăm tám hộc sữa. Vì ở châu Bắc Uất-đơn-việt[16] không có sữa, nên đứa bé châu này khi sinh ra được đặt ở đầu đường, người đi ngang cho mút ngón tay, trải qua bảy ngày thì đã lớn khôn.

Thân trung ấm của bốn châu đều hưởng thụ mùi trong gió mà sống”.

Kinh Nan báo nói: “Nếu có người vai trái cõng cha, vai phải mang mẹ, suốt cả nghìn năm, mặc cho cha mẹ tiểu tiện trên lưng, vẫn chưa đền hết công ơn cha mẹ”.

Kinh Tăng nhất a-hàm nói: “Công đức của người hiếu thuận, nuôi dưỡng cha mẹ sánh bằng công đức của vị bồ-tát Nhất Sinh Bổ Xứ”.

Lục độ tập kinh chép: “Xưa, bồ-tát là một người giàu có, của cải vô lượng, thường cung phụng tam bảo và có lòng thương xót chúng sinh.

Một hôm đi qua chợ, bồ-tát thấy một con ba ba bị bắt đem bán, động lòng trắc ẩn, bồ-tát bèn hỏi mua. Người bán ba ba biết bồ-tát có lòng từ bi nên nói thách:

- Giá một trăm vạn tiền.

Bồ-tát nói:

- Được, tôi mua.

Thế rồi, bồ-tát đem ba ba về nhà, thả xuống dòng sông. Nhìn nó bơi đi mà lòng bồ-tát vô cùng vui vẻ, phát thệ nguyện: ‘Mong cho những chúng sinh gặp nạn được an toàn như ngươi hôm nay’.

Phát nguyện lớn ấy xong, ngài được các Đức Phật khen ngợi.

Vào nửa đêm hôm sau, ba ba đến gặm vào cánh cửa nhà bồ-tát. Nghe tiếng lạ, bồ-tát bèn mở cửa ra xem thì thấy ba ba. Ba ba nói với bồ-tát:

- Tôi mang ơn của ngài nên được bảo toàn thân mạng mà nay không biết lấy gì để đền đáp. Là loài ở dưới nước, tôi biết được sự lên xuống của nước. Nạn hồng thủy sắp xảy ra, nó sẽ gây thiệt hại rất lớn. Mong ngài mau chuẩn bị thuyền, đến lúc ấy tôi sẽ đến đón.

[68b] Bồ-tát nói:

- Tốt lắm!

Sáng hôm sau, bồ-tát vào cung trình bày hết sự việc cho vua nghe. Vua cho rằng bồ-tát trước đây vốn nổi tiếng là người tốt nên tin lời bồ-tát. Liền đó, vua ra lệnh cho di dời từ chỗ thấp đến chỗ cao.

Nước dâng cao, ba ba bơi đến, nói với bồ-tát:

- Ngài hãy mau lên thuyền đi theo tôi sẽ được an toàn. Thuyền của bồ-tát liền theo sau ba ba.

Đi được một đoạn, thấy có con rắn bơi đến thuyền, bồ-tát nói:

- Hãy cứu con rắn.

Ba ba đáp:

- Vâng.

Đi thêm một đoạn, lại gặp một con cáo đang bị nước cuốn trôi, bồ-tát nói:

- Hãy cứu con cáo.

Ba ba cũng đáp:

- Vâng!

Tiến đến đoạn nữa lại gặp một người bị nước cuốn trôi, mặt mày tái nhợt, ngửa mặt lên trời luôn gọi cứu mạng.

Bồ-tát nói:

- Hãy vớt người ấy lên.

Ba ba trả lời:

- Đừng vớt! Người phàm tâm dối trá, ít giữ chữ tín, ưa chạy theo quyền thế, vong ân bội nghĩa, làm chuyện phản nghịch.

Bồ-tát nói:

- Loài vật ta còn cứu vớt, huống hồ là con người mà ta khinh rẻ thì sao gọi là nhân từ? Ta không thể nhẫn tâm!

Thế rồi, bồ-tát vớt người ấy lên. Ba ba nói:

- Rồi ngài sẽ hối hận!

Thuyền của bồ-tát đã đến được một nước an toàn. Ba ba bèn từ biệt và nói với bồ-tát:

- Ân nghĩa đã đền xong, tôi xin từ biệt.

Bồ-tát nói:

- Khi thành tựu được Như Lai, Vô Sở Trước, Chí Chân, Đẳng Chính Giác, ta sẽ độ ngươi.

Ba ba đáp:

- Vâng!

Ba ba đã cáo biệt, rắn và cáo cũng tạ từ, mỗi con đi mỗi đường.

Cáo đào một cái hang để ở, chợt nó phát hiện có một trăm cân vàng ròng của người xưa chôn cất. Nó vui vẻ nói:

- Ta sẽ lấy số vàng này dâng cho bồ-tát để đền ơn.

Nói rồi, cáo đi đến chỗ bồ-tát thưa:

- Tôi mang ơn ngài cứu giúp mà được bảo toàn thân mạng. Khi tôi đào hang để ở gặp được một trăm cân vàng. Hang này không phải gò mã, không phải là nhà. Cho nên số vàng này chẳng phải ăn trộm, cũng chẳng phải cướp giựt. Tôi xin thật lòng mang đến dâng lên hiền giả.

Bồ-tát suy nghĩ: ‘Ta không nhận thì cũng vất bỏ một cách vô ích, chi bằng tạm nhận rồi đem chia cho những người nghèo, cứu giúp họ, chẳng phải tốt lắm sao!’.

Ngài bèn nhận lấy số vàng ấy. Người được bồ-tát cứu thấy thế nói:

- Hãy chia cho tôi một nửa.

Bồ-tát bèn lấy mười cân vàng chia cho người ấy. Ông ta lại nói:

- Ngài đào mồ để ăn cắp vàng, tội này phải chết, vì sao không chia cho tôi một nửa? Tôi sẽ báo quan!

Bồ-tát nói:

- Ta muốn chia đều số vàng này cho những người nghèo khổ, ngươi muốn giành về cho mình, chẳng phải không công bằng sao?

Người kia đi báo quan. Bồ-tát bị bắt, ngài không biện bạch, chỉ hướng về tam bảo sám hối lỗi lầm của mình, ăn năn tự trách. Với lòng từ bi ngài nguyện: ‘Mong cho chúng sinh sớm lìa được tám nạn, không bị oán kết như tôi ngày nay’.

Rắn và cáo họp lại bàn:

- Làm thế nào để giải quyết việc này?

Rắn nói:

- Tôi sẽ đi cứu bồ-tát.

[68c] Nói rồi, nó liền ngậm một viên thuốc quý bò vào ngục, thấy bồ-tát thân thể tiều tụy, trong lòng đau xót, liền nói với bồ-tát:

- Nay tôi trao viên thuốc này, ngài hãy mang nó bên mình. Tôi tìm cách cắn vào ngón tay thái tử, chất độc của tôi là cực độc, không ai có thể giải được. Lúc đó, ngài trình lên vua và lấy viên thuốc này xin giải độc cho thái tử thì độc liền được giải và ngài nhờ đó được thoát nạn.

Bồ-tát im lặng làm theo lời của rắn.

Lúc bấy giờ, mạng sống của thái tử đang lâm vào tình huống nguy kịch, vua bèn ra lệnh:

- Nếu có ai trị được chất độc cho thái tử, ta sẽ phong làm thừa tướng và cùng ta cai trị đất nước.

Bồ-tát xin vua được trị độc cho thái tử, thái tử liền hoàn toàn bình phục. Vua rất vui mừng, hỏi duyên cớ. Bồ-tát kể hết sự việc cho vua nghe. Vua buồn bã tự trách:

- Ta thật ngu muội.

Sau đó, vua lệnh bắt người kia chém đầu, rồi ra lệnh ân xá cho tội nhân trong cả nước. Đúng như lời hứa, vua phong bồ-tát làm tướng quốc, cầm tay bồ-tát dắt vào cung, đàm luận Phật pháp. Từ đó, đất nước hưởng cảnh thái bình thịnh trị.

Đức Phật bảo các tì-kheo:

- Người giàu có lúc ấy nay là Ta. Vị vua của đất nước ấy là Di-lặc; ba ba là A-nan; cáo là Xá-lợi-phất; rắn chính là Mục-kiền-liên; người sắp chết đuối ấy là Đề-bà-đạt-đa.

Bồ-tát từ bi, trí tuệ thực hành bố thí ba-la-mật như thế”.

Luận Tân tì-bà-sa ghi: “Thuở xưa thời vua Ba-nị-sắc-ca nước Kiền-đà-la, có một hoàng môn[17] giám sát các việc trong nội cung. Một hôm, ông ra ngoại thành thấy bầy bò năm trăm con đang được đưa vào nội thành. Ông ta đến hỏi người lùa bò:

- Đây là loại bò gì?

- Đây là những con bò đang đưa đi thiến. Người lùa bò trả lời.

Người hoàng môn suy nghĩ: ‘Ta đời trước gây nghiệp ác, đời này mang thân hoàng môn. Nay ta nên xuất tiền cứu đàn bò gặp nạn này’.

Nghĩ rồi, ông đến hỏi giá của cả đàn bò và bỏ tiền cứu thoát chúng. Nhờ năng lực nghiệp thiện vừa làm, ngay đó ông trở lại thành người đàn ông hoàn thiện. Lòng vô cùng sung sướng, ông bèn trở về hoàng cung, đứng ngoài cửa hồi lâu rồi nhờ sứ vào thưa xin được gặp vua. Vua lấy làm lạ cho gọi ông vào và hỏi nguyên do. Vị hoàng môn kể lại đầu đuôi sự việc. Vua nghe kinh ngạc, vui mừng, ban tặng nhiều châu báu và cho ông làm quan lớn coi việc bên ngoài”.

XIII.3. Vong ân

Kinh Bách dụ ghi: “Thuở xưa, có một người phụ nữ hoang dâm vô độ, tính dục lẫy lừng, ghen ghét chồng mình. Bà thường nghĩ phương cách để làm hại chồng, tuy đã lập ra nhiều mưu kế nhưng không thành. Một hôm, bà biết chồng sẽ làm sứ giả đến nước láng giềng, nên đã âm thầm tính kế làm viên thuốc độc để hại. Bà nói dối chồng:

- Nay chàng làm sứ giả đi xa, sợ gặp phải khó khăn thiếu thốn, nên thiếp đã chuẩn bị năm trăm hoan hỷ hoàn[18] dùng làm lương thực để chàng mang theo. Khi chàng ra khỏi nước đến lãnh thổ của người, lúc đói thì có thể lấy lương thực ra dùng.

Tin theo lời vợ, người chồng khi vào đến địa phận nước khác, định dùng bữa, nhưng chưa kịp ăn thì trời đã sập tối nên phải dừng nghỉ qua đêm trong rừng. [69a] Vì sợ thú dữ, ông leo lên cây, bỏ quên hoan hỷ hoàn dưới gốc. Ngay đêm đó, có năm trăm tên giặc cướp được năm trăm con ngựa và báu vật của vua nước ấy cũng dừng nghỉ bên gốc cây của người đi sứ. Vì vội vàng tháo chạy nên tất cả đều đói khát, nay chợt gặp được hoan hỷ hoàn ở gốc cây, bọn giặc mỗi người lấy ăn một viên. Sau đó, thuốc độc phát tác, năm trăm tên giặc cùng một lúc chết ngay tại chỗ.

Bấy giờ, người ở trên cây đến sáng tỉnh dậy thấy bọn cướp chết ở dưới gốc cây, ông xuống giả lấy dao, tên đâm vào thây người chết, thâu lấy ngựa và của cải châu báu rồi đi đến vua nước ấy. Đúng lúc, vua nước ấy đem quân đuổi theo dấu của bọn cướp, giữa đường gặp người đi sứ, vua hỏi:

- Ngươi là người nước nào, ở đâu có được nhiều ngựa như thế?

Người đi sứ trả lời:

- Tôi là người nước kia, tình cờ ở trên đường gặp bọn giặc cướp nên đã ra tay trừ gian, năm trăm tên giặc đó nay đều chết chung một chỗ ở dưới gốc cây. Vì thế mà tôi có được ngựa, của cải châu báu, nay xin đem đến dâng trả cho bệ hạ. Nếu người không tin thì hãy đến xem nơi giặc đã bị giết chết.

Vị vua kia liền sai người thân tín đi xem thì thật đúng như lời người sứ nói. Vua vui mừng khen ngợi, cho là điều chưa từng có. Sau khi về cung, vua thưởng cho ông ta rất hậu và còn phong cho làm chủ một vùng. Các vị cựu thần của vua đều ghen ghét ông ta nên tâu:

- Người này từ xa đến, chưa tin dùng được, vì sao bệ hạ vội vàng sủng ái, hậu đãi quá mức, thậm chí còn ban chức lớn hơn những vị cựu thần?

Người đi sứ nghe được liền nói:

- Ai là người mạnh mẽ, hãy cùng ta thi đấu, xin mời ra chỗ đất trống so tài. Các vị cựu thần hoảng sợ không ai dám đối địch.

Về sau, ở trong một vùng hoang dã rộng lớn có con sư tử dữ chặn đường giết người, làm cản trở sự qua lại. Lúc đó, các vị cựu thần cùng nhau bàn bạc: ‘Ông ấy tự cho mình là người mạnh mẽ không ai địch nổi, nếu nay ông ta có thể giết sư tử kia trừ họa cho đất nước thì thật là một điều tốt đẹp’. Bàn xong, họ liền tâu vua. Vua nghe theo, lại ban cho người đi sứ đao gậy, sai đi giết sư tử.

Ông ta nhận sắc lệnh của vua, ý chí kiên cường đi đến chỗ sư tử. Sư tử thấy ông đến liền chồm dậy, rống lên rồi lao tới trước, ông sợ hãi liền leo lên cây. Sư tử há miệng ngẩng đầu nhìn lên. Ở trên cây, ông run sợ làm rơi dao trúng miệng sư tử, làm cho sư tử chết ngay tại chỗ. Ông ta vui mừng sung sướng đi đến tâu vua. Vua càng thêm quí trọng. Lúc này, mọi người trong nước đều kính phục và khen ngợi ông ta không một chút nghi ngờ”.

Chư kinh yếu tập ghi: “Có người vào rừng đốn củi nhưng không nhớ lối về, lại gặp trời mưa lớn, đến chiều vì bị đói rét và sợ trùng độc thú dữ làm hại nên người ấy trú trong hang đá. Trong hang ông gặp phải một con gấu rất lớn, người ấy hoảng hốt chạy ra ngoài. Con gấu liền nói:

- Ông chớ khiếp sợ, hang đá này thật ấm áp, hãy trú ngụ nơi đây!

Lúc ấy, trời mưa liên tiếp bảy ngày, gấu thường đem trái ngon nước ngọt cung cấp cho người ấy. Bảy ngày sau trời tạnh, gấu dẫn người ấy ra chỉ lối tắt cho về. Trước khi ông ấy đi, gấu dặn:

- Thân tôi đầy tội lỗi, nhiều người oán ghét, nếu có gặp người nào hỏi, chớ nói là ông đã gặp tôi.

Người ấy trả lời:

- Được!

Người ấy đi về phía trước thì gặp những người đi săn, họ hỏi ông:

- Ông từ đâu đến, có thấy con thú nào không?

Người ấy trả lời:

- Có thấy một con gấu lớn, nhưng nó có ân cứu mạng, tôi không thể chỉ cho các vị.

Những người đi săn nói:

- Ông là loài người, hãy đứng về phía của con người, sao lại tiếc một con gấu. Ông chỉ lạc đường một lần hôm nay, biết khi nào ông mới trở lại chỗ này? Ông hãy chỉ cho tôi, tôi sẽ chia cho ông nhiều hơn.

Người ấy xiêu lòng, dẫn thợ săn đến hang gấu. Thợ săn giết con gấu, chia cho ông ta phần nhiều, nhưng khi vừa đưa hai tay ra lấy thịt thì lập tức hai tay ông ta lìa khỏi thân. Người thợ săn hỏi:

Ông có tội gì thế?

Người ấy trả lời:

- Gấu này xem tôi như cha với con, thế mà nay tôi vong ân bội nghĩa, cho nên mới đưa đến quả báo này.

Người thợ săn nghe nói hoảng sợ không dám ăn thịt gấu, họ lại đem đến cúng dường cho chúng tăng. Trong đó có vị thượng tọa đã đắc A-la-hán bảo các vị hạ tọa:

- Đây là thịt của bồ-tát, tương lai ngài sẽ thành Phật, các vị chớ ăn thịt này.

Chư tăng bèn xây tháp cúng dường. Vua nghe việc đó liền ban sắc lệnh: “Người trong nước ta, nếu ai vong ân bội nghĩa thì bị đuổi ra khỏi nước”.

(Luận Tân-bà-sa ghi: “Khi ấy, vị thượng tọa quán sát biết đó là thịt của bồ-tát nên đã cùng nhau lấy gỗ hương thiêu nhục thân rồi gom xương còn lại để xây tháp lễ bái cúng dường, giống như thờ tháp Phật”).

Kinh Cửu sắc lộc ghi: “Thuở xưa, bồ-tát là một con nai có bộ lông chín màu, sừng nai trắng như tuyết. Con nai thường ra bờ sông ăn cỏ, uống nước và làm bạn với một con quạ. Một hôm, có một người bị nước cuốn trôi giữa dòng. Người ấy ngoi ngóp, ngóc đầu lên kêu cứu: ‘Hỡi tiên thần, thụ thần, chư thiên, long thần, sao không thương tôi!’. Nghe tiếng kêu, con nai liền bơi xuống sông cứu người ấy. Nai nói:

- Ông hãy ngồi lên lưng và nắm chặt hai sừng của tôi, tôi sẽ đưa ông lên bờ.

Sau khi được đưa lên bờ, người ấy đi quanh con nai ba vòng cúi đầu lạy tạ mà nói:

- Nay tôi xin làm kẻ hầu hạ, tùy ý ngài sai khiến như lấy nước, hái rau v.v..

Con nai nói:

- Thôi, không cần đâu! Từ nay, đường ai nấy đi. Nếu muốn đền ơn, tôi chỉ xin ông một điều là đừng nói cho ai biết tôi ở đây. Vì người ta thích da và sừng của tôi, nếu biết được chỗ của tôi, nhất định họ sẽ tìm giết.

Bấy giờ, hoàng hậu của vua nước ấy, đêm nằm mộng thấy có con nai chín màu, rồi bà giả bệnh nằm mãi không ngồi dậy. Thấy vậy, vua hỏi nguyên nhân, hoàng hậu tâu:

- Đêm qua thiếp nằm mộng thấy một con nai rất lạ, lông nó có chín màu, [69c] sừng nó trắng như tuyết; thiếp mong sao có thể lấy da nó làm nệm lót ngồi, lấy sừng nó làm cán cho cây quét bụi. Bệ hạ hãy tìm bắt nó cho thiếp. Nếu bệ hạ không tìm được chắc thiếp sẽ chết mất!

Nghe xong, vua thông báo cho cả nước biết, nếu ai tìm được con nai như vậy thì sẽ chia đất nước cho cùng cai trị và ban cho bát vàng đựng đầy hạt lúa bạc; bát bạc đựng đầy hạt lúa vàng.

Bấy giờ, người bị nước cuốn trôi nghe được tin ấy, vì muốn được giàu sang nên anh ta nghĩ: ‘Nai là loài vật, sống chết đâu có nghĩa gì’! Nghĩ vậy rồi, người ấy đến cung vua và tâu: ‘Tôi biết chỗ ở của con nai ấy’.

Nhà vua vui mừng nói: ‘Nếu ngươi lấy được da và sừng của nó đem về đây thì ta sẽ chia cho ngươi một nửa đất nước’. Vua nói lời ấy xong thì bỗng dưng mặt người ấy sinh mụn độc. Ông lại tâu:

- Đại vương! Con nai kia tuy là loài vật, nhưng nó có oai thần lớn. Bệ hạ nên cho nhiều binh lính cùng đi mới có thể bắt được nó.

Nghe lời người ấy, vua đích thân dẫn một đạo quân lớn đi thẳng đến bên bờ sông Hằng. Bấy giờ, con quạ đang đậu trên ngọn cây trông thấy binh lính nhà vua ồ ạt kéo đến, nó liền gọi nai: ‘Bạn ơi !Hãy tỉnh dậy mau! Quân lính nhà vua đã đến!’ Nai vẫn ngủ say, không hề biết. Thấy vậy, con quạ bay xuống mổ vào tai con nai, nai vừa tỉnh giấc, ngoái nhìn bốn phía thì thấy quân lính đã vây kín không còn đường thoát. Nai đi đến cạnh xe của vua, có vị đại thần đứng gần vua định bắn, nhưng nhà vua ngăn: ‘Đừng bắn! Con nai này trông rất lạ, chắc có lẽ đây là thiên thần!’.

Nai nói với vua:

- Đại vương chớ bắn tôi. Trước đây tôi có cứu sống một người trong nước của nhà vua.

Nói rồi nó lại quỳ xuống và hỏi nhà vua:

- Ai đã chỉ cho bệ hạ biết tôi ở đây?

Nhà vua chỉ sang người đứng bên cạnh xe và nói:

- Chính người mặt có đầy mụn độc kia đã dẫn ta đến đây.

Con nai ngước nhìn vào mặt người kia, nó nghẹn ngào rơi lệ, không sao cầm lại được và nói với nhà vua:

- Người kia trước đây bị nước cuốn trôi, tôi không tiếc thân mạng, liều mình xuống mang anh ta lên bờ. Khi chia tay người kia đã hứa không nói cho ai biết chỗ tôi ở. Người này chẳng biết báo ân, cứu người này không bằng vớt một khúc gỗ trôi sông.

Nhà vua nghe nai nói, lấy làm hổ thẹn mới mắng người kia:

- Ngươi chịu ơn cứu mạng của nai, vì sao lại trở lòng muốn làm hại? Nói rồi, vua liền hạ lệnh khắp cả nước:

- Nếu người nào đuổi bắt con nai này thì bị giết cả năm họ!

Từ đó, một bầy nai mấy nghìn con thường đến cư trú ở nước này, chúng chỉ ăn cỏ, uống nước mà không hề phá hoại lúa mạ. Nước ấy mưa hoà gió thuận, ngũ cốc được mùa, nhân dân không có bệnh dịch và thiên hạ an hưởng thái bình.

Phật nói với các tì-kheo:

- Con nai chín màu thuở đó nay chính là Ta. Con quạ là A-nan; nhà vua nước kia nay là vua Tịnh Phạn ; hoàng hậu của vua thuở đó nay là Tôn-đà-lợi; người bị nước cuốn trôi kia nay chính là Điều-đạt. Dù Ta có lòng tốt mà Điều-đạt[19] lại cố muốn hại Ta song vẫn không được toại nguyện”.

Kinh Tước vương ghi: “Thuở xưa, bồ-tát là một chim sẻ chúa, với tâm từ bi cứu độ tất cả chúng sinh. Có lần, vì cứu mạng chúng sinh mà bồ-tát bị thương.

Lúc ấy, có một con hổ chuyên ăn thịt các loài vật. Một hôm ăn thịt xong, răng nó bị mắc xương nên không ăn uống gì được, đói khát kéo dài sắp chết. Chim sẻ chúa thấy vậy bay vào miệng mổ gỡ xương giúp nó. Ngày nào chim sẻ chúa cũng bay vào miệng mổ gỡ xương cho hổ, nhưng cũng vì thế mà mỏ của chim sẻ chúa bị thương, không ăn được, thân thể gầy mòn.

[70a] Sau khi lấy xương ra, hổ được thoát chết, chim sẻ chúa bay lên cây nói cho hổ nghe lời Phật dạy: ‘Giết hại mạng sống là việc làm tàn bạo, tội ác ấy không tội nào lớn bằng!’.

Nghe tiếng khuyên bảo của chim sẻ chúa, hổ đùng đùng nổi giận và nói:

- Ngươi mới vừa thoát khỏi miệng của ta mà còn dám nhiều lời!

Thấy hổ không thể giáo hóa được, chim sẻ chúa liền bay xa.

Đức Phật dạy:

- Chim sẻ chúa thuở ấy nay chính là Ta, còn con hổ kia nay chính là Điều-đạt”.

Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Bấy giờ, Đề-bà-đạt-đa luôn ôm lòng ác muốn hại Đức Phật, ông thuê năm trăm bà-la-môn giỏi bắn cung bắn Đức Phật. Khi giương cung thì những mũi tên bắn ra đều hóa thành các bông hoa. Năm trăm bà-la-môn thấy sự thần biến như thế đều rất sợ hãi, lập tức buông bỏ cung tên, lễ Phật sám hối. Đức Phật thuyết pháp, tất cả đều chứng được quả Tu-đà-hoàn.

Năm trăm bà-la-môn lại bạch Phật:

- Cúi xin Đức Thế Tôn cho phép chúng con được xuất gia học đạo.

Phật nói:

- Thiện lai tì-kheo!

Năm trăm bà-la-môn râu tóc tự rụng, pháp phục được đắp lên thân. Phật lại thuyết pháp cho họ, khiến tất cả đều chứng được quả A-la-hán.

Bấy giờ, các tì-kheo bạch Phật:

- Thần lực của Đức Thế Tôn thật là hiếm có, Đề-bà-đạt-đa luôn muốn hại Phật, nhưng Ngài thường khởi lòng từ đối với ông ta.

Đức Phật nói:

- Không chỉ đời này như thế. Vào thời quá khứ, trong nước Ba-la-nại có một vị chủ buôn tên là Bất Thức Ân. Một hôm, ông cùng với năm trăm người lái buôn vào biển tìm châu báu. Khi tìm được châu báu, trên đường trở về đến đoạn vực sâu nước xoáy, lại gặp la-sát dưới nước bắt giữ, nên thuyền không thể đi được. Mọi người đều rất sợ hãi đồng thanh kêu cứu:

- Thiên thần, địa thần, các thần mặt trời, thần mặt trăng, xin các ngài xót thương cứu giúp chúng tôi.

Lúc ấy, có một con rùa lớn, lưng nó rộng một dặm, nghe tiếng cầu cứu, sinh lòng thương xót liền đến chỗ thuyền, chở mọi người vào bờ.

Khi đến bờ, rùa nằm thiếp đi, Bất Thức Ân muốn lấy đá đập đầu giết rùa, thì mọi người đều can:

- Chúng ta nhờ ơn cứu nạn của rùa nên mới toàn mạng, nếu giết nó là điều không tốt, là kẻ vong ân.

Bất Thức Ân nói:

- Giải quyết cơn đói đang bức bách, ai còn nghĩ đến việc ân nghĩa.

Nói xong, anh ta liền giết rùa ăn thịt. Ngay trong đêm ấy bỗng có một bầy voi lớn kéo đến giày đạp chết hết cả bọn thương buôn.

Đức Phật bảo các tì-kheo:

- Con rùa lớn lúc ấy chính là thân Ta; Bất Thức Ân chính là Đề-bà-đạt-đa, còn năm trăm thương buôn chính là năm trăm bà-la-môn xuất gia đắc đạo ngày nay. Thuở xưa, ta cứu họ thoát hoạn nạn, bây giờ lại giúp họ thoát khỏi họa sinh tử”.

Phật thuyết kinh chiên-đàn thụ ghi: “Phật bảo A-nan:

- Hãy lắng nghe và lĩnh thụ. Lúc bấy giờ, trong nước Duy-da-li[20]có năm trăm người ra biển tìm châu báu, họ bỏ thuyền đi bộ trở về theo con đường tắt xuyên qua rừng sâu. Trời sụp tối, họ dừng nghỉ và dự định sáng đi sớm. [70b] Sáng đến, bốn trăm chín mươi chín người đều ra đi nhưng có một người vì ngủ say nên dậy trễ. Do đó lạc đoàn, lại gặp lúc trời mưa tuyết xóa mất lối đi. Người này khốn đốn trong rừng, gào khóc kêu trời.

Trong rừng có cây chiên-đàn hương rất lớn, vị thụ thần của cây này đến nói với người lạc đường: ‘Ngươi có thể lưu trú ở đây, ta sẽ cung cấp thức ăn đồ mặc cho ngươi, đợi đến mùa xuân thì có thể đi’.

Người lạc đường liền ở lại ba tháng. Một hôm, người lạc đường nói với thụ thần:

- Tôi nhờ ân của ngài nên mới bảo toàn được tính mạng, lại chưa có chút gì báo đáp, nhưng tôi còn song thânquê nhà nên muốn trở về, xin ngài chỉ giúp đường.

Thụ thần nói:

- Được.

Thần còn tặng cho người lạc đường một bình vàng, lại nói:

- Đi không bao xa sẽ trở về làng.

Người lạc đường sắp đi bèn hỏi thọ thần:

- Cây này có hương thơm thanh khiết, thật ít có ở đời, nay tôi sắp ra về, muốn được biết tên của nó.

Thụ thần nói:

- Anh chẳng nên hỏi làm gì.

Người lạc đường lại nói:

- Tôi nhờ cây này che chở trải qua ba tháng, nếu trở về quê nhà thì phải tuyên dương công ơn của cây này.

Thụ thần đáp:

- Cây này tên chiên-đàn, gốc rễ cành lá của nó đều chữa được nhiều bệnh, hương của nó bay xa. Đây là cây quí hiếm, nên nhiều người rất muốn được nó, xin ông đừng nói cho ai biết.

Người lạc đường trở về quê hương, họ hàng thân tộc đều rất vui mừng.

Sau đó không lâu, vua nước này mắc bệnh đau đầu, đã cầu cúng các thần đất, trời, non nước… nhưng bệnh không khỏi. Danh y xem bệnh nói: ‘Chỉ có cây chiên-đàn hương mới chữa khỏi bệnh cho bệ hạ’.

Nghe xong, vua liền sai người tìm khắp nhưng không có, vua lại ra lệnh trong nước nếu ai tìm được cây chiên-đàn hương thì sẽ được phong hầu và gả cho công chúa.

Bấy giờ, người lạc đường nghe vua ban thưởng hậu hỉ liền đến tâu: ‘Tôi biết chỗ có cây chiên-đàn hương’.

Vua liền ra lệnh cho thợ mộc cùng người lạc đường đốn cây đem về. Khi đến nơi vị quan thấy cây to cao sừng sững, cành lá sum suê, hoa quả rực rỡ hiếm thấy nên không nỡ chặt, song nếu không chặt thì trái lệnh vua, đang phân vân do dự chưa biết phải làm sao thì nghe từ không trung có tiếng của vị thụ thần nói:

- Hãy chặt đi, nhưng để gốc lại rồi lấy máu người bôi vào và lấy ruột gan đắp lên trên thì cây tự nhiên sẽ xanh tốt lại như cũ. Vị quan nghe thụ thần nói như vậy liền sai người chặt cây.

Trong lúc chặt, người lạc đường đứng bên tàng cây bỗng nhiên bị cành cây rơi xuống đè chết. Chặt xong, vị quan nói với mọi người:

- Lúc đầu thụ thần có nói nên lấy máu và gan ruột của người để tế cây, nhưng không biết phải lấy ai để thay thế. Nay người này đã chết luôn tiện dùng ông ta để tế.

Bàn xong, họ liền mổ thân người chết lấy máu và gan làm theo lời của vị thụ thần, cây liền xanh tốt như cũ.

Xe chở cây về nước, ngự y bào chế thuốc đem dâng vua, vua uống bệnh liền khỏi, khắp nước đều rất vui mừng. Vua ra lệnh cho dân chúng trong nước nếu có ai mắc bệnh đều được ban cho cây chiên-đàn hương để chữa trị. Thế là mọi bệnh đều khỏi, người người hân hoan hưởng cảnh thái bình.

[70c] Bấy giờ, ngài A-nan rời tòa đỉnh lễ Đức Phật thưa:

- Bạch Thế Tôn! Vì sao người ấy lại bội ân, thất hứa với vị thụ thần.

Phật đáp:

- Khi xưa, vào thời Đức Phật Duy-vệ[21], có ba cha con một nhà nọ; người cha trì trai giữ giới rất tinh tiến, người con lớn thường ra khoảng trống ở sân đốt hương cúng dường mười phương chư Phật, còn người con út ngu si chẳng biết tam bảo nên thấy anh đốt hương cúng dường liền lấy áo phủ lên trên. Người anh nói:

- Tội này rất nặng, sao em dám phạm?

Người em vì oán giận liền dọa lại người anh:

- Coi chừng, em chặt hai chân của anh đấy.

Người anh lại nghĩ: ‘Ta phải đánh chết người em này mới được’. Người cha nghe hai anh em cãi nhau nói:

- Hai con cải nhau làm cho cha đau đầu.

Người anh thưa:

- Con xin đem thân này làm thuốc chữa bệnh cho cha để cha được bình phục.

Lời nói không mất nên đời đời họ phải chịu tội: người em khởi lòng ác muốn chặt chân anh, nên quả báo về sau dẫn người đến chặt thân cây. Người anh muốn đánh chết em, nên nay làm thụ thần, quả đúng là do thân cây đánh chết người em. Vị quốc vương đau đầu ấy kiếp trước chính là phụ thân của người lạc đường, vì trước đây trì trai giữ giới nên nay được tôn quý. Lúc ấy ông ta nói: ‘Anh em cải nhau làm ta đau đầu’, nên quả báo về sau lại bị đau đầu. Mỗi người phải tự chuốc họa của mình”.

Phật bảo:

- Tội phúc báo ứng theo nhau như bóng với hình.

XIII.4. Kệ kết khuyến

Vòi vọi thay Đức Thế Tôn,

Từ bi cứu khổ làm đầu,

Tùy cơ chúng sinh ứng hiện,

Thương yêu, chăm sóc, vỗ về.

Chồn tặng vàng, rắn đưa thuốc,

Hoàng môn cứu trâu phúc hiện,

Người biết ân báo đáp đức,

Âm thầm cảm được phúc lành.

Vợ ác hạ độc hại chồng,

Vua ban tước vị oai quang,

Giặc cướp, ác thú tránh khỏi,

Lại được báo đáp nhiều năm.

Quên ân bội nghĩa nỡ đành,

Họa lai tai đến nguy thân,

Tham sang giàu có chặt cây,

Máu gan tế hiến cho thần.

XIV. PHÓNG SINH

Gồm năm phần: Dẫn nhập, Giết hại, Phóng sinh, Cứu nguy, Kệ kết khuyến.

XIV.1. Lời dẫn

Từng nghe, muôn loài hữu tình thảy đều tham sống, trùng nhỏ u mê cũng biết sợ chết. Thế nên, hổ bị mất rừng phải nương mạng nơi am tranh; chim bị gãy cánh đành trú thân bên cạnh án. Đến như Dương Sinh[22] nuôi chim sẻ, đâu có ý với vòng ngọc, họ Khổng[23] thả rùa vốn vô tình nơi ấn vàng, mà nhân lành âm thầm đến, quả tốt đáp trả chẳng sai. Mới hay, hành nghiệpnhân quả rõ ràng như ban ngày.

Vả lại, sự giáo hóa của đấng Từ Tôn lấy cứu khổ làm đầu, tâm nguyện rộng lớn lấy độ sinh làm gốc. Song năm bộ tộc nổi tiếng đều khoe binh hùng tướng mạnh; [71a] tam phụ[24] bỏ lòng nhân, dấy đao binh làm sự nghiệp. Quần sinh đâu có tội gì mà phải bị chết oan; hàm thức nào có lỗi lầm mà luống chịu nạn thảm sát, khiến cho oán hờn không dứt, thù hận vần xoay.

Nay khuyên mọi người hãy đồng tu hạnh từ bi, tất cả hận cừu, sợ hãi thảy đều buông bỏ. Dù kia là loài chim bay hay cá lặn, tùy tập tính uống ăn của nó mà để cho loài vảy hồng đuôi đỏ đồng thỏa mãn sông hồ; giống yếm gấm, lông xanh lại được tung bay trong bầu trời cao rộng. Hoặc nghe được tam quingộ đạo không khác rồng mù; hiểu tứ đế được sinh thiên giống như chim két. Tất cả đều là để lập nền móng trường thọ, chiêu cảm quả báo thọ mệnh lâu dài.

XIV.2. Giết hại

Như kinh Niết-bàn ghi: “Có mười sáu việc trái với luật nghi:

1. Vì lợi, chăn nuôi dê con rồi đem bán.

2. Vì lợi, mua dê về làm thịt.

3. Vì lợi, chăn nuôi lợn rồi đem bán.

4. Vì lợi, mua lợn về làm thịt.

  1. Vì lợi, mua trâu nghé về vỗ béo rồi đem bán.

6. Vì lợi, mua trâu về làm thịt.

7. Vì lợi, nuôi gà béo mập rồi đem bán.

8. Vì lợi, mua gà về làm thịt.

9. Câu cá.

10. Làm thợ săn.

11. Làm giặc cướp.

12. Giết thuê, hoặc làm đao phủ.

13. Giăng lưới bắt chim.

14. Nói lưỡi đôi chiều.

15. Làm lính giữ ngục.

16. Luyện chú sai khiến rồng.

Người thường vì chúng sinh mà dứt hẳn mười sáu điều ác trên, đó gọi là người trì giới”.

Tạp a-tì-đàm tâm luận ghi: “Có mười hai việc trái với luật nghi:

1. Mổ dê

2. Nuôi gà

3. Nuôi lợn

4. Bắt chim

5. Đánh cá

6. Săn bắn

7. Làm giặc

8. Giết thuê, hoặc đao phủ.

9. Giữ ngục

10. Luyện chú sai khiến rồng

11. Làm thịt chó

12. Chủ đoàn thợ săn”.

Mổ dê nghĩa là giết dê. Vì tâm cố ý giết hại nên hoặc là nuôi, hoặc là bán, hoặc là giết đều gọi là mổ dê. Nuôi gà, nuôi heo cũng như thế.

Bắt chim là dùng nghề bắt giết chim để kiếm sống. Đánh cá, săn bắn cũng như thế.

Làm giặc là thường đi cướp của, giết người.

Giết thuê , làm đao phủ là giết người để nuôi sống.

Giữ ngục là làm nghề giữ ngục để kiếm sống.

Luyện chú rồng là dùng bùa chú sai khiến rồng, rắn làm những trò vui để kiếm sống.

Làm thịt chó chỉ cho nghề làm thịt chó của hạng chiên-đà-la.

Chủ đoàn thợ săn, các vương gia thường làm chủ đoàn săn bắn.

Luận Đối pháp ghi: “Những người nào làm trái luật nghi? Đó là những người thích làm những việc tổn hại chúng sinh như: giết dê, nuôi gà, heo, bắt chim, đánh cá, săn nai, bẫy thỏ, trộm cướp, giết thuê, đao phủ, mổ bò, trói voi, lập đàn chú rồng, giữ ngục, đặt điều gièm pha…”.

[71b] Những ác luật nghi như thế hoặc có người do sinh vào gia đình làm nghề ấy, hoặc có người học theo nghề nghiệp ấy. Nghĩa là có người sinh vào nhà đã làm như thế, hay sinh vào nhà khác sau mới học theo nghiệp ấy. Thời gian quyết định nghiệp ấy hiện hành là dùng phương tiện thân, miệng làm đầu để quyết định thời gian hiện hành ác nghiệp ấy. Đó gọi là trái với luật nghi.

XIV.3. Phóng sinh

Kinh Phạm võng ghi: “Nếu là Phật tử, nên dùng tâm từ tu hạnh phóng sinh. Tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta. Đời đời ta đều do cha mẹ sinh ra, cho nên tất cả chúng sinh trong sáu nẻo đều là cha mẹ của ta. Ai giết hại chúng sinh để ăn thịt tức là giết hại cha mẹ của mình và cũng chính là giết hại bản thân. Tất cả đất nước là thân của ta, tất cả gió lửa là thể của ta, cho nên phải thường phóng sinh. Đời đời ta sinh ra, nếu thấy người giết hại chúng sinh, nên tìm phương cách cứu giúp chúng sinh thoát khổ; thường giáo hóa, giảng nói giới Bồ-tát để cứu độ chúng sinh. Khi có cha mẹ, anh em qua đời, nên thỉnh pháp sư giảng giới kinh Bồ-tát để người mất nương nhờ phúc đức ấy được thấy chư Phật, sinh lên cõi trời, cõi người. Nếu không làm như vậy thì phạm khinh cấu tội”.

Luật Tăng-kì ghi: “Tất cả tăng-tục bảy chúng đều phải lọc nước cho sạch rồi mới được uống. Nước đã lọc, nên đổ vào lòng bàn tay, sao cho vừa nhìn qua liền thấy được những đường chỉ nhỏ trong lòng tay. Nếu biết nước không trùng thì mới dùng.

Cần bảo người tin cậy lọc nước, nếu người không đáng tin thì tự lọc. Trùng đã lọc đựợc, nên thả lại chỗ nước đã lấy. Nếu quá xa mà gần đó có ao, giếng trong bảy ngày nước không cạn thì thả trùng vào đó. Nếu biết nước có trùng, không được mang gàu nhờ người múc; nước sông, hồ có trùng không được hô to rằng: ‘Nước ở đây có trùng’. Nếu có người hỏi thì trả lời: ‘Ông hãy tự xem’. Như biết là bạn cùng thầy thì nên bảo: ‘Trong nước có trùng nên lọc rồi dùng’”.

Luật Thập tụng ghi: “Có hai tì-kheo chưa từng được gặp Phật, [71c] nên từ phương bắc xa xôi cùng nhau đi đến Xá-vệ để được gặp Ngài. Trên đường bị khát nước, gặp được vũng nước có trùng, người phá giới nói:

- Chúng ta hãy uống nước này.

Người giữ giới nói:

- Trong nước có trùng, đâu được uống?

Người phá giới nói:

- Nếu chúng ta không uống thì chắc chắn sẽ khát nước mà chết, không được gặp Phật.

Nói xong vị ấy uống nước rồi tiếp tục đi. Người giữ giớicẩn thận bảo vệ giới cho nên không uống, bị khát nước mà chết. Thần thức vị này được sinh lên cõi trời Ba Mươi Ba, thân tướng xinh đẹp, đến kính lễ dưới chân Phật. Nghe Phật thuyết pháp, vị này được Pháp nhãn thanh tịnh, thọ tam qui rồi trở về cõi trời.

Sau đó, người uống nước đến gặp Phật. Phật đang thuyết pháp cho bốn chúng, Ngài đưa tay vén y, chỉ vào thân sắc vàng của mình mà nói với người phá giới:

- Ngươi là kẻ ngu si chỉ muốn thấy nhục thân của Ta, đâu bằng người giữ giới đã thấy được pháp thân trí tuệ của Ta?

Phật dạy:

- Từ nay về sau, nếu tì-kheo đi hơn hai mươi dặm không mang theo đãy lọc nước thì phạm tội. Nếu tự thân không có mà bạn cùng đi có đãy lọc nước thì được phép đi.

Lại có quân nhân đi chinh chiến, được một tì-kheo-ni dạy cho phép lọc nước, nên mọi người đi đường đều mang theo đãy lọc nước, treo trên đầu cung. Vị quan nghe được việc ấy liền tâu lên vua. Vua rất giận, muốn giết chết mọi người, liền nói:

- Ngươi đối với loài trùng nhỏ còn sợ không dám giết, huống gì khi gặp giặc lại dám giết sao?

Vị quân nhân đối trước nhà vua phân giải:

- Trùng nhỏ nếu làm hại đất nước thì thần nhất định giết chúng, nhưng chúng chẳng có oán thù gì sao không cho lọc nước để uống?

Vua nghe xong liền tha. Sau đó, nhờ sức căn lành và nghĩa cử nhân ái của quân nhân mà bọn giặc đều được cảm hóa, qui thuận”.

Kinh Chính pháp niệm ghi: “Nước để qua đêm, nếu không xem kỹ e rằng sinh trùng nhỏ, như không lọc lại thì chẳng nên dùng. Đây gọi là cẩn thận giữ giới không sát sinh”.

Luận Trí độ ghi: “Vào thời quá khứ, có nhiều người dân bị bệnh tê liệt và sắc da đổi màu nhợt nhạt. Bấy giờ, bồ-tát làm thân cá hồng tự đem thịt của mình bố thí cho người bệnh. Lại có một kiếp bồ-tát làm thân chim thường ở trong rừng. Một hôm, chim thấy có người bơi vào chỗ nước sâu, nơi bặt dấu chân người, rồi bị thủy thần trói lại không thể thoát ra. Bồ-tát đến Hương sơn lấy loại cỏ thuốc đặt lên dây trói, dây liền đứt đoạn, người đó thoát nạn. Đời trước, bồ-tát làm những việc lợi sinh như thế, ngài nhiều kiếp cứu giúp chúng sinh, nên gọi đó là Bản sinh”.

Luật Thập tụng ghi: “Đức Phật dạy:

- Vào thời quá khứ, gần chân núi Tuyết có con nai đầu đàn tên là Uy Đức, thống lĩnh đàn nai năm trăm con. Bấy giờ có người thợ săn đặt thức ăn cài bẫy, nai đầu đàn đi trước, chân phải bị mắc bẫy. [72a]suy nghĩ: ‘Nếu ta vẫy vùng thì cả đàn nai sẽ không dám đến ăn, phải đợi cả đàn ăn xong mới kiếm cách thoát thân’.

Cả đàn ăn xong, nai đầu đàn vẫy vùng, các con khác đều bỏ đi, chỉ còn một con nai cái ở lại. Nó nói kệ:

Đại vương! Hãy nên biết,

Thợ săn sắp đến rồi,

Xin tìm cách mau mau,

Ra khỏi lưới trói này.

Nai đầu đàn dùng kệ trả lời:

Ta cố tìm nhiều cách,

Đã dùng hết sức rồi,

Lưới ngày càng thắt chặt,

Nào có thể thoát ra.

Nai cái thấy thợ săn đến, nói kệ:

Ông hãy dùng dao bén, 

Trước giết chết thân tôi,

Nhưng sau xin hãy thả,

Nai chúa được ra đi.

Thợ săn nghe thế, lòng thương xót đáp kệ:

Ta không hề giết ngươi,

Cũng không giết nai chúa,

Nay thả cả hai ngươi,

Muốn đi đâu tùy ý.

Nói rồi thợ săn liền tháo bẫy thả nai đầu đàn.

Phật dạy:

- Nai đầu đàn thuở ấy chính là thân Ta, đàn nai năm trăm con chính là năm trăm tì-kheo hôm nay.

Thuở xưa, có con nhạn đầu đàn, bị thợ săn bắt được, nhưng lại có một con nhạn bạn nó muốn đến thế mạng. Nhạn đầu đàn bèn nói kệ đáp tạ ý tốt của bạn. Thợ săn thấy thế động lòng thương xót nên thả luôn cả hai. Sau đó, chim nhạn đi tìm châu báu để đền ơn thợ săn. Đại ý cũng giống như trên”.

Luận Đại trí độ ghi: “Vua nghe nai đầu đàn trình bày liền đứng dậy mà đáp kệ:

Ta thật là súc sinh,

Gọi là người đầu nai,

Ngươi tuy là thân nai,

Mà là nai đầu người.

Theo lí để mà luận,

Chớ lấy tướng định người,

Nếu giàu lòng từ bi,

Tuy thú nhưng là người.

Ta bắt đầu từ đây,

Không ăn tất cả thịt,

Sẽ dùng vô úy thí,

Để lòng ngươi được an.

Luật Thiện kiến ghi: “Một hôm, ngài Mục-kiền-liên Tử Đế-tu[25] nói kinh Bản sinh cho vua A-dục nghe:

- Đại vương! Thuở xưa có một con chim chá cô bị người bắt nhốt trong lồng rồi đặt dưới đất. Nó rầu rĩ lo sợ bèn kêu gào inh ỏi. Bấy giờ, bầy chim chá cô nghe tiếng kêu liền bay lại và tất cả đều bị người kia giết. Thấy vậy, chim chá cô sinh nghi mới hỏi đạo nhân:

- Đồng loại bị giết, tôi có tội không?

Đạo nhân hỏi lại:

- Lúc ngươi kêu gào có tâm muốn giết chúng không?

Chim chá cô nói:

- Tôi chỉ kêu cứu mạng, bạn tôi kéo đến chứ tôi không có tâm giết hại.

Đạo nhân nói:

- [72b] Nếu ngươi không có tâm giết hại thì không có tội.

Thế rồi, đạo nhân nói kệ:

Khác nghiệp mà chịu họa,

Vô tình khiến đớn đau,

Người trí khéo nhiếp ý,

Tội chẳng mang, khỏi sầu”.

Luật Tăng-kì ghi: “Phật dạy các tì-kheo:

- Vào thời quá khứ, có một vị tiên nhân ở tại Hương sơn. Cách núi này không xa có một hồ nước, trong hồ có một con ba ba.

Một hôm, ba ba lên bờ kiếm ăn, sau khi ăn uống no nê, nó hướng về phía mặt trời há miệng mà ngủ. Bấy giờ, trong Hương sơn có bầy khỉ xuống hồ uống nước, khi lên bờ chúng nhìn thấy con ba ba đang há miệng nằm ngủ. Một con khỉ liền đến làm chuyện dâm dục, nó dùng sinh căn[26] đưa vào miệng con ba ba. Ba ba chợt tỉnh giấc ngậm miệng lại và rút sáu chi vào trong mai.

Đức Phật vì việc ấy mà nói kệ:

Người ngu si chấp tướng,

Như ba ba ngậm vật,

Thất thủ bị Ma-la bắt,

Không chặt thì chẳng tha.

Bấy giờ, ba ba cắn chặt con khỉ muốn lôi xuống hồ, khỉ vô cùng sợ hãi, nghĩ: ‘Nếu ta bị kéo xuống nước chắc chắn phải chết’, nhưng vì đớn đau, kiệt sức, khỉ mặc tình cho ba ba kéo đi. Ba ba lôi khỉ đi một đoạn thì gặp phải chỗ gập ghềnh nên bị lật ngửa. Bấy giờ, khỉ dùng hai tay nhấc ba ba lên và nghĩ : ‘Ai sẽ giúp ta thoát khỏi khổ nạn này?’. Khỉ biết có vị tiên nhân ở trong núi, nó thầm nghĩ: ‘Người này sẽ cứu ta’. Thế rồi, nó ôm con ba ba đi đến chỗ vị tiên nhân. Từ xa trông thấy chúng, tiên nhân nghĩ: ‘Trời ơi! Việc gì lạ lùng thế này? Con khỉ đang làm gì đây? Có phải nó muốn bày trò chăng?’. Tiên nhân cất tiếng hỏi:

- Này khỉ ! Ngươi được bảo vật gì đựng đầy bát đem đến đây? Hay ngươi có việc gì cần mà tìm đến ta?

Bấy giờ con khỉ liền nói kệ :

Tôi, con khỉ ngu si,

Vô cớ phá kẻ khác,

Xin hiền sĩ cứu nguy,

Mạng chẳng còn lâu nữa.

Hôm nay bà-la-môn,

Nếu người không cứu tôi,

Sinh chi[27] sắp bị đứt,

Cùng khốn trở về rừng.

Tiên nhân nói bài kệ đáp lại:

Ta nghĩ cứu được ngươi,

Trở về với núi rừng,

Sợ ngươi là giống khỉ,

Thói cũ ấy lại sinh.

Thế rồi, tiên nhân kể một câu chuyện về kiếp trước:

Ba ba ngươi ngày xưa,

Có tên là Ca-diếp,

[72c] Khỉ kia trong kiếp ấy,

Hiệu là Kiều-trần-như,

Xưa đã làm dâm dục,

Nay nên dứt duyên này,

Ca-diếp! Thả Trần-như,

Được trở về núi rừng.

Ba ba nghe vị tiên nhân nói liền thả cho khỉ đi vào rừng”.

XIV.4. Cứu nạn

Kinh Xuất diệu ghi : “Nam hải bỗng nhiên nổi lên một con sóng lớn dội vào bờ, đẩy ba con cá lớn đến chỗ nước cạn. Chúng nói với nhau: ‘Chúng ta bị mắc cạn ở đây, phải nhân lúc nước chưa rút, ta bơi ngược dòng trở về biển khơi’. Bơi được một đoạn chúng gặp chiếc thuyền chắn ngang dòng nước nên cả ba đều không qua được. Con thứ nhất dốc hết sức nhảy qua thuyền và bơi đi. Con thứ hai lướt dưới đám cỏ mà vượt qua. Riêng con thứ ba vì hơi tàn, sức kiệt nên bị người đánh cá bắt. Phật thấy như thế liền nói kệ:

Ngày nay đã qua,

Mạng sống giảm dần,

Như cá cạn nước,

Nào có vui gì?”.

Kinh Di-lặc sở vấn bản nguyện ghi: “Phật bảo tôn giả A-nan:

- Thuở xưa, khi Ta cầu đạo, phải chịu vô số khổ nhọc. Vào thời quá khứ, có thái tử tên là Bảo Hoa, tướng mạo đẹp đẽ. Một hôm, thái tử từ trong nhà mát của hoa viên đi ra ngoài, dọc đường gặp một người bị bệnh hủi. Thái tử hỏi người bệnh:

- Dùng thuốc gì có thể chữa lành bệnh cho ông?

Người bệnh nói:

- Phải lấy máu tủy của người trong dòng họ nhà vua bôi lên thân tôi thì bệnh này mới hết.

Thái tử nghe nói thế liền tự cắt thân lấy máu tủy, cho người bệnh. Thái tử tâm thành hiến dâng, không chút hối hận”.

Đức Phật bảo A-nan:

- Vị thái tử thuở đó nay chính là Ta. Nước trong bốn biển còn có thể đo lường, nhưng xương, tủy, máu thịt của Ta đem bố thí thì không sao tính đếm được. Vì cầu đạo Chính giác mà Ta xả thân như vậy.

Kinh Đại tập ghi: “Bấy giờ, có năm trăm vị bồ-tát như: bồ-tát Khoáng Dã hiện thân làm quỷ, bồ-tát Tán Chỉ hiện thân làm nai, bồ-tát Tuệ Cự hiện thân làm khỉ, bồ-tát Li Ái hiện thân làm dê, bồ-tát Tận Lậu hiện thân làm ngỗng chúa… Mỗi vị hiện ra các loại thân hình khác nhau. Thân của các vị đều phát ra hương thơm và ánh sáng. Mỗi một vị bồ-tát tay cầm đèn để cúng dường chư Phật trong mười phương. Từ thời bảy vị Phật quá khứ đến nay, các vị thường làm quyến thuộc với bảy Đức Phật, luôn giữ gìn năm giới, phát tâm bồ-đề. Vì muốn điều phục tất cả chúng sinh, khiến họ phát tâm bồ-đề, nên các ngài mang đủ các loại thân hình như thế”.

Kinh Tạp bảo tạng ghi: “Thuở xưa có một vị a-la-hán nuôi một chú sa-di. [73a] Vị a-la-hán biết chú sa-di khoảng bảy ngày sau nhất định sẽ chết. Vì thế ngài mới cho sa-di về thăm nhà và dặn qua bảy ngày mới trở về chùa. Sa-di từ giả thầy trở về nhà. Trên đường đi chú thấy đàn kiến bị nước cuốn trôi, sinh lòng thương xót, cởi áo bưng đất đắp ngăn dòng nước, rồi đem đàn kiến đặt ở chỗ cao ráo. Đàn kiến nhờ vậy mà thoát chết.

Đến ngày thứ bảy chú trở về chùa. Người thầy trông thấy chú trở lại vô cùng ngạc nhiên liền nhập định, dùng thiên nhãn quan sát, biết chú sa-di tuy phúc đức chẳng còn nhưng nhờ cứu sống đàn kiến nên được phúc báo. Trong vòng bảy ngày chẳng những chú không chết mà còn được kéo dài tuổi thọ”.

(Ngoài ra, nếu tu sửa tháp cũ, đắp vá chỗ nứt trong tường chùa cũng được tuổi thọ kéo dài).

Kinh Đại bi chép: “Đức Phật bảo A-nan:

- Vào thời quá khứ có một thương chủ dẫn các thương nhân ra biển tìm châu báu. Châu báu tìm được chở đầy cả thuyền trở về, nhưng giữa biển cả mênh mông thuyền bỗng bị vỡ. Các thương nhân rất sợ hãi. Trong số đó hoặc có người bám vào mảnh ván thuyền, có người đang bồng bềnh, có người đã chết... Bấy giờ, Ta chính là vị thương chủ ấy, đang ôm chiếc phao, có thể an toàn vào bờ.

Nhưng lúc ấy, có năm thương nhân đang bồng bềnh trên mặt nước gọi thương chủ:

- Đại nhân ơi! Xin ngài hãy cứu lấy chúng tôi, hãy giúp chúng tôi được an ổn.

Thương chủ bảo họ:

- Này các vị, chớ có sợ hãi! Tôi sẽ đưa các vị thoát khỏi biển, vào bờ một cách an toàn.

A-nan! Lúc ấy, vị thương chủ mang bên mình một cây kiếm bén, trong lòng nghĩ: ‘Theo đặc tính của biển là không bao giờ dung chứa tử thi, do đó ta nên xả thân mạng này để cho các thương nhân thoát được kiếp nạn’.

Thế rồi, thương chủ bèn gọi các thương nhân:

- Này các bạn ! Hãy bám chặt vào thân tôi.

Lúc ấy các thương nhân, có người ngồi lên lưng, có người nắm hai vai, có người ôm vào bắp đùi... Vị thương chủ vì muốn cứu sống họ, lòng đại bi khơi dậy mạnh mẽ liền lấy kiếm bén đâm vào thân mình, nhận lấy cái chết. Thế rồi, biển đẩy tử thi vào bờ, năm người kia nhờ thế sống sót bình an trở về Diêm-phù-đề”.

A-nan! Vị thương chủ lúc ấy đâu phải người nào khác, mà chính là Ta. Năm thương nhân kia nay chính là năm tì-kheo. Năm tì-kheo ngày xưa ở trong biển được Ta cứu thoát, nay trong biển lớn sinh tử cũng được Ta độ thoát, an ổn không sợ hãi, đi đến bờ giải thoát niết-bàn.

[73b]Luận Trí độ ghi: “Thời quá khứ vô lượng a-tăng-kì kiếp, ở trong khu rừng nọ có rất nhiều cầm thú. Một hôm, bỗng lửa từ ngoài lan vào làm cháy khắp cả ba mặt của khu rừng, chỉ còn lại một phía giáp với con suối. Những con thú sống trong khu rừng này lâm vào cảnh khốn cùng mà không có lối thoát.

Đức Phật nói:

- Ta lúc ấy, là một con nai lớn, với sức lực mạnh mẽ, nên dùng hai chân trước gác bờ bên kia, hai chân sau gác bờ bên này để những con thú đạp lên lưng qua bờ bên kia thoát nạn, vì thế, thịt da trên lưng Ta đều bị rách nát. Với lòng từ bi, Ta chịu đựng sự đau đớn cho đến chết. Có một con thỏ đi sau cùng, sức lực Ta lúc đó đã cạn kiệt, nhưng cố hết sức để nó qua được bờ kia. Sau khi thỏ qua được bờ, xương sống Ta bị gãy, rơi xuống dòng nước mà chết.

Những việc như thế, Ta đã làm từ nhiều đời trước, chứ chẳng phải chỉ hôm nay thôi đâu. Những con thú được thoát nạn khi xưa, nay đều là đệ tử của Ta. Con thỏ qua sau chính là Tu-bạt-đà-la.

Phật đời đời siêng năng thích làm những việc như thế, đến nay vẫn còn chưa dừng”.

Kinh Hiền ngu ghi: “Vào thời quá khứ rất lâu xa, lúc Như Lai còn là bồ-tát, gặp lúc đói kém, Ngài khởi lòng từ bi cứu độ, nên Ngài hóa làm một con cá lớn, thân dài đến năm trăm do-tuần để cung cấp thịt cho nhân dân khắp nước. Không kể là người hay vật đều có thể đến lấy thịt để dùng, khi vừa cắt xong thì thịt trên thân liền lại như cũ. Ta cung cấp như vậy trải qua mười hai năm”.

Kinh Thụ sinh chép: “Ngày xưa, có một vị bồ-tát làm ba ba chúa, sống giữa đại dương để giáo hóa đồng loại. Con dân của ba ba đều tu hành nhân đức, còn ba ba chúa thì thực hành lòng từ bi, cứu giúp chúng sinh như con ruột. Biển cả mênh mông không bờ bến mà lòng từ của ba ba bủa khắp.

Bấy giờ, ba ba bơi lên bờ biển để nghỉ ngơi, trải qua nhiều ngày tháng, lưng nó khô cứng như mặt đất. Những người thương buôn từ xa đến dừng lại nghỉ trên lưng ba ba. Họ chẻ củi, nhúm lửa nấu ăn và còn đẩy cả xe hàng hóa, cột cả ngựa, bò trên lưng nó.

Lúc ấy, ba ba chúa muốn bò xuống nước nhưng sợ sẽ nhấn chìm tất cả, làm mất lòng nhân từ, nên nó tìm cách khác. Ba ba bò xuống chỗ nước cạn dập tắt ngọn lửa đang thiêu đốt mà chẳng làm hại đến các thương buôn. Các thương buôn lúc ấy hốt hoảng lo sợ cho rằng thủy triều đang dâng cao nên kêu la thống thiết, đem hết tâm thành cầu trời cứu giúp.

Ba ba chúa thấy thế trong lòng càng thương xót nói với các thương buôn:

- Các ngươi chớ sợ hãi, ta bị lửa đốt nóng nên muốn dời xuống nước để dập tắt ngọn lửa cho bớt đau đớn mà thôi. Các người vẫn bình an, ta không làm nguy hại đến các người.

Các thương nhân nghe vậy biết là còn sống, nên cùng nhau niệm: “ Nam-mô Phật”.

Tâm từ bi của ba ba chúa nhân đó càng gia tăng, nên đưa mọi người vào bờ. Được an toàn họ rất vui mừng không ngớt khen ngợi ân đức của ba ba: ‘Ngài là chiếc cầu đưa người qua sông, là con thuyền lớn đưa chúng sinh vượt khỏi ba cõi. [73c] Khi đắc đạo ngài nhớ cứu thoát nạn sinh tử cho chúng tôi’.

Ba ba chúa nói:

- Lành thay, lành thay! Tôi sẽ làm theo ý nguyện của các người !

Nói rồi, mỗi bên đi mỗi đường.

Đức Phật bảo:

- Ba ba chúa ngày ấy chính là Ta. Năm trăm thương nhân kia nay là năm trăm đệ tử của Ta, như ông Xá-lợi-phất...”.

Kinh Chính pháp niệm chép: “Nếu có người thấy kẻ phạm pháp bị tội chết, nên lấy tiền của để chuộc, khiến họ được thoát mà không cần báo đáp. Người làm như thế, đến khi mạng chung, được sinh lên cõi trời Hoan Hỷ[28]; khi tuổi thọ hết, sinh xuống làm người cũng không gặp nạn vua quan bức bách. Người nào giữ giới khi thấy chúng sinh bị lửa dữ thiêu đốt thì hãy lấy nước mà dập tắt, cứu họ thoát nạn, đến khi mạng chung được sinh lên cõi trời, thụ hưởng vô số niềm vui”.

Kinh Độ cẩu chép: “Ngày xưa, tại một nước nọ, ngũ cốc tăng giá, khiến nhân dân đói khổ. Bấy giờ, có một sa-môn vào thành khất thực, ngài đi khắp mọi nhà nhưng không xin được thứ gì. Sa-môn đi dần đến gia đình trưởng giả giàu có xin được chút cơm nhạt. Sa-môn vừa định ra khỏi thành thì chợt gặp một người thợ săn, trên tay đang ôm con chó đem về làm thịt. Thấy vị sa-môn anh ta vui mừng hành lễ, ngài cầu nguyệnchúc thọ cho người thợ săn.

Vị sa-môn biết anh đang ôm con chó, nghi là đem về giết, nên hỏi:

- Anh đang mang thứ gì vậy?

Đáp:

- Tôi đi tay không có mang gì đâu?

Sa-môn nói:

- Tôi đã thấy rồi, anh đâu cần giấu diếm?

Sa-môn lại nói:

- Anh nên biết giết hại mạng sống là việc làm bất thiện, ta xin đem bát cơm này đổi lấy con chó để cứu nó và giúp anh được phúc vô lượng.

Thợ săn đáp:

- Tôi không thể đổi cho ngài được, bởi tôi còn có người nhà, chút cơm của ngài chúng tôi làm sao ăn đủ?

Sa-môn hết lòng thuyết phục, nhưng thợ săn vẫn không chịu đổi.

Sa-môn bèn nói:

- Nếu anh không đổi thì hãy để con chó gặp tôi một lát có được không?

Thợ săn liền đưa con chó ra. Sa-môn lấy bát cơm của mình cho chó ăn, lấy tay xoa đầu nó, rơi lệchú nguyện:

- Ngươi mang tội phải làm thân chó không được tự do, bị người đem giết để ăn thịt. Ta cầu mong cho ngươi đời đời tội diệt phúc sinh, lìa bỏ thân chó được làm thân người, ở đâu cũng gặp được Phật pháp, gặp được tam bảo.

Con chó được thức ăn, trong lòng phát khởi thiện tâm, vui mừng khôn xiết, biết tự qui y.

Thợ săn đem chó về giết thịt rồi cùng nhau ăn. Sau khi mạng chung, chó được sinh vào một gia đình trưởng giả giàu có. Lúc vừa chào đời trong lòng đã sẵn có từ tâm.

Bấy giờ, vị sa-môn kia theo thứ lớp đi khất thực, dần đến nhà ông trưởng giả. Đứa bé con ông trưởng giả khi thấy vị sa-môn thì chợt nhớ lại việc xưa, nên đến cúi đầu hành lễ dưới chân sa-môn, [74a] xin được cúng dường những thức ăn ngon.

Thế rồi, đứa bé đến trước cha mẹ thưa:

- Con nay muốn theo đại hòa-thượng làm đệ tử, thụ học kinh giới, xin cha mẹ bằng lòng!

Cha mẹ đứa bé vì rất thương con, nên không bằng lòng, nói:

- Gia đình ta chỉ có mình con nối dõi tông đường, kế thừa tài sản, vì sao con muốn bỏ đi?

Đứa bé khóc lóc không chịu ăn uống, thưa:

- Nếu cha mẹ không đồng ý thì con sẽ chết.

Cha mẹ thấy thế liền đồng ý cho đứa bé theo thầy học đạo, cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, đọc tụng kinh điển, hiểu sâu nghĩa lí, liền đắc tam-muội, không còn thoái chuyển, giáo hóa mọi người khiến phát đạo tâm.

Ở đời, gặp Phật là khó, được nghe giáo pháp là khó. Nếu có duyên được gặp Phật pháp thì không loài nào không được độ. Súc sinh còn đắc đạo, lẽ nào loài người không chứng quả thánh sao? Nếu có sai phạm điều gì thì phải biết sinh lòng hổ thẹn. Ánh sáng thanh tịnh chiếu đến thì trần cấu đen tối tự diệt”.

Kinh Tạp a-hàm ghi: “Bấy giờ, Phật bảo các tì-kheo:

- Vào thời quá khứ, có một con chim tên la-bà, bị chim ưng gắp bay lên hư không. Ở trên cao chim la-bà kêu:

- Tôi vừa ra khỏi nơi thân yêu tôi sống để đến nơi khác, do không cảnh giác, nên tôi bị người khác bắt, không được tự do.

Chim ưng nói với la-bà:

- Ngươi phải ở nơi đâu mới được tự do?

La-bà đáp:

- Tôi ở nơi gò ruộng. Ở đó mới chính là chỗ tự do, hoàn toàn không có các nạn và cũng chính là nơi cha mẹ tôi đang sinh sống.

Chim ưng kiêu mạn nói với La-bà:

- Nếu như ta thả ngươi về lại gò ruộng, có chắc chắn ngươi được thoát nạn không?

Bấy giờ, La-bà thoát khỏi móng vuốt của chim ưng trở về lại nơi gò ruộng. Sau khi về được chỗ an ổn dưới gò đất, La-bà lên trên khiêu chiến với chim ưng.

Thấy vậy, chim ưng đùng đùng nổi giận nói:

- Ngươi là con chim nhỏ mà dám khiêu chiến với ta?

Do quá giận nên chim ưng lao xuống để mổ la-bà, lúc ấy la-bà thụt xuống núp dưới gò đất. Chim ưng dùng hết sức lao xuống, ngực nó va vào gò đất nên bị vỡ mà chết.

Bấy giờ, la-bà núp dưới gò đất ngước lên nói kệ:

Chim ưng lao xuống mổ,

La-bà trốn vào gò,

Do vì quá sân giận,

Đưa đến họa tan thân.

Ta đã đủ khôn khéo,

Nên ẩn núp trong gò,

Phục thù, khéo dùng kế,

Thấy vui với sức mình.

Ngươi hung tợn mà ngu,

Dẫu sức nghìn rồng, voi,

Cũng thua ta trí tuệ,

Một phần mười sáu thôi.

[74b] Xét trí ta siêu việt

Tiêu diệt được chim ưng.

XIV.5. Kết khuyến

Chúng sinh đều sợ chết,

Ai chẳng ngại hiểm nguy,

Như cá trong ao cạn,

Khó gặp được dòng nước.

Thân sơ đều cha mẹ,

Cớ sao lại không thương,

Thường từ bi cứu khổ,

Phúc báo đến tự nhiên.

XV. LÀM PHÚC

Gồm bảy phần: Lời dẫn, Tu phúc, Đúng pháp, Cúng dường, Chuẩn bị nước cho tăng tắm, Các việc phúc khác.

XV.1. Lời dẫn

Xưa, vua Ưu-điền là người đầu tiên tạc tượng Phật bằng gỗ chiên-đàn; vua Ba-tư-nặc là vị khởi xướng nấu vàng đúc tượng. Tượng nào cũng hiện tả được chân dung; khéo vẽ được diệu tướng, nên tượng phóng quang, hiện điềm lành rời tòa chí thành lễ Phật.

Đến như hai tháp tóc và móng tay Phật, hai đài y và ảnh Phật đều đã được xây dựng lúc Như Lai còn tại thế.

Thế Tôn tự thâu thần nhập diệt bên bờ sông, làm lễ trà tỳ ở ven rừng. Tám nước đều xin phần xá-lợi để đem về nước xây tháp phụng thờ; tám tháp ấy cùng với hai tháp thờ bình và tro cộng thành mười tháp. Bốn chỗ: đản sinh, đắc đạo, thuyết pháp đầu tiên và nhập niết-bàn của Đức Phật cũng như xương đỉnh, bốn chiếc răng, hai dấu chân, bình bát, tích trượng, bình nhổ và niết-bàn-tăng của Phật đều được dựng tháp, khắc bia ghi việc thần dị.

Sau đó, hơn một trăm năm, vua A-dục sai sứ vượt biển, phá bỏ các tháp, lấy xá-lợi. Khi đoàn người trở về gặp sóng gió lớn, một ít xá-lợi đã bị rơi xuống biển nên ngày nay đôi khi có người bắt gặp xá-lợi trong bụng của loài sống ở biển. Về sau, vua A-dục lại xây dựng tám vạn bốn nghìn ngôi tháp thờ xá-lợi.

Hai người con của vua lần lượt phát tâm xuất gia, cùng tạc đá, đúc tượng vàng, họa vẽ tôn dung, qua sông vượt biển, mang theo hoằng hóa ở vùng Tích Lan. Tuy cũng có những dấu tích linh ứng, nhưng còn ẩn kín, ít người hay biết. Đến khi Thái Âm, Tần Cảnh[29] từ Tây Vực trở về nước, mới bắt đầu truyền họa, tượng Phật Thích-ca. Thế rồi nơi đền đài Thanh Lương, lăng Thọ, người ta thường tạc vẽ hình tượng của Ngài.

Từ đó về sau, phong trào họa vẽ hình tượng, tạo lập tháp miếu, phát triển mạnh. Đến đời nhà Lương, lại càng thêm hưng thịnh. Nhưng pháp thân vốn không hình tượng, nhân cảm mà ứng hình. Cảm được có sai khác, nên ứng hình cũng bất đồng. Nếu tâm nghi ngờ thì chân dung ẩn giấu; chí nguyện tha thiết thì gỗ đá cũng mở lòng. Nên Lưu Ân chí hiếu được cảm ứng trên nồi hiện bài minh. Đinh Lan tâm thành, tượng gỗ của mẹ cũng phải biến sắc. [74c] Lỗ Dương[30] múa giáo khiến mặt trời xoay chuyển, Kỉ phụ rơi lệ khiến thành quách sụp đổ. Đó đều là do lòng thương cảm chuyển vào tính tình, khiến điềm lành hiển hiện rõ, mọi người đều được thấy nghe.

Thế nên biết, đạo nhờ người mà được rộng truyền, thần nhờ vật mà cảm hiện. Lẽ nào nói là hư ngụy? Do đó, nếu thờ thần như thần đang hiện hữu thì nhận được sự cảm ứng của thần; kính tượng như kính Phật thì pháp thân ứng hiện. Bởi vậy học đạo phải lấy trí tuệ làm gốc, trí tuệ hẳn phải lấy phúc đức làm nền. Thí như chim phải có đủ hai cánh mới bay xa vạn tầm; xe đủ hai bánh mới đi được nghìn dặm. Lẽ nào chẳng siêng năng? Lẽ nào không gắng sức sao?

XV.2. Tu phúc

Kinh Phật thuyết phúc điền ghi: “Đức Phật bảo trời Đế Thích:

- Có bảy pháp bố thí được gọi là phúc điền. Người thực hành pháp này được phúc, sau khi chết được sinh về cõi Phạm thiên. Đó là:

1. Xây chùa đúc tượng, tạo dựng tăng xá, tháp miếu.

2. Tạo vườn cây ăn quả, ao tắm, trồng cây che mát.

3. Thường bố thí thuốc men chữa bệnh.

4. Làm thuyền bè đưa người sang sông.

5. Xây dựng cầu cống giúp người già yếu sang sông.

6. Đào giếng nước bên đường để người đi đường giải khát.

7. Làm nhà xí gần đường để người đi vệ sinh.

Bấy giờ, trong hội chúng có một tì-kheo tên là Thính Thông nghe pháp vui mừng, bạch Phật:

- Con tự nhớ đời trước sinh làm một vị trưởng giả trong thành Ba-la-nại. Con đã xây dựng một ngôi tinh xá bên đường, cúng dường thức ăn, nước uống, giường nằm cho chúng tăng, đến cả người đi đường ai mỏi mệt cũng được vào dừng nghỉ. Do công đức này, khi mạng chung con được sinh lên trời làm Đế Thích, sinh xuống nhân gian làm Chuyển luân thánh vương; lên xuống, đến đi ba mươi sáu lần. Trải qua chín mươi mốt kiếp, con thường thống lĩnh nhân thiên, dưới chân mọc lông, đi không chạm đất, ăn uống tự nhiên có sẵn. Nay gặp Phật là bậc thương xót chúng sinh, giúp con trừ sạch ngu muội, có được trí tuệ thanh tịnh, đốn gốc sinh tử, khô giống luân hồi, hiệu là A-la-hán. Nhân nơi phúc báo của công đức ấy mà thành tựu giải thoát như thế.

Lại có tì-kheo tên Ba-câu-lô bạch Phật:

- Con nhớ thời quá khứ sinh làm một trưởng giả trong thành Câu-na-kiệt. Thời đó không có Phật, gặp lúc chúng tăng thuyết pháp cho hội chúng, con đến nghe pháp. Sau khi nghe pháp con rất vui mừng đem một quả thuốc tên ha-lê-lặc dâng cúng cho chúng tăng. Nhờ quả báo này, sau khi mạng chung được sinh lên trời, [75a] sinh xuống nhân gian thường ở địa vị tôn quý, hơn hẳn mọi người, chín mươi mốt kiếp chưa hề bị tật bệnh. Phúc báo còn lại, con được gặp Phật, chứng quả A-la-hán.

Lại có tì-kheo hiệu Tu-đà-da bạch Phật:

- Con nhớ đời trước, sinh làm một người thường dân trong thành Duy-da-li. Thời đó không có Phật, chỉ có chúng tăng giáo hóa. Một hôm, con mang sữa lạc[31] vào thành bán, gặp lúc chúng tăng mở hội thuyết pháp con qua đó nghe, nghe xong lòng rất vui vẻ, đem bình sữa lạc cúng dường chư tăng. Các ngài nhận rồi lại còn chú nguyện, khiến con càng thêm vui mừng. Nhờ phúc duyên đó, sau khi mạng chung, con được sinh lên cõi trời hay sinh xuống nhân gian thường ở địa vị tôn quý, trải qua chín mươi mốt kiếp như thế. Đời sau cùng, do ác nghiệp còn sót lại, con sinh vào nhân gian, khi mẹ vừa mang thai vài tháng đã lâm bệnh qua đời nên con bị chôn cùng với mẹ, nhưng khi đủ ngày đầy tháng thì con sinh ra. Ở trong gò mả bảy năm, bú sữa thây mẹ để tự sống. Nhân nơi phúc báo nhiệm mầu kia, con được gặp Phật, chứng A-la-hán.

Lại có tì-kheo tên là A-nan bạch với Đức Phật:

- Nhớ có một kiếp con sinh vào nước La-duyệt-kì làm một người dân bình thường. Một hôm, thân con mọc một mụt ghẻ trị không thể lành. Có một đạo nhânbạn thân đến bảo con:

- Ông hãy chuẩn bị nước cho chúng tăng tắm sau đó dùng nước ấy để tẩy rửa mụt ghẻ thì bệnh có thể lành, lại còn được phúc.

Nghe xong, con vui mừng đi thẳng đến chùa, tâm thành như lời dạy, đào giếng lấy nước, hòa thêm dầu thơm, chuẩn bị các dụng cụ để chúng tăng tắm. Thế rồi, con lấy nước ấy đem rửa mụt ghẻ, nhờ thế bệnh con được lành. Nhân công đức này, sinh ra ở đời con thường xinh đẹp thân tỏa sắc vàng rực rỡ, không dính bụi bặm, trong chín mươi mốt kiếp thường được hưởng phúc sạch sẽ, công đức tăng trưởng. Nay được gặp Phật, tâm nhơ của con tiêu trừ, thành tựu Ứng chân[32].

Bấy giờ, trong chúng hội có tì-kheo-ni tên là Nại Nữ bạch Phật:

- Nhớ kiếp trước con là một cô gái nghèo cùng ở nước Ba-la-nại. Bấy giờ có Phật Ca-diếp ở đời. Một hôm, trong hội chúng thuyết pháp của Ngài, con ngồi nghe pháp, lòng rất vui mừng muốn cúng dường, nhưng nhìn lại mình chẳng có một vật gì. Nghĩ thân phận nghèo hèn mà lòng buồn tủi, con đến vườn nhà người định xin một trái dưa để đem cúng Phật, nhưng lại xin được một quả nại lớn tỏa hương rất thơm. Thế là con dâng một bát nước và một trái nại lên Phật cùng chúng tăng.

Phật biết tâm thành của con nên thọ nhận, chú nguyện rồi đem nghiền quả nại hòa trong nước rồi chia cho tất cả chúng tăng. Nhân nhờ phúc ấy nên khi mệnh chung con được sinh lên cõi trời làm hoàng hậu; sinh ở cõi người thì chẳng phải từ bào thai sinh ra. Trong chín mươi mốt kiếp con thường sinh trong hoa nại[33], xinh đẹp thanh khiết, thường nhớ kiếp trước của mình, nay gặp được Thế Tôn khai mở đạo nhãn.

[75b] Bấy giờ Thiên đế[34] từ tòa đứng dậy, lễ Phật, quì gối chắp tay bạch:

- Bạch Thế Tôn! Nhớ lại kiếp trước, con sinh vào nước Câu-lưu, làm con của một trưởng giả. Người hầu bồng con vào thành dạo chơi, gặp lúc chúng tăng đang đi khất thực. Con thấy nhân dân cúng dường rất nhiều, liền tự nghĩ: ‘Nếu có của báu cúng dường tăng chúng chẳng phải là vui sướng lắm sao?’. Nghĩ thế rồi con vội cởi chuỗi báu cúng dường chúng tăng. Các ngài chú nguyện, lòng con vui mừng mà đi. Nhờ nhân duyên đó, sau khi mệnh chung, con được sinh lên cõi trời làm Thiên đế, trong chín mươi kiếp thường xa lìa tám nơi nạn.

Phật bảo Thiên đế cùng đại chúng:

- Các ông hãy lắng nghe Ta nói việc làm đời trước của mình. Có một đời, Ta ở nước Ba-la-nại. Gần bên đường lớn Ta dựng nhiều nhà xí, giúp cho nhân dân trong nước, không còn bị đại tiểu tiện bức ép khổ sở, mọi người đều nhớ ơn. Nhân công đức này, đời đời ta được trong sạch, nhiều kiếp hành đạo không bị vướng nhiễm bởi ô uế, thân được sắc vàng rực rỡ, bụi bặm không hề dính mắc, thức ăn tự tiêu hóa, đại tiểu tiện thông lợi.

Phật lại bảo Thiên đế:

- Trong chín mươi sáu đạo, Phật đạo là đáng tôn trọng nhất, trong chín mươi sáu pháp, Phật phápchân thật nhất, trong chín mươi sáu hạng tu sĩ, đệ tử của Phật là chân chính nhất. Vì sao như thế? Vì Như Lai từ vô số kiếp thành tâm phát nguyện xả bỏ thân mệnh, gom nhóm công đức, nguyện vì chúng sinh. Sáu độ, bốn tâm, các điều lành đều đủ, trí tuệ trọn vẹn. Các bậc tôn quí trong ba cõi không ai sánh bằng. Nếu có chúng sinh hướng về Như Lai phát tâm thành kính, phúc ấy lớn hơn bố thí châu báu cho cả đại thiên thế giới. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, mười hai thể loại kinh nói về tội phúc rất rõ ràng chân xác, mở bày ba thừa[35], khiến hết thảy căn cơ đều có thể thực hành, người nghe đều vui mừng, thích làm sa-môn, tin Phật hành pháp, ý chí thanh cao, bỏ sự tham lam, tranh giành của thế tục, làm phúc lợi cho thế gian. Chúng sinh hưởng được phúc trời, người là nhờ chúng tăng. Đó là đạo đáng tôn kính nhất, không gì sánh bằng”.

Kinh Tăng nhất a-hàm ghi: “Bấy giờ, Đức Phật bảo các tì-kheo:

- Có bốn phúc được sinh lên Phạm thiên. Đó là:

1. Người có lòng tin, phát tâm xây tháp, ở những nơi chưa có tháp

2. Người có lòng tin, phát tâm tu bổ chùa chiền

3. Người có lòng tin, thường làm cho tăng chúng hòa hợp

4. Khuyến thỉnh Phật chuyển pháp luân đầu tiên

Lúc ấy, có một vị tì-kheo bạch Thế Tôn:

[75c] - Bạch Đức Thế Tôn! Phúc báo của Phạm thiên rốt cùng là nhiều hay ít?

Thế Tôn đáp:

- Những công đức của tất cả chúng sinh ở cõi Diêm-phù-đề cộng với phúc của Tứ thiên vương, cho đến phúc báo của cõi trời Tha Hóa Tự Tại cũng không bằng phúc báo của Phạm thiên. Như muốn cầu phúc báo của Phạm thiên thì lượng của phúc ấy như thế”.

XV.3. Đúng pháp

Nếu muốn tu tạo thì phải đúng pháp. Tạo tác tuy ít, nhưng phúc báo vô lượng. Nếu không đúng pháp thì dù có tạo tác nhiều cũng không có lợi ích; nên kinh Phật tại kim quan kính phúc ghi: “Người chủ khắc kinh, tạo tượng đừng luận bàn đạo lí; thợ được thuê khắc kinh, tạo tượng, chớ nói mình làm thuê mà tạo tượng để cúng dường như thế, cả hai đều được phúc vô lượng, muốn nói về phúc này cũng không thể nói hết. Nếu người nghe theo lời dạy của Ta thì đó là đệ tử chân chính của Phật. Tâm thành rất mực như thế thì tạo tuy ít mà phúc lại nhiều.

Có người hỏi:

- Thông thường người thợ khắc kinh tượng thì được thù lao vật dụng, vậy họ có được ra giá hay không?

Phật đáp:

- Không được ra giá. Ví như người đem bán cha mẹ để lấy tài lợi, kẻ ấy bạo nghịch mắc tội rất nặng, chính là thiên ma. Kẻ ấy cũng chẳng phải là quyến thuộc của Ta; hãy mau rời khỏi Phật pháp.

Kẻ uống rượu, ăn thịt cùng ngũ vị tân không theo lời Phật dạy, tuy tạo kinh tượng số lượng như cát bụi, nhưng phúc ấy thật quá nhỏ bé, không đáng nói. Gặp lúc kiếp thiêu chẳng thể vào được cung của hải long vương. Người ấy tuy lao nhọc mà công đức không được bao nhiêu. Tội lỗi của sự bất kính, chết đọa vào địa ngục. Chủ, thợ đều không lợi ích, không được chư thiên hộ vệ, không bằng chẳng tạo kinh tượng mà chỉ thành tâm lễ bái, cũng được phúc vô lượng.

Như trên đã nói, tạo nhiều mà phúc ít. Nếu tạo tượng không đủ tướng hảo thì người tạo mắc phải quả báo trong năm trăm vạn đời các căn thường thiếu. Tốt nhất là vận hết lòng thành thì sẽ hưởng quả phúc tốt đẹp”.

Kinh Tội phúc quyết nghi ghi: “Nếu người xuất giatại gia, hoặc tự bỏ tài sản hoặc do khuyến hóa được rồi dâng cúng Phật, nhưng người quản lý dùng những vật ấy tạo các hình tượng chim thú, trang trí trước Phật; uớc lượng nếu trị giá hao tổn đủ năm tiền thì phạm tội nghịch, không thể bồi thường được và bị đọa vào địa ngục A-tỳ trong một kiếp. Nhưng nếu mua hương, dầu, đèn cúng dường thì không phạm. Mặc dù, Phật không tham cầu lợi dưỡng, nhưng không ai xứng đáng tiêu dùng của ấy.

Khi dâng cúng Phật, thượng tọa, trung tọa, hạ tọa phải dạy cho người tại gia biết dâng lên Phật và tăng. Dâng Phật rồi cúng cho tăng dùng thì không phạm. Nếu không làm như thế mà ăn thức dùng của Phật thì nghìn ức năm bị đọa vào địa ngục A-tỳ. Nếu người tại gia không làm theo lời các bậc thượng, trung, hạ tọa chỉ dạy cũng sẽ mắc tội như trên đã nói. Nếu được sinh làm người thì mắc quả báo chín trăm vạn năm làm người hạ tiện. Vì sao? Vì vật thuộc về Phật thì không ai có thể định giá được”.

[76a] (Ghi chú: Ở đây ý nói, thí chủ quyết định cúng Phật, vì thế phải chuộc lại mới được làm. Như hiện nay trong các buổi cúng Phật, người tại gia thường dâng thức ăn, uống trên bàn Phật, cúng xong họ tự ý lấy dùng, dùng xong trả lại cho thí chủ mà không cần chuộc. Như ngày rằm tháng bảy hiến cúng Phật và tăng nhưng nếu không có Phật và tăng, thì cũng có thể tạm dùng, nhưng phải chuộc, vì những vật thực ấy theo kinh nói là những vật thực được hiến dâng Phật và tăng vào ngày Tự tứ[36]. Phật và tăng là ruộng phúc tốt, là bậc có đạo cao có thể giúp người quá cố và bảy đời cha mẹ đã mất, bà con đang còn sống đều được khỏi tai nạn, sinh về chốn an lành. Bởi vì, ruộng phúc của người đời cằn cỗi không thể giúp ích cho việc dạy đạo, nên nói không cho người tục tùy tiện sử dụng. Vì nhiều lần chứng kiến hàng tại gia cúng Phật xong lại lấy dùng, nên mới ghi chú riêng.)

Kinh Quán Phật tam-muội ghi: “Bấy giờ Vua Ưu-điền vì thương nhớ Phật nên mới đúc tượng bằng vàng. Nghe Phật sẽ rời tòa báu, ông vội vàng cho voi chở tượng vàng đến đón. Lúc ấy, tượng vàng từ trên lưng voi bước xuống giống như Phật thật, chân bước đi cách đất, có hoa đỡ chân, tượng lại phát ra ánh sáng rực rỡ đi đến đón rước Thế Tôn, chắp tay, đỉnh lễ Phật. Lúc ấy, Đức Thế Tôn cũng quỳ xuống chắp tay hướng về phía tượng, trong hư không trăm nghìn hóa Phật cũng đều chắp tay, quỳ xuống hướng về phía tượng. Bấy giờ, Thế Tôn nói với tượng: ‘Về sau ngươi sẽ làm nhiều Phật sự. Sau khi Ta nhập diệt rồi, những đệ tử của Ta đều giao hết cho ngươi’. Trong hư không các hóa Phật cũng đồng thanh nói như vậy. Sau khi Phật nhập diệt rồi, nếu có chúng sinh tạo lập hình tượng, hết lòng cúng dường, người ấy đời sau nhất định sẽ đạt được tam-muội Niệm Phật Thanh Tịnh”.

Ngoại quốc kí ghi: “Khi Đức Phật lên cung trời Đao-lợi nói pháp cho thánh mẫu Ma-da suốt chín mươi ngày, vua Ba-tư-nặc muốn thấy tôn dung của Ngài nên ông đã cho người tạc tượng Phật bằng gỗ Ngưu Đầu chiên-đàn và đặt lên chỗ Ngài thường ngồi. Sau đó Phật trở về lại tinh xá, tượng Phật rời tòa đón tiếp. Lúc ấy, Phật nói với tượng: ‘Hãy ngồi lại chỗ cũ! Sau khi Ta nhập Niết-bàn, ngươi phải thay ta làm các pháp sự cho bốn chúng’. Nghe vậy, tượng Phật liền ngồi lại chỗ cũ. Tượng này là tượng đầu tiên.

Về sau Đức Phật dời sang ở hai tinh xá nhỏ ở hai bên cách chỗ an trí tượng khoảng hai mươi bước. Tinh xá Kì-hoàn vốn có bảy tầng, các nước thay nhau cúng dường không dứt. Trong đài luôn luôn thắp đèn sáng. Một hôm, bị chuột kéo tim, đèn đang cháy thiêu đốt cờ phướn, lọng lụa và cháy lan, làm cho tinh xá bảy tầng bị thiêu rụi hết. Nhân dân trong cả nước vô cùng buồn lo; ai nấy đều cho rằng tượng Phật chiên-đàn đã bị cháy thành tro. Nhưng khoảng bốn năm ngày sau, mọi người mở cửa tinh xá phía đông nhỏ thì bỗng nhiên nhìn thấy tượng chiên-đàn đã di chuyển sang. Vì thế mọi người vô cùng mừng rỡ, chung sức đồng lòng sửa sang lại tinh xá. Họ dựng lại tinh xá, được hai tầng và thỉnh tượng về an trí lại vị trí cũ”.

Kinh Ưu-điền vương tác Phật tượng hình ghi: “Khi xưa, Đức Phật còn ở đời, có vua nước Bạt-kì tên là Ưu-điền đến gặp Phật, đầu mặt lạy dưới chân Ngài và chắp tay bạch Phật:

- Bạch Đức Thế Tôn! Sau khi ngài nhập diệt, nếu có người nào tạo hình tượng Phật, người ấy sẽ được phúc như thế nào?

[76b] Phật bảo vua Ưu-điền:

- Người nào tạo hình tượng Phật, sẽ được vô lượng công đức, không thể tính kể; đời đời sinh ra không bị rơi vào đường ác. Người ấy sinh lên cõi trời, cõi người đều được vô cùng sung sướng; toàn thân có ánh sáng vàng tía rực rỡ; mắt đen, mặt sáng, thân thể, tay chân xinh đẹp vô cùng, và thường được trời người thương mến. Nếu người ấy sinh làm người thì thường sinh làm con của các trưởng giả hiền thiện, quan đại thần, vua chúa và những nơi giàu sang tôn quý; tài sản, châu báu nhiều không thể đếm xuể, được cha mẹ, anh em, chị em thương yêu. Nếu người ấy làm vua thì vô cùng tôn quý, được vua các nước quy phục thậm chí còn làm đến bậc Chuyển luân thánh vương cai trị bốn thiên hạ, bảy thứ báu tự nhiên có sẵn, con cái rất đông, dạo đi khắp các cõi trời. Nếu người ấy sinh lên trời thì làm vị trời tối thắng, đứng đầu cõi trời Lục Dục. Nếu người ấy sinh lên cõi trời Phạm thì làm vị Đại Phạm vương đoan chính không ai bằng, hơn cả các Phạm thiên khác, thường được các Phạm thiên tôn kính. Về sau đều được sinh về cõi nước Vô Lượng Thọ, làm vị đại bồ-tát được tôn kính bậc nhất; trải qua vô số kiếp sẽ được làm Phật và nhập niết-bàn. Nếu có người nào tạo hình tượng Phật thì nhất định sẽ được phúc báo như thế”.

Kinh Pháp hoabài kệ:

Nếu có người vì Phật,

Tạo lập các hình tượng,

Cho đến trẻ con giỡn,

Dùng cỏ cây và bút,

Hoặc dùng móng ngón tay,

Mà họa vẽ hình Phật,

Những người như thế ấy,

Đều sẽ thành Phật đạo.

Kinh Tạo lập hình tượng phúc báo ghi: “Vua Ưu-điền nước Câu-duy-la mới vừa mười bốn tuổi, nghe tin Đức Phật sẽ đến nước mình liền ra lệnh cho các vị cận thần ra đón Phật. Khi Đức Phật đến, vua đầu mặt lạy dưới chân Phật, quỳ xuống chắp tay bạch:

- Bạch Thế Tôn! Trong cõi người, cõi trời không ai bằng Phật; hào quang của Ngài vòi vọi; chỉ có Ngài mới được như thế. Con sợ Phật đi rồi sau này e khó gặp lại Ngài, nên nay con muốn tạo hình tượng Phật để cung kính thờ phụng. Xin Ngài hãy thương tưởng nói cho con biết, nếu kính thờ Phật thì sẽ được những phúc báo gì?

Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ đáp:

Đại vương nghe Ta nói,

Phúc của Vô Thượng Sĩ,

Thế gian không ai bằng.

Quả báo tạo tượng Phật,

[76c] Thường sinh nhà giàu sang,

Tôn quí không gì hơn,

Bà con thường yêu mến.

Quả báo tạo tượng Phật,

Thường có được thiên nhãn,

Trong sáng không ai bằng.

Quả báo tạo tượng Phật,

Cha mẹ luôn yêu thương,

Xinh đẹp, uy đức lớn,

Thương yêu không nhàm lìa.

Quả báo tạo tượng Phật,

Thân phát ánh sáng vàng,

Giống như tượng sư tử,

Chúng sinh thấy vui mừng.

Quả báo tạo tượng Phật,

Sinh vào dòng cao quý,

Sát-lợi, Bà-la-môn,

Làm hạng người có phúc.

Quả báo tạo tượng Phật,

Không sinh nước biên địa,

Không mù, không xấu xí,

Sáu căn luôn đầy đủ.

Quả báo tạo tượng Phật,

Lúc chết biết đời trước,

Thấy Phật ở trước mặt,

Không biết khổ lúc chết.

Quả báo tạo tượng Phật,

Làm vị vua danh tiếng,

Hoặc làm Chuyển luân vương,

Cai trị tứ thiên hạ.

Quả báo tạo tượng Phật,

Sẽ làm Thiên Đế Thích,

Thống lĩnh đệ nhị thiên[37],

Trời Đao-lợi kính thờ.

Quả báo tạo tượng Phật,

Người ấy thoát cõi Dục,

Làm đến Phạm thiên vương,

Được Phạm chúng cung kính.

Quả báo tạo tượng Phật,

Hưởng phúc đúng như thế,

Hoặc khắc, vẽ tượng Phật,

Trời đất còn đếm được

Phúc kia không thể lường.

Vì thế cúng dường Phật,

Dùng hoa, hương, nước thơm,

Cúng dường bậc Đại sĩ,

Được vô lậu giải thoát.

XV.4. Cúng dường

Kinh Chuyển luân ngũ đạo ghi: “Đức Phật nói:

- Tu tạo công đức, thì bản thân phải tự làm, như thắp hương, đốt đèn, được phúc rất lớn. Thắp hương, làm phúc.., cho đến tụng đọc kinh điển, không được nhờ người làm, như mời người khác ăn cơm, mình sao no được? Thắp hương, quét dọn, chong đèn, dâng hươngtrai hội, đọc kinh cúng dường, [77a] đó là việc phải thường làm. Cúng dường được phúc, chư thiên phù hộ, muôn ác đều tiêu, chúng ma qui phục. Nếu người biếng nhác, không chịu siêng năng, một mai mắc bệnh, hoặc gặp việc chẳng lành, mới muốn thắp hương làm phúc thì chư thiên chưa kịp xuống trần mà các ma đã tranh nhau đến quấy nhiễu, biến hiện muôn điều quái dị. Vì lí do đó, cần phải siêng năng làm phúc. Tội phúc đã gieo, theo người như bóng với hình. Gieo giống vào ruộng phúc, như cây Câu-ni-loại, ban đầu chỉ gieo một hạt, dần dần lớn lên, đơm hoa kết trái vô số.

Phật bảo A-nan:

- Cúng dường chỉ một mà phúc báo đạt được gấp vạn phần. Lời ta nói không hề hư dối vậy.

Ngài lại nói kệ:

Người hiền ưa cúng dường,

Được thiên thần phù hộ,

Thí một được vạn lần,

Sống lâu và an vui.

Nay cúng dường người hiền,

Phúc ấy không thể tính,

Rồi sẽ thành Phật đạo,

Độ thoát khắp mười phương”.

XV.5. Chuẩn bị nước tắm cho tăng

Kinh Thí dụ ghi: “Vào ngày mồng tám tháng chạp Đức Phật dùng thần lực hàng phục bọn lục sư ngoại đạo[38]. Chúng đấu không lại Phật bèn nhảy xuống sông tự tử. Phật lại thuyết pháp giáo hóa các ngoại đạo khác, họ đều quy phục, nên cùng nhau bạch Phật:

- Bạch Đức Thế Tôn! Ngài đã dùng nước chính pháp tẩy sạch hết những vết cấu bẩn trong tâm chúng con, nay chúng con thỉnh chư tăng tắm gội để trừ sạch những nhơ bẩn trên thân thể”.

Lấy đây làm lệ thường. (Theo văn kinh này cúng nước cho tăng tắm gội vào ngày mồng tám tháng chạp)

Kinh Ma-ha sát-đầu[39] có ghi: “Phật bảo với mọi người:

- Chư Phật trong mười phương đều hạ sinh, xuất gia, thành đạo, nhập niết-bàn vào nửa đêm ngày mồng tám tháng tư.

Đức Phật lại bảo:

- Sở dĩ lấy ngày mồng tám tháng tư là vì trong khoảng giao thời giữa mùa xuân và mùa hè, mọi tai ương đều tan biến, vạn vật đều sinh sôi, độc khí không xuất hiện, không nóng cũng không lạnh, khí hậu ôn hòa nên chư Phật đều sinh ra trong ngày ấy.

Nhân dân trong nước đều ghi nhớ công đức của Phật, nên tắm gội tượng Phật như khi Ngài còn tại thế.

Lại vì muốn chỉ bày cho mọi người nên Phật nói:

- Khi còn là bồ-tát, Ta ba mươi sáu lần làm vua trời Đế Thích, ba mươi sáu lần làm Kim luân vương, ba mươi sáu lần làm Phi hành hoàng đế[40].

Ngày nay, ai có lòng thành nhớ nghĩ đến ân Phật Thích-ca, dùng hoa, hương tắm gội tượng Phật, người đó sẽ được phúc tối thắng, được chư thiên, quỉ thần chứng minh. Phép tắm Phật ngày mồng tám tháng tư nên dùng ba loại hương như đô lương hương[41]; [77b] hoắc hương và ngãi nạp hương.

Hòa ba loại hương này lại rồi đem ngâm trong nước sẽ cho ra màu xanh. Nếu ba loại hương trên không đủ, có thể dùng tần bì màu tía xanh để thay. Lại lấy uất kim hương vò nát và ngâm trong nước thì sẽ ra màu đỏ. Lấy nước sạch rưới trên tượng xong rồi lấy bông vải trắng, lụa trắng lau khô tượng. Sau cùng, tự kiểm tra lại rồi lấy nước hương trên rưới lên tượng. Đây mới là thanh tịnh được phúc báo đệ nhất”.

Kinh Ôn thất ghi: “Phật bảo trưởng giả Kỳ-vực:

- Khi tắm gội phải chuẩn bị đủ bảy thứ thì trừ được bảy bệnh, được bảy phúc báo. Bảy thứ là đốt lửa, nước sạch, tháo đậu[42], tô cao[43], tro sạch, cành dương, ao lót.

Trừ bảy bệnh là tứ đại an ổn, trừ phong hàn, trừ bệnh tê liệt; trừ lạnh, trừ nóng, tẩy sạch nhơ bẩn; thân thể nhẹ nhàng, mắt trong sáng.

Được bảy phúc báo là:

1. Thân thể không bệnh, sinh ra ở đâu cũng thường an ổn

2. Đời đời sinh ra thân luôn sạch sẽ và tướng mạo xinh đẹp

3. Thân thể thường thoảng hương thơm, y phục sạch sẽ chỉnh tề

4. Thân thể trơn láng, có oai quang, có đức lớn

5. Nhiều người theo phẩy sạch bụi bặm trên thân

6. Răng trắng đều, miệng thoảng hương thơm, lời nói được nhiều người tin tưởng

7. Sinh ra ở đâu cũng tự nhiên có y phục”.

Luật Thập tụng ghi: “Tắm gội có năm điều lợi ích:

1.Thân thể sạch sẽ.

2. Da đồng một màu.

3. Trừ nóng lạnh.

4. Hạ phong[44] điều hòa.

5. Ít bệnh hoạn.

Vào mùa hạ, thời tiết rất nóng bức, có người làm vườn gánh nước tưới cây, thấy Xá-lợi-phất liền phát khởi chút lòng lành, ông gọi:

- Xin hãy cởi áo đến bên gốc cây, tôi sẽ tắm gội cho ngài để cơ thể được mát mẻ.

Người làm vườn sau khi mạng chung liền sinh lên trời Đao-lợi, có oai lực lớn. Công lao tuy ít, nhưng nhờ gặp ruộng phúc tốt, nên phúc báo đạt được rất lớn.

Vị trời ấy liền bay xuống chỗ ngài Xá-lợi-phất, rãi hoa cúng dường. Thấy vị trời ấy thành tâm, ngài Xá-lợi-phất liền thuyết pháp khiến ông ta đắc quả Tu-đà-hoàn”.

Kinh Hiền ngu ghi: “Bấy giờ, trời Thủ-đà-hội[45] xuống cõi Diêm-phù-đề, đến chỗ của Đức Phật thỉnh Ngài cùng các tì-kheo tắm rửa và cúng dường. Đức Phật im lặng nhận lời. Thưa xong, vị trời chuẩn bị thức ăn, thức uống và đồ dùng tắm rửa. Phòng tắm, nước ấm thích hợp, dầu tô, cỏ chà thân đều đầy đủ.

[77c] Nhận sự cúng dường này. Đức Phật và các tì-kheo tắm xong rồi thụ thực với những thức ăn ngon bổ thật hiếm có ở đời. Ăn xong, súc miệng rồi mỗi vị đều trở về chỗ ngồi của mình.

Bấy giờ, ngài A-nan bạch Phật:

- Vị trời này khi xưa làm công đức gì nay thân hình được xinh đẹp uy nghiêm lạ thường, ánh sáng rực rỡ như núi báu lớn?

Phật bảo A-nan:

- Thuở xưa, vào thời Đức Phật Tì-bà-thi, vị trời này là một người nghèo khổ đi làm thuê để kiếm sống. Một hôm, ông nghe Đức Phật dạy về công đức của việc tắm cho chúng tăng, trong lòng ông sinh vui mừng, liền siêng năng làm việc, kiếm được một ít tiền. Ông đem số tiền đó sắm sửa thức ăn và dụng cụ tắm rửa rồi thỉnh Phậtchúng tăng đến cung kính dâng cúng. Nhờ phúc đức đó, sau khi ông mạng chung được sinh lên trời Thủ-đà-hội có được tướng tốt này. Từ bảy đời Đức Phật đến naycho đến nghìn Đức Phật ra đời, ông cũng tắm Phật và tăng như thế. Phật thụ ký cho ông ta, hai a-tăng-kì và một trăm kiếp ở đời vị lai sẽ thành Phật hiệu là Tịnh Thân, đầy đủ mười đức hiệu”.

Kinh Tạp thí dụ ghi: “Thưở xưa, vào thời Phật Duy-vệ, Nan-đà em của Phật do nhờ phúc đức của một lần tắm chúng tăng, nên nay được sinh vào họ Thích, có ba mươi tướng quí, thân hình có ánh sáng màu vàng rực rỡ, được sinh cùng thời với Phật, lại tu hành tinh tiến chứng được lục thông.

Người xưa cúng dường chỉ một lần mà còn được phúc báo lớn, huống gì nay đàn-việt có thể cúng dường nhiều lần. Hạnh cúng dường rộng khắp nhất định sẽ thành Phật, được an lạc lớn, độ thoát hết thảy chúng sinh”.

Kinh Phúc điền ghi: “Tì-kheo A-nan bạch Phật:

- Nhớ đời trước con làm người dân trong nước La-duyệt-kì, thân thể mọc mụt độc chữa trị không lành, có một đạo nhân bạn thân đến nói với con: ‘Ông nên chuẩn bị nước tắm cho tăng rồi lấy nước ấy đem rửa mụt ghẻ thì mụt sẽ lành, lại còn được phúc’.

Nghe xong, con vui mừng liền đến chùa với tâm thành kính đào giếng, sắm sửa dầu gội và dụng cụ tắm. Chờ cho chúng tăng tắm rồi con lấy nước ấy rửa mụt ghẻ, mụt lành rất nhanh. Do nhân duyên đó, đời đời sinh ra con được tướng mạo xinh đẹp, thân có ánh sáng màu vàng kim rực rỡ, không dính bụi bặm, chín mươi mốt kiếp thường được phúc lành, quả vui ấy thật là rộng lớn, dài lâu. Nay được gặp Phật, phiền não tiêu trừ, chứng quả A-la-hán”.

Luật Thập tụng ghi: “Phòng tắm ở nước ngoài có hình tròn giống như cái nhà kho, bên trên có lỗ thông hơi, phía dưới có rãnh thoát nước để dẫn nước thoát ra ngoài. Lại đặt một chiếc bình ba ngăn bằng nhau ở nơi mà người có thể sử dụng được. [78a] Bình này đựng ba loại nước, ngăn trên đựng nước nóng, ngăn giữa đựng nước ấm, ngăn dưới cùng đựng nước lạnh. Người tắm có thể tùy ý sử dụng, không nấu nước nóng tắm riêng, nên gọi là tịnh thủy[46]”.

Kinh Tăng nhất a-hàm ghi: “Bấy giờ, Đức Phật bảo các tì-kheo:

- Xây dựng nhà tắm có năm công đức: trừ gió; chóng lành bệnh; trừ được bụi bặm; thân thể nhẹ nhàng; da dẻ hồng hào.

Bốn chúng, nếu có ai muốn được năm công đức này phải nên xây dựng nhà tắm”.

Luật Tăng-kỳ ghi: “Khi muốn tắm, sai người phụ việc v.v... rưới nước quét dọn sạch sẽ, chuẩn bị củi lửa, nấu nước vừa đủ nóng rồi mới đánh kiền chùy để mọi người biết. Khi vào tắm mỗi người phải lấy giây buộc y làm dấu rồi móc lên giá. Không được đi vung tay mà vào nhà tắm, nên để một tay che phía trước mà đi vào. Nếu muốn vào lau cho thầy thì phải thưa trước mới không có lỗi, không được đồng thời bảo nâng cả hai tay mà lau, lau một tay, một tay che phía trước, xong thì lau tay kia và những bộ phận khác. Vào tắm thì phải đóng cửa mà ngồi để cho mồ hôi trong thân thoát ra. Phải lượng nước mà dùng không được dùng nhiều. Nếu tắm ở ao thì được dùng nước thoải mái không có tội. Không cho phép trần truồng tắm ở chỗ trống, nếu nước tới ngang lưng hay nách thì được tắm trần không phạm. Nếu khi ngồi xuống mà nước ngập đến rốn thì cũng được tắm trần. Tắm xong, ra khỏi nước phải đắp y vào, chỉnh sửa ngay thẳng mới được đi”.

XV.6. Các việc phúc khác

Luận Tát-bà-đa ghi: “Người làm phòng tăng, tháp, tượng, đào giếng nơi đường lớn, cho đến làm cầu, thuyền, thì sinh ra ở nơi nào cũng thường làm thí chủ giàu có, trừ ba lý do: việc làm trước bị hủy hoại, hai là chưa làm mà chết, ba là khởi tà ác. Không có ba lý do này thì được phúc đức”.

Kinh Tăng nhất a-hàm ghi: “Bây giờ, Phật bảo các tì-kheo:

- Bố thí có năm việc không được phúc:

1. Đem dao cho người.

2. Đem thuốc độc cho người.

3. Đem trâu rừng cho người.

4. Đem gái dâm cho người.

5. Xây dựng miếu cúng thần.

Lại làm năm việc được phúc đức sinh lên cõi trời, người:

1. Tạo lập công viên.

2. Trồng rừng.

3. Xây dựng cầu đường.

4. Đóng thuyền lớn.

5. Xây dựng phòng xá, nhà nghỉ”.

[78b] Bấy giờ, Đức Phật nói kệ:

Lập vườn cho bóng mát,

Và tạo dựng cầu đường,

Đóng thuyền chở người qua,

Cùng xây xựng phòng xá,

Người ấy trong mọi thời,

Luôn luôn được phúc đức,

Giới định đã thành tựu,

Nhất định được sinh thiên.

Luật Tăng-kì ghi: “Có các thiên tử dùng kệ hỏi Đức Phật:

Người nào sinh cõi thiện?

Người nào được sinh thiên?

Người nào cả ngày đêm,

Trưởng dưỡng công đức lành?

Bấy giờ, Thế Tôn dùng kệ đáp:

Đào giếng nơi đường vắng,

Lập vườn cây ăn quả,

Trồng rừng cho bóng mát,

Cầu, đò để người qua,

Bố thí tu tịnh giới,

Trí tuệ bỏ xan tham,

Công đức ngày thêm lớn,

Thường sinh làm trời, người”.

Kinh Chính pháp niệm ghi: “Nếu có chúng sinh đem nước sạch bố thí cho mọi người, hoặc đậy miệng giếng vì sợ rắn độc rơi vào trong giếng khiến những người đi đường uống nhằm nước này đưa đến ngộ độc. Những người thường làm việc này, sau khi chết được sinh lên trời Tam Không Hầu, hưởng năm thứ dục lạc. Khi thọ mạng hết sinh làm thân người, được vua yêu mến.

Nếu người bị bệnh khổ, hơi thở nặng nhọc, mạng sống chưa hết, như có người bố thí cho họ nước uống hay của cải để họ trị bệnh thì sau khi chết, người bố thí sinh lên cõi trời Thâm Thủy được hưởng niềm vui giống như Đế Thích. Khi thọ mạng cõi trời hết tuy theo nghiệp thác sinh, nhưng không bị rơi vào ba đường ác, được làm thân người, đời đời sinh ra không bị bệnh khổ cho đến không có buồn phiền.

Nếu có chúng sinh nào trì giới, cúng dường quạt cho tì-kheo tăng, giúp được mát mẻ trong lúc tụng kinh thì sau khi chết, người ấy được sinh lên cõi trời Phong Hành, thường có mùi hương thổi đến, khiến được an vui không gì sánh bằng.

Nếu có chúng sinh, tạo lập cầu, thuyền, bằng tâm thiện giúp người trì giới và những người khác qua lại, họ cũng không làm điều ác thì sau khi chết người ấy sinh lên cõi trời Man Trì hưởng năm thứ dục lạc, lúc thọ mạng hết, sinh vào cõi người được giao trông coi kho báu của vua”.

Kinh Thí dụ ghi: “Xưa có ba mẹ con thường làm ba việc:

1. Làm thuyền lớn đặt sẵn ở dòng sông để đưa mọi người qua.

2. Ở nơi đô thị đào giếng nước trong để cung cấp cho muôn dân.

3. Tại bốn cửa thành đều xây nhà xí để mọi người tiểu tiện.

Nhờ tu công đức này, ba người sau khi chết đều được sinh lên trời hưởng phúc tự nhiên, sinh xuống trong cõi người thì được giàu sang phú quý và sống lâu, dù sinh ra nơi nào cũng không bị rơi vào trong ba đường ác. [78c] Tạo phúc này tuy nhỏ, nhưng được kết quả nhiều vô lượng, huống gì có người rộng tu công đức, dựng tháp xây chùa lập đàn bố thí làm các việc phúc thì phúc báo ấy gấp trăm nghìn vạn lần, phúc báo này, không thể tính kể.

Luận Thành thật có trích dẫn một bài kệ trong khế kinh:

Nếu trồng rừng, vườn cây,

Đào giếng, xây dựng cầu,

Việc phúc người ấy làm,

Ngày đêm thường tăng trưởng.

Kinh Hoa thủ ghi: “Phật bảo Xá-lợi-phất:

- Bồ tát có bốn pháp làm cho quả vị Vô thượng bồ-đề hoàn toàn không lui sụt, đó là:

1. Nếu thấy chùa tháp hư hoại, nên dùng đất, hoặc vữa hồ cho đến một viên gạch tu sửa.

2. Ở ngả tư, nơi nhiều người nhìn thấy mà xây tháp, tạc tượng; trong tháp vẽ hình Đức Phật chuyển pháp luân, cảnh Phật xuất gia cho đến cảnh Phật nhập niết-bàn nơi ta-la song thụ, tạo điều kiện khiến cho mọi người nhớ nghĩ đến ân đức của Phật.

3. Nếu có hai bộ tì-kheo tăng tranh cãi thì ân cần tìm đủ mọi cách giúp cho chư tăng hòa hợp.

4. Nếu thấy Phật pháp sắp hoại diệt, phải thường đọc tụng, thuyết giảng kinh điển cho đến một bài kệ khiến cho chính pháp không mất; lại vì giữ gìn chính phápcúng dường pháp sư, chuyên tâm hộ pháp không tiếc thân mạng.

Nếu bồ-tát thành tựu bốn pháp này thì đời đời sẽ làm Chuyển luân thánh vương, được thân hình to lớn, có sức mạnh như Na-la-diên, về sau bỏ bốn thiên hạ mà đi xuất gia, tu bốn Phạm hạnh một cách trọn vẹn. Sau khi chết, sinh lên trời làm Đại Phạm vương cho đến chứng quả Vô thượng. Người trí muốn cầu Phật đạo phải tu học như thế”.

Kinh Phóng ngưu[47] ghi: “Phật bảo các tì-kheo:

- Có mười một việc, người chăn trâu không biết chăn tốt, không biết cách nuôi dưỡng trâu. Đó là:

1. Không biết khí sắc của trâu.

2. Không biết xem tướng mạo.

3. Không biết tắm rửa.

4. Không biết chăm sóc vết thương.

5. Không biết xông khói un muỗi.

6. Không biết chọn đường đi.

7. Không biết cách đối xử với trâu.

8. Không biết chọn nơi để trâu qua sông.

9. Không biết tìm chỗ cỏ ngon, nước trong mát cho trâu.

10. Không biết vắt sữa trâu, không chừa sữa lại.

11. Không biết phân biệt thức ăn nào nên cho trâu ăn, thức ăn nào không nên cho trâu ăn.

Mười một việc như thế, người chăn trâu không biết cách nuôi dưỡng, bảo vệ trâu, làm cho trâu không thể sinh sôi nảy nở mà ngày càng suy giảm”.

Đây là ví dụ cho một tì-kheo cũng có mười một pháp tổn hại, ở đây không thể trình bày đầy đủ.

[79a] Thế rồi Đức Phật nói kệ:

Người chăn trâu cẩn thận,

Là phúc của ông chủ,

Sáu con sinh sáu năm,

Trở thành sáu mươi con,

Người chăn trâu thông minh,

Biết phân biệt các tướng…

Kẻ chăn trâu như thế,

Phật đời trước thường khen.

XV.7. Kệ kết khuyến

Bóng ngay thì hình thẳng,

Hang trống vọng âm vang,

Phúc lành giúp vận tốt,

Do nhân thì có quả.

Xả thân cúng dường Phật,

Chí thành được khen,

Âm đức bố thí,

Phúc đến âm thầm.

 

Đức Nghiêm- Nguyên Nhứt dịch



[1] 莉: tên một thứ cỏ.

[2] Hoắc 藿: lá cây đậu.

[3] Kinh Ma-đăng nữ (Ma-đăng già kinh 摩登伽經): kinh, hai quyển, do các ngài Ngô Trúc, Luật-viêm dịch. Nội dung Đức Phật độ Ma-đăng-già và nói về các ngôi sao…

[4] Cây bối-đa (Gđ: bối-đa-la diệp貝多羅葉; S: pattra): loại cây dùng lá để chép tư liệu hoặc kinh văn. Khi chưa phát minh ra giấy, người Ấn Độ thời cổ dùng lá thay giấy.

[5] Trọng Ni 仲尼: Khổng Tử.

[6] Thân phần 身分: nam căn.

[7] Hoa báo 華報: hoa nở trước khi kết trái. Chúng sinh trồng nghiệp nhân thiện ác, quả có được từ nghiệp nhân này là quả báo, cái có trước quả báo thì gọi là hoa báo. Như lấy việc tu thiện, niệm Phật làm nghiệp nhân, vãng sinh Cực Lạchoa báo, về sau chứng Đại Bồ-đềquả báo.

[8] Tì-kheo doanh sự (doanh sự tỉ khâu 營事比丘): tì-kheo chuyên quản lí các việc chúng tăng trong chùa.

[9] Bốn hoằng thệ nguyện (tứ hoằng thệ nguyện 四弘誓願): bốn điều nguyện rộng lớn mà tất cả bồ-tát nên phát khởi khi còn ở nhân vị như: chúng sinh vô biên thệ nguyện độ. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Pháp môn vô lượng thệ nguyện học. Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

[10] Bốn lưu (tứ lưu 四流): gồm kiến lưu, dục lưu, hữu lưuvô minh lưu.

[11] Diệu giác 妙覺: tự mình giác ngộ khiến người giác ngộ, hai việc làm ấy đều được tròn đầy gọi là diệu giác. Tức chỉ quả vị Phật.

[12] Chính đạo 正 道 (Cg: bát chính đạo; S: āryāṣṭāṅgika-mārga): tám con đường thánh. Đó là chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng, chính tinh tiến, chính niệm, chính định.

[13] Diêm-phù-đề 閻 浮提 (S:Jambu-dvīpa): châu Nam Thiệm-bộ, một trong bốn châu lớn nằm ở phía nam núi Tu-di. Diêm-phù-đề vốn riêng chỉ cho Ấn Độ nhưng sau trở thành chỉ chung cho thế giới này.

[14] Đông Phất-vu-đãi 東 弗于逮 (S: Pūrva-videha): châu Đông Thắng Thân. Châu này nằm trong biển nước mặn phía đông núi Tu-di, vì thân người ở châu này xinh đẹp nên gọi là “Thắng Thân”.

[15] Tây Cù-da-ni 西 拘耶尼 (S:Apara-godānīya): châu Tây Ngưu Hóa. Châu này nằm ở phía tây của núi Tu-di, do dùng trâu, bò để trao đổi buôn bán nên gọi là “Ngưu Hóa”.

[16] Bắc Uất-đơn-việt 北 欝單越 (S: Uttara-kuru): châu Bắc Câu-lư. Châu này nằm ở phía bắc núi Tu-di. Câu-lư nghĩa là thắng xứ. Vì người ở cõi này y báo, chính báo đều thù thắng nên có tên như thế.

[17] Hoàng môn 黃門 (S: paṇḍaka): ở đây chỉ cho người nam bị tịnh thân mất nam căn để đưa vào cung lo liệu các việc trong hậu cung.

[18] Hoan hỉ hoàn 歡喜丸: một dạng thức ăn dùng sữa, bột, mật gừng v.v… trộn đều vo thành viên.

[19] Điều-đạt 調 達 (S: Devadatta; Cg: Đề-bà-đạt-đa): vị tì-kheo phạm tội ngũ nghịch, phá hoại tăng đoàn, đối nghịch với Phật. Ông là con của Hộc Phạn vương (chú của thái tử Sĩ-đạt-ta ), cũng có thuyết cho là con của Cam Lộ Phạn vương hoặc con của trưởng giả Thiện Giác.

[20] Nước Duy-da-li (Duy-da-li quốc 維耶離國; Cg: Tì-xá-li thành; S: Vaiśāli): một quốc gia thời xưa thuộc vùng Trung Ấn Độ. Đại sĩ Duy-ma trụ ở nước này và cũng là nơi bảy trăm vị hiền thánh kết tập kinh điển lần thứ hai sau khi Đức Phật nhập diệt một trăm năm.

[21] Phật Duy-vệ (Duy-vệ Phật 維衛佛): tức Phật Tỳ-bà-thi, một vị Phật ở kiếp quá khứ.

[22] Dương Sinh 楊生: người Hoằng Nông, đời Đông Hán. Thuở nhỏ ông cứu một con chim sẻ vàng, sau đó có một đồng tử áo vàng tặng cho ông bốn vòng ngọc trắng, khiến cho con cháu được hiển vinh, tước vị lên đến tam công.

[23] Họ Khổng (Khổng thị 孔氏): chỉ cho Khổng Tử.

[24] Tam phụ 三輔: tiếng hợp xưng ba chức quan cùng cai trị một địa phương thời Tây Hán.

[25] Mục-kiền-liên Tử Đế-tu 目犍連子帝須 (S: Maudgaliputra Tiśya): vị a-la-hán sống vào thời vua A-dục ở Ấn Độ. Theo truyền thuyết ngài là Đại Phạm thiên Đế-tu từ cõi trời Phạm giáng sinh vào gia đình bà-la-môn Mục-kiền-liên, cho nên gọi là Mục-kiền-liên Tử Đế-tu.

[26] Sinh căn 生根: tức nam căn.

[27] Sinh chi 生支: tức nam căn.

[28] Trời Hoan Hỉ (Hoan Hỉ thiên 歡喜天; S: Nandikeśvara): tên một cõi trời. Hoan Hỉ thiên còn là tên khác của thần Thấp-bà ở Ấn Độ. Phật giáo gọi Nga-na Bát-để là con của Thấp-bà và Ba-la-hòa-để. Nga-na Bát-để ý dịch là quân đội, nghĩa là Hoan Hỉ thiên và em trai là Tắc-kiền-đà cùng nhau thống trị quyến thuộc của cha là trời Đại Tự Tại, cho nên có tên là Hoan Hỉ thiên.

[29] Thái Âm, Tần Cảnh 蔡愔, 秦景: hai vị quan mà vua Hán Minh Đế sai sang Tây Vực thỉnh kinh tượng, vào niên hiệu Vĩnh Bình năm thứ 10.

[30] Lỗ Dương 魯 楊: Chỉ Lỗ Dương công, người nước Sở thời Chiến Quốc. Theo truyền thuyết, ông là bậc anh hùng, múa giáo khiến cho mặt trời quay ngược lại.

[31] Sữa lạc: (lạc tô 樂酥): một dạng sữa được nấu đặc.

[32] Ứng chân 應眞: quả vị A-la-hán.

[33] Hoa Nại (Nại hoa 花柰): loài hoa mà khi kết quả có hình giống như trái lê. Trong Kê Chích tập có ghi: “Thuở xưa, ở nước Tây Vực có một loài cây, lúc kết trái thì có một người con gái ngồi trên đó và được vua đưa về làm vợ. Sau đó bà ta cúng dường khu vườn ấy cho Đức Phật làm tinh xá”.

[34] Thiên đế 天帝: vua của cõi trời Đao-lợi, mang họ Thích-ca nên thường gọi là Thiên Đế Thích.

[35] Ba thừa (tam thừa 三乘, S: trīṇi yānāni): ba phương tiện độ sinh phù hợp với ba dạng căn cơthanh văn, duyên giác và bồ-tát.

[36] Tự tứ 自恣 (S: pravāraṇā): thuận theo ý người khác mà tự nêu lên lỗi lầm của mình đã phạm trước chúng tăng. Tức ngày cuối cùng của mùa an cư, mỗi vị tì-kheo tự nêu lên các tội mình đã phạm trong ba việc thấy nghe nghi, đối trước các tì-kheo khác mà sám hối, sám hối thì được thanh tịnh, tự sinh vui mừng, nên gọi là tự tứ.

[37] Đệ nhị thiên 第二天 (S: Trāyastriṃśa; Cg: Đao-lợi thiên): tầng trời thứ hai trong sáu tầng trời cõi Dục.

[38] Lục sư ngoại đạo 六師外道: sáu phái ngoại đạo gồm có:

1. Phú-lan-na Ca-diếp 富蘭那迦葉 (S: PūraṇaKāśyapa): Phú-lan-na là tên, Ca-diếp là họ. Phái này chủ trương hết thảy các pháp đoạn diệt tính không, phá bỏ đạo lí vua tôi, cha, con, trung, hiếu.

2. Mạt-già-lê Câu-xa-lê tử 末伽梨拘賒梨子 (S: MaskārīGośaliputra): Mạt-già-lê là tên, Câu-xa-lê là tên của mẹ. Phái này chủ trương sự khổ vui của chúng sinh chẳng phải do nhân duyên, chỉ là tự nhiên mà có.

3. San-xà-dạ Tỳ-la-chi tử 刪闍夜毘羅胝子(S: SañjayaVairaṭīputra): San-xà-dạ là tên, Tỳ-la-chi là tên của mẹ. Phái này chủ trương không cần cầu đạo giải thoát, chỉ cần trải qua kiếp số sinh tử thì tự dứt hết sự khổ, như cuộn gai tròn lăn từ trên núi cao xuống, khi cuộn gai hết thì tự dừng.

4. A-kì-đa-sí-xá Khâm-bà-la 阿耆多翅舍欽婆羅 (S: Ajitakeśakambala): A-kì-đa-sí-xá là tên, Khâm-bà-la là y phục thô xấu. Phái này chủ trương thân mặc y xấu, dùng năm thứ nóng để đốt thân, lấy khổ hạnh làm đạo.

5. Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên 迦羅鳩馱迦旃延 (S: KakudaKātyāyand): Ca-la-cưu-đà là tên; Ca-chiên-diên là họ. Phái này chủ trương các pháp cũng có tướng cũng không tướng. Ứng với vật mà phát khởi nhận thức. Nếu người hỏi là có thì đáp là không, nếu người hỏi là không thì đáp là có.

6. Ni-kiền-đà Nhã-đề tử 尼犍陀若提子 (S: NirgrantaJñātiputra): Ni-kiền-đà là tên gọi chung cho người xuất gia, Nhã-đề là tên mẹ. Phái này chủ trương khổ vui, tội phúc hết thảy đều do đời trước mà nhất định có sự đền bù, chẳng phải đời nay hành đạo mà có thể dứt trừ được.

[39] Kinh Ma-ha-sát đầu (Ma-ha-sát đầu kinh 摩訶剎頭經; S: Mahāsattva Sūtra): kinh Quán Phật hình tượng.

[40] Phi Hành hoàng đế 作飛行皇帝: vị vua có uy lực thống trị cả bốn châu thiên hạ, đầy đủ bảy báu và có nghìn người con làm quyến thuộc.

[41] Đô lương hương 都梁香: tên khác của cây trạch lan. Vào thời Bắc Ngụy, ở phía tây huyện Đô Lương có ngọn núi nhỏ, trên núi có một dòng suối cạn, nước trong vắt, trong suối mọc nhiều lan, vì mọc ven dòng suối, nên người ta gọi cây ấy trạch lan, loại thực vật này sống ở phía tây huyện Đô Lương nên cũng gọi là đô lương hương.

[42] Tháo đậu 澡豆: chất tẩy giống như xà phòng ngày nay.

[43] Tô cao 酥膏: chất gội giống như sữa tắm ngày nay.

[44] Hạ phong 下 風: xì hơi. Thuở xưa, khi Đức Phật ngự tại thành Xá-vệ, có nhóm lục quần tì-kheo không giữ uy nghi, làm việc xấu ác, cố ý ăn nhiều đậu, bột, uống nhiều sữa, rồi ở trong phòng lần lượt xì hơi vang tiếng, dùng âm thanh ấy đùa giỡn chọc tức các tì-kheo trưởng lão. Nhân đó, các tì-kheo thỉnh cầu Đức Phật chỉ dạy việc hạ phong. Đức Phật dạy: “Ai sắp hạ phong phải đè nén, nếu không được thì nên đến ngồi phía dưới cùng, khi xì hơi không được gây tiếng động làm nhiễu loạn các tì-kheo ngồi gần”.

[45] Trời Thủ-đà-hội (Thủ-đà-hội thiên 首陀會天): cõi trời Tịnh Cư, thuộc cõi Sắc nằm trong Tứ Thiền thiên.

[46] Tịnh thủy 淨水: nước trong sạch, ý nói nước được sử dụng đúng với phép tắc Phật chế.

[47] Kinh Phóng ngưu (Phóng ngưu kinh 放 牛經): kinh, một phẩm rút ra từ Tăng-nhất A-hàm đồng với nội dung kinh này.

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 707)
Các chuyên gia đã từng nói cơ năng não bộ của con người so với máy vi tính phức tạp nhất trên thế giới lại càng phức tạp hơn.
(View: 1143)
Phật Đà Thập Đại Đệ Tử Tán - Hòa thượng Tuyên Hóa giảng thuật, Nguyễn Minh Tiến Việt dịch
(View: 2681)
Các tác phẩm của Thầy phần lớn được dịch từ Hán tạng, gồm giới kinh và các nguồn văn học Phật giáo Đại thừa với tư tưởng uyên thâm về triết họctâm lý học.
(View: 23998)
Đã phát khởi chí nguyện Đại thừa, lại kiên quyết thực hiện chí nguyện ấy, đó thực sự là cung cách hùng dũng của con sư tử đang vươn mình, và do đó phải được nhìn đến bằng cung cách của con voi chúa.
(View: 23964)
Vua và phu nhân gởi thơ cho Thắng Man, đại lược ca ngợi công đức vô lượng của Như Lai, rồi sai kẻ nội thị tên Chiên Đề La đem thư đến nước A Du Xà... HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 2771)
Tất cả các nhà đạo học và thế học muốn thành tựu kết quả tốt đẹp trong cuộc đời, thì trước hết, họ phải trải qua quá trình kham nhẫn, nỗ lực, tu, học, rèn luyện tự thân, giúp đỡ, và đem lại lợi ích cho tha nhân.
(View: 6863)
Bảy Đức Thế Tôn quá khứ từ Thế Tôn Tỳ Bà Thi, Thế Tôn Thích Ca, và chư Thế Tôn vị lai đều chứng ngộ Vô Thượng Bồ Đề từ sự chứng ngộ sự thật Duyên khởi.
(View: 6169)
Trong các bản Kinh Pháp Cú, phổ biến nhất hiện nay là Kinh Pháp Cú Nam Truyền, tức là Kinh Pháp Cú dịch theo Tạng Pali.
(View: 4329)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau:
(View: 3672)
Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama
(View: 12449)
Quy Sơn Cảnh Sách Học Giải - Tác Giả: Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu; Thích Thiện Trí (Thánh Tri) Phỏng Việt Dịch và Viết Bài Học Giải
(View: 4068)
Kinh này khởi đầu bằng lời người Bà La Môn hỏi rằng làm thế nào người ta có thể tự thanh tịnh hóa khi nhìn thấy một vị Thượng nhân đã Thanh tịnh,
(View: 41194)
Nguyên xưa ngài Quán Nguyệt Pháp sư đem hai thời kinh khóa tụng: Mai đóng chung và chiều nhập chung lại làm một đại thể làm một tập lớn. - Chú giải: Ngài Quán Nguyệt; Dịch giả: HT Thích Khánh Anh
(View: 5004)
Tôi nghe như vậy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại thành phố Śrāvastī (Xá-vệ), nơi rừng cây Jeta (Kì-đà), vườn của Ông Anāthapiṇḍada (Cấp-cô-độc),
(View: 3871)
Bài kinh này trong đoạn cuối (bài kệ 787), câu “không nắm giữ gì, cũng không bác bỏ gì” được Thanissaro Bhikkhu ghi chú rằng ...
(View: 4774)
Lúc bấy giờ, Bồ tát Đại sĩ Akṣayamatir[1] từ chỗ ngồ đứng dậy, vắt thượng y[2] qua một bên vai, chắp hai tay[3] hướng về đức Thế Tôn và thưa rằng:
(View: 4058)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(View: 4766)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(View: 6516)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(View: 13245)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(View: 4200)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(View: 3178)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(View: 5671)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(View: 5999)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(View: 6228)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(View: 7447)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(View: 7165)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(View: 5577)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(View: 6147)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(View: 6068)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(View: 7829)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(View: 8167)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(View: 5280)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(View: 6443)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(View: 6877)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(View: 8993)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(View: 6559)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(View: 6944)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(View: 5855)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(View: 6603)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(View: 6143)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(View: 11093)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(View: 5836)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(View: 6063)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(View: 6592)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(View: 6506)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(View: 8536)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(View: 7521)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(View: 7311)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(View: 7720)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(View: 10564)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(View: 6529)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(View: 6999)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(View: 11689)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(View: 7652)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(View: 12145)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(View: 11296)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 7839)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(View: 23781)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(View: 6589)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
Quảng Cáo Bảo Trợ