Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
19,645,510

Kinh Phật Bát Nê Hoàn

Wednesday, November 13, 201300:00(View: 9725)
Kinh Phật Bát Nê Hoàn


KINH PHẬT BÁT NÊ HOÀN


Đại Chánh Tân Tu số 0005 - Nguyên tác Hán ngữ [1] [2]

Hán dịch:  Tây Tấn, Hà Nội, Sa môn Bạch Pháp Tổ.

Việt dịch: Thích Chánh Lạc

---o0o--- 

 

Quyển thượng

Nghe như vầy:

Một thời Phật ở trong Diêu Sơn, nước Xá Vệ cùng một ngàn hai trăm năm mươi Tỳ kheo đông đủ. Bấy giờ vua nước Ma Kiệt Ðà tên là A Xà Thế, cạnh tranh với nước Việt Kỳ, muốn đem quân sanh chinh phạt. Nhà vua triệu tập quần thần để cùng nhau nghị luận: “Nước Việt Kỳ giàu có, nhân dân đông đúc, có nhiều núi châu báu, không chịu thần phục ta, vậy hãy đem binh chinh phạt nước ấy”.

Trong nước có một hiền thần tên là Vũ Xá. Ông Vũ Xá thuộc dòng dõi Thệ Tâm thưa:

-Xin tuân lệnh!

Vua bảo Vũ Xá rằng:

-Ðức Phật cách đây không xa. Hãy đem lời của ta đến chỗ đức Phật, đầu mặt lạy dưới chân Ngài, hỏi thăm sức khỏe Ngài: Thân thểbình an chăng? Ăn uốngbình thường chăng? Hỏi thămđảnh lễ đức Phật xong, hãy đem ý của ta mà bạch Ngài rằng: “Ðại quốc Việt Kỳ khinh dễ vua của con, nhà vua muốn đem quân sang chinh phạt. Vậy có thể đắc thắng không?”.

Ông Vũ Xá nhận lệnh của vua, liền chuẩn bị năm trăm cỗ xe, hai ngàn người cỡi ngựa, hai ngàn người đi bộ đến nước Vương Xá. Tới con đường đi bộ liền xuống xe, đi đến trước đức Phật, đầu mặt lạy dưới chân Ngài. Ðức Phật chỉ cái ghế bảo ông ngồi rồi hỏi:

-Thừa tướng từ đâu đến đây?

Ông thưa:

–Nhà vua bảo con đến đây, lạy dưới chân đức Phật, hỏi thăm sức khỏe của Ngài: Thân thểbình an không? Ăn uốngbình thường không?

Ðức Phật liền hỏi:

–Nhà vua và nhân dân trong nước có an hòa chăng? Ðược mùa hay mất mùa?

Ông thưa: “Nhờ ơn Ðức Phật nên tất cả đều được bình an, hòa thuận, mưa gió thuận hòa, nước nhà giàu có”.

Ðức Phật bảo: “Ông đi đường người đều bình an chăng?”

Ông thưa: “Nhờ ơn Ðức Phật, tất cả đi đường đều bình an không có gì xảy ra”. Rồi ông thưa với đức Phật:

-Nhà vua và nước Việt Kỳ có sự hiềm khích nên nhà vua muốn đem quân sanh chinh phạt, tàn hủy nước đó, vậy ý của Phật như thế nào? Vua của con có thề thắng được chăng?

Ðức Phật dạy: -Nhân dân nước Việt Kỳ nếu thọ trì bảy pháp này, nhà vua không thể chiến thắng được, nếu không thọ trì bảy pháp này, nhà vua có thể chiến thắng được.

Ðức Phật dạy: -Ngày trước ta thường đến nước Việt Kỳ , nước này có Thần xá Cấp Tật, thỉnh thoảng ta dừng chân trong ấy. Trong nước Việt Kỳ có các trưởng lão đều nói với ta rằng: “Vua A Xà Thế muốn đến chinh phạt nước chúng con. Vậy chúng con phải phòng thủ nước thật cẩn thận”.

Ðức Phật nói: “Ta liền bảo các trưởng lão chớ có sầu lo, chớ có sợ sệt. Nếu thọ trì bảy pháp sau đây vua A Xà Thế có đến cũng không thể chiến thắng được các ngươi”.

Vũ Xá hỏi đức Phật: -Bảy pháp đó là những gì ?

Khi ấy đức Phật đang ngồi, tôn giả A Nan đứng phía sau quạt hầu, đức Phật bảo tôn giả A Nan: “Ngươi có nghe người nước Việt Kỳ thường cùng nhau tụ hội, giảng giải, nghị luận về chính sự, tu chỉnh, dự bị để tự phòng thủ chăng?”.

A Nan thưa: “Con có nghe họ thường cùng nhau tụ hội, giảng giải, luận nghị, về chính sự, tu chỉnh, dự bị để tự phòng thủ”.

Ðức Phật dạy: “Như vậy nước ấy không thể suy thối được. Ngươi có nghe dân chúng nước Việt Kỳ, vua tôi thường hòa thuận, quan lại trung lương giúp đỡ lẫn nhau không?”.

Thưa rằng: “Con có nghe dân chúng nước ấy vua tôi thường hòa thuận, quan lại trung lương, giúp đỡ lẫn nhau”.

-Ngươi có nghe dân chúng nước Việt Kỳ cùng nhau tôn trọng luật pháp, hiểu rõ điều quốc cấm, không dám làm điều lỗi lầm chăng?

Thưa rằng: “Con có nghe dân chúng nước ấy cùng nhau tôn trọng luật pháp, hiểu rõ điều quốc cấm, không dám làm điều lỗi lầm”.

-Ngươi có nghe dân chúng nước Việt Kỳ kính cẩn lễ hóa, nam nữ sống riêng biệt, lớn nhỏ thờ kính lẫn nhau chăng?

Thưa rằng: “Con có nghe dân chúng nước Việt Kỳ kính cẩn lễ hóa, nam nữ sống riêng biệt, lớn nhỏ thờ kính lẫn nhau”.

-Ngươi có nghe dân chúng nước Việt Kỳ hiếu thảo với cha mẹ, tôn kính Sư trưởng, nghe lời dạy bảo chăng?

Thưa rằng: “Con có nghe rằng dân chúng nước ấy hiếu thuận cha mẹ, tôn kính Sư trưởng, nghe lời dạy bảo”.

-Ngươi có nghe dân chúng nước Việt Kỳ tôn trọng đất trời, kính nể xã tắc, phụng sự bốn mùa chăng?

Thưa rằng: “Con có nghe dân chúng nước Việt Kỳ tôn trọng đất trời, kính nể xã tắc, phụng sự bốn mùa”.

-Ngươi có nghe dân chúng nước Việt Kỳ tôn thờ đạo đức, ở trong nước có Sa môn Ứng chơn từ các phương đi đến thì cúng dường áo quần, giường nằm, ngọa cụ và thuốc men chăng?

Thưa rằng: “Con có nghe dân chúng nước ấy tôn thờ đạo đức, ở trong nước có Sa môn Ứng chơn từ các phương đi đến thì cúng dường quần áo, giường nằm, ngọa cụ và thuốc men”.

Ðức Phật dạy: “Hễ nước nào thực hành bày pháp này, khó có thể làm cho nguy hại được”.

Vũ Xá thưa: “Giả sử nước Việt Kỳ chỉ thực hành một pháp thôi, còn không thể công phạt nổi, huống chi là thực hành bảy pháp”. Rồi ông bạch Phật: “Vì việc nước quá đa đoan, vậy con xin kiếu từ Thế Tôn”.

Phật dạy: “Ngươi nên biết thời”.

Ông liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ đức Phật rồi liền lui ra. Ông đi chưa bao lâu, đức Phật bảo tôn giả A Nan: “Hãy đến trong núi Diêu Sơn mời tất cả các Tỳ kheo tăng tập họp tại giảng đường”. Tôn giả A Nan liền vâng lời Ngài dạy, đến núi Diêu Sơn bảo các Tỳ kheo tăng: -Ðức Phật cho mời các Tỳ kheo.

Các Tỳ kheo đều đến đảnh lễ đức Phật, đức Phật liền đi trước, vào trong giảng đường, tất cả đều trải tòa rồi ngồi. Ðức Phật bảo các Tỳ kheo:

-Hãy thọ trì bảy giới pháp. Những gì là bảy?

1. Tỳ kheo nên thường xuyên cùng nhau tụ tập để tụng kinh điển thì chánh được lâu dài.

2. Lúc ngồi, lúc đứng, trên dưới kính nhường, hòa thuận lẫn nhau, làm cho chánh pháp được lâu dài.

3. Khi ngồi, khi đứng không được nhớ nghĩ nhà cửa, vợ con để chánh pháp được lâu dài.

4. Ở trong núi non hiểm trở, hoặc ở nơi rừng sâu dưới cây, giữa gò mả, phải tự suy tư về năm giới, nhờ đó chánh pháp được lâu dài.

5. Tuổi trẻ phụng sự đạo, trước phải hỏi các Tỳ kheo trưởng lão, kính nể, thừa sự, học hỏi không mệt mỏi, nhờ đó chánh pháp được lâu dài.

6. Trong tâm phải phụng sự giới pháp, kính sợ kinh giới, nhờ đó chánh pháp được lâu dài.

7. Gìn giữ hai trăm năm mươi giới đủ điều kiện để đắc đạo A la hán, có kẻ muốn đến học hỏi thì đừng từ chối; kẻ vào đạo cùng nhau dạy dỗ. Tín thí có cúng áo quần, đồ ăn uống phải cùng nhau thọ dụng, bệnh hoạn ốm yếu phải cùng nhau chăm sóc.

Tỳ kheo trì bảy pháp này thì chánh pháp được lâu dài. Lại có bảy pháp, hãy lắng nghe. Các Tỳ kheo vâng lời thọ giáo:

1. Tỳ kheo không được ham nằm. Khi nằm không được nghĩ đến chuyện đời, thì chánh pháp được lâu dài.

2. Thích giữ sự thanh tịnh, không thích hữu vi, thì chánh pháp được lâu dài.

3. Ưa ở chung với người hiền, giữ hạnh nhẫn nhục, cẩn thận không tranh tụng, thì chánh pháp được lâu dài.

4. Không được mong người đến lễ kính. Thuyết pháp cho người nghe không được tỏ ra đó là ân đức thì chánh pháp được lâu dài.

5. Ðược chút ít đạo, không được tự kiêu mạn, buông lung, thì chánh pháp được lâu dài.

6. Không được nghĩ đến các dục tình, tâm không lao vào các việc đời như vậy thì chánh pháp được lâu dài.

7. Không tham lợi dưỡng, thường ưa ở ẩn, lấy cỏ rơm làm giường. Tỳ kheo giữ như vậy thì chánh pháp được lâu dài.

Lại có bảy pháp, hãy lắng nghe. Các Tỳ kheo vâng lời thọ giáo:

1. Có người bố thí tài vật cho người khác, không có tâm sân hận thì chánh pháp được lâu dài.

2. Phải biết xấu hổ thì chánh pháp được lâu dài.

3. Siêng năng đọc tụng giới kinh thì chánh pháp được lâu dài.

4. Khi đứng, lúc ngồi tâm không quên giới kinh thì chánh pháp được lâu dài.

5. Lúc ngồi, lúc đứng không có tướng nhàm chán sự khổ thì chánh pháp được lâu dài.

6. Lúc ngồi, lúc đứng đều hiểu rõ kinh pháp thì chánh pháp được lâu dài.

7. Khi đọc, học kinh điển nên tụng đọc kinh thâm nghĩa, thì chánh pháp được lâu dài.

Lại có bảy pháp:

1. Lúc Phật ở thế gian làm bậc thầy các Tỳ kheo, Tỳ kheo cung kính giới cấm của Phật dạy, thọ trì giới pháp, không ngạo mạn, nhớ ơn thầy, trì giới pháp của thầy, thì chánh pháp được lâu dài.

2. Không được làm tổn giảm đạo, phải theo Phật pháp mà kiểm thúc thân tâm thì chánh pháp được lâu dài.

3. Cung kính Tỳ kheo tăng, thọ nhận lời giáo giới của các Ngài, phải thừa dụng, không có nhàm chán thì chánh pháp được lâu dài.

4. Coi trọng việc trì giới, hay nhẫn nhục thì chánh pháp được lâu dài.

5. Tùy thuận kinh giới, tâm không tham ái, phải nghĩ mạng người là phi thường thì chánh pháp được lâu dài.

6. Ban ngày không được ham ăn uống, ban đêm nằm ngủ nghỉ không được ham giường tốt thì chánh pháp được lâu dài.

7. Tự chỉnh đốn tư duy đời mình, thế gianrối loạn, tâm niệm không giải đãi, chớ theo tâm tà. Lúc tâm tà đến phải tự kiềm chế, chớ có tùy thuận, hãy giữ tâm đoan chánh. Người thế gian trong tâm có lừa dối, Tỳ kheo chớ có tùy thuận tâm của người ngu trong thiên hạ.

Thọ trì bảy pháp này thì chánh pháp được lâu dài.

Lại có bảy pháp, Tỳ kheo tăng cần vâng lời thọ giáo:

1. Tỳ kheo hãy quý trọng kinh như người ngu quý trọng châu báu, và xem kinh như cha mẹ nên theo kinh mà phụng dưỡng cha mẹ. Người ta sống có một đời nhưng kinh điển độ thoát vô số đời, khiến cho người được đạo Nê hoàn, làm như vậy thì chánh pháp được lâu dài.

2. Không được ham mùi vị ăn uống, không được ăn nhiều, ăn nhiều làm người ta sanh bệnh, ăn ít thì bị đói, ăn vừa no thì thôi, không được tham đắm thức ăn, làm như vậy thì chánh pháp được lâu dài.

3. Nên xem thân như đất, ban ngày ưu tư sự chết, không thích ở trong đường sanh tử. Người sống có nhiều sự lo: lo cho cha mẹ, anh em, vợ con, thân thuộc, nô tỳ, tri thức, súc sanh, ruộng nhà. Bọn người ưu tư như vậy đều là ưu tư một cách ngu si vậy. Như người có tội bị quan bắt giữ, tuy có những người tôn thân cũng không thể nhờ cậy được, làm vậy là ô uế. Thân này nên xem như đất, một mình đến, một mình đi, hãy chiến đấu với thân này, làm như vậy thì chánh pháp được lâu dài.

4. Siêng tu tinh tấn, đoan nghiêm thân, khẩu, ý, hành động không lỗi lầm, giữ đạo không khó khăn thì chánh pháp được lâu dài.

5. Hàng phục và kinh sợ tâm ý, không nghe theo sáu tình, kiềm chế dâm, nộ, si, không có tà hạnh thì chánh pháp được lâu dài.

6. Ngồi trong chúng mà không thấy xấu hổ với mọi người, được người đời kính trọng. Nhờ tâm đoan chánh thanh tịnh cho nên không sợ sệt, giữ đạo không làm điều tà vậy. Như có người bị người ta sàm tấu, quan bắt giữ. Tuy bị quan cầm giữ nhưng người ấy không sợ, vì không có phạm tội vậy. Trì giới thanh tịnh, sợ giới ngữ của Phật, ngồi ở trong nhơn chúng mà không lo sợ vì tâm thanh tịnh vậy. Nhờ vậy mà chánh pháp được lâu dài.

7. Thận trọng không kiêu mạn, theo người trí tuệ thọ trì kinh giới. Thấy người ngu si nên dạy giới kinh cho họ.

Tỳ kheo trì bảy pháp này thì chánh pháp được lâu dài.

Lại có bảy pháp, các Tỳ kheo nên thọ giáo:

1. Tỳ kheo phải thường niệm kinh, xả bỏ tánh tham dâm, thường nghĩ đến con đường giải thoát khỏi thế gian. Phải tự tư duy thân thể thì chánh pháp được lâu dài.

2. Luôn luôn thọ trì kinh của Phật dạy giữ mãi trong tâm, đã giữ trong tâm rồi hãy đoan chánh tâm mình, bỏ tâm xấu, giữ tâm tốt. Giống như áo của người ta có nhiều cấu bẩn, họ dùng nước tro tẩy giặt hai ba lần, làm cho tất cả cấu bẩn sạch hết. Nhớ lời Phật dạy, phải trì giới, bỏ ác theo thiện thì chánh pháp được lâu dài.

3. Hãy chiến đấu với tâm, không nên tùy thuộc tâm. Tâm muốn dâm, nộ, si thì đừng nghe theo, thường tự cấm chế tâm mình, không được tùy thuộc tâm. Như người vào quân đội, kẻ mạnh vượt qua mọi người làm quân tiền phong khó mà thối lui, ý kẻ ấy hối hận muốn thối lui liền thấy xấu hổ với người ở sau mình. Người đã thọ tịnh giới phải nên giữ tâm đoan chánh, ý ngay thẳng, hãy đứng trước mọi người, chớ có đứng sau, vị ấy có thể đắc đạo trước tiên. Như vậy thì chánh pháp được lâu dài.

4. Nên biết pháp hạnh mình đã thâm nhập nhiều hay ít, sâu hay cạn, tâm chí đã thành thục hay sơ sài. Hãy nên mỗi ngày ham thích đọc kinh càng nhiều, không sợ khổ, không phân biệt thức ăn, không chọn giường nằm. Hãy lấy đạo, tự khuyến khích mình và tự ưa thích, nhờ đó chánh pháp được lâu dài.

5. Nên tôn kính người đồng học, hãy xem bạn đồng học như anh em, hãy đoan chánh trong và ngoài, bên ngoài là lỗi của thân, miệng , bên trong là lỗi của tâm. Hãy suy tư về hai việc này thì chánh pháp được lâu dài.

6. Lúc ngồi hãy tự suy nghĩ: “chín chỗ bài tiết hôi thối không chỗ nào mà không có. Một lỗ đóng vai ở chủ bên trong, chín lỗ đều bài tiết đồ bất tịnh; đói, no, nóng, lạnh đều làm cho ta đau khổ cùng cực, thân thể khó làm cho thích nghi, đều là bất tịnh. Bên trong chứa đồ bất tịnh, gió nóng, gió lạnh hiện ra ở bên ngoài, đều là bất tịnh mà tự che đậy; lỗ mũi hiện ra sự lạnh nóng thì trong tâm đều không hoan hỷ. Nếu có mùi hôi thối cũng không ghét, không mừng, Tỳ kheo nên giữ tâm đoan chánh trong và ngoài như vậy thì chánh pháp được lâu dài.

7. Hãy quán xem những người trong thiên hạ, vua chúa cũng chết; kẻ nghèo, người giàu, kẻ sanh người hèn không ai thoát khỏi cái chết, đồng ở trong con đường sống chết như nhau. Như người nằm mộng thấy nhà đẹp, vườn xinh hào quý khoái lạc, đến lúc tỉnh giấc thì chẳng thấy gì cả. Những sự giàu, nghèo, sang, hèn ở thế gian cũng như người nằm mộng mà thôi. Hãy tự suy tư về thế gian, thí như người chiêm bao mà thôi.

Tỳ kheo thọ trì bảy pháp này, tư duy không quên thì chánh pháp được lâu dài.

Lại có bảy pháp:

1. Tỳ kheo phải có tâm từ đối với thiên hạ, có tâm từ đối với đức Phật. Người ta chửi mắng không được chửi mắng lại, không được sân hận. Hãy giữ tâm từ đối với thiên hạ. Thí như có người ở trong tù thường có lòng thương xót lẫn nhau. Người ta ở trên thế gian cũng nên thương yêu, nhớ nghĩ lẫn nhau. Tỳ kheo hãy giữ tâm, khi bị người chửi mắng mà không sân hận, hay sanh tâm không vui mừng, cũng không lo lắng, do đó không tranh chấp với người thế gian. Thí như con trâu cái ăn cỏ non thì sanh ra sữa, từ sữa sanh ra lạc, từ lạc sanh ra tô, từ tô thành đề hồ. Hãy giữ tâm như đề hồ mà phụng trì giới pháp của Phật, có thể được đoan chánh lâu dài.

2. Lưỡi không nói dối, lời nói không làm thương tổn người khác ý, lưỡi phải đoan chánh. Lưỡi không đoan chánh khiến cho người ta không thể đắc đạo. Do lưỡi đưa đến việc dao gậy hoặc đưa đến sự tàn diệt, cho nên người học đạo phải luôn luôn nói lời đoan chánh thì chánh pháp được lâu dài.

3. Hãy đoan chánh tâm mình, chớ có nghĩ ác, chớ nghĩ đến dâm, nếu có tâm dâm dục thì không thành đạo A la hán. Ban đêm nằm (ngủ) mà tâm dâm dục muốn khởi lên thì hãy nghĩ đến sự nhơ nhớp của người nữ, ý dâm liền được loại bỏ. Khi tâm sân hận khởi lên, hãy nghĩ rằng: “Con người sống trên mặt đất này có bao lâu đâu”. Làm như vậy thì chánh pháp được lâu dài.

4. Nếu có người mời Tỳ kheo thọ trai, những người khác không được nghĩ rằng: “Chỉ có Tỳ kheo này được mời, còn ta thì không”. Có người nghĩ: “Có Tỳ kheo bị bệnh, vậy ta nên đem thuốc men đến để cho vị ấy”. Người khác không nên nghĩ rằng: “Người ta chỉ chăm sóc vị ấy, chẳng chăm sóc ta”. Không nên nghĩ rằng: “Người này đem y phục, đồ đạc đến cho Tỳ kheo”, người khác không được nghĩ rằng: “Riêng ta thì không được, sao lại phải đi xin mới có?”. Khi (tín thí) bỏ đồ ăn vào trong bát, không được nói nhiều hay ít. Giữ tâm như vậy thì chánh pháp được lâu dài.

5. Hãy giữ giới pháp thận trọng. Nếu đối với giới pháp mà không biết thì nên hỏi vị Tỳ kheo biết giới. Hãy niệm Phật, niệm Pháp và niệm Tỳ kheo tăng không phút nào nghỉ, thì dần dần được tương thừa giới pháp. Nếu trong y phục có chí rận nên khởi lòng thương đối với chúng, như vậy thì chánh pháp được lâu dài.

6. Lúc thấy người chết, ta nói rằng: “Người này đã chết, mà không biết kinh đạo, cả nhà khóc lóc, các thân thuộc tri thức đều không biết người chết ấy đi về đâu”, nhưng Tỳ kheo đã đắc đạo có thể biết người chết ấy, thần hồn đi về đâu. Ðối với kinh điển thì cần phải đọc, đối với đạo thì cần phải học. Con đường ngay thẳng của mọi người trong thiên hạ thì Vương đạo là tối đại. Phật đạo cũng thế, là đạo tối thượng vậy. Giống như vài chục người, ai ai cũng cầm cung tên bắn vào ụ đất để tập bắn, có cái trúng ở phía trước, có cái trúng ở phía sau. Những người ấy cứ bắn liên tục, sẽ có mũi tên trúng ngay giữa ụ đất. Người thực hành kinh đạo của Phật cũng giống như thế, chớ giải đãi, chớ suy nghĩ rằng người trước đã đắc đạo, nay ta không đắc đạo, không được có sự sân hận này. Giống như người bắn tên không dừng nghỉ rồi được trúng đích. Là Tỳ kheo không ngừng mong được đắc đạo, thì chánh pháp được lâu dài.

7. Khi đi, khi đứng phải luôn luôn thừa dụng kinh Phật, phải đọc tụngtư duy nghĩa kinh. Tỳ kheo, thanh tín sĩ (nam), và thanh tín nữ thực hành bảy pháp như vậy thì chánh pháp được lâu dài.

Phụng trì bốn mươi chín pháp này như trời mưa, nước của khe nhỏ chảy vào khe lớn, nước của khe lớn chảy vào sông, nước của sông chảy vào biển, Tỳ kheo hãy như dòng nước chảy vào biển, hành đạo không bao giờ dừng nghỉ sẽ được đạo A la hán.

Ðức Phật từ nước Vương Xá bảo tôn giả A Nan:

-Chúng ta hãy đến xóm Ba Lân.

Tôn giả A Nan thưa: -Dạ.

Rồi từ nước Ma Kiệt Ðà, đi chưa tới xóm Ba Lân ở giữa đường là nước La Trí, ở đó đức Phật bảo các Tỳ kheo tăng hãy lắng nghe, các Tỳ kheo vâng lời thọ giáo. Ðức Phật dạy:

-Trong thiên hạ có bốn sự khổ, đức Phật biết rõ nhưng con người lại không biết. Do con người không biết cho nên cứ bị sanh tử mãi không lúc nào dừng nghỉ. Những gì là bốn? Ðó là sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ. Vì con người không có suy tư sức mạnh của bốn sự thống khổ này cho nên mới chịu sự sanh tử mãi mãi không bao giờ dừng nghỉ. Vì vậyđức Phật đã nhiều lần nêu lên bốn sự thống khổ này để dạy con người: Tuy có cha mẹ, vợ con đều sẽ bị biệt ly, cùng nhau lo buồn, khóc lóc không thôi, tất cả ác kiến, thọ báo trước mắt. Do đó cho nên đức Phật nói kinh dạy phải xa lìa bốn sự thống khổ, phụng trì tám giới, cần phải nhàm chán thân này. Ðức Phật dạy:

1. Thọ lãnh lời Phật dạy.

2. Xa lìa ái dục, đến với đạo không có ham tranh cãi.

3. Không nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi và nói lời độc ác.

4. Không được sát sanh, trộm cắp, xâm phạm phụ nữ của người.

5. Không được ganh tị, sân hậnngu si.

6. Khi ngồi tự mình tư duy bốn sự thống khổ ở trong tâm.

7. Nhớ nghĩ thân thể đều là nhơ nhớp.

8. Quán sự sanh tử, thân này rồi sẽ trở thành đất.

Ðức Phật cũng nhớ nghĩ về sự đến của bốn thống khổ và sự đi của bốn thống khổ. Ðức Phật cũng đưa ra tám giới này và Phật cũng chính là tám giới. Hãy niệm kinh nghĩa lý sâu xa của Phật.

Các Tỳ kheo nếu có nhớ nghĩ về cha mẹ, vợ con, nghĩ về sự sanh hoạt của thế gian thì không thể được đạo giải thoát khỏi thế gian. Nếu ưa thích thế gian thì tâm không ưa thích đạo. Ðạo từ tâm mà có, chánh tâm mới có thể đắc đạo. Chánh tâm chút xíu còn được sanh lên trời, người hiểu kinh có thể được làm người. Hãy đoạn trừ con đường địa ngục, súc sanhngạ quỷ. Ðức Phật vì thiên hạ chính thức nói về sự sanh tử. Các Tỳ kheo hãy nên suy tư về việc này.

Ðức Phật từ xóm La Trí bảo tôn giả A Nan cùng đi đến xóm Ba Lân, tôn giả A Nan thưa: -Dạ vâng.

Liền đi theo sau đức Phật. Bấy giờ Tỳ kheo tăng có một ngàn hai trăm năm mươi vị. Ðức Phật đi đến xóm Ba Lân, ngồi dưới gốc cây. Quỷ thần của xứ Ba Lân liền báo cho Thệ Tâm Lý gia biết, tất cả đều ra ngoài, có người mang ghế, nệm lông, mang đèn đều đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ trước đức Phật rồi ngồi qua một bên. Ðức Phật bảo Thệ Tâm Lý gia rằng:

-Con người ở thế gian, kẻ có tham dục tự mình buông lung liền có năm điều ác. Những gì là năm?

1. Tài sản ngày một hao mòn.

2. Không biết ý đạo.

3. Mọi người không kính nể, lúc chết bị hối hận.

4. Danh tiếng xấu ác mọi người đều nghe.

5. Lúc chết đọa vào tam ác đạo, địa ngục ...

Nếu ai có thể hàng phục tâm mình, chính mình không buông lung liền có năm điều lành. Những gì là năm?

1. Tài sản ngày một tăng.

2. Có đạo hạnh.

3. Mọi người kính nể, lúc chết không hối hận.

4. Danh tiếng tốt đẹp thiên hạ đều nghe.

5. Lúc chết sanh đến chỗ phước đức cao thượng.

Tự mình không buông lung có năm điều lành như thế, các ngươi hãy tự mình suy tư về việc ấy.

Ðức Phật thuyết pháp cho Thệ Tâm Lý gia, tất cả đều hoan hỷ, lạy Phật rồi đi.

Ðức Phật đi đến xóm A Vệ, ngồi dưới một gốc cây, Ngài dùng đạo nhãn thấy chư thiên trên trời bảo thần Hiền Thiện bảo hộ vùng đất này. Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy, ra khỏi xóm A Vệ, lại ngồi xuống một chỗ khác. Hiền giả A Nan sửa lại y phục ngay thẳng, từ chỗ ngồi đứng dậy, lạy Phật xong đứng qua một bên, đức Phật hỏi tôn giả A Nan : “Ai xây dựng thành quách ở xóm Ba Lân này?”.

Thưa rằng: “Ông đại thần Vũ Xá nước Ma Kiệt xây dựng thành này nhằm ngăn chận quân Việt Kỳ”.

Ðức Phật nói: “Lành thay ! Này A Nan, ông Vũ Xá là người hiền mới biết mưu kế này. Ta thấy chư thần Diệu Thiện ở trên trời Ðao Lợi đều hộ trì đất này. Ai có đất này sẽ được chư thiên trên trời hộ trì, vùng đất này chắc chắn sẽ được an ổn giàu có. Lại nữa, vùng đất này là trung tâm của trời, chủ của cõi trời Tứ Phần Dã này tên là Nhân Ý. Vị ấy sẽ hộ trì nước này đã được lâu dài mà còn thắng ích nữa. Nước đó chắc chắn có nhiều người mưu trí, thánh hiền các nước không thể bì kịp, cũng không thể phá hoại được. Thành Ba Lân này, lúc muốn phá hoại phải có ba việc: 1- Lửa lớn; 2- Nước lớn; 3- Người trong và ngoài thành âm mưu mới phá hoại thành này được.

Ðại thần Vũ Xá nghe đức Phật cùng chúng Tỳ kheo từ nước Ma Kiệt du hành đến đây liền theo lệnh vua cỡi lên năm trăm cỗ xe oai nghiêm ra khỏi xóm Ba Lân, đi đến chỗ đức Phật, đến phía trước đảnh lễ Ngài rồi ngồi qua một bên, bạch đức Phật: “Ngày mai mong Ngài cùng đông đủ Tỳ kheo đến nhà con để dùng điểm tâm”.

Ðức Phật yên lặng không trả lời. Ông Vũ Xá nói như vậy đến ba lần, sự yên lặng trong Phật pháp tức là nhận lời. Vũ Xá liền trở về nhà sửa soạn, đặt bày sàng tọa, thắp đèn dầu, đồ ăn thức uống đầy đủ để đón rước đức Phật và các Tỳ kheo tăng. Sáng mai Vũ Xá đến thỉnh Phật. Bấy giờ đức Phật cùng đông đủ một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ kheo tăng đi đến. Ăn uống xong, đức Phật liền chú nguyện rằng: “Mong (tín chủ) được đắc đạo, không ham thích địa vị quốc công, tuy đời này không thể xa lìa việc huyện quan. Nếu nay (tín chủ) cúng cơm cho Phật và Tỳ kheo tăng, mong cho đời sau được thoát khỏi việc huyện quan. Thế gian có người thông minh nên ăn đồ của đạo nhân hiền thiện, đạo nhân chú nguyện không quên người làm quan. Cầu cho quan không nên có tâm tham, tâm khốc hại, tâm siêng năng, tâm vui thích, tâm khuyên răng (điều ác). Bỏ năm tâm này, người làm quan huyện có thể sẽ (không có lỗi)?, sau khi chết có thể trừ được tội ác nơi địa ngục. Này Vũ Xá, hãy tự suy nghĩ lấy”.

Ông thưa: -Dạ, con xin thọ giáo.

Ðức Phật và các Tỳ kheo tăng đều đứng dậy ra đi. Ðức Phật đi ra cửa thành, Võ Xá liền đi theo sau Phật để quán sát coi đức Phật đi ra cửa thành nào để đặt tên cửa thành ấy là Phật Thành Môn. Còn cái khe nước nhỏ mà đức Phật đi qua gọi là Phật Khê.

Ðức Phật đi đến bên bờ sông, bấy giờ nhân dân đại chúng nhiều người muốn vượt qua sông, có người dùng thuyền lớn, có người dùng thuyền nhỏ, có người dùng bè tre để qua sông. Ðức Phật ngồi suy nghĩ: “Lúc ta chưa thành Phật, đi qua sông này, cỡi lên bè tre để đi qua. Nay thân ta không còn cỡi lên bè tre để vượt qua sông nữa”. Ðức Phật tự nghĩ rằng: “Ta là thầy độ người, khiến cho người được con đường giải thoát khỏi cuộc đời, không còn theo người khác để được độ nữa”. Nghĩ như vậy rồi các Tỳ kheo đều vượt qua.

Ðức Phật bảo ngài A Nan: -Tất cả hãy đi đến xóm Câu Lân.

Tôn giả A Nan thưa: -Dạ vâng.

Ðức Phật cùng với một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ kheo liền đến xóm Câu Lân. Ðức Phật bảo các Tỳ kheo:

-Tất cả hãy lắng nghe. Hãy khéo giữ gìn tâm, không tranh cãi với thiên hạ. Hãy tự suy tư, nên biết sự vô thường. Hãy lo cho thân không có trí tuệ. Hãy khéo giữ tâm đừng tranh cãi với thiên hạ. Hãy tự suy tư thì liền được sáng suốt. Người sáng suốt liền trừ bỏ được trạng thái tham dâm, sân nhuế, ngu si. Trừ bỏ được ba trạng thái này rồi liền được vượt khỏi con đường thế gian, không còn sanh trở lại nữa, tâm không còn sanh trở lại nữa, tâm không còn dong ruỗi nữa, nhất tâm không đắm trước. Ví như quốc vương thích suy nghĩ một mình rằng: “Ðối với mọi người trong thiên hạ, riêng ta là chủ”. Người đắc đạo, người đã vượt qua khỏi thế gian, cũng tự nghĩ trong lòng: “Dù có trăm ngàn vạn mối rối ren, chỉ có tâm là chủ, giống như quốc vương làm chủ coi sóc nhân dân”.

Ðức Phật lại từ Câu Lân bảo tôn giả A Nan:

-Tất cả hãy đến nước Hỷ Dự.

Tôn giả A Nan thưa: -Dạ vâng.

Ðức Phật cùng các Tỳ kheo đồng đến nước Hỷ Dự ngồi dưới gốc cây Kiền Ðề. Ðức Phật bảo các Tỳ kheo tăng: “Các ngươi hãy đi khất thực ở nước Hỷ Dự”.

Lúc Khất thực xong trở về, các tỳ kheo bạch đức Phật: “Nước Hỷ Dự có nhiều bệnh tật nên nhân dân có nhiều người chết, trong đó có các Ưu bà tắc tên là Huyền Ðiểu, Thời Tiên, Sơ Ðộng, Thức Hiền, Thục Hiền, Khoái Hiền, Bá Tông, Kiêm Tông, Ðức Cử, Thượng Tịnh. Mười vị này đều là Ưu bà tắc thọ trì năm giới, nay đều chết hết”.

Các Tỳ kheo hỏi đức Phật:

-Các Ưu bà tắc này chết rồi sanh về đâu?

Ðức Phật trả lời:

-Huyền Ðiểu ... cả thảy mười người này, chết rồi được sanh ở trong con đường Bất Hoàn.

Ðức Phật dạy các Tỳ kheo tăng:

Nhân quán sát về cái chết của mười người này, Phật dùng thiên nhãn quán sát xem thấy năm trăm người Ưu bà tắc đã chết đều sanh ở trong đường Bất Hoàn. Lại có ba trăm Ưu bà tắc như Nan Ðề ... lúc còn sống không có trạng thái dâm, phẫn nộngu si, lúc chết được sanh lên trời Ðao Lợi, được đắc đạo Câu Hạng, chỉ còn bảy lần sanh, bảy lần tử nữa là chứng được đạo A la hán. Còn Huyền Ðiểu ... cả thảy năm trăm người đều được đạo Bất Hoàn, tự mình ở thiên thượng được đạo Ứng Chơn.

Ðức Phật bảo các Tỳ kheo:

Nếu người khất thực về hướng đường nào thì đó chính là con đường của mười vị Ưu bà tắc vậy. Nếu ai muốn quấy nhiễu Phật nên cho rằng: “Ðức Phật không muốn nghe điều ác này, Phật cũng đâu có sợ những tai nạn?”. Ðã có sanh thì ai cũng phải chết cả. Các đức Phật quá khứ, đương laihiện tại đều Bát Nê hoàn. Nay ta làm Phật cũng sẽ Bát Nê hoàn. Nhờ thân này mà được làm Phật, trải qua nhiều kiếp cầu Phật quả nhằm chấm dứt con đường sanh tử. Khi làm Phật thì chấm dứt hoàn toàn căn bản sanh tử, biết là con người vốn bắt nguồn từ Si, từ Si có Hành, từ Hành có Thức, từ Thức có Tự và Sắc, từ Tự (danh), Sắc có Lục nhập, từ Lục nhập có Tài (xúc), từ Tài có Thống (thọ), từ Thống có Ái, từ Ái có Cầu, từ Cầu có Hữu, từ Hữu có Sanh, từ Sanh có Lão tử, ưu bi khổ não, bất như ý, áo não. Như vậy hợp lại thành một khối khổ ấm lớn tập khởi.

Ðức Phật nhờ suy tư về nguồn gốc sanh tử, nó như chiếc xe có bánh, khi chạy xe bánh không thể ngừng. Con người từ ngu si cho nên mới bị sanh tử. Nếu từ bỏ ngu si thì si mê tiêu diệt, nhờ si mê diệt thì Hành diệt, nhờ Hành diệt nên Thức diệt, do Thức diệt nên Tự (danh) sắc diệt, nhờ Tự sắc diệt nên Lục nhập diệt, do lục nhập diệt nên Tài diệt, nhờ Tài diệt nên Thống diệt, do Thống diệt nên Ái diệt, do Ái diệt nên Cầu diệt, do Cầu diệt nên Hữu diệt, do Hữu diệt nên Sanh diệt, do Sanh diệt nên Lão tử diệt, do Lão tử diệt nên ưu, bi khổ, bất như ý, áo não diệt. Như vậy hiệp thành một khối đại khổ ấm tập khởi chấm dứt.

Do vậy cho nên trước tiên đức Phật nói: do ngu si nên có sanh tử, người có trí giữ đạo thì không còn sanh tử nữa.

Ðức Phật dạy: -Hãy nhớ nghĩ phụng trì Phật pháp, Thánh chúng, tương thừa tịnh giới, giáo hóa kinh Phật. Hãy nghĩ đến việc giữ tâm đoan chánh thì còn sanh tử lại nữa, không có tai hoạn ưu sầu, khóc lóc.

Ðức Phật từ xóm Hỷ Dự bảo tôn giả A Nan đi đến nước Duy Da Lê, tôn giả A Nan thưa: -Dạ vâng.

Ðức Phật từ xóm Hỷ Dự đi đến nước Duy Da Lê, chưa tới bảy dặm, đức Phật dừng chân ở trong vườn Nại, có người dâm nữ tên là Nại Nữ, có năm trăm đệ tử dâm nữ, ở trong thành nghe đức Phật đi đến ở trong vườn Nại, bà liền ra lệnh cho năm trăm đệ tử dân nữ phải trang điểm y phục và chuẩn bị xe cộ, từ trong thành đi ra, đến chỗ Phật, muốn yết kiến đức Phật, quỳ lạy đức Phật.

Bấy giờ đức Phật ở trong vườn Nại cùng hàng ngàn Tỳ kheo cu hội, đang thuyết kinh cho các Tỳ kheo. Ðức Phật thấy Nại Nữ cùng năm trăm đệ tử dâm nữ cu hội, đều trang sức bằng những y phục lộng lẫy, đức Phật bảo các Tỳ kheo:

-Ta vừa thấy Nại Nữ cùng cu hội với năm trăm dâm nữ đệ tử đều cúi đầu, tâm đoan chánh. Họ tuy trang sức lộng lẫy đến đây, giống như cái bình vẽ, bên ngoài vẽ rất đẹp nhưng bên trong toàn là đồ nhơ nhớp bất tịnh trói chặt không thể mở ra, nếu ai mở ra thì toàn là bất tịnh hôi thối. Ðó chính là Nại Nữ, cả bọn đều là những cái bình vẽ cả. Vậy các Tỳ kheo phải có kiến lực. Những gì là kiến lực? Ðó là bỏ ác theo thiện, không nghe theo tâm dâm, thà tự mình chẻ xương, phá tâm, thiêu đốt thân thể, chớ quyết trọn đời không bao giờ tùy thuận theo tâm làm ác. Không chỉ là lực sĩ mới có nhiều sức mạnh, nếu tự mình đoan chánh tâm mình thì còn hơn cả lực sĩ nữa. Ðức Phật từ lúc chiến đấu với tâm mình đến nay đã trải qua vô số kiếp không nghe theo tâm, siêng năng tinh tấn để tự mình đạt đến quả Phật. Vậy các Tỳ kheo hãy tự mình ngay thẳng, đoan nghiêm tâm mình. Hãy giữ tâm thật lâu trong quán bất tịnh, nay mới có thể tự mình nhổ sạch, bỏ đi tâm (lý thấp hèn). Hãy tự tư duy năm tạng trong thân thể cũng có thể đình chỉ được pháp sanh tử. Hãy quán xem bên ngoài cũng khổ, bên trong cũng khổ, hãy đoan chánh tâm mình.

Nại Nữ đến nơi, xuống xe đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi qua một bên. Các Tỳ kheo đều cúi đầu. Ðức Phật hỏi:

-Do nhân duyên gì mà đến đây?

Nại nữ thưa: -Con thường nghe Phật tôn quý hơn chư thiên nên con đến để quỳ lạy Ngài.

Ðức Phật nói: -Này Nại Nữ ! Ngươi thích làm nữ nhân sao?

Nại Nữ thưa:

-Trời bắt con làm người nữ, nhưng con không thích.

Ðức Phật dạy:

-Nếu ngươi không thích làm người nữ, vậy ai khiến ngươi nuôi tới năm trăm đệ tử dâm nữ?

Nại Nữ thưa: -Họ đều là những dân nghèo, con nuôi dưỡngbảo hộ cho họ đó.

Ðức Phật nói: -Chẳng phải như vậy. Nếu không nhàm chán sự bệnh khổ của người nữ, kinh nguyệt bất tịnh, bị câu thúc, trói buộc, đánh đập, không được tự tại. Ðã không nhàm chán thân của người lại còn chứa đến năm trăm người nữ nữa?!

Nại Nữ thưa:

-Con ngu si đến thế, người có trí tuệ thì không làm như vậy.

Ðức Phật nói: -Biết rõ như vậy là tốt.

Nại Nữ liền quỳ dài bạch Phật: -Sáng mai con mời đức PhậtTỳ kheo tăng đến nhà con thọ trai.

Ðức Phật yên lặng không trả lời. Nại Nữ rất sung sướng, liền đứng dậy đảnh lễ đức Phật rồi đi ra.

Nàng Nại Nữ ra đi chưa bao lâu thì các Lý gia hào tộc của thành Duy Da Ly nghe đức Phật cùng đông đủ các Tỳ kheo tăng đang đi đến đây, cách thành bảy dặm, ở trong vườn Nại (xoài), liền dựa vào oai lực của nhà vua đều sửa sang xe cộ rồi ra đi, muốn đến yết kiến để cúng dường đức Phật. Trong đó thì có toán cỡi ngựa xanh, xe xanh, áo xanh, dù lọng xanh, tràng phan cũng xanh, các viên quan đều mặc màu xanh. Trong đó có toán cỡi ngựa vàng, xe vàng, y vàng, lọng vàng, tràng phan vàng, quan thuộc đều vàng. Có toán thì cỡi ngực đỏ, xe đỏ, áo đỏ, lọng đỏ, tràng phan đỏ, quan thuộc đều đỏ. Có toán thì cỡi ngựa trắng, xe trắng, áo trắng, dù lọng trắng, tràng phan trắng, quan thuộc đều màu trắng. Có toán thì cỡi ngựa đen, xe đen, áo đen, lọng đen, tràng phan đen, quan thuộc đều đen. Ðức Phật từ xa trông thấy đoàn xe ngựa khoảng hằng mười vạn người đang đi đến, liền bảo các Tỳ kheo: -Các ngươi muốn thấy trong vườn Ðế Thích, trên trời Ðao Lợi, đoàn thị tùng ra vào, thì cũng giống như các Lý gia (Lê Xa) này, chẳng khác gì cả.

Các Lý gia đi đến đầu đường đều xuống xe, đi đến chỗ đức Phật. Người đến trước đức Phật thì quỳ, người ở giữa đều cúi đầu, còn người ở sau cùng thì đều chấp tay rồi ngồi xuống.

Ðức Phật hỏi: -Các người từ đâu đến đây?

Các Lý gia thưa: - Chúng con nghe đức Phật ở chỗ này cho nên đến đây để quỳ lạy. Trong đoàn có một người tên là Tân Tự, đứng dậy đi đến trước đức Phật, nhìn Ngài thật kỹ. Ðức Phật hỏi:

- Ngươi nhìn những gì ở nơi ta?

Tân Tự thưa: -Khắp trên trời dưới đất đều rung động hướng về Ngài, cho nên con thấy đức Phật không ai bằng Ngài.

Ðức Phật nói: -Này Tân Tự, ngươi hãy nhìn Phật thật kỹ, về lâu xa lại có Phật ra đời nữa, dung nhan xinh đẹp. Lúc có Phật nên theo lời Phật dạy.

Trong nhóm có bốn năm trăm Lý gia nói rằng:

-Tân Tự có đại phước đức, cùng đàm luận với đức Phật.

Tân Tự nói: -Từ lâu tôi đã nghe kinh Phật, tôi nghĩ kinh này đã có từ trước, bỗng nhiên hôm nay tôi được gặp Phật. Tôi có tâm từ hiếu đối với đức Phật.

Ðức Phật nói: -Người trong thiên hạ ít có ai như Tân Tự, từ hiếu đối với thầy.

Ðức Phật bảo Tân Tự:

-Ðức Phật xuất hiện trong thiên hạ, biết con đường sanh tử của thiên hạ, Ngài nói kinh để khai hóa trên trời dưới trời và loài quỷ rồng để không có nghiêng ngửa. Ðó là oai thần thứ nhất của đức Phật. Nếu ai đọc tụng kinh Phật, tự mình giữ tâm đoan chánh thì được đắc đạo. Ðó là oai thần thứ hai của Phật. Phật nói kinh cho thiên hạ, người hiền nghe kinh không ai mà không hoan hỷ, người đến nghe không ai mà không vui mừng, kẻ học giả cùng nhau dạy dỗ, cùng nhau dẫn đường, cùng nhau đoan chánh tâm. Ðó là oai thần thứ ba của Phật. Ai học kinh Phật cũng đều hoan hỷ, như người ngu mà được vàng, kẻ thượng trí được đạo Ứng Chơn (A la hán). Thứ hai là có thể được Bất Hoàn, thứ ba là có thể được Tần lai, thứ tư là có thể được Cấu hạng, thứ năm là trì năm giới của Ưu bà tắc, có thể được sanh lên trời, trì ba giới có thể được làm người. Ðức Phật xuất hiệnthiên hạ nhằm hiện ra đạo này vậy. Ðó là oai thần thứ tư của đức Phật.

Ðức Phật bảo Tân Tự: -Hãy đến mà nhìn Phật thật kỹ. Hãy nói lên những tên của Phật đã được nghe. Thật khó mà thấy Phật.

Bấy giờ trong số những người đang ngồi ở đó có đến cả hàng vạn người, họ đều không hỏi đức Phật, hay hỏi riêng một mình thì đó là oai thần thứ năm của Phật.

Ðức Phật bảo Tân Tự: -Những người có trí huệ trong thiên hạ rất ít, người không trí huệ thì rất nhiều. Hãy thọ trì kinh đạo của Phật, hãy thọ trì những lời hay của thầy, hãy giữ giới pháp của thầy thì các loài quỷ, thần, rồng không ai mà không hộ vệ, chăm sóc, làm cho kẻ ấy không ai dám mời gọi một cách dối láo. Hãy từ hiếu đối với thầy. Làm thầy không nên theo những yêu sách của đệ tử. Ơû trước mặt thầy phải nên cung kính, ở sau lưng thầy phải nên khen ngợi thầy. Thầy chết thì luôn luôn tưởng nhớ. Hiện nay Tân Tự là người hùng trong loài người, khéo ưa thích pháp, giới thanh tịnh.

Các Thệ Tâm Lý gia ở Duy Da Lê mời đức Phật sáng mai cùng các Tỳ kheo vào thành để cúng dường. Ðức Phật nói:

-Sáng mai Nại Nữ đã thỉnh PhậtTỳ kheo tăng rồi.

Các Thệ Tâm Lý gia đều trở về.

Sáng sớm Nại Nữ đi đến chỗ đức Phật, bạch rằng:

-Con đã đặt tòa ngồi, đồ ăn uống cũng đã dọn xong, mong đức Thiên Tôn duỗi oai thần hạ cố.

Ðức Phật nói: -Hãy về đi ta sẽ đến.

Ðức Phật đứng dậy, mặt y ôm bát cùng đông đủ Tỳ Kheo đi vào thành. Ơû trong thành thấy khoảng hàng mười vạn người, trong đó có các Ưu bà tắc hiện thiện, họ đều khen: “Ðức Phật như trăng sáng, các đệ tử Ngài như sao sáng vây quanh mặt trăng”.

Ðức Phật đến nhà Nại Nữ, ngồi xuống, lấy nước rửa tay chân. Ðức Phật và các Tỳ kheo tăng lúc đã ăn xong, rửa tay rồi, Nại Nữ lấy một chiếc ghế nhỏ ngồi trước đức Phật. Ðức Phật bảo Nại Nữ:

- Các Thánh nhơn và các bậc giàu có, hào quý tôn kính trọng thiên hạ chỉ thích tịnh giới, rõ biết các kinh của Phật, trong lúc họ ngồi nói chuyện phải lắng nghe, những việc làm của họ phải nên kính mến. Nay được làm người trong thiên hạ, đừng tham tiền, sắc, kính thờ sự thần hóa của Phật, lúc chết chẳng ai mà chẳng được sanh lên cõi trời. Ðức Phật bảo Nại Nữ:

-Hãy khéo tự mình kính mến, quý trọng việc giữ năm giới.

Ðức Phật và Tỳ kheo đồng ra đi.

Ðức Phật từ nước Duy Da Lê ra đi, bảo tôn giả A Nan:

-Tất cả hãy đến xóm Trúc Phương.

Tôn giả A Nan thưa: -Dạ vâng.

Nghe ở xóm Trúc Phương lúa thóc khan hiếm, các Tỳ kheo khất thực khó khăn, đức Phật ngồi suy nghĩ: “Nước Duy Da Lê đói kém, lúa thóc khan hiếm, còn ở tụ lạc này nhỏ hẹp, không thể cùng các Tỳ kheo đi khất thực được”. Ðức Phật suy nghĩ muốn bảo các Tỳ kheo hãy phân bố ra nước khác, nơi lúa thóc ít khan hiếm để đi khất thực. Ðức Phật bảo các Tỳ kheo tăng: -Ở xóm Trúc Phương này lúa thóc khan hiếm, việc khất thực khó khăn, còn ở nước Sa La Ðề giàu có, sung túc, bốn bên biên giới của Duy da Lê này thì lúa thóc đều khan hiếm. Riêng ta cùng A Nan thì ở lại xóm Trúc Phương này.

Các Tỳ kheo nghe lời Phật dạy, đều đi đến nước Sa La Ðề, đức Phậttôn giả A Nan đến xóm Trúc Phương. Ngài bị bệnh nặng, muốn nhập Niết bàn. Ðức Phật tự nghĩ: “Các Tỳ kheo đã đi khỏi, riêng ta nhập Niết bàn, không có lời dạy dỗ nào sao?”. Tôn giả A Nan ở dưới một gốc cây, đi đến chỗ đức Phật hỏi thăm:

-Thánh thể bệnh hoạn có bớt chăng?

Ðức Phật trả lời: -Ðã không bớt mà lại càng nguy kịch hơn. Ta muốn nhập Nê hoàn.

Tôn giả A Nan thưa: -Xin Ngài hãy khoan nhập Niết bàn. Hãy chờ các Tỳ kheo tụ tập đông đủ đã.

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Ta có giới kinh, nếu ai đọc tụng kinh giớiphụng hành nó thì cũng như ta đang hiện hữu ở trong Tỳ kheo tăng. Các Tỳ kheo tăng đều đã biết sự giáo giới của Phật, phụng sự pháp của Thầy, ta đã phó chúc cho các đệ tử. Các đệ tử hãy nên thọ trì, tu hành và học thật kỹ. Nay toàn thân ta đau đớn, ta đã vận dụng oai thần của Phật, trị bệnh không cho tái phục, trụ tâm nơi bệnh, như có phần thuyên giảm.

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan: -Nay ta đã già rồi, tuổi đã tám mươi. Ví như chiếc xe cũ kỹ không còn sức lực. Thân thể của ta cũng như vậy, không còn sức lực nữa. Ta há chẳng đã nói rằng: “Chẳng có gì trên mặt đất này mà chẳng chết. Có một cõi trời thật cao tên là Bất Tưởng, thọ đến tám mươi ức bốn ngàn vạn kiếp, cuối cùng cũng phải chết”. Do đó cho nên ta mới dạy kinh cho thiên hạ để đoạn trừ cội gốc của sanh tử. Sau khi ta đã Bát Nê hoàn, không được vứt bỏ kinh giới này, hãy thay nhau mà truyền thừa, hãy tự suy tư trong ngoài, đoan tâm chánh hạnh, hãy giữ giới pháp, khiến cho trong và ngoài vẫn như thường. Nếu bốn chúng đệ tử thọ trì bốn pháp thì tất cả đều là đệ tử Phật. Nếu ai học kinh đạo của Phật cũng đều là đệ tử của Phật vậy. Ðức Phật đã bỏ ngôi Chuyển Luân vương lo lắng cho mọi người trên trời dưới trời, Ngài cũng tự lo bệnh tật của chính mình, vứt bỏ trạng thái dâm, nộ và si.

Ðức Phật từ xóm Trúc Phương bảo tôn giả A Nan:

-Chúng ta hãy trở về nước Duy Da Lê.

Tôn giả A Nan vâng lời thọ giáo. Ðức Phật trở lại nước Duy Da Lê, ôm bát vào thành khất thực. Ngài ngồi dưới một gốc cây của Cấp Tật Thần ở khoảng đất trống suy tư về việc sanh tử. Còn tôn giả A Nan thì ngồi dưới một gốc cây khác tư duy. Ngài bị sự ngăn che của ấm nên đứng dậy đi đến chỗ đức Phật, đảnh lễ xong rồi đứng yên lặng bạch Phật rằng: “Sao Ngài chưa nhập Niết bàn?”.

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Nước Duy Da Lê có sự an vui lớn, nước Việt Ða có sự an vui lớn, địa thần Cấp Tật có sự an vui lớn, cửa thành Sa Ðạt Tránh có sự an vui lớn, trong thành những khúc quanh ngã tư được an vui lớn, xã Danh Phù Phất được an vui lớn, thiên hạ dân chúng của Diêm Phù Lợi được an vui lớn, nước Việt Kỳ được an vui lớn, nước Giá Ba được an vui lớn, cửa Tát Thành được an vui lớn, nước Ma Kiệt được an vui lớn, Mãn Phất được an vui lớn, Uất Ðề được an vui lớn, Ê Liên có khe chảy, núi vàng được an vui lớn. Trong đất của Diêm Phù Lợi sanh ra năm màu như bức họa, ai sanh ở trong đó đều được an vui lớn.

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni trì bốn pháp tư duy cho chính chắn, chánh tâm, không tùy thuộc vào tâm, bên ngoài cũng nghĩ tốt, bên trong cũng nghĩ tốt, tâm không còn tham lạc nữa, tâm không kinh sợ, cũng không dong ruỗi nữa. Tỳ kheo, Tỳ kheo ni nếu đã giữ ý chí mình tu bốn pháp như vậy gọi là Tứ thần túc. Nếu muốn sống đến một kiếp cũng có thể được.

Bấy giờ ma nhập vào trong bụng của tôn giả A Nan. Ðức Phật lại bảo tôn giả A Nan: -Như vậy có thể được sao?

Tôn giả A Nan lại nói: -Vì sao Phật chưa nhập Niết bàn? Bây giờ đã đúng lúc Niết bàn rồi !

Ðức Phật lại nói: “Diêm Phù Lợi an lạc lớn, nếu ai có biết bốn thần túc này có thể sống trong trời đất này một kiếp, hoặc hơn thế nữa”. Ngài lại bảo tôn giả A Nan như vậy cho đến lần thứ ba mà tôn giả A Nan vẫn không trả lời về việc bốn thần túc. Ðức Phật bảo tôn giả A Nan: -Hãy nên ngồi dưới gốc cây mà tự suy tư.

Ðức Phật đứng dậy đi đến bên dòng suối Ê Liên ngồi dưới gốc cây. Ma đi đến chỗ Phật nói rằng:

-Tại sao Ngài không nhập Niết bàn?

Ðức Phật nói:

-Này Tệ Ma, ta chưa thể nhập Niết bàn được vì để chờ bốn chúng đệ tử của ta được trí tuệ đắc đạo, để cho chư thiên ở trên trời, nhân dânthế gian và các quỷ thần của ta được trí tuệ đắc đạo, để cho kinh pháp của ta được truyền bá khắp thiên hạ, cho nên ta chưa thể nhập Niết bàn được.

Ma biết Phật sẽ nhập Niết bàn nên vui mừng ra đi. Ðức Phật ngồi tự suy tư: “Ta nay có thể xả bỏ tuổi thọ”. Lúc Ngài muốn xả bỏ tuổi thọ, bấy giờ trời đất chấn động mạnh, các quỷ thần thảy đều run sợ. Lúc đó tôn giả A Nan đang ngồi dưới gốc cây kinh hãi đứng dậy đi đến chỗ Phật ngự. Ðến phía trước, đầu mặt lạy sát chân Phật rồi đứng qua một bên, bạch rằng:

-Con đang ngồi dưới gốc cây, bỗng nhiên trời đất chấn động mạnh, con kinh hãi đến nổi lông tóc trong người đều dựng đứng. Con không biết vì lý do gì mà quả đất chấn động như thế này?

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Phàm quả đất rung động có tám nhân duyên. Những gì là tám? Vì đất trên nước, nước ở trên gió, gió duy trì nước, như từ mặt đất mà nhìn lên trời, hoặc có lúc gió làm rung động nước, nước làm rung động quả đất, quả đất nhân đó bị chấn động. Ðó là nguyên nhân thứ nhất làm chấn động.

Hoặc có A la hán tôn quý, tự mình muốn thí nghiệm, oai thần, ý muốn khiến cho quả đất chấn động, do đó lấy hai ngón tay ấn trên mặt đất làm cho đất trời bị chấn động mạnh. Ðó là nguyên nhân thứ hai làm cho quả đất chấn động.

Ơû trung gian có vị trời có đại oai thần, ý muốn quả đất rung động, quả đất liền bị chấn động mạnh. Ðó là nguyên nhân thứ ba làm cho quả đất chấn động.

Khi đức Phật còn làm Bồ tát từ cõi trời Ðâu Thuật hạ sanh vào trong bụng mẹ, khi đó đất trời bị chấn động mạnh. Khi Bồ tát từ bên hông hữu mẹ hạ sanh thì đất trời bị chấn động mạnh. Khi Bồ tát đắc đạo thành Phật , đất trời bị chấn động mạnh. Lúc Phật bắt đầu nói Bổn kinh thì đất trời bị chấn động mạnh.

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan: -Từ nay cho đến sau ba tháng thì Phật sẽ Bát Nê hoàn, trời đất sẽ lại chấn động. Ðó là nguyên nhân thứ tám làm cho quả đất chấn động.

Tôn giả A Nan nghe đức Phật kỳ hẹn còn trong ba tháng nữa sẽ Niết bàn liền khóc lóc hỏi: -Ngài không xả bỏ tuổi thọ có được không?

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan: -Ta đã xả bỏ tuổi thọ rồi.

Tôn giả A Nan bạch Phật rằng: - Con từng nghe từ kim khẩu của Phật nói rằng: “Nếu Tỳ kheo nào có bốn pháp này, gọi là bốn thần túc, nếu muốn kéo dài mạng sống trong một kiếp cũng có thể được”. Thần đức của đức Phật còn cao hơn bốn thần túc nữa, tại sao không kéo dài mạng sống hơn một kiếp?

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan: -Nếu làm như vậy là sai lầm, vì ta đã ba lần bảo ngươi: “Trong cõi Diêm Phù Lợi có sự an lạc lớn”, nhưng ngươi vẫn im lặng không trả lời, ta thấy như trên đầu mọc sừng. Tại sao ngươi lại để cho Tệ Ma nhập vào trong bụng? Ta không thể dừng lại được, sau ba tháng ta sẽ nhập vào Niết bàn.

Tôn giả A Nan liền đứng dậy bảo các Tỳ kheo tăng rằng:

-Sau ba tháng đức Phật sẽ nhập Niết bàn.

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan: -Hãy tụ tập tất cả các Tỳ kheo lại trong Ðại Hội đường.

Tôn giả A Nan thưa rằng: -Tất cả các Tỳ kheo tăng đã ở trong Ðại Hội đường rồi.

Ðức Phật liền đứng dậy đi vào Ðại Hội đường. Các Tỳ kheo đều đứng dậy, đảnh lễ đức Phật. Ðức Phật bảo các Tỳ kheo:

-Thiên hạ thì vô thườngcon người vẫn kiên cố yêu thích sanh tử, không mong cầu con đường giải thoát khỏi thế gian, đều do si mê cả. Cha mẹ rồi cũng phải xa lìa, tưởng nhớ đến mà buồn than khóc. Con người cùng nhau ân ái, tham luyến, bi ai với nhau. Thiên hạ nếu không có sanh thì cũng không có tử. Ta vốn nói kinh: -Hễ có sanh thì phải có tử, tử rồi lại sanh, thay nhau buồn rầu khóc lóc chẳng lúc nào thôi. Núi Tu Di kia còn phải sụp đổ, chư thiên trên trời còn phải chết, làm vua cũng chết, nghèo, giàu, sang, hèn, cho đến loài súc sanh cũng vậy. Hễ không sanh thì sẽ không tử. Ðừng kinh ngạc cho rằng đức Phật sau ba tháng nữa sẽ nhập Niết bàn. Dù Phật không còn cũng phải thọ trì giới kinh, dù Phật còn tại thế cũng phải thọ trì giới kinh, mong cầu thoát khỏi cuộc đời thì sẽ không còn sanh tử nữa, cũng không còn ưu sầu khóc lóc nữa. Hãy khiến cho kinh Phật trường tồn mãi mãi. Sau khi Phật diệt độ, các hiền giả trong thiên hạ hãy cùng nhau thọ trì giới kinh. Người trong thiên hạ mà tự đoan chánh tâm mình thì chư thiên trên trời thảy đều hỗ trợ hoan hỷ, làm cho người đó được phước. Ðối với kinh của Phật phải đọc phải tụng, phải học, phải thọ trì, phải tư duy, phải nên làm cho tâm chơn chánh, ý trang nghiêm, hãy cùng truyền dạy cho nhau. Có bốn việc: đoan nghiêm thân, đoan nghiêm tâm, đoan nghiêm chí, đoan nghiêm miệng. -Lại có bốn việc: lúc muốn sân hận thì nhẫn, ác niệm khởi lên thì trừ bỏ đi, có tham dục thì trừ bỏ, phải nên luôn luôn lo sợ về sự chết.

-Lại có bốn việc: tâm muốn tà vạy thì đừng nghe theo, tâm muốn dâm dục thì đừng nghe theo, tâm muốn làm điều ác thì đừng nghe theo, tâm muốn sự giàu sang, phú quý cũng đừng nghe theo.

-Lại có bốn việc: tâm phải nên lo sợ sự chết, tâm muốn làm điều ác thì đừng nghe theo, phải kiềm thúc tâm, tâm phải tùy thuộc người, người đừng tùy tâm, tâm làm mê hoặc người, tâm giết thân, tâm làm La hán, tâm lên trời, tâm làm người, tâm làm súc sanh, trùng kiến chim thú, tâm vào địa ngục, tâm làm ngạ quỷ, tất cả hình mạo đều do tâm làm ra cả.

Thọ mạng tùy thuộc vào ba thứ, tâm là vị thầy cao cả, mạng tùy thuộc vào tâm, tuổi thọ tùy thuộc vào mạng, đó là ba thứ thọ mạng tùy thuộc. Nay ta làm Phật, được trời người kính trọng cũng đều do tâm mà ra. Hãy nên nghĩ đến sự thống khổ của sanh tử, hãy lìa bỏ gia đình. Nên nghĩ đến tám việc mà suy tư kinh Phật:

1. Nên bỏ vợ con mà cầu thoát khỏi thế gian, không tranh cãi với thế gian, không có tâm tham.

2. Không được nói hai lưỡi, ác khẩu, nói dối, thêu dệt, ngâm vịnh ca hát.

3. Không được sát sanh, trộm cắp tài vật người khác và nhớ nghĩ đến sự dâm dục.

4. Không được ôm lòng sân hận, ngu sitham lam.

5. Không được ganh ghét, khinh mạn người khác.

6. Không được nhớ nghĩ sự làm ác, làm cho người khác thêm đau khổ.

7. Không nên có thái độ buông lung, không được giải đãi nằm dài, ăn uống cao sang.

8. Hãy nên lo rằng: Thân sẽ bị sanh, già, bệnh và chết.

Thọ trì tám việc này, tự đoan chánh tâm, không tranh cãi cùng thiên hạ, được siêu thoát khỏi thế gian. Này các Tỳ kheo ! Hãy nên suy tư tám việc này và bốn nguồn gốc thống khổ thì kinh Phật được trường cữu lâu dài.

Ðức Phật từ nước Duy Da Lê bảo tôn giả A Nan hãy đi đến xóm Câu Lân. Tôn giả A Nan thưa:

-Dạ vâng !

Ðức Phật từ nước Duy Da Lê ra đi, ngoái nhìn lại thành. Tôn giả A Nan liền đến trước hỏi đức Phật:

-Ðức Phật không xoay người một cách hư vọng nhìn lại thành à?

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan: -Ta không xoay người một cách hư vọng. Phàm làm Phật không được nhìn trở lại một cách hư vọng.

Tôn giả A Nan thưa: -Vậy đức Phật nhìn lui như vậy là ý gì?

Ðức Phật nói: -Ngày hôm nay tuổi thọ của ta đã dứt, không còn vào thành này trở lại nữa, cho nên ta xoay người nhìn lại.

Ði theo Phật có một vị Tỳ kheo đến trước hỏi: -Ngay hôm nay Ngài không còn đi vào trong thành này nữa sao?

Ðức Phật nói: -Ta sắp nhập Niết bàn, không còn thấy lại nước Duy Da Lê nữa, sắp đến khu vực Hoa Thị.

Ðức Phật đến xóm Câu Lân, trong đó có nước tên là Thi Xá Hoàn, đức Phật bảo các Tỳ kheo: -Hãy để tâm tinh khiết, ngồi xuống tự tư duy, biết trong cuộc sống người có trí tuệ khiến cho tâm đoan chánh, do tâm đoan chánh mà ba trạng thái dâm, nộ, si được trừ sạch. Tỳ kheo ấy tự nói rằng đã đoạn trừ cội gốc sanh tử, đắc A la hán, nhất tâm không còn gì để lo sợ, lại không còn lo sợ sanh tử nữa. Tuy tiếp xúc với khổ nhưng vẫn được con đường không sanh tử nữa.

Ðức Phật từ xóm Câu Lân bảo tôn giả A Nan đi đến xóm Kiền Lê. Tôn giả A Nan thưa: -Dạ vâng.

Ðức Phật cùng Tỳ kheo tăng đi đến xóm Kiền Lê, từ xóm Kiền Lê đức Phật bảo tôn giả A Nan đồng đi đến Kim Tụ cùng đông đủ Tỳ kheo tăng. Ðức Phật bảo các Tỳ kheo:

-Nếu có Tỳ kheo tâm thanh tịnh, tâm tư duy, tâm có trí tuệ, tâm tự suy tư, người có trí thì biết kinh, đó là gốc của tâm trí tuệ; tâm dâm, tâm hận, tâm si đều được trừ diệt. Ba tâm đã thanh tịnh, nếu muốn thoát khỏi cuộc đời không phải là chuyện khó, đắc được A la hán, các thứ dâm, nộ, si đều được tiêu trừ. Nên tự nói: “Ðã trừ diệt ba thứ này thì không còn tạo pháp sanh tử nữa”.

Ðức Phật từ Kim Tụ bảo tôn giả A Nan lại đến xóm Thọ Thủ. Tôn giả A Nan thưa: -Dạ vâng.

Liền cùng đông đủ các Tỳ kheo đi đến xóm Thọ Thủ. Ðức Phật bảo các Tỳ kheo:

-Hãy để tâm thanh tịnh, tâm tư duy, tâm trí tuệ. Nếu ai tâm ý thanh tịnh thì tâm liền ngay thẳng, tâm trí tuệ liền sanh, trí tâm liền hiểu rõ, khai mở, không nghĩ dâm, không nghĩ đến hận, không còn si mê nữa, tâm đã được khai mở.

Các Tỳ kheo tự nói rằng: “Những điều mong ước của ta đã đạt được, nhơn đó thấy được đạo A la hán”.

Ðức Phật từ xóm Thọ Thủ bảo tôn giả A Nan đi đến xóm Yêm Mãn, tôn giả A Nan thưa: -Dạ vâng.

Tôn giả liền cùng đông đủ các Tỳ kheo đi đến xóm Yêm Mãn. Ðức Phật bảo các Tỳ kheo tăng: -Phương pháp của tịnh tâm, tư tâm, trí tâm đưa đến không còn trạng thái dâm, nộ, được con đường tịnh tâm. Nếu có tư tâm, trí tâm liền sanh ra con đường để tâm suy tư. Nếu có tịnh tâm trí tâm liền khai mở được con đường của trí tâm. Có tịnh tâm, tư tâm liền được sáng suốt. Người đời dùng giạ bện lông để nhuộm màu, nếu vải giạ mà sạch sẽ thì nhuộm màu rất đẹp, đó là do giạ sạch vậy. Tỳ kheo có ba tâm: Tịnh tâm, tư tâm, trí tâm. Tịnh tâm là Thi đại (Giới), tư tâmTam ma đề (Ðịnh), trí tâm là Băng mạn nhã (Tuệ). Thi đại tâm là không dâm, không nộ, không tham. Tam ma đề là thu nhiếp tâm khiến cho không dong ruỗi. Băng mạn nhã là tam khôngái dục.

Người giữ kinh giới của Phật ví như người có tấm vải giạ nhưng tấm vải ấy lại bị dơ bẩn, họ muốn nhuộm tấm vải giạ ấy, trong khi nhuộm màu sắc không được sáng. Tỳ kheobất định đối với tịnh tâm, tư tâmtrí tâm, nếu muốn đắc đạo thì thật là khó. Lúc ngồi mà tâm không hiểu, tâm Tỳ kheo sẽ tự hiểu. Lúc ngồi tư duy liền thấy thiên thượng, biết rõ ý niệm của tâm người, cũng thấy họ sẽ sanh vào các đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, thiện và ác. Giống như dưới nước trong có cát, đá, xanh, vàng, trắng, đen ... tất cả đều hiện rõ do nhờ nước trong vậy. Cầu con đường giải thoát thế gian, phải để tâm thanh tịnh như vậy. Thí như khe nước đục ngầu thì cát, đá ở dưới không thể thấy được, cũng không thể biết được nước cạn hay sâu. Tâm Tỳ kheo mà không thanh tịnh, không thể thoát khỏi thế gian, do ngồi mà tâm ô trược vậy.

Ðức Phật từ xóm Yêm Mãn bảo tôn giả A Nan cùng đi đến Hỷ Dự. Tôn giả A Nan thưa: -Dạ vâng.

Rồi cùng đông đủ các Tỳ kheo đi đến xóm Hỷ Dự. Ðức Phật bảo các Tỳ kheo: -Nếu có tịnh tâm, tư tâmtrí tâm, đối với những điều thầy dạy, đệ tử phải nên học. Những điều suy nghĩ của thầy không thể đi vào trong tâm của đệ tử làm cho tâm của đệ tử đoan chánh được. Tỳ kheo hãy tự tịnh lấy mình, tâm đoan chánh mới là tâm. Tâm đoan chánh thì được thoát khỏi thế gian. Hãy tự nói: “Ta đã được thoát khỏi thế gian, đoạn trừ cội gốc của sanh tử”. 

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan: -Hãy đi đến xóm Hoa Thị.

Tôn giả A Nan thưa : “Dạ vâng”. Liền cùng đông đủ các Tỳ kheo đi đến xóm Hoa Thị. Ðức Phật bảo các Tỳ kheo:

Tâm có ba cấu uế, đó là dâm cấu, nộ cấu và si cấu. Giữ tâm thanh tịnh thì trừ được dâm cấu, giữ tâm tư duy thì trừ được nộ cấu, giữ tâm trí tuệ thì trừ được si cấu. Các Tỳ kheo tự tuyên bố: “Ðã thoát khỏi thế gian, đoạn trừ được cội gốc của buồn lo, khóc lóc, sanh tử”.

Ðức Phật lại từ xóm Hoa Thị bảo tôn giả A Nan cùng đi đến thành Phu Diên. Tôn giả A Nan thưa: “Dạ vâng”, rồi cùng đông đủ các Tỳ kheo đi đến phía Bắc thành Phu Diên, ngồi dưới gốc cây. Tôn giả A Nan ngồi một bên dưới gốc cây, tinh tấn tư duy quán tưởng bên trong, thì quả đất rung động mạnh. Tôn giả A Nan đứng dậy đi đến chỗ đức Phật thưa rằng: -Quả đất tại sao chấn động mạnh?

Ðức Phật đáp: -Ðộng đất có bốn nguyên nhân:

1. Ðất ở trên nước, nước ở trên gió, gió động làm nước chuyển động, nước chuyển động làm cho đất chấn động. Nhân đó quả đất rung động. Ðó là nguyên nhân thứ nhất làm quả đất rung động.

2. Nếu có A la hán muốn tự thử đạo lực của mình, dùng hai ngón tay ấn xuống mặt đất, quả đất rung động. Ðó là nguyên nhân thứ hai làm quả đất rung động.

3. Ơû trung gian có một vị trời có đại oai thần, ý vị ấy muốn làm quả đất rung động, quả đất liền rung động. Ðó là nguyên nhân thứ ba làm quả đất rung động.

4. Ðức Phật không bao lâu nữa sẽ nhập Niết bàn, quả đất lại chấn động mạnh. Ðó là bốn nguyên nhân làm quả đất rung động.

Tôn giả A Nan thưa rằng: -Do oai thần của Phật, đức Phật nhập Niết bàn cho nên quả đất mới chấn động mạnh như vậy?

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan: -Oai thần của Phật vòi vọi, rất tôn quý, hào quang hóa độ vô lượng. Vậy ngươi có muốn biết oai thần của Phật chăng?

Tôn giả A Nan thưa: -Con mong muốn được nghe biết điều ấy.

Ðức Phật nói: -Ta đi khắp thiên hạ, đi đến nhân dân trong nước, trong quận. Người hiểu biết đi đến chỗ đức Phật, thân Phật tự hóa ra y phục, thành ấp, quốc gia, nói rằng: “Ta xem thấy nhân dân ở nước ấy thực hành những pháp gì? Biết những kinh giới gì? Phật liền thuyết kinh giới để làm lợi ích cho họ. Nhưng những nhân dân ấy họ đều chẳng biết ta là ai, và cũng chẳng biết ta từ trên trời hay dưới đất đến. Nhân dân đều hết sức cung kính ta. Ta biến hóa đến chỗ các quốc vương, quốc vương hỏi ta rằng: “Khanh là ai?”. Ta đáp: “Tôi là đạo nhân ở trong nước này. Quốc vương lại hỏi ta: “Ngài nói kinh gì?”. Ta nói: “Ngài muốn hỏi kinh gì, xin cứ hỏi, tôi đều trả lời tất cả”.

Quốc vương rất hoan hỷ. Ta vì nhà vua rộng nói xong, ta liền biến mất, không thấy Quốc vương nữa. Sau đó họ đều chẳng biết ta là ai.

Ta đến các nước Thệ Tâm, ta cũng biến hóa ra y phục Thệ Tâm, nói năng như họ. Họ hỏi ta: “Ngài nói những giới kinh gì?”. Ta biết tâm của họ, biết tiếng nói của họ, ta đem kinh và giới ra giáo hóa họ rồi biến mất. Những người ấy sau đó suy nghĩ về lời nóihình tướng của ta, họ hỏi: “Ðó là người gì? Là trời, là quỷ hay là thần?”. Họ đều chẳng biết ta là ai. Ta cũng không nói với họ ta là Phật. Ta đã du hành khắp thiên hạ, truyền trao kinh đạo cùng khắp rồi ta bay lên cõi trời thứ nhất, chỗ ở của Tứ Thiên Vương, ta cũng mặc y phục trời và nói tiếng trời. Ta hỏi trời: “Ngài thọ trì kinh gì?”. Trời thưa: “Tôi chẳng biết kinh”. Ta liền thuyết kinh cho họ nghe xong rồi biến mất, trời cũng chẳng biết ta là ai.

Ta lại lên trên cõi trời thứ hai là Ðao Lợi Thiên, hóa ra y phục và tiếng nói của cõi trời Ðao Lợi. Ta hỏi trời Ðao Lợi: “Ngài đã nói những kinh gì?”. Trời Ðao Lợi thưa: “Tôi không biết kinh. Ta liền thuyết kinh cho họ nghe xong rồi biến mất. Trời cũng chẳng biết ta là ai.

Ta lại lên cõi trời Diêm thứ ba, hóa ra y phục và tiếng nói của cõi trời Diêm. Ta hỏi trời Diêm: “Ngài thọ trì kinh gì?”. Trời thưa: “Tôi không biết kinh”. Ta thuyết kinh cho họ nghe.

Ta lại lên cõi trời Ðâu Thuật thứ tư, hóa ra y phục và tiếng nói của trời ấy. Ta hỏi: “Ngài thọ trì những kinh gì?”. Vị trời ấy thưa: “Ngài Di Lặc nói kinh cho tôi nghe, tôi cũng lại nói kinh cho Ngài Di Lặc nghe”. Ta lên cõi trời Bất Kiêu Lạc thứ năm, cũng mặc y phục và nói tiếng của cõi trời ấy. Ta hỏi trời ấy: “Ngài có biết kinh không?”. Vị trời ấy thưa: “Tôi không biết kinh”. Ta nói kinh cho vị ấy nghe rồi liền biến mất, nhưng trời ấy chẳng biết ta là ai.

Ta lại lên cõi trời Ứng Hóa Thanh thứ sáu, cũng mặc y phục và nói tiếng của cõi trời ấy. Ta hỏi trời: “Ngài thọ trì những kinh gì?”. Trời thưa: “Tôi không biết kinh”. Ta nói kinh cho họ nghe rồi lại biến mất. Sau đó những vị ở trời thứ sáu đều chẳng biết ta là ai và ta cũng không nói với họ ta là Phật.

Ta lại lên Phạm thiên, Phạm chúng thiên, Phạm phụ thiên, Ðại phạm thiên, Thủy hành thiên, Thủy vi thiên, Vô lượng thủy thiên, Thủy âm thiên, Ước tịnh thiên, Biến tịnh thiên, Tịnh minh thiên, Thủ diệu thiên, Cận tế thiên, Khoái kiến thiên, Vô kết ái thiên. Các vị trời ấy đều đến gặp ta. Ta hỏi: “Các vị có ai biết kinh không?”. Trong số đó có người biết kinh, người không biết kinh. Ta đều thuyết con đường sanh tử cho họ nghe, thuyết con đường đoạn trừ cội gốc sanh tử. Ai thích nghe kinh, ta đều nói cho họ nghe. Ta cũng mặc y phục và nói tiếng giống như các cõi trời ấy. Ngoài ra bốn cõi trời thì không thể nói được, ta muốn lên các cõi trời ấy nhưng họ không thể trả lời những điều ta hỏi. Ðó là cõi Không huệ thiên thứ hai mươi lăm, cõi trời Thức huệ nhập thứ hai mươi sáu, cõi trời Vô sở niệm huệ nhập thứ hai mươi bảy, cõi trời Bất tưởng nhập thứ hai mươi tám.

Ðức Phật dạy: -Chẳng có nơi đâu mà ta chẳng chứng kiến, và chỉ có Niết bànhết sức vui.

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan: -Oai thần của Phật không chỉ làm cho quả đất rung động, mà còn làm cho hai mươi tám từng trời kia cũng rúng động mạnh.

Ðức Phật nhờ chánh tâm mà được như vậy. Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Sau khi ta nhập Niết bàn rồi, A Nan đã được thọ trì từ miệng đức Phật, nghe kinh giới pháp của thầy, A Nan nên nói rằng: “Tôi nghe pháp này từ miệng đức Phật, sẽ nói lại cho Tỳ kheo tăng đời sau”. Này A Nan, không được cất dấu kinh Phật, phải hết sức phơi bày ra, trong kinh không có gì mà nghi ngờ. Sau khi ta nhập Niết bàn xong, các Tỳ kheo hãy nên cùng nhau hộ trì chánh pháp. Nếu có Tỳ kheo khác, dối muốn làm Pháp sư, cho rằng trong kinh không có cấm giới, hủy hoại Phật pháp. Nếu có Tỳ kheo khác dối thêm bớt kinh giới của Phật, A Nan nên nói như vầy: “Tôi không có nghe đức Phật nói kinh pháp này, tại sao lại dối thêm bớt kinh pháp của Phật? Nếu có Tỳ kheo không hiểu kinh của đức Phật thì nên hỏi tôn lão Tỳ kheo A Nan. Vì vị ấy đã thấy kinh Phật, đã nghe chính từ miệng đức Phật nói ra và nói cho các Tỳ kheo tăng nghe, chớ có thêm bớt. Nếu ai muốn thêm bớt kinh giới thì A Nan hãy nên nói cho đúng, cái nào là phi pháp thì hãy bỏ đi chớ dùng. Này A Nan, nếu có người nói: “Ðức Phật không nói lời này”, hãy nói với kẻ ấy: “Tại sao ngươi muốn phá hoại giới kinh của Phật?”. Trong đó có Tỳ kheo ngu si không hiểu giới kinh thì nên hỏi các Tỳ kheo tôn lão, Tỳ kheo không được tức giận. Nếu có Tỳ kheo không hiểu kinh này, trong số đó có Tỳ kheo biết kinh giới, biết những điều Phật dạy thì nên hãy tới đó mà học hỏi. Nếu có Tỳ kheo nghi ngờ đối với kinh giới đến hỏi, Tỳ kheo tăng nên hỏi rằng: “Ngươi theo thầy nào mà nghe như vậy?”. Vị ấy tự nói tên của thầy mình. Tỳ kheo nói giới kinh không được nghi rằng: “Ðó không phải do Phật giới sắc”. Tỳ kheo tăng đều có mặt trong lúc kiết tập kinh. Những kinh nào ở trong cuộc kiết tập thì dùng, còn những kinh kiết tập bên ngoài thì bỏ đi đừng dùng. Ai không hiểu kinh giới thì nên hỏi nơi nào có Trưởng lão Tỳ kheo thông suốt về kinh giới, đến đó để hỏi nghĩa kinh. Khi hỏi (kinh) không được nói đúng, sai. Nếu ai có nghi ngờ, này A Nan hãy giải thích rằng: “Chính tôi nghe đức Phật dạy”. Kinh không thuộc trong cuộc kiết tập, các Trưởng lão Tỳ kheo đã không nói thì bỏ đi chớ dùng. Các Tỳ kheo nên nói cho đúng giới kinh. Các Tỳ kheo sau khi đã nói giới kinh nên cùng nhau thọ trì, nếu có Tỳ kheo nghi nói rằng: “Ðó chẳng phải là kinh Phật chơn thật nên người ấy không thích kinh”, các Tỳ kheo nên trục xuất kẻ ấy ra ngoài. Ơû đất trời, trong lúa sanh ra cỏ, cỏ là thứ hư hoại, lúa là chơn thật, người ta phải nhổ sạch cỏ đi lúc mới thành thục chắc hạt. Ác Tỳ kheo không thích kinh, không trì giới, làm bại hoại Tỳ kheo tốt, chư Tỳ kheo nên họp lại mà tẩn xuất kẻ ấy ra. Trong đó có Tỳ kheo hiền thiện, giỏi kinh giới, nên đi đến chỗ Tỳ kheo ấy.

Ðức Phật nói: -Các Tỳ kheo đã thọ trì, đã biết, đã học khi truyền trao giới kinh cho Tỳ kheo nên nói rằng: “Lúc đức Phật còn tại thế đối với chỗ kia, tụ lạc kia, huyện kia, nước kia, bấy giờ có Tỳ kheo kia cùng đi theo, Ngài nói kinh giới này, trì kinh giới này không được chê trách rằng: Không phải do Phật nói”. Những điều được nói ra nên dạy dỗ lẫn nhau, cùng nhau thừa dựng; kẻ lớn người nhỏ hãy cùng nhau kiềm chế, không để Phật Bát Nê hoàn rồi mà không cùng nhau thừa dụng trao truyền. Nếu cùng nhau thừa dựng thì chư thiênnhân dân hỗ trợ, hoan hỷ, tất cả đều được phước, có thể làm cho kinh Phật được lâu dài. Sau khi ta nhập Niết bàn rồi, A Nan nên nói: “Ở Chỗ kia có Tỳ kheo hiểu kinh trì giới, tân Tỳ kheo kia hãy nên đến chỗ vị Tỳ kheo Trưởng lão hiểu kinh kia để theo vị ấy thọ học kinh giới”. Các tân Tỳ kheo mới đến nghe kinh giới, không được nói rằng: “Ðây không phải là vị trì kinh giới của Phật”. Hãy cùng nhau thừa dụng. Nếu Tỳ kheo hòa hợp trì giới thì bên ngoài có thanh tín sĩthanh tín nữ nghe Tỳ kheo tăng hòa hợp trì giới của Phật đều vui sướng cúng dường đồ ăn, y phục và thuốc men trị bệnh cho Tỳ kheo tăng. Như vậy là kinh của Phật có thể được lâu dài. Tỳ kheo tăng nên hòa hợp cùng nhau thừa sự, trên dưới cùng nhau kiềm chế. Từ thiên thượng cho đến loài người, địa ngục, cầm thú, ngạ quỷ, các nẻo do vì bất hòa cho nên rơi vào ba đường (ác). Các Tỳ kheo trì kinh giới nên hòa hợp, không được cùng nhau tranh chấp, cười nói rằng: “Ta nhiều trí, ngươi ít trí”. Dù trí nhiều, trí ít, tất cả đều phải tu hành. Nếu Tỳ kheo hòa hợp trì kinh của Phật, khiến cho chánh pháp được lâu dài, làm cho người trong thiên hạ được phước, chư thiên trong thiên hạ đều hoan hỷ. Không nên đối với kinh điểnvứt bỏ lời Phật dạy. Ðối với lời Phật dạy, Tỳ kheo đã thọ trì thì nên phụng hành.

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan lại trở về nước Ba Tuần. Tôn giả A Nan thưa: -Dạ vâng.

Ðức Phật cùng Tỳ kheo tăng từ nước Phù Diên đi đến nước Ba Tuần, dừng chân trong vườn Thiền Ðầu. Nhân dân của nước Ba Tuần gọi là Chư Hoa. Nhân dân của Chư Hoa nghe đức Phật đi đến dừng chân trong vườn Thiền Ðầu, họ đều đến phía trước đảnh lễ đức Phật rồi tất cả đều ngồi xuống. Ðức Phật thuyết kinh cho họ nghe. Bấy giờ có một người tên là Thuần. Cha của Thuần tên là Hoa Thị. Con của Hoa Thị bấy giờ đang ngồi trong khi mọi người đã đi hết. Một mình Thuần ở lại giây lát, đứng dậy, nhiễu quanh đức Phật ba lần, chấp tay bạch rằng: “Sáng mai mong Ngài cùng các Tỳ kheo tăng đến nhà con để thọ trai”. Ðức Phật yên lặng không trả lời. Thuần liền đến trước đức Phật đảnh lễ, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi trở về nhà, trải tòa thắp đèn để mời Phật và chư Tỳ kheo.

Sáng mai Thuần đi đến bạch với đức Phật là đã chuẩn bị xong rồi. Ðức Phật đứng dậy ôm bát cùng với đông đủ các Tỳ kheo đi đến nhà Thuần để thọ trai. Trong số Tỳ kheo có một Tỳ kheo hung ác, lấy nước đồ ăn trong bình bát đổ đi, đức Phật liền biết và Thuần cũng thấy như vậy. Ðức Phật ăn xong, Thuần lấy một cái ghế nhỏ ngồi trước đức Phậtbạch Phật rằng:

-Con muốn hỏi một việc là trên trời dưới trời không ai trí tuệ hơn Phật, vậy trong thiên hạ có mấy hạng Tỳ kheo?

Ðức Phật trả lời: -Có bốn hạng Tỳ kheo: 1- Hành đạo thù thắng. 2- Hiểu đạo có thể giảng nói được. 3- Nương đạo để sống.
4- Làm ô uế đạo.

Sao gọi là Tỳ kheo hành đạo thù thắng?

Ðó là đạo nghĩa vị ấy nói ra không thể nào kể hết. Vị ấy thực hành đạo lớn, tối thắng không sao so sánh được, đã hàng phục được tâm lo sợ, vị ấy điều ngự pháp, dẫn dắt thế gian. Ðó là hạng Sa môn hành đạo thù thắng.

Sao gọi là hạng Sa môn hiểu đạo, có thể giảng nói được?

Ðó là vị ấy nói được điều cao quý thứ nhất của đức Phật, lại còn phụng hành không có nghi nạn, cũng có thể diễn nói pháp cú cho người khác nghe. Hạng Sa môn như vậy gọi là hiểu đạo có thể giảng nói được.

Sao gọi là hạng nương đạo để sinh sống?

Ðó là hạng nhớ đến việc tự thủ hộ, siêng năng học tập một mạch không lùi, chăm chăm không mỏi, bị nhân, pháp tự che lấp đó là hạng Sa môn nương đạo để sinh sống.

Sao gọi là hạng làm ô uế đạo?

Ðó là hạng chỉ làm những điều ưa thích, ỷ lại chủng tánh của mình, chuyên tạo hành vi ô trược làm cho người khác luận nghị, chẳng nhớ lời Phật dạy, cũng không sợ tội. Hạng Sa môn như vậy là làm ô uế đạo. Kẻ phàm nhân nghe hạng người này cho là hạng đệ tửtrí huệ thanh bạch.

Vậy Sa môn có người thiện, có người ác, không phải là giống nhau vậy. Người bất thiện bị người thiện chê bai. Thí như trong lúa có cỏ. Cỏ là xấu, lúa là tốt. Những nhà trong thiên hạ có con ác, một đứa con ảnh hưởng cả gia đình. Một tỳ kheo ác làm bại hoại các Tỳ kheo khác, cho các Tỳ kheo đều là ác.

Ðức Phật dạy: -Con người không nên cho nhan sắc, y phục là đẹp. Yù đoan nghiêm thanh tịnh mới là đẹp. Con người không nên để hình tướng lừa dối.

Ðức Phật dạy Thuần: -Nếu ai cúng cơm cho Phật và Tỳ kheo tăng, lúc chết được sanh lên trời. Người biết kinh thì trừ bỏ tâm dâm, tâm nóng giận và tâm si mê. Không nên vì một người mà chê trách tất cả mọi người


Quyển hạ

 

Ðức Phật ra khỏi nhà ông Thuần, bảo tôn giả A Nan đến nước Câu Di Na Kiệt, tôn giả A Nan thưa:

-Dạ vâng.

Tôn giả liền cùng các Tỳ kheo tăng từ nước Hoa Thị đi đến nước Cưu Di Na Kiệt. Ðức Phật bảo:

-Ta đang mắc bệnh cần phải ngồi nghỉ.

Ngài gọi tôn giả A Nan, tôn giả A Nan thưa: “Dạ vâng”. Ðức Phật nói:

-Gần chỗ này có một con suối tên là Cưu Ðối. Hãy cầm bát đến đó múc đầy bát nước lại đây. Ta muốn uống nước và rửa mặt.

Tôn giả A Nan liền đến bên suối. Khi ấy có năm trăm cỗ xe đi qua trên dòng nước làm nước rất đục. Tôn giả A Nan liền múc nước đục đem đến, bạch đức Phật:

-Trên dòng nước có đến năm trăm cỗ xe đi qua làm cho nước rất đục, nước này chỉ có thể rửa mặt, rửa chân chứ không thể uống. Ở vùng đó lại có một con suối tên là Ê Liên, nước rất trong, đến đó cũng không xa, con có thể đến đó lấy nước cho Thế Tôn uống.

Ðức Phật liền lấy nước đục để rửa mặt, rửa chân. Bệnh của Ngài có phần thuyên giảm. Bấy giờ có đại thần tên là Bào Kế, người của nước Hoa Thị, cùng đi trên đường, từ xa trông thấy oai thần của đức Phật, hình mạo đoan chánh, Ngài ngồi một cách an tịnh. Ðại thần Bào Kế đến trước đức Phật đảnh lễ rồi ngồi xuống. Ðức Phật nói kinh cho ông nghe và ông rơi lệ khóc lóc. Ðức Phật dạy:

-Tại sao những Tỳ kheo vì ông hoặc nói kinh cho ông nghe mà ông lại khóc?

Bào Kế thưa:

-Có một người tên là La Ca Diêm tụng kinh cho con nghe, khi ấy nước mắt con tuôn trào.

Ðức Phật hỏi:

-Ông ta tụng kinh gì?

Bào Kế thưa:

-La Ca Diêm ngồi dưới gốc cây, tự suy tư về thân thể. Lúc ấy có năm trăm cỗ xe đi qua. Không lâu sau đó có một người đến hỏi: “Vừa rồi có năm trăm cỗ xe chạy qua, ngài không nghe tiếng động sao?”. Ðáp rằng: “Ta không nghe”. Người ấy nói: “Gần ngay nơi đây, tiếng xe ầm ầm như vậy, sao lại không nghe?”. Ðáp rằng: “Không nghe”. Người ấy nói: “Khi đó Tỳ kheo ngủ à?”. Ðáp rằng: “Không ngủ”. Người ấy nói: “Vậy sao lại không nghe tiếng xe chạy?”. Ðáp rằng: “Ta đang nghĩ đến đạo, tự tư duy về năm tạng trong thân thể”. Kẻ ấy nói: “Xe chạy qua như vậy mà lại không nghe tiếng xe !”.

Bào Kế thưa rằng:

-Con đi nửa đường thì gặp một người đã thuyết pháp cho con nghe. Ðó là Tỳ kheo Ca La Diêm, người giữ đạo thâm sâu, không nghe tiếng ầm ầm của năm trăm cỗ xe chạy qua. Do đó con cảm phục nên khóc.

Ðức Phật nói với Bào Kế:

-Tiếng năm trăm cỗ xe chạy so với tiếng sấm sét, tiếng nào lớn hơn?

Bào Kế thưa:

-Cho dù có ngàn cỗ xe chạy, tiếng động vẫn không bằng tiếng sấm sét.

Ðức Phật bảo Bào Kế:

-Ngày trước ta ở tại xóm Ưu Ðàm, ngồi tư duy về nguồn gốc sanh tử của thiên hạ. Bấy giờ trời đang mưa ào ào, sấm sét vang rền dữ dội làm chết hết bốn con trâu và hai anh em người đi cày. Khi ấy thiên hạ xúm lại để xem, có một người đi đến chỗ ta, tới phía trước đảnh lễ, ta hỏi: “Người ta làm gì mà tụ tập đông quá vậy?”. Người ấy thưa: “Vừa rồi sấm sét giết chết bốn con trâu và anh em người đi cày, tại sao Phật không nghe hay là Phật ngủ chăng?”. Ðức Phật trả lời: “Ta không ngủ. Ta đang ngồi tư duy về đạo”. Người ấy nói: “Ðạo của Phật sâu xa như vậy, tuy Ngài không ngủ mà vẫn không nghe tiếng sấm sét vang rền dữ dội là do Ngài suy tư về đạo một cách sâu xa”. Người đó cũng rơi lệ.

Ðại thần Bào Kế thưa: -Ðạo của Phật sâu xa như vậy, từ nay về sau con xin thọ trì kinh giới của Phật.

Bào Kế liền gọi tùy tùng đến, bảo họ trở về lấy vàng ròng dệt thành tấm giạ đem đến để ông dâng cúng đức Phật. Kẻ tùy tùng liền trở về nhà đem tấm giạ vàng đến. Bào Kế dâng lên Phật, thưa rằng:
-Mặc dù con biết đức Phật không dùng thứ này nhưng mong Ngài thương xót mà nhận cho con.

Ðức Phật liền thọ nhận. Bào Kế đảnh lễ Phật rồi đi. Ông đi chưa bao lâu, đức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Hãy mang tấm giạ dệt bằng vàng, có màu sắc vàng rực rỡ lại đây.

Tôn giả A Nan thưa: -Con đã theo hầu Phật trên hai mươi năm chưa hề thấy tấm giạ nào đẹp như vậy.

Ðức Phật nói: -Còn có cái hết sức đẹp.

Tôn giả A Nan thưa: -Sắc mặt của đức Phật ngày hôm nay đẹp như sắc tấm giạ vậy.

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan: -Ðức Phật có hai lần có sắc diện đẹp như vậy. Ðó là lúc đức Phật mới thành đạo, sắc diện đẹp như vậy. Ngày hôm nay vào lúc nửa đêm ta sẽ nhập Niết bàn nên sắc diện cũng lại đẹp như vậy.

Ðức Phật lại bảo tôn giả A Nan: - Hãy đi đến bên dòng suối Ê Liên, ta muốn tắm rửa thân thể.

Tôn giả A Nan thưa: -Dạ vâng.

Ðức Phật cùng tôn giả A Nan đi đến bên dòng suối Ê Liên. Ðức Phật cởi y, tự mình lấy nước để tắm rửa. Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:
-Sáng nay ta thọ trai của con ông Hoa Thị tên là Thuần, rồi vào lúc nửa đêm ta sẽ vào Niết bàn, nói cho ông Thuần biết rằng: đức Phật đã thọ trai nơi nhà của ông rồi, nửa đêm hôm nay Ngài sẽ nhập Niết bàn. Vậy ông hãy nên hoan hỷ. Hãy bảo ông Thuần đừng khóc lóc. Nếu ai cúng cơm cho đức Phật một lần sẽ được năm thứ phước. Ðó là bữa ăn cuối cùng trước khi Ngài Bát Nê hoàn. Vậy ông Thuần sẽ được trường thọ, được đoan chánh, được phú quý, được tôn trọng, được sanh lên trời. Ðức Phật là bậc đáng tôn kính, ai cúng trai phạn cho Ngài một lần là được năm thứ phước này.

Tôn giả A Nan bạch đức Phật:

-Có một Tỳ kheo tên là Chiên Ðàn, tánh tình nóng nảy, ưa chửi mắng, thường tranh cãi với các Tỳ kheo, sau khi Phật Bát Nê hoàn, con gặp các Tỳ kheo như vậy làm sao mà cùng nhau phụng sự kinh giới của Phật?

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Sau khi ta nhập Niết bàn rồi, nếu gặp loại Tỳ kheo như vậy thì hãy đừng quan hệ, các Tỳ kheo hãy đừng nói với kẻ ấy. Như vậy Tỳ kheo Chiên Ðàn sẽ Phải suy tư, ôm lòng xấu hổ, hối hận vì thường tranh cãi với các Tỳ kheo.

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Hãy trải giường cho ta, đầu quay về hướng Bắc. Lưng ta đau nhức dữ dội, ta muốn nằm.

Tôn giả A Nan liền trải giường, đặt gối. Ðức Phật nằm nghỉ, nghiêng hông về phía bên phải, hai chân chồng lên nhau. Ngài nằm suy tư về đạo vô vi. Ðức Phật đang nằm, bảo tôn giả A Nan:

-Ngươi có biết bảy pháp này chăng? Những gì là bảy? 1- Có chí. 2- Hiểu rõ kinh. 3- Siêng tụng kinh. 4- Không ham nằm, ưa thích kinh. 5- Chánh tâm. 6- Tịnh tâm. 7- Thấy trong thân toàn là đồ dơ bẩn. Tỳ kheo có bảy pháp này thì tự biết là mình đã giải thoát khỏi cuộc đời.

Tôn giả A Nan trong lòng nghĩ rằng: “Ðức Phật nằm một các mỏi mệt. Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Trong ý ngươi nghĩ rằng đức Phật nằm một cách mỏi mệt chăng?

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Con người không được giải đãi đối với kinh, không được giải đãi đối với giới. Khi khởi ý muốn làm Phật, được nghe Phật dạy rồi, có thể đạt được.

Bấy giờ có một Tỳ kheo tên Kiếp Tân, đến nói với tôn giả A Nan rằng:

-Tôi muốn hỏi một việc.

Tôn giả A Nan đáp:
-Thánh thể đức Phật bị bất hòa, vậy nên thôi đi.

Ðức Phật từ bên trong biết có Tỳ kheo muốn hỏi chuyện, Ngài bảo tôn giả A Nan:

-Hãy bảo Tỳ kheo ấy vào gặp ta.

Ðức Phật dạy:

-Ngươi muốn hỏi gì cứ hỏi.

Tỳ kheo thưa:
-Ngài đang có bệnh, xin Ngài đừng thuyết kinh nữa.

Ðức Phật nói:
-Có bảy việc, đã nghe hãy thọ trì, khỏi phải thuyết kinh.

Ðức Phật bảo Tỳ kheo:

-Vừa rồi ta mới nằm, A Nan nghĩ rằng đức Phật có ý mệt mỏi, sao lại nằm. Do đó ta ngồi dậy nói về bảy việc.

Tỳ kheo thưa:

-Ðức Phật là bậc tôn quý của trời và người, tại sao Ngài không lên trời để lấy thuốc để trị cho hết bệnh?

Ðức Phật dạy:

-Như ngôi nhà cũ, thời gian lâu đều bị hư nát, quả đất sẽ tiếp tục an ổn. Tâm của Phật thì an ổn như quả đất, còn thân của Ngài thì như ngôi nhà cũ. Tâm ta không bệnh, chỉ có thân ta mới có bệnh mà thôi.

Ðức Phật dạy:

-Hãy lo về bảy sự, lo cho thân mà trì giới.

Tỳ kheo thưa:

-Nay Phật sắp nhập Niết bàn vì thân có bệnh, huống chi là người phàm phu !

Tỳ kheo thưa:

-Loài yếu sanh con, nhờ cha mẹ đút mồi mà được sống. Nay đức Phật bỏ chúng con mà nhập Niết bàn, vậy chúng con biết nương cậy vào ai.

Ðức Thế Tôn bảo:

-Ta đã từng nói rằng: “Có sanh thì có tử. Tỳ kheo nên nhớ việc thọ trì trọng giới của đức Phật”.

Tỳ kheo ấy lui ra. Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Hãy nhanh về Diêm Ha Sa trải giường, đầu quay về hướng Bắc, vào lúc nửa đêm hôm nay ta sẽ nhập Niết bàn.

Tôn giả A Nan tuân lệnh đi đến đó, đặt giường ở trong rừng, đầu quay về hướng Bắc xong, trở về thưa rằng: “Con đã trải giường xong”.

Ðức Phật đứng dậy đi đến Diêm Ha Sa, nằm lên giường, hông nghiêng về phía hữu. Có một Tỳ kheo tên là Ưu Hòa Hoàn, đến trước đức Phật mà đứng. Ðức Phật bảo:

-Không nên đứng phía trước ta !

Tôn giả A Nan bạch Phật:

-Từ khi con đích thân làm thị giả đến nay là hai mươi lăm năm, con chưa từng thấy có Tỳ kheo nào đi thẳng đến trước Phật mà không hỏi ý con.

Ðức Phật bảo:

-Tỳ kheo này chính là chư thiênoai thần lớn, nghe Phật diệt độ cho nên mới nóng lòng tự mình đến thẳng phía trước, muốn thấy đức Phật.

Tôn giả A Nan thưa:

-Chỉ có vị thiên này biết Phật sắp diệt độ hay lại có các vị thiên khác cùng biết?

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Từ cảnh giới nước Cưu Di Na Kiệt, trong khoảng bốn trăm tám mươi dặm, đầu này nối tiếp đầu kia, không có một kẻ hở, đều là chư thiên. Nghe Phật sắp Niết bàn, họ đều thương xót, khóc lóc mà đi đến đây. Trong đó có vị cào đầu, bứt tóc, xé áo, đứng tim, ngất xỉu, than rằng: “Sao mà buồn quá ! Ðức Phật đã bỏ chúng ta. Ngài đã diệt độ vĩnh viễn ! Sao mà nhanh thế ! Phật là bậc đại sáng suốt, là con mắt của ba cõi, nay Ngài đã nhập Niết bàn, ba cõi thành tối tăm”.

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Ta đã từng nói rằng: “Có sanh thì có tử . Trong trời đất này chẳng có cái gì mà chẳng bại hoại cả. Kẻ ngu si thì cho rằng trời đất này là thường còn, Phật thì cho đó là hư không. Ðất trời có thành có bại, thân này rồi cũng phải bỏ đi, thiện hay ác tùy thuộc vào thân. Cha có điều xấu ác, con không bị tai ương. Con có điều xấu ác, cha không bị tai ương. Mỗi người phải tự thọ lãnh sự sống chết, thiện hay ác, tai ương hay lỗi lầm, tất cả đều tùy thuộc vào mình”.

Tôn giả A Nan bạch Phật:

-Sau khi Phật diệt độ, phương pháp an táng thân thể của Phật phải làm như thế nào?

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Ngươi hãy im lặng, đừng lo, sẽ có các Thệ tâm lý gia cùng nhau lo việc đó.

Tôn giả A Nan thưa:

-Họ làm phương pháp gì để an táng tôn thể của đức Phật?

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Phương pháp tẩn táng như phương pháp tẩn táng của Hoàng đế Phi Hành. Ðức Phật còn hơn thế nữa.

Tôn giả A Nan thưa:

-Phương pháp tẩn táng ấy như thế nào?

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Lấy giạ trắng mới quấn quanh thân, tiếp đến lấy mười trương kiếp ba quấn lên trên giạ trắng, rồi đặt vào trong kim quan bằng bạc, lấy nước hoa rưới lên vải kiếp ba, dùng tất cả loại hương tốt đều để lên trên, lấy củi cây tử, cây chương, cây chiên đàn chất chung quanh kim quan. Lấy lọng che lên kim quan, lấy củi chất trên dưới rồi trà tỳ (đốt). Trà tỳ xong thu lấy xá lợi, dựng tháp, treo phan tại ngã tư đường, đặt cái mâm lên trên, trống nhạc, hoa hương, đốt đèn cúng dường. Phương pháp tẩn táng của Phi Hành Hoàng đế là như vậy. Cách tẩn táng đức Phật còn hơn thế nữa.

Khi đức Phật nói như vậy, tôn giả A Nan ở phía sau Ngài xót thương khóc lóc, đặt đầu trên góc giường, thưa rằng:

-Ngài diệt độ sao mà nhanh quá ! Ðất trời trở nên tối tăm.

Khắp bốn phương, các Tỳ kheo tăng nghe đức Phật muốn diệt độ đều khóc lóc trở về. Họ nói với nhau: “Sợ không thấy được Phật”. Các tỳ kheo tăng đến nơi, đức Phật hỏi:

-Tỳ kheo A Nan ở đâu?

Thưa rằng:

-Tôn giả A Nan ở gần sau góc giường, cúi đầu mà khóc.

Các Tỳ kheo chảy nước mắt thưa rằng:
-Ðức Thế Tôn diệt độ sao mà nhanh quá !

Ðức Phật dạy:

-Lúc đi trong các thôn xóm, ta vốn có dự cáo rằng: “Khoảng chín mươi ngày trở lại ta sẽ nhập Niết bàn. Bốn chúng đệ tử ở xa vài dặm, tất cả đều trở về”.

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Chớ có buồn rầu. Vì sao vậy? Vì ngươi đã hết lòng hầu Phật trên hai mươi, có tâm từ đối với đức Phật, thân thì cung kính, miệng thì cẩn thận, có lòng đại hiếu đối với Phật. Thị giả của Phật quá khứ cũng như A Nan, thị giả của Phật đương lai cũng như A Nan vậy. Ngươi biết ý Phật, biết lúc nào nên cho Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di yết kiến, lúc nào thì không nên cho. Khi có người cúng dường ẩm thực..., ăn, uống, nằm, đứng, thường hợp với ý của Phật, chưa từng mất oai nghi. Tỳ kheo hay Thệ Tâm nào thích kinh hay không thích kinh, A Nan nói ra đều chân thật. A Nan hết sức hiếu thuận đối với Phật, vậy khóc lóc làm gì ?

Ðức Phật bảo các Tỳ kheo: -Hãy lắng nghe Phi Hành Hoàng đế có bốn đức khó làm. Những gì là bốn đức?

-Các Tiểu quốc vương và các Thệ tâm lý gia cùng các lê dân, đến dưới cửa cung vua, Phi Hành Hoàng đế thấy họ, ngài dùng tâm hòa thuận, mềm mại để thuyết giáo, thuyết giảng phương pháp trị nước cho các vua là phải biết tri túc, đừng cầu mong. Còn việc làm của Thệ tâm thì lấy sự thanh tịnh làm trước. Các Lý gia và dân phải đến chỗ Phật miếu để nghe Sa môn giáo hóa sống một các chơn chánh, về nhà phải tu hạnh hiếu thuận, theo chỗ trú tâm, dùng tâm từ ban bố tất cả. Các vua, Thệ tâm lý gia và thứ dân không ai mà không hoan hỷ, họ khen ngợi thánh đế đã làm cảm động chư thiên. Phi Hành Hoàng đế có bốn đức như vậy.

Này A Nan, Tỳ kheo cũng có bốn đức. Nếu có trừ cẩn nam, trừ cẩn nữ, thanh tín sĩ, thanh tín nữ đi đến chỗ tôn giả A Nan để hỏi kinh giới thì tôn giả A Nan có thể quảng diễn trình bày cho họ một cách đầy đủ. Bốn chúng đệ tử chẳng ai chẳng hoan hỷ cáo từ lui ra. Họ trầm trồ khen ngợi. Ðó gọi là đức thứ nhất trong bốn đức của tôn giả A Nan.

Lại có bốn chúng đệ tử không hiểu sự thâm áo của kinh, đi đến chỗ tôn giả A Nan để hỏi chỗ nghi. Tôn giả A Nan giải thích sự nghi kết cho họ, chẳng chỗ nào mà chẳng được khai mở, làm cho người nghe không chán, khi ra về, không ai mà không khen ngợi. Ðó gọi là đức thứ hai trong bốn đức của tôn giả A Nan.

Bốn chúng cao đức nhìn thấy tôn giả A Nan đứng hầu bên trái của đức Phật, chẳng ai mà chẳng trầm trồ khen ngợi. Ðó là đức thứ ba trong bốn đức của tôn giả A Nan.

Ðức Phật thuyết kinh, bất luận nhiều hay ít, tôn giả A Nan đã nghe qua đều biết đọc tụng, truyền trao cho bốn chúng, hoàn toàn không thêm bớt. Ðó là đức thứ tư trong bốn đức của tôn giả A Nan.

Tôn giả A Nan bạch Phật:

-Cách đây không xa có những quốc độ như nước Xá Vệ, nước Sa Chi, nước Ðàn Ba, nước Vương Xá, nước Ba La Nại, nước Duy Da Lê, ở các nước lớn ấy, văn minh nghĩa giáo tròn đầy, mong đức Phật nên đến đó để diệt độ. Sao Ngài lại không đến các nước lớn ấy mà lại ở chỗ một huyện nhỏ, lại là chỗ ngoài thành, một xóm sơ sài, một huyện nhỏ gần biên giới nhập Niết bàn?

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Ðừng bảo đây là một xóm nhỏ. Vì sao như vậy? Vì vào thời xa xưa ở Cưu Di Na Kiệt, vua tên là Cưu Di Việt. Khi ấy trong nước hết sức an lạc, không có các bệnh tật, lúa thóc dồi dào, nhân dân thịnh vượng, trong nhà có con hiếu thảo. Thành ở phía Ðông-Tây dài bốn trăm tám mươi dặm, thành ở Nam-Bắc dài hai trăm tám mươi dặm. Thành có bảy lớp đều dùng ngói nung nhiều lớp ghép lại, dùng vàng ròng bạc trắng, lưu ly, thủy tinh để làm tường thành, cũng dùng bốn loại báu làm ngói lợp lên trên. Thành cao sáu trượng bốn thước, ở bên trên rộng hai trượng bốn thước. Trong thành có cây báu, hoa phát ra ánh sáng năm màu. Ðường đi có ba lối, hai bên đều dùng bốn báu để lót đường, có ngói lợp lên trên, hai bên là nhà cửa để ở, điêu khắc chạm trỗ đẹp đẽ giống như trên cõi trời, có các thứ nhạc, đờn cầm, đờn sắc do nam nữ thuần chất ca ngợi đạo đức, nhạc đạo có mục đích làm lợi ích cho trí tuệ được sáng suốt, làm cho dân chúng không có ưu sầu, sợ sệt, tâm thường hoan hỷ. Trên đầu họ không có trang điểm nhưng hương trí tuệ tỏa khắp. Vị Thánh vương ở đó tên là Ðại Khoái Kiến, hiệu là Phi Hành Hoàng đế, điều khiển binh đội thông minh nhất thế gian, dùng đạo trị dân, nhân dân không trái với vương pháp. Nếu nhân dân muốn phi hành, hễ nghĩ thì thân liền bay đến đó. Nhà vua có bảy báu, tự nhiên sanh ra:

1) Xe vàng báu bay được.

2) Voi trắng có thần lực.

3) Thần mã màu xanh.

4) Ngọc Minh nguyệt.

5) Vợ là Ngọc nữ ở trên trời.

6) Thánh thần chủ báu.

7) Thánh thần điển binh.

Nhà vua có bốn đức. Lúc còn thơ ấu, lúc làm thái tử, lúc lên ngôi vua, lúc bỏ nước, diệt dục làm Sa môn đều trải qua mỗi thời kỳ là tám vạn bốn ngàn năm. Ðó là đức khó có của vua Ðại Khoái Kiến.

Khi ăn uống thì tiêu hóa, thân thể không có bệnh lâu, lạnh nóng điều hòa, thân ý thường được an vui. Ðó là đức thứ hai của nhà vua.

Dung mạo oai nghiêm, nhan sắc tuyệt thế, chỉ thấp hơn Ðế Thích một chút, vua cho là không bằng. Ðó là đức thứ ba của nhà vua.

Thống lãnh nhân dân khắp cõi trời, từ lớn chí nhỏ không ai mà không từ ái nhà vua, giống như người con chí hiếu mong cho thân quyến được an lạc. Nhà vua cũng đem tâm thương yêu, từ ái chúng sanh, xem tất cả như con đẻ. Nếu ai nghèo thì vua cho tiền của, đói thì cho ăn, khát thì cho uống. Già mà khốn cùng, nhỏ mà cô quạnh đều khiến cho ở chung như là thân bằng, như là thân thích. Dùng nhà cửa, xe cộ cứu tế khẩn cấp để tất cả được an lạc. Ðó là đức thứ tư của nhà vua.

Trong nước thường nghe mười hai loại âm thanh, đó là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng trâu, tiếng xe, tiếng loa, tiếng trống, tiếng múa, tiếng ca, tiếng nhạc, tiếng ca tụng nhân nghĩa, tiếng khen Phật là bậc tôn quý. Nhân dân trang sức bằng các thứ châu báu dệt thành như tạp châu Minh nguyệt, anh lạc chiếu sáng, ăn uống ca nhạc giống như cõi trời Ðao Lợi. Dân chúng hoan lạc, chẳng ngày nào mà chẳng vui sướng.

Lúc nhà vua muốn đi du ngoạn, bảo vị thần ngự xa, thần ấy tên là Tu Ðạt. Nhà vua bảo rằng:

-Hãy chạy xe từ từ ! Lâu rồi mà ta không gặp các Thệ tâm lý gia, nay ta muốn gặp họ.

Các Thệ tâm lý gia nghe nhà vua đang đi, người có đeo ngọc Minh châu, bạch ngọc, bích ngọc, thanh ngọc, san hô, đàn hương, danh hương, liền đem dâng cho thành vương. Nhà vua không muốn nhận nhưng những người ấy đều cúi đầu cầu khẩn, do đó nhà vua mới nhận. Vua ra lệnh cho thần coi về kho báu trả giá gấp đôi nhưng vật đó cho nhân dân. Dân chúng lớn nhỏ đều dùng các thứ hương hoa báu rải trên mặt đất, chúc vua sống lâu vô lượng.

Các Tiểu vương có đến tám vạn bốn ngàn người, nghe Phi Hành Hoàng đế muốn bố thí đều đến để phụ giúp. Họ đến đại diện, Hoàng đế muốn cùng các vua đều lên chánh điện. Các vua từ chối, thưa rằng:

-Các nước của chúng thần đều có cung điện báu.

Hoàng đế nói:

-Cung điện nhỏ của các ngươi không có gì đáng để nói. Hãy xem Minh điện, theo ta mà lên, đừng sợ !

Hoàng đế có chiếc xe báu và các Tiểu vương cũng vậy, xe cao mười trượng có bốn bánh, từ trên xuống dưới đều làm bằng bảy báu, bên trên thì treo tràng phan màu sắc sáng chói phản chiếu nhau. Xe này do sáu con ngựa kéo, những con ngựa này đều bay được. Ðặc biệt có một chiếc xe của nhà vua đi do hai con ngựa mình trắng lông mã đen và voi kéo xe. Xe đó gọi là Câu La Kiệt để Thánh đế cỡi. Tám vạn bốn ngàn xe đều dẫn đầu đi đến Minh điện. Tên của Minh điện đó là Ba La Sa Ðàn, ngang dọc bốn mươi dặm, dùng hoàng kim, bạch ngân, lưu ly, thủy tinh làm tường, dùng bốn loại báu làm trụ, lấy ngói vàng ròng, bạch ngân, lưu ly, thủy tinh lợp lên. Có năm mươi tầng tam cấp đều dùng Hoàng kim, bạch ngân, lưu ly, thủy tinh mà làm. Có cầu làm bằng Hoàng kim, bạch ngân, lưu ly, thủy tinh. Có thuyền làm bằng vàng ròng, bạch ngân, lưu ly, thủy tinh. Có trướng làm bằng vàng ròng, bạch ngân, lưu ly, thủy tinh. Trong điện có tám vạn bốn ngàn cái giường, giường làm bằng vàng ròng, bạch ngân, lưu ly, thủy tinh. Có (nệm) dệt bằng vàng ròng, bạch ngân, lưu ly, thủy tinh, nhung đỏ dệt bằng lông thú, tất cả đều dùng để trải lên giường. Còn nệm gối trên giường thì do những tay nghề trên cõi trời dệt thành.

Này A Nan, tường vách quanh cung điện có bốn lớp: tường bằng vàng ròng, tường bằng bạch ngân, tường bằng lưu ly, tường bằng thủy tinh. Ao tắm được làm bằng bốn thứ báu, chu vi bốn mươi dặm. Hễ ao bằng vàng ròng thì cấp bằng bạch ngân. Hễ ao bằng bạch ngân thì cấp bằng vàng ròng. Hễ ao bằng lưu ly thì cấp bằng thủy tinh. Hễ ao bằng thủy tinh thì cấp bằng lưu ly. Trong ao tự nhiên sanh hoa sen có bốn màu: hoa sen màu xanh, hồng, tía, trắng thường nở trong ao suốt mùa hè. Bên ngoài thì có cây hoa tỏa hương thơm ngát. Phía dưới cung điện có bốn con đường, đều dùng bốn báu để làm lan can hai bên đường đi, mỗi lan can dài hai mươi dặm. Trước cấp bậc của cung điện có bốn cây báu, cây báu cao bốn mươi dặm, bóng cây che phủ mặt đất. Cây bằng vàng ròng thì lá bằng bạch ngân, cấy bằng bạch ngân thì lá bằng vàng ròng, cây bằng lưu ly thì lá bằng thủy tinh, cây bằng thủy tinh thì lá bằng lưu ly. Nhà vua ở dưới cung điện để tự tư duy, không ở trên điện, từ hòa nói với các vua, các vua đều không dám lên điện.

Vua Ðại Khoái Kiến ra lệnh cho cận thần thỉnh các Sa môn, Thệ tâm hiểu kinh trì giới lên điện trước nhất. Trên điện đã dọn đủ thứ đồ ăn mỹ vị, lại còn ban tặng ngọc sáng quý báu. Các Sa môn, Thệ tâm đi rồi nhà vua liền đắm chìm tong tư duy rằng: “Thọ mạng là phi thường”. Ngài cùng một người hầu đồng lên Minh điện, bảo rằng:

-Ta muốn các phu nhân, kỹ nữ, cận thần, các vua hãy lui ra.

Nhà vua ngồi trên giường bằng vàng ròng, chân để trên ghế bằng bạch ngân, tự mình suy niệm một các sâu xa về hành động của sự dâm dật, nào có ích gì cho ta mà người ngu si phần nhiều tham đắm, không biết đó là tai họa. Nay ta tuy thọ đến ba mươi ba vạn sáu ngàn tuổi, nhưng cái gì có thạnh thì sẽ có suy, có hiệp hội thì sẽ có sự chia ly. Thân là loại mục nát rồi trở thành tro bụi mà thôi. Nay bốn điện báu này, ai có thể bảo tồn lâu dài được? Ðối với một thân của ta chỉ cần một cái nhà nhỏ để ở là đủ, cần gì phải dùng đến cung điện bốn mươi dặm và tám vạn bốn ngàn cái giường để làm gì?

Nhà vua từ nơi giường bằng vàng ròng bước đến giường bằng bạch ngân, để chân lên ghế bằng vàng, chỉ suy tư về con người để được thanh khiết cái tâm tham lam, tật đố, sân nhuế, ngu si, tà dâm; vì bốn sự phi thường hủy diệt khiến cho chẳng còn có cái gì tồn tại. Quán thấy thế gianvô thường, vậy thân ta làm sao mà lâu dài được?

Nhà vua từ giường bằng bạch ngân đi đến giường bằng lưu ly, để chân lên ghế thủy tinh, nói rằng:

-Ngọc nữ ở hậu cung của ta có đến tán vạn bốn ngàn người, ta đều bảo họ lui về, dùng họ chỉ thêm sự trói buộc. Người nữ chứa đầy sự ác, hãy bỏ đi chớ làm ô uế tâm ý.

Nhà vua từ giường lưu ly đến giường thủy tinh đặt chân lên ghế lưu ly, lại tư duy về thiên hạ: “Vạn sự đều xấu ác, chỉ có Vô vi là khoái lạc. Hãy trừ bỏ ý chí ô trược nơi ta, hãy cầu đạo Vô vi. Nay ta tuy làm Hoàng đế Phi Hành hào quý như vậy, nào có ích lợi gì cho thân?”.

Thị giả đến trước thưa rằng:

-Các Ngọc nữ bảo hỏi nhà vua ở trong cung điện sao mà lâu quá, họ đều muốn tiến tới trước để bái yết nhà vua.

Vua bảo thị giả rằng:

-Hãy ra lệnh cho vị thần Chưởng Bảo, khiến các phu nhân ai về nhà nấy, hãy mang trong người các thứ trân bảo danh tiếng tùy theo ý muốn. Còn các vua, quần thần, ngựa trời, voi báu, hãy bảo lui ra.

Vua Ðại Khoái Kiến nhìn liền lên Cao Quán, từ xa nghe thấy các thứ âm thanh “than trời, trách đất”. Vua hỏi: -Tiếng gì đó?

Thị giả thưa:

-Ðó là tiếng của Thiên Ngọc nữ, các vua, quần thần ngã nhào xuống đất, khóc lóc kêu trời, voi báu, ngựa trời đều kêu gào rơi lệ. Tất cả đều luyến mộ thiên vương, chẳng ai mà chẳng ngã quỵ.

Vua bảo:

-Hãy đem cái ghế nhỏ lại đây, đặt ở dưới điện, mời Ngọc nữ báu, các vua, quan liêu, các xe voi, ngựa báu và kẻ hầu. Ðệ nhất Hoàng hậu ngồi một bên nhà vua.

Vua lại bảo các thể nữ khả ái hầu các phu nhân. Hoàng hậu giơ tay chỉ các nữ báu nói rằng:

-Dung nhan của thiên nữ sáng rực thế gian, thân mặc y phục của trời, thế gian thật hiếm có, mong ngài hãy lưu tâm chút xíu để trang nghiêm tâm ý. Có voi báu, ngựa trời, ngựa tên là Hằng Thanh, Bạch Châu, Dạ Quang; các báu anh lạc, các quan quốc to lớn, các vua bốn phương họ đều có thánh nhân sáng suốt, kính thờ tôn xưng là vua, hiếu thuận, hiền từ, trung hậu, ái mộ thiên vương.

Vua Khoái Kiến bảo rằng:

-Ta đời đời vốn có tâm từ bi. Ðối với người nữ trong thiên hạ, họ cùng ganh ghét nhau, gây tai ương xấu ác, lưu chuyển, làm ảnh hưởng lâu dài đến thân vua, chỉ có đó là tai họa lớn, ta muốn xa lìa chúng. Từ nay về sau nếu gặp các người nữ thì ta coi như là em gái của ta mà thôi.

Các phu nhân đồng than khóc, thưa rằng:

-Tại sao đang lúc còn sống mà lại nỡ xa lìa chúng tôi mà đi?

Tất cả đều vứt bỏ đồ trang sức nơi thân ngã nhào xuống đất. Hoàng hậu thì ngất xỉu, một lòng thương khóc kêu trời rằng:

-Này Thiên vương, vậy chúng tôi biết nương tựa vào ai?

Vua bảo:

-Mạng người rất ngắn, nhưng sự lo buồn lại nhiều. Thân là vật hư nát, chẳng biết chết lúc nào. Từ nay ta giữ tâm, sùng cái đức của Sa môn, xa lìa những người nữ thân hiền, chỉ có đạo là tôn quý, tự lo tu thân không thể lo chuyện khác được.

Ngài bảo các Tiểu vương rằng:

-Mạng người ngắn ngủi nhưng sự lo buồn thì dài, hãy tự thương thân mình, không sanh thì không tử. Hãy giữ tâm hạnh chơn chánh, hãy từ ái hiếu thuận, sự vinh hoa khó mà bảo tồn lâu dài được.

Các Tiểu vương cúi đầu, chí thành thưa rằng:

-Các nước ở tứ thiên đều trông cậy vào Thiên vương. Thường nghe các Thánh khen (than thở) cuộc đất này, không thể ví dụ được. Vua và quần thần đâu chẳng phải là thần thánhtrân bảo của đất nước này nhiều thí như ở trên trời. Vậy Thiên vương càng nên thương xót chúng dân mà chấm dứt thánh ý đó đi !

Nhà vua bảo các Tiểu vương:

-Tuổi thọ con người rất ngắn, mà nỗi lo lắng của người đời thì lại nhiều, hãy tự lo cho thân mình, mạng người chỉ trong hơi thở. Hễ không sanh thì không tử, hãy bỏ hành vi tham dâm, uế trược đi !

Nhà vua đứng dậy đi lên cung điện, ngồi trên giường bằng vàng ròng, giữ tâm tư bi rộng lớn hướng về các phu nhơn, quần thần, các Tiểu vương, nhân dân, voi, ngựa, mọi loài cần khổ trong mười phương, dùng tâm từ bi mà thương xót họ, muốn làm cho họ biết Phật. Rồi Ngài từ giường bằng vàng đi đến cái giường bằng bạc, suy tư về đạo Vô vi. Tứ giường bằng bạc ngài đi đến cái giường bằng lưu ly, suy tư về hạnh từ bi thương xót để cứu vớt chúng sanh. Từ giường lưu ly, ngài lại đi đến giường thủy tinh, suy tư về hạnh đại hiếu, muốn cứu độ những người thân trong vô số kiếp. Tự mình suy tư về năm tạng, cửu không trong con người là dơ nhớp. Nhà vua bảo: -Ngày xưa ta đã từng mắc một chứng bệnh như có sợi dây bằng tre siết nơi cổ, như dùi gỗ xuyên qua thân. Thân là đồ chứa sự khổ, đâu đủ để làm chỗ nương tựa?

Ðức Phật bảo tôn giả A Nan:

-Hoàng đế Phi Hành Ðại Khoái Kiến ấy chính là thân của ta vậy. Nhà vua sau khi mãn tuổi thọ thì sanh lên trời Phạm thiên. Ai mà biết thân của Phật làm Phi Hành Hoàng đế, tu hành chánh pháp? Ngài lại có bốn đức, thất bảo tự nhiên. Từ cảnh giới của Cưu Di Na Kiệt bề dài bốn trăm tám mươi dặm, bề rộng hai trăm tám mươi dặm, đến ở trong thành này. Trước đây ta từng đem bảy cái thân của mình an trí trong cuộc đất này. Nay ta đã đoạn được tâm mong cầu, nhờ cái định không, vô tướng cắt đứt nguồn gốc sanh tử. Từ nay về sau ta không còn thọ thân nữa.

Này A Nan, ngươi hãy vào thành báo cho dân chúng biết rằng: -Từ nay về sau ta không còn thọ thân nữa.

Này A Nan, ngươi hãy vào thành báo cho dân chúng biết rằng: -Hôm nay vào lúc nửa đêm Như Lai sẽ nhập Bát Nê hoàn. Nếu ai có điều gì nghi ngờ hãy gấp đi đến để đức Phật quyết nghi cho, đừng để sau này phải hối hận, ôm một mối hận triền miên.

Ðức Phật ở tại một xóm nhỏ, trái với lệ thường, tôn giả A Nan như lời Phật dạy báo cho dân chúng biết. Dân chúng ngạc nhiên, thưa rằng:

-Ðức Phật do duyên gì mà ở tại một xóm làng nhỏ để diệt độ?

Dân chúng đều ngã nhào xuống đất, đập đầu cào má, đấm ngực, đánh vào mặt, bứt râu, xé áo, dậm chân dưới đất khóc lóc thảm thiết, bảo rằng: “Vì sao như vậy?”.

Nhà vua ở nước đó nghe tiếng than khóc, ngạc nhiên hỏi:

-Vì sao ở đây có sự than khóc?

Nhà vua bảo cận thần ra ngoài hỏi thử vì sao có sự than khóc? Dân chúng nức nở, nghẹn ngào thưa rằng:

-Tôn giả A Nan bảo rằng: “Ðức Phật sắp diệt độ, ai còn nghi ngờ điều gì hãy đến để thưa hỏi”. Do đó mà chúng tôi than khóc.

Thần trở về tâu với vua:

-Tôn giả A Nan bảo các dân chúng là đức Phật sắp nhập Niết bàn, hãy đến để hỏi những chỗ nghi ngờ. Do đó nên họ khóc.

Nhà vua liền gọi thái tử A Thần, ra lệnh rằng:

-Ngươi hãy đi đến chỗ đức Phật, cúi đầu dưới chân Ngài, cung kính thăm hỏi tin tức. Lại cúi đầu thỉnh nguyện đức Thế Tôn hãy ở trên chánh điệnnhập đạo Niết bàn, chớ đừng ở nơi xóm nhỏ hẹp này mà nhập Niết bàn. Thái tử thưa rằng: -Nếu đức Thế Tôn không đồng ý thì làm sao?

Vua bảo: -Hãy thọ giáotrở về thật nhanh.

Thái tử đi đến chỗ đức Phật, tôn giả A Nan bạch với đức Phật: -Quốc vương nước Cưu Di bảo thái tử đến, con chưa dám cho vào.

Ðức Phật bảo : -Hãy cho vào.

Thái tử vào, năm vóc gieo xuống đất, cúi lạy dưới chân đức Phật rồi qùy dài thưa rằng: -Nhà vua bảo con đến cúi đầu lạy dưới chân Phật, cung kính hỏi thăm tin tức của Ngài. Chúng sanh bị đắm chìm nơi hang thẳm, chỉ có đức Phật mới cứu vớt được. Nay Ngài sắp diệt độ, sao mà nhanh quá ! Ngài nên ở trong hoàng cungnhập Niết bàn, chớ nên ở nơi xóm nhỏ.

Ðức Phật bảo A Thần: -Cám ơn phụ vương của ngươi. Ta đã từng nói: “Ngày trước ta là Hoàng đế Phi Hành, là vị Thánh đế cuối cùng, tên đại khoái kiến. Ta đã dùng bảy lần chôn thân nơi đây. Lần này nữa là thứ tám. Nay ta đã thành đạo, không còn thọ thân nữa để chôn trong đất. Cám ơn phụ vương của ngươi, cảm phiền Thái tử.

Thái tử trở về cung một cách im lặng. Thái tử ra mắt nhà vua, trình bày đầu đuôi gốc ngọn, nhà vua kinh ngạc, khóc chảy nước mắt, ra lệnh cho dân trong nước tuân lệnh quốc gia hãy đến để thọ Minh pháp của Phật. Nhà vua bảo người định giờ để đến chỗ đức Phật . vua cùng đông đủ mười bốn vạn người đều đứng ở bên ngoài. Nhà vua thưa với tôn giả A Nan: -Tôi cùng mười bốn vạn dân muốn đến thọ giới của Phật.

Tôn giả A Nan hướng về đức Phật trình bày đầy đủ ý của vua. Ðức thế Tôn liền bảo: -Thật tội nghiệp cho vua và nhân dân.

Tôn giả A Nan thưa: -Có thể bảo nhà vua vào chăng?

Ðức Phật đáp: -Không nên, ta sẽ tương kiến.

Nhà vua cùng các hiền giả cao đức trong nước đồng bước lên, họ đều lấy đầu mặt lạy dưới chân đức Phật rồi chấp tay mà đứng. Khi ấy ở trước đức Phật tối om, chẳng có dầu đèn chi cả. Ðức Phật phóng luồng hào quang giữa đảnh của Ngài, hào quang chiếu sáng đến hai ngàn dặm. Ðức Phật cám ơn nhà vua và thần dân của ngài khổ cực đến đây. Nhà vua lạy đức Phật và thưa rằng: -Ðức Phật có những giới gì để chúng con phụng hành?

Ðức Phật bảo: -Ta bảo sứ giả rằng: Phật đã thuyết kinh bốn mươi chín năm, quốc vươngchư hiền đều tự chấp hành. Nhà vua hãy trở về cung điện, vào lúc nửa đêm hôm nay ta sẽ nhập Niết bàn. Nhà vua và thần dân không được khóc lóc thương tiếc.

Ðức Phật bảo nhà vua:-Ta nghe rằng: có sanh tất phải có suy tán, khóc lóc để làm gì? Hãy dằn lòng mình xuống, sống nếp sống cõi trời, xa điều ác, tự thương thân mình, siêng năng tu điều đức, thân cận người hiền. Việc gì xảy đến hay suy nghĩ kỹ, đừng có tàn bạo. Mạng người khó được, phải thương yêu muôn họ. Kẻ thông minh thì quý trọng, kẻ ngu si thì ân xá. Thế gian có nhiều điều tà vạy, hãy tự thương mình, hãy tự mừng cho mình.

Nhà vua và các hiền giả đều thối lui.

Nhà vua đi các đức Phật năm dặm thì cho binh lính dừng lại.

Ơû trong nước có vị cao tuổi tên là Tu Bạt, đã một trăm hai mươi tuổi. Bấy giờ ở trong thành, đêm nằm trong giấc ngủ thấy hào quang của Phật chiếu sáng cả thành, trong nhà không có một người, ông liền đi ra khỏi thành đi nhanh về chỗ đức Phật, hướng về chỗ tôn giả A Nan thưa rằng:

-Vì tôi mới được nghe, tôi có tâm nghi đối với đức Thế Tôn.

Tôn giả A Nan đáp: -Ðã gần nửa đêm, Phật sắp Niết bàn, chớ làm phiền nhiễu Ngài.

Tu Bạt thưa lại: -Vậy tôi không thể được nghe chăng? Tôi nghe vô số đời mới có một đức Phật mà thôi. Nay tôi đến đây để thưa hỏi chỗ nghi ngờ mà ngài lại không cho. Chỗ nghi ngờ của tôi chỉ có đức Phật mới giải thích được, ngoài ra thì không ai có thể giải thích được.

Tôn giả A Nan bảo: -Thôi đi , không nên hỏi.

Ðức Phật biết Tu Bạt ở bên ngoài muốn hỏi chỗ nghi ngờ, Ngài hỏi tôn giả A Nan rằng: -Sao lại không cho Tu Bạt vào để hỏi chỗ nghi ngờ?

Tôn giả A Nan thưa: - Con thấy đã gần nửa đêm, Phật sắp diệt độ, con sợ ông ta vào nói năng làm phiền nhiễu Phật. Nay Ngài sắp xả bỏ tam hữu dục giới nhập vào đạo Vô vi.

Ðức Phật dạy: -Hãy để cho Tu Bạt vào.

Tôn giả liền đưa Tu Bạt vào. Tu Bạt được vào trong lòng sung sướng, toàn thân lay động, đến trước đức Phật, đầu mặt lạy dưới chân Ngài. Ðức Phật thấy Tu Bạt tuổi cao, hơi thở yếu ớt, Ngài chỉ ghế bảo ngồi. Ðức Phật hỏi Tu Bạt: - Ông có những nghi ngờ gì ?

Thưa rằng: -Ðức Phật là trời giữa trời trong tam giới, thần thánh không thể lường được. Ngài là bậc chí tôn độc nhất đã khai hóa dẫn dắt bốn mươi chín năm, Tiên thánh, Phạm vương, Ðế Thích chẳng ai mà chẳng cúi lạy. Con có tám người đồng chí hướng, đó là Cố Quy Thị, Vô Tiên Thị, Chí Hành Thị, Bạch Lộ Tử Thị, Diên Thọ Thị, Kế Kim Phàn Thị, Ða Tích Nguyện Thị và Ni Kiền Tử. Ðó là tám người trí tuệ, không cần ánh sáng đom đóm, ngọn đènđời sống vẫn phơi phới râu tóc mượt mà nhưng trong lòng chứa ba độc, bên ngoài thì chạy theo dục lạc, ngồi lại thì nói chuyện hư ngụy, dối viết sách vở nói điều không thật, không đưa đến sự chánh đạo, vậy đó là duyên gì?

Ðức Phật bảo Tu Bạt: -Ý kinh của họ chống trái với kinh Phật, đó là con đường sanh tử. Họ là kẻ mong cầu phú quý. Chí của đạo ta thì dứt cầu, niệm Không, không mong cầu sự vinh hoa của thế gian, vô vi đạm bạc, lấy điều ấy làm vui.

Tu Bạt thưa rằng: -Sao gọi là đạo Vô vi?

Ðức Phật dạy: -Diệt hữu trở về cội nguồn, không còn sanh tử nữa, đó là vô vi. Chí thú của những người ấy đều có tám thứ ác. Những gì là tám? Ðó là:

· Tế thờ quỷ thần, bói quẻ, giết bừa, đó là một.

· Ðối với những người trong gia đình thì tham lam keo kiết, không phụng thờ đạo hiếu, tham ái đủ thứ một cách tà vạydục vọng vẫn chưa dừng. Ðó là thứ hai.

· Nói hai lưỡi, nói lời ác độc, mắng nhiếc, nói dối, nói thêu dệt, chưa từng trình bày điều thiện, khiến cho kẻ ngu si bỏ điều ác. Ðó là thứ ba.

· Sát sanh, trộm cắp, dâm dật. Ðó là thứ tư.

· Thường ôm lòng phẫn nộ, bất hiếu với cha mẹ, khinh mạn anh em, vợ con, dòng họ, tâm tà vạy làm điều ô uế, không khéo giáo hóa, dẫn dắt, thường tự kiêu, tự đại muốn cho người ta sợ mình, kính mình. Ðó là thứ năm.

· Ngày đêm ôm lòng tà, không sợ pháp luật, khinh mạn bậc hiền giả, tôn quý kẻ ô trược, xa lìa người chơn chánh, giao thiệp với người ác. Ðó là thứ sáu.

· Nghe nói có bậc hiền trí, Sa môn, Phạm chí hiểu kinh, do dự hoài nghi, ghen ghét, tật đố, hủy báng một cách hư ngụy. Ðó là thứ bảy.

· Không tôn kính tiên tổhết lòng hiếu thảo với cha mẹ, không tôn sùng kẻ hiền minh mà lại còn làm kẻ phản tặc, hủy bỏ điều nhơn từ chơn chánh, mê muội bị chạy theo dòng thế tục uế trược, đáng xấu hổ. Ðó là tám điều ác.

Nếu nói rõ ra rằng: -Ðức Thế Tôn thuyết kinh bốn mươi chín năm, có tám người không đến để mong giáo hóa. Họ là những người ôm giữ tám điều ác này, há lại thích được giáo hóa thanh tịnh sao? Nếu họ có chính thức đến thì Phật cũng không thọ nhận. Này Tu Bạt, nếu tâm có tám điều ác này thì chớ có hỏi Phật. Nếu giữ tám giới này có thể chứng được Cấu Hạng, Tần Lai, Bất Hoàn, Ứng Chơn. Thực hành tám giới này thì tâm mình phải chơn chánh, đó mới là Phật tử. Nếu có kẻ phàm phu chuyên làm thầy dẫn đường, đứng đầu việc giáo hóavi phạm giới này đều là kẻ yêu tinh, trùng độc, hãy nên xa lánh từ bỏ đi, cẩn thận chớ nghe lời dụ dỗ.

Ðức Thế Tôn bảo: -Nay ta đối với trong tam giới, nói một mình, đi một mình, chẳng có bạn bè, nếu có điều nghi cứ hỏi, đừng ngại.

Tu Bạt cúi đầu qùy dài, bạch rằng: -Ðúng như đức Phật nói: mấy người đã quên thân mình, rớt vào nơi ngu si, cuồng loạn.

Ðức Thế Tôn lại nói: -Ngươi đã hiểu tám giới này chưa?

Thưa rằng: -Ðã hiểu.

Ông lại cúi đầu thưa rằng: -Con muốn từ bỏ cái chí hạ tiện của mình mà chấp hành sự thanh tịnh của Sa môn.

Ðức Thế Tôn lại nói: -Ngươi có thành tâm chăng?

Thưa rằng: -Mong Phật rũ lòng thương xót, cho con được làm Sa môn.

Râu tóc Tu Bạt tự rụng xuống đất, mình đắp ca sa, tâm siêng năng suy tư về điều Phật dạy, bỗng nhiên không còn suy nghĩ gì hết, nhất tâm thanh tịnh, giống như hạt ngọc Minh nguyệt, liền được đạo Ứng Chơn (A la hán). Ông lại tự suy nghĩ:

-Ta không nên để thầy ta nhập Niết bàn trước.

Ngay khi đó ông nhập Niết bàn ở trước đức Phật.

Ðức Phật gọi Tỳ kheo vào báo rằng: -Sau khi ta diệt độ, nếu có người thế tục bỏ nhà, trừ sự ô uế, muốn làm Sa môn, gia nhập vào trong Tỳ kheo tăng, trước hết phải thử thách ba tháng để biết hành vi của kẻ ấy cao hay thấp. Ở thế gian có bốn loại người:

1. Bần cùng không thể tự sinh sống được, nên muốn làm Tỳ kheo.

2. Một hạng mắc nợ không thể nào trả được cho nên muốn làm Tỳ kheo.

3. Một hạng đang ở quân đội, nhưng lúc đó không cần thiết nữa, cho nên muốn làm Tỳ kheo.

4. Một hạng cao sĩ thực hành thanh tịnh không ô uế, nghe rằng trong vô số đời mới có một đức Phật, kẻ này xem kinh điển Phật vui mừng hớn hở, tâm đã thức tỉnh, bỏ nhà, bỏ dục, không ham sự vinh hoa của thế gian, đế để làm Tỳ kheo.

Sau khi ta nhập Niết bàn rồi, hễ có người đến (xin tu) hãy xem chí thú của người ấy, nhìn lúc ngồi, lúc đứng, để ý lời nói, quán sát lúc đi bộ, biết được hành động kẻ ấy hướng về thiện hay ác, dụng tâm cầu đạo có thích tinh tấn không? Thẩm sát ba tháng, nếu thấy kẻ ấy chí cao, hạnh thanh tịnh, có thể thưa chúng cho làm Tỳ kheo. Thân đã làm Tỳ kheo rồi phải chọn bậc kỳ cựu giỏi pháp luật để làm thầy. Thọ trì 10 giới, tôn thờ giới trong ba năm, siêng năng không giải đãi, các hiền giả đều có thể chấp nhận trao cho vị ấy 250 giới, 10 giới là căn bản, 240 giới là lễ nghi. Nếu ở đời hậu thếthi hành pháp này thì trời thần địa kỳ chẳng ai mà chẳng cung kính, hoan hỷ. Giới pháp của Phật nói ra các TỲ kheo phải suy tư thật kỹ, đừng để Phật nhập Niết bàn rồi lười biếng, chống lại pháp luật. Những việc làm của đức Phật các đệ tử phải suy tư, kẻ lớn người nhỏ kính nhường lẫn nhau, không được bất hiếu. Nếu ai không muốn đắc đạo, ưa thích sự tôn vinh thì nên đọc kinh này. Ai muốn cầu sống lâu, muốn sanh lên trời hãy đọc kinh này. Chủ yếu quan trọng nhất của đức Phật là hướng về đạo Vô vi. Sau khi ta Nê hoàn rồi, đừng để vì Phật mất rồi mà nói là không có chỗ nương tựa nữa. Hãy nương tựa vào giới kinh. Sau khi ta Nê hoàn rồi, hãy cùng nhau truyền tụng xem kinh, thờ giới, giữ 250 giới, hãy thay nhau mà cung kính phụng trì, giống như con hiếu thảo phụng sự cha mẹ vậy. Những Tỳ kheo kỳ cựu phải dạy cho kẻ hậu học, giống như lúc ta còn tại thế vậy. Kẻ Tỳ kheo hậu tấn nếu có tật bệnh thì các Tỳ kheo kỳ cựu phải lưu tâm săn sóc, thăm hỏi tin tức. Người hiểu giáo lý, đọc giáo lý, hãy dạy bảo rõ ràng để hòa thuận, thọ trì giới của Phật, để đạo của ta có thể được lâu dài.

Sau khi ta Nê hoàn rồi, con của hiền giả, vợ của hiền giả, sau khi tìm tòi nhớ nghĩ: “Ðời của ta có Phật, có kinh điển vi diệu, đức Phậtthế gian vừa mới nhập Niết bàn, chúng ta đều có lòng chí hiếu đối với đức Phật, có tâm từ đối với kinh, cho đến lúc mạng chung tất cả đều được sanh lên trời”. Các ngươi đừng để sau khi ta mất rồi mà không phụng hành kinh giới. Cẩn thận chớ có giải đãi, ngạo mạn.

Này các Tỳ kheo, các ngươi hãy nhìn cho kỹ nhan sắc của Phật, Phật không dễ gặp được. Sau này mười lăm ức bảy ngàn, sáu mươi vạn năm mới có Phật ra đời lại. Ở đời khó gặp Phật, kinh pháp khó được nghe, chúng tăng khó được gặp, chỉ có Phật là khó thấy.

Trong cõi Diêm Phù Ðề có Tôn Thọ Vương tên là Ưu Ðàm Bát, có quả không hoa. Cây Ưu Ðàm Bát hễ có hoa vàng thì thế gian mới có Phật. Ngay bây giờ ta sẽ Bát Nê hoàn, các ngươi đối với kinh nếu có điều nghi kết gì thì đang lúc Phật còn tại thế Ngài sẽ giải nghi cho. Nay không chịu mở những nghi kết, về sau sẽ thêm tranh chấp, ngạo mạn. Ðang lúc ta còn hãy mau mau hỏi những chỗ nghi đi.

Bấy giờ tôn giả A Nan ở sau đức Phật, cúi đầu thưa rằng:
-Từ lúc đức Phật giáo hóa đến nay, các Tỳ kheo tăng không có nghi kết gì cả. Ðệ tử tự nói: “Chúng con không có nghi ngờ gì đối với đấng Thiên trung thiên”.

Ðức Phật bảo Tỳ kheo: -Ðã gần nửa đêm, chớ gây tiếng động.

Ðức Phật liền đứng dạy, ngồi thẳng, suy tư một các sâu xa về nguồn đạo, bỏ thiện ác này, gồm cả ba cõi. Ta nay tuổi đã bảy mươi chín rồi, chỉ đoạn trừ sanh tử, hố thẳm luân hồi, tư duy quán sát một cách sâu xa, từ Tứ thiên vương, trên đến Bất tưởng nhập, từ Bất tưởng chuyển hoàn trong thân, tự suy trong thân bốn đại xấu ác, chẳng có gì là quý báu.

Ðầu Ngài quay về hướng Bắc, co tay làm gối, nằm nghiêng về hông bên hữu, hai gối chống lên nhau, Ngài liền Bát Nê hoàn. Ðất trời chấn động mạnh, chư thiên rải hương hoa, khóc lóc bi ai, kêu gào thảm thiết: “Ðấng pháp vương đã diệt độ, chúng ta biết nương tựa vào ai?”.

Quốc vương và bốn mươi vạn dân chúng bò lết mà kêu Phật: “Chúng sanh bị suy tổn lớn, làm sao mà đau đớn thế này !”. Hoặc có người chết ngất rồi sau mới tỉnh lại.

Vua Ðế Thích thứ hai bảo chư thiên rằng: “Ðức Phật thường dạy chúng sanh không ai mà không chết, các ngươi hãy nhớ nghĩ đến chơn lý “phi thường - khổ - không, phi thân, đừng có khóc lóc nữa”.

Vị thiên vương thứ bảy cũng hiện xuống bảo rằng: “Hào quang của Phật đã tắt, đức Phật còn phải xả bỏ thân. Các ngươi còn mong gì nữa? Khóc lóc, bò lê như vậy thì được cái gì ?”.

Các Tỳ kheo lăn mình trên mặt đất khóc lóc nói rằng: “Con mắt của ba cõi tại sao tắt nhanh thế? Từ nay về sau thế gian sẽ tăm tối mãi”.

Có người đứng mà khóc, có người nhìn vào xác của đức Phật, trong đó có người suy nghĩ một các sâu xa rằng: “Lúc đức Phật còn tại thế thường dạy “hễ không sanh thì không tử, khóc lóc cho thân đâu có lợi gì cho việc hiểu rõ pháp”.

Có một Tỳ kheo tên là A Na Luật bảo tôn giả A Nan rằng:
-Thôi đi ! Này các Tỳ kheo, không ai bảo các người phải khóc nữa. Hãy thôi đi hỡi vua và thần dân ! Hãy thôi đi chư thiên trên trời, đừng có buồn rầu xúc động nữa.

Tôn giả A Nan thưa rằng: -Hãy nhìn chư thiên trên trời coi thử có bao nhiêu người?

Thưa rằng: -Trong chu vi bốn trăm tám mươi dặm , trước sau tương tùy đều là các vị tôn thiên. Nếu dùng một cây kim nhỏ ném lên trời thì cây kim ấy cũng không có chỗ để rơi xuống đất.

Tôn giả A Na Luật bảo chư thiên đừng khóc, chư thiên đau lòng gấp bội. Tôn giả A Na Luật bảo tôn giả A Nan rằng: - Ðức Phật không bảo chúng ta tẩm liệm Ngài. Ngươi hãy đến báo cho các Thệ tâm lý gia rằng: “Chúng ta có thể tẩm liệm đức Thế Tôn được, nhưng đức Thế Tôn có bảo hãy để các Thệ tâm lý gia khâm liệm và tẩn táng Ngài, đừng để sau này sẽ hối hận”.

Tôn giả A Nan liền đến chỗ các Thệ tâm lý gia nói lên sự việc như vậy. Các Thệ tâm lý gia khóc lóc thưa rằng: -Ðức Thế Tôn diệt độ, chúng con bị cô độc, bậc trí sĩ khóc than, chỉ một lòng hầu hạ đức Thế Tôn. Anh em chúng con năm trăm người sẽ đến chỗ đức vua tâu rằng: “Mong (vua) cho chúng tôi được quyền tẩn táng đức Thế Tôn”.

Nhà vua nói: -Ðức Phật mất rồi, chúng sanh cô độc, hãy giữ tâm hòa thuận, đừng có tranh chấp, hãy dốc hết lòng hiếu thảo. Ðức Phật thương xót các con của Ngài, làm cho tất cả được hưởng phước vô lượng.

Nhà vua nói như vậy, chẳng ai mà chẳng nghẹn ngào nức nở. Lý gia và dân khiêng kim sàng của Phật vào thành vua. Chư thiên dùng bảo cái trang nghiêm che trên giường của đức Phật, tràng phan dẫn đường, hương hoa tạp bảo rơi xuống như tuyết, mười hai loại nhạc đều cùng tấu lên, trời người, rồng quỷ chẳng ai chẳng thương tiếc. Lý gia hỏi rằng: -Lúc tại thế, đức Thế Tôn bảo phương pháp tẩn táng, liệm vào quan tài như thế nào?

Tôn giả A Nan đáp: -Lúc đức Phật còn tại thế bảo rằng: “phải tẩn liệm đức Phật như phương pháp tẩm liệm Hoàng đế Phi Hành. Ðối với đức Phật còn hơn thế nữa.

Lý gia hỏi rằng: -Phương pháp tẩn liệm Hoàng đế như thế nào?

Ðáp rằng: -Dùng giạ mới quấn chặt thân thể, dùng vải kiếp ba mới lại quấn lên trên, rồi để vào trong cái quan tài bằng bạc, dùng hương dầu rảy lên thân, lấy bảo cái che lên trên, dùng hương chiên đàn, củi mật hương, củi cây tử, củi cây chương chất trên và dưới quan tài, bốn mặt cao rộng đều ba mươi trượng, đốt lửa lên để trà tỳ. Mười hai thứ âm nhạc cùng lúc tấu lên, dùng hoa thơm tốt đẹp rải lên trên. Trà tỳ xong, thu lấy xá lợi, loại bỏ tro tàn, dùng nước hoa tốt rửa thật sạch, bỏ trong bát vàng, để bát ấy trên giường bằng vàng, nên để trong cung, trai giới trên điện, xong chín mươi ngày nên để giữa ngã tư đường, dựng tháp, lập đàn tràng, treo tràng phan, hoa hương, âm nhạc (cúng dường). Ðó là phương pháp tẩn tế Phi Hành Hoàng đế vậy. Ðối với đức Phật thì phải hơn thế.

Các Thệ tâm Lý gia rơi nước mắt thưa: -Dạ vâng, chúng con sẽ làm như lời dạy bảo sáng suốt ấy, xin để trong bảy ngày.

Các Lý gia đồng thưa với vua: -Chúng thần muốn khâm liệm thánh thể của Thiên tôn, kính mong vua giáng lâm.

Vua đáp: -Vâng.

Lý gia rước cái giường bằng vàng, kim quan của Phật nằm, trở về từ cửa Tây của thành, để giữa thành trong bảy ngày. Lúc khâm liệm Ngài có đến ba mươi vạn dân chúng. Dân chúng dùng mười hai bộ nhạc tấu lên, ngày đêm thắp đèn sáng trưng, đèn thắp cả thành chu vi mười hai dặm, mỗi bước mỗi bước đều có đèn. Vua Ðế Thích thứ hai đem theo mười vạn dân chúng thiên nhân hạ xuống, mang theo mười hai bộ danh nhạc của trời đi xuống, hoa hương, các báu treo ở không trung, cách mặt đất ba dặm. Chỉ có một mình trời Ðế Thích đi xuống hỏi tôn giả A Na Luật:

-Ðức Phật có ra lệnh gì không?

Tôn giả A Na Luật trình bày đầy đủ những lời đức Phật dạy cho Ðế Thích. Trời Ðế Thích thưa: -Ðã có đầy đủ các báu, kỹ nhạc, hoa hương để tẩn liệm. Tôi muốn được tẩn táng đức Phật, vậy có được chăng?

Ðáp rằng: -Ðể ta hỏi đã.

A Na Luật đem ý của trời Ðế Thích trình bày đầy đủ với tôn giả A Nan. Tôn giả A Nan đáp: -Khi Phật còn tại thế Ngài không có ra lệnh cho chư thiên và vua khâm liệm, Ngài chỉ ra lệnh cho Thệ tâm lý gia tẩn táng thôi. Vậy cám ơn các vị Phạm thiên, Ðế Thích, mong chư vị hiểu rõ ý Phật, nên trở về đem ý của A Nan trình bày đầy đủ cho chư thiên biết.

Chư thiên thưa: -Thượng đế của ta tẩn liệm (đức Phật) một cách chu đáo, há không bằng nhơn gian sao?

Ðáp rằng: -Sao ngài nói vậy? Phải tôn trọng mệnh lệnh của đức Thế Tôn, cẩn thận chớ chống trái.

Thệ tâm lý gia liền thưa: -Chúng con nâng cái giường xá lợi của đức Phật lên muốn đưa vào cửa thành phía Tây, nhưng cái giường vẫn không nâng lên được.

Các Lý gia đồng thưa: -Nếu cái thành không di động, làm sao đưa ra khỏi thành?

Tôn giả A Nan hỏi tôn giả A Na Luật:
-Cái giường vì sao lại không lay động?

Ðáp rằng: -Chư thiên vì muốn được khâm liệm đức Phật cho nên khiến cho cái giường không thể nâng lên được.

Tôn giả A Na Luật nói:

-Ta sẽ lên bảo cho Phạm thích chư thiên biết.

Ngài liền lên bảo cho Phạm thích rằng: -Tôn giả A Nan cám ơn ý muốn tống táng của chư thiên, đó chính là ý của đức Phật.

Phạm thích chư thiên thưa rằng: -Chúng tôi đã mang dụng cụ tống táng đến đây, hãy để cho chúng tôi ở phía hữu của cái giường, còn quốc vương, lê dân thì ở bên tả của cái giường, dùng kỹ nhạc, hoa hương để tiễn đưa đức Thế Tôn được chăng?

Ðáp rằng: -Tôi sẽ trở về báo lại.

Tôn giả A Na Luật trở về, đem ý của trời báo lại đầy đủ cho tôn giả A Nan. Tôn giả A Nan thưa: -Nếu họ muốn khâm liệm thì trước hết là trái với lời dạy của đức Phật, nhưng vì lòng hiếu mà tiễn đưa thì được.

Tôn giả A Na Luật liền báo cho Phạm thích biết lời nói của tôn giả A Nan. Chư thiên đều hoan hỷ, liền hạ xuống phía bên hữu giường vàng của đức Phật. Nhà vua và dân chúng thì đứng phía bên tả của cái giường. Lý gia thưa rằng: -Có thể khiêng giường của đức Phật ra cửa thành phía Tây chăng?

Tôn giả A Nan đáp: -Có thể.

Trời Ðế Thích ở trước, lấy tay nắm phía hữu chân trước của cái giường, Phạm vương nắm phía hữu chân sau của cái giường, tôn giả A Nan nắm chân trước phía tả của cái giường, quốc vương nắm chân sau phía tả của cái giường. Thệ tâm lý gia dùng lụa quấn hai chân trước của cái giường. Trời người cảm động xót thương cùng tiễn đưa kim sàng của đức Phật. Chư thiên, rồng, quỷ thần rải hoa, tạp bảo, danh hương, kỹ nhạc, tràng phan, lọng hoa tất cả đều đi theo sau. Vua và lê dân cũng cúng dường đủ thứ như vậy. Trời người thương tiếc, ca ngợi công đức của đức Phật ở trên. Lê dân thì tiếp tục hát những bài hát buồn ở dưới. Trời, rồng, quỷ, thần, đế vương, lê dân cùng một lúc bi ai, xúc động đau lòng than rằng: “Ðức Phật diệt độ như vậy, chúng sanh biết nương cậy vào đâu?”.

Ðoàn tiễn đưa ra khỏi cửa thành phía Tây, đến điện Châu Lê Ba Ðàn thì có giảng đường lớn, họ để đức Phật ở trên giảng đường. Các Thệ tâm lý gia, như lời di giáo của đức Phật dùng gấm mới quấn quanh thân, lấy vải Kiếp ba một ngàn trượng quấn chéo nhau ở phía trên, bỏ vào trong cái quan bằng bạc, lấy dầu thơm rảy khắp thân Ngài, dùng lọng trời che lên trên. Lý gia đồng đưa kim quan xuống điện, để ở giữa sân, lấy củi chiên đàn hương, mật hương, tử chương và củi chiên đàn (gỗ thơm) cao rộng ba mươi trượng. Thiên thần, quỷ, rồng, các vua, nhân dân đều lấy hoa hương rải ở trên củi. Lý gia đốt củi, lửa vẫn không cháy. Họ hỏi tôn giả A Na Luật rằng:

-Vì cớ gì mà lửa đốt không cháy?

Ðáp rằng: -Có kỳ cựu đệ tử của đức Phật tên là Ðại Ca Diếp, đi châu du giáo hóa, nay đang trở về, ngài dẫn hai ngàn người đệ tử, chư thiên nhiều vô số, muốn thấy đức Phật một cách trọn vẹn cho nên khiến lửa không cháy.

Lý gia thưa rằng: -Xin vâng lời dạy, chờ tôn giả Ca Diếp cùng bốn chúng đệ tử, mỗi chúng là năm trăm người đang tạm nghỉ mệt trên con đường đi đến.

Có kẻ Dị học tên là Ưu Vi, từ chỗ đức Phật đến, cầm một cành hoa trời, tên là Mạn Ðà Lặc, thấy tôn giả Ðại Ca Diếp cùng với hai ngàn đệ tử theo sau. Ưu Vi đến trước tôn giả Ðại Ca Diếp cúi lạy dưới chân ngài. Tôn giả Ca Diếp hỏi: -Ngươi từ đâu đến?

Thưa rằng: -Tôi từ nước Na Kiệt đến.

Tôn giả Ca Diếp hỏi:

-Ngươi có biết đức Phật là bậc Ðại sư của ta chăng?

-Vâng, tôi có biết. Ngài đã diệt độ đến nay đã bảy ngày, tôi ở chỗ đó mà được hoa Thiên thần này.

Bấy giờ các đệ tử có người chưa thấy chân lý nghe đức Phật diệt độ thảy đều kinh ngạc, dậm chân đau lòng trở thành ngất xỉu than rằng: “Tại sao vậy? Chúng sanh biết nương cậy vào ai?”. Có người đã thấy chơn lý rồi, đã hiểu sâu lời dạy của đức Phật nói: “Thế gian đều là vô thường, ân ái như huyễn thuật, có ai mà sống mãi (không chết).

Trong chúng Tỳ kheo có một vị Tỳ kheo tuổi cao nhưng lại ám muội, không đạt được thánh ý, thấy chúng Tỳ kheo đau lòng, bi ai xúc động như vậy đứng lại nói rằng: -Xin chớ bi ai, lúc đức Thế Tôn còn tại thế lời răn dạy chồng chất, điều đó là phi pháp, nó là điều phi nghĩa vậy. Ông ta bảo: “Thọ trì cái này, làm như vậy là không chống trái, không phạm. Nay ông ta đã chết rồi, chúng ta được tự do, há lại không khoái sao?”.

Chúng Tỳ kheo đều cho lời nói như vậy là sai, nên cùng nhau thưa với trời, trời bèn bắt Tỳ kheo già ấy bỏ ra ngoài chúng. Tôn giả Ðại Ca Diếp bảo các Tỳ kheo: -Hãy gấp lên đường.

Bốn chúng đệ tử, vô số trời người buồn khóc mà đi, đồng đến chỗ đức Phật, nhiễu quanh điện ba vòng, đầu mặt lạy sát đất, ngất xỉu, mửa máu. Tôn giả Ca Diếp nhìn thật kỹ vào kim quan bằng vàng ròng của đức Phật, trong lòng tự nghĩ rằng: “Ta đế trễ, không thấy được thầy ta, chẳng biết đầu chân của đức Thế Tôn ở chỗ nào?”. Ðức Phật liền trả lời bằng cách duỗi hai chân ra ngoài. Tôn giả Ca Diếp liền dùng đầu mặt chạm vào chân đức Phật, trình bày công đức của đức Phật bằng bài kệ:

Ngài vì không “sanh, lão”

Cũng vì không “lão, tử”

Vì Ngài không muốn gặp

Không có lúc tương phùng

Vì Ngài không muốn bị

Tướng ái dục biệt ly

Nên mới cầu phương tiện

Nên mới được như vậy.

Ngài vì năm ấm này

Rốt ráo không còn thọ

Cũng không còn tạo tác

Ðể thọ năm ấm này

chấm dứt khổ đau

Và trừ luôn gốc hữu

Nên mới cầu phương tiện

Nên mới được như vầy.

Phật vì đoạn thế gian

Ái dục đã trừ sạch

Tên Phật là Nhẫn nhục

Bỏ áo não thế gian

Phật vì tự an lạc

Cùng an ổn thế gian

Cho nên phải chấp tay

Nên cúi đầu lạy Phật.

Pháp Phật đã nói ra

Ðể sáng chói thế gian

Tối kiến đạo là Phật

An ổn không chướng ngại

Cũng nuôi sống thiên hạ

Khiến không còn lão tử.

Vì sao người thế gian

Lại không thọ ân Phật?

Trăng sáng trên bầu trời

Ðể phá tan đêm tối

Mặt trời chiếu trên không

Ðể soi sáng ban ngày

Ðiện xẹt trên trời cao

Ðể chiếu soi mây sáng

Hào quang Phật chiếu ra

Ðể sáng soi ba cõi

Tất cả các sông ngòi

Sông Côn Lôn lớn nhất

Tất cả các sông lớn

Biển cả là lớn nhất

Tất cả ngôi sao sáng

Mặt trăng là sáng nhất.

Phật là mắt thế gian

Là tối tôn trời đất

Phật vì độ thế gian,

Vì ban bố phước thiện

Phật vì hạnh giáo giới

Ðến nay đã phân minh.

Do vậy đến ngày nay

Ðệ tử Phật thọ, hành

Tất cả trời và người

Cung kính chấp tay lạy.

Tôn giả Ca Diếp tán thán đức Phật xong, trời, thần, quỷ rồng, đế vương, lê dân đều lạy dưới chân Phật. Khi mọi người đã lạy xong thì chân của đức Phật thu vào quan tài trở lại. Trời, người, quỷ, rồng thấy chân đức Phật đã thu lại và biến mất, thảy đều nức nở, đồng lúc thương khóc. Khi đã khóc xong, tôn giả Ca Diếp và các Tỳ kheo cùng nhau thăm hỏi chia buồn. Các Thệ tâm lý gia đốt lửa trà tỳ, chư thiên tung rải hương hoa, đều nói rằng:

-Vì sao chúng sanh lại cùng khốn như thế này?

Hào quang của đức Phật chiếu thẳng lên cõi trời Phạm thứ bảy, mười phương tối tăm, chỗ tối tăm chúng sanh không thấy nhau, nhờ hào quang của đức Phật cùng lúc sáng rực, hân hoan nói rằng: “Cái gì mà sáng thế?”.

Các Lý gia, khách buôn, khi da thịt của đức Phật đã cháy sạch, liền lấy nước hoa rưới lên làm cho lửa tắt, rửa sạch xá lợi, đựng đầy bát bằng vàng. Y trong và ngoài của đức Phật vẫn in như cũ. Vải Kiếp Ba quấn quanh thân Ngài đều cháy sạch. Họ lấy bát xá lợi đặt trên cái giường bằng vàng rồi đưa vào cung, đặt trên chánh điện. Trời người tung hoa, ca nhạc, thấp đèn đi bộ quanh thành, đèn thắp sáng trên mặt đất đến mười hai dặm. Tôn giả A Nan nói với tôn giả A Na Luật:

-Cám ơn các trời, rồng, xin chư vị hãy trở về chỗ của mình.

Trời, rồng, quỷ, thần đều rơi nước mắt, thưa rằng:

-Mặt trời, mặt trăng của ba cõi đã mất rồi, thế gian mãi mãi bị suy thoái, gần ngày bị hủy diệt tang tóc, chẳng còn bao lâu, nó đang theo đuổi chúng ta rất gấp. Vậy chúng ta làm gì bây giờ?

Ðáp rằng: -Dân chúng nhao nhao muốn dâng hoa hương, vậy (các ngài) nên tạm thời trở về để được cởi mở lòng dân.

Ðế Thích hỏi tôn giả A Na Luật:

-Ngày nào mới dựng tháp của đức Thế Tôn?

Tôn giả A Na Luật hỏi tôn giả A Nan, tôn giả A Nan thưa: -Sau chín mươi ngày, ở giữa ngã tư đường sẽ dựng tháp lập đàn tràng.

Chư thiên đồng nói: -Chờ đến chín mươi ngày là do duyên gì ?

Tôn giả A Na Luật đáp:

-Bốn chúng đệ tử còn đang ở xa, họ đang gấp gáp chạy về mong được nhìn xá lợi của đức Phật.

Bấy giờ chư thiên cùng một lúc lạy sát đất. Ðế Thích đứng ở trước, chư thiên đứng ở sau, nhiễu quanh chánh điện ba vòng buồn khóc rồi đi. Hai vạn Tỳ kheo cầu xin phân bố xá lợi. Lại cảm tạ quốc vương, mời vua trở lại cung và các quần thần cúi lạy dưới đất khóc lóc bi ai, nhiễu quanh chánh điện ba vòng rồi trở về cung. Nhà vua bảo các phu nhân, thể nữ đều phải phụng trì giới cấm trong suốt chín mươi ngày. Thệ tâm lý gia cũng trai giới trong thời gian ấy. Dân chúng ở bốn phương xa đều nghe đức Phật đã diệt độ. Ở nước Cưu Di, bốn chúng đệ tử đều mang theo hương hoa khóc thương sầu thảm, làm bế tắc đường xá. Họ nhiễu quanh chánh điện ba lần, cúi lạy dưới đất, dậm chân thương tiếc kêu rằng: “Tại sao thế này?”. Các vua ở trong ngàn dặm thì cùng đi với Thái tử, các vua ở ngoài ngàn dặm thì bảo Thái tử đốc xúc thần dân đồng đi đến chỗ đức Phật, nhiễu quanh chánh điện, tiếc thương, dâng hoa hương cúng dường đức Phật. Ai đến trước thì về trước, ai đến sau thì về sau.

Các Tỳ kheo đồng hỏi tôn giả A Nan:

-Phương pháp an táng như thế nào?

Ðáp rằng: -Nên đi về hướng Ðông, cách thành ba mươi dặm, ở đó có thôn tên là Vệ Trí, nên đến ngã tư đường trống trải mà lập tháp, dựng đàn tràng, lấy ngọc làm ngói, viên ngói bề ngang rộng ba thước, tháp rộng cao mười lăm thước, lấy bát vàng chứa xá lợi, để ngay chính giữa, dựng tháp, trồng cây, lập đàn, treo tràng phan trên cao, thắp hương đốt đèn, quét sạch, rải hoa, dùng mười hai bộ nhạc sáng tối tấu lên cúng dường. Thệ tâm lý gia hãy cùng nhau hoàn thành bảo tháp để Phạm vương, Ðế Thích, quỷ, rồng, vua và thần dân tiễn đưa xá lợi Phật.

Lý gia cung kính vâng lời, làm đúng như lời dạy của tôn giả A Nan. Tôn giả Ðại Ca Diếp , các La hántôn giả A Na Luật cùng nhau nghị luận: “Nay ba mươi vạn dân chúng, vua và nhân dân khi mạng chung sẽ sanh lên trời Ðâu Thuật, chỗ ở của Ngài Di Lặc. Khi đức Di Lặc thành Phật, thuyết kinh lần thứ nhất có chín mươi sáu ức Tỳ kheo chứng quả A la hán. Ngài Di Lặc sẽ thuyết kinh cho các chúng sanh rằng: -Các thần thông này đều là của đức Phật Thích Ca Văn, bây giờ làm tháp thì hãy treo phan, thắp hương đốt đèn, chấp hành giới cấm của Phật, đều giao cho thanh tín sĩ (nam) và thanh tín nữ vậy.

Tôn giả Ðại Ca Diếptôn giả A Nan cùng các Ứng Chơn nghị luận rằng: “Vua nước Cưu Di sau khi mạng chung sẽ sanh về đâu?”. Tôn giả Ðại Ca Diếp nói: -Vua nước ấy mạng chung sẽ sanh lên trời Thập Nhị Thủy Vi. Sau khi đức Di Lặc hạ sanh thành Phật, ông sẽ lấy tên là Tu Ðạt, tạo dựng cung điện cho Phật Di Lặc, nhà giảng Thọ Ðạo, hơn cả tinh xá Văn Vật, vườn Cấp Cô Ðộc, y thực, thuốc men chữa bệnh cúng dường cho Tỳ kheo tăng.

Tôn giả A Nan hỏi tôn giả Ðại Ca Diếp: -Quốc vương nước Cưu Di tại sao không ở nơi đức Phật Di Lặcchứng đạo Ứng Chơn?

Tôn giả Ðại Ca Diếp đáp: -Tâm dục của vua ấy chưa nhàm chán sanh, lão, bệnh, tử , ưu bi các khổ cho nên không được đạo Ứng Chơn vậy.

Tôn giả Ðại Ca Diếp nói với tôn giả A Nan: -Ai không nhàm chán tai hoạn sanh tử thì không bao giờ đắc đạo cả.

Tôn giả A Nan nói rằng: -Tôi đã nhàm chán nói từ lâu rồi, tại sao không đắc đạo?

Tôn giả Ðại Ca Diếp đáp: -Ngươi chỉ chấp trì giới luật mà không tư duy trong thân, ngoài thân, sự ô uế của thân, theo dòng sanh tử mới như vậy.

Có tám nước ở ngoài biên giới nghe đức Phật diệt độ, xá lợi được an trí trong nước Cưu Di, họ đều huy động binh đi đến đòi chia phần xá lợi. Vua của nước Cưu Di nói rằng: -Ðức Phật ở trong nước ta, nay đã diệt độ, ta sẽ cúng dường. Các ngươi ở xa khổ nhọc, mong ước chia phần xá lợi, điều đó không thể được.

Tám vị vua đáp rằng: -Chúng tôi yêu cầu được chia phần xá lợi. Nếu ông không cho chúng tôi, chắc chắn chúng tôi phải ra lệnh binh đội chống cự để lấy xá lợi vậy.

Thiên Ðế Thích thấy tám vị vua cùng nhau tranh cãi để được phần xá lợi đem về nước cúng dường, liền hóa thành Phạm chí lấy tên là Thuần Khuất, chấp tay đến trước để giải thích rằng: -Xin cho tôi nói một lời: “Lúc đức Phật còn tại thế, các vua phụng hành, tôn kính lời dạy của Ngài, phải luôn luôn từ bi. Phàm là chủ của nhân dân thì không nên tranh chấp, nên thực hành bốn sự bình đẳng, chia xá lợi của Phật ra, khiến cho các quốc độ đều có bảo tháp, để khai mở sự tối tăm của dân chúng, làm cho họ được biết có Phật để làm giềng mối ngỏ hầu được phước đức to lớn.

Thiên thần, quỷ, rồng, các vua và lê dân cùng nhau khen rằng:

-Lành thay, Thuần Khuất ngài đã rộng thí phước điền cho chúng sanh.

Họ cùng nhau xin Thuần Khuất chia làm tám phần. Thuần Khuất tự lấy bát vàng của thiên thượng, bên trong bát vàng dùng thạch mật chia làm tám ô chứa đầy xá lợi, mỗi vua một bình. Các vua được xá lợi rồi buồn vui lẫn lộn, họ đều lấy hương hoa, treo phan bằng tơ năm sắc, thắp hương đốn đèn, sáng tối ca nhạc. Thuần Khuất quỳ dài xin số mật xá lợi dư ở trong bình để lập tháp thờ. Các vua đồng ý cho, ông liền bỏ xá lợi vào bình. Bấy giờ co đạo sĩ tên là Hằng Vi đi theo vua để xin xá lợi. Vua bảo:

-Ðã phân rồi không thể phân lại, bây giờ chỉ còn tro thiêu, hãy tự đến đó mà lấy.

Ông liền đến đó lấy xong cúng chín mươi ngày. Tôn giả Ðại Ca Diếp, A Na Luật, Ca Chiên Diên cùng nhau nghị luận: “Tôn giả A Nan theo Phật rất lâu, chỉ một mình thân cận với đức Phật. Ðức Phật đã giáo hóa, bố thí cùng khắp, tôn giả A Nan đều thấu suốt trong tâm, không có chỗ nào mà không quán chiếu. Chúng ta hãy nhờ A Nan tụng lại pháp luật để thọ giáo những chỗ ngoắt nghéo, viết lên thẻ tre, viết lên lụa”.

Tỳ kheo tăng cùng nhau nghị luận rằng: “Ông A Nan chưa chứng quả (sợ bạch y) sợ có tâm tham, che dấu những lời nói vi diệu, không chịu nói hết”.

Tỳ kheo tăng bảo: “Nên giả thuyết lập một tòa cao, chư thánh vân tập, vì Tỳ kheo tăng để cật vấn, trên dưới ba lần, hỏi chỗ cốt yếu của kinh mới có thể biết được sự thành thật”.

Vua nước Cưu Di lập bảo tháp để thờ Phật, phòng ốc khéo, thiền thất để chứa ba ngàn Tỳ kheo ở trong đó tụng kinh, tọa thiền. Nhà vua bảo đại thần tên là Ma Nam đem ba ngàn binh lính canh gác bảo tháp. Tôn giả Ðại Ca Diếptôn giả A Na Luật đồng báo cho Tỳ kheo tăng là sẽ kiết tập kinh luật Tứ A Hàm của đức Phật. Tôn giả A Nan theo Phật, chỉ một mình được thân cận với đức Phật. Ðức Phật vì sự dâm dật không độ lượng của chúng sanh nên làm ra một quyển A Hàm; vì những người hung hăng nóng giận, bội nghịch nên làm ra một quyển A Hàm; vì người ngu si tăm tối, xa lìa đường chánh nên làm ra một quyển A Hàm; vì người bất hiếu với cha mẹ, xa lìa bậc hiền thiện, không nhớ ân sâu của đức Phật cho nên không lo báo đền, do đó làm thành một quyển A Hàm.

Chúng Sa môn thưa: -Chỉ có tôn giả A Nan là bậc biết rõ Tứ A Hàm, cho nên phải nhờ tôn giả tuyên thuyết.

Tôn giả Ðại Ca Diếp bảo: -Sợ A Nan chưa chứng quả, có ý tham không nói hết kinh.

Chúng Tỳ kheo thưa: -Hãy đem việc ở trước mà cật vấn tôn giả A Nan. Hãy đưa tôn giả A Nan lên giường cao, các chúng hiền giả ở dưới để hỏi kinh.

Mọi người đều nói: -Lành thay ! Rất hiệp với việc lớn.

Các Sa môn trực sự liền họp thánh chúng trục xuất tôn giả. Thánh chúng đều ngồi lại bảo tôn giả A Nan hãy tiến lên mau. Tôn giả tiến lên, cúi lạy đảnh lễ thánh chúng.

-Người nào được quả Ứng Chơn thì vẫn ngồi như cũ. Người nào chưa đắc quả Ứng Chơn thì hãy đứng dậy.

Trực sự Sa môn bảo (tôn giả A Nan) lên ngồi trên tòa cao ở chính giữa. Tôn giả A Nan từ chối, nói:

-Ðó không phải là tòa của tôi.

Thánh chúng đều nói:

-Vì kinh Phật cho nên ngài ngồi ở đó nói thượng pháp của đức Phật mà ngài được thọ giáo cho chúng tăng nghe.

Tôn giả A Nan liền ngồi. Hiền chúng hỏi rằng: -Ngài có bảy điều lỗi lầm, vậy có biết chăng? Ðức Thế Tôn lúc còn tại thế bảo rằng: “trong cõi Diêm Phù Ðề có sự an lạc lớn”, vậy mà ngài vẫn cứ làm thinh không đáp.

Vị trực sự Sa môn gọi ngài A Nan, ngài A Nan liền đáp:

-Phật là đấng thánh tôn chơn chánh không ai bằng, há lại ngài không được tự tại sao mà phải chờ tôi nói? Giả sử đức Phật tại thế trong khoảng một kiếp, ngài Di Lặc chí tôn nhờ đó mà được thành Phật.

Thánh chúng vẫn im lặngA Nan vẫn không sợ hãi. Thánh chúng đều nói:

-Hãy ngồi lại (chỗ cũ) tòa, theo lời trùng tuyên của ngài, pháp cùng chánh pháp mà cùng sự nghe biết chánh pháp của chúng ta giống nhau, chi bằng nay mời ngài ba lần thượng tòa thuyết pháp.

Tôn giả A Nan ba lần xuống tòa, ngài lại lên tòa nói rằng:

-Y Diễm Ma Tu Ðàn. Y Diễm Ma Tu Ðàn là tôi theo Phật được nghe như vầy.

Các Tỳ kheo tăng nghe lời thuyết pháp của tôn giả A Nan: “Y Diễm Ma Tu Ðàn, tôi nghe từ đức Phật nói như vầy”. Tất cả đều than khóc nức nở, nói rằng: “Biết làm sao đây?”. Ðức Phật vừa xử thế cho đến nay lại nói: “Tôi theo Phật nghe Ngài nói như vầy”. Trời, thần, quỷ, rồng, đế vương và nhân dân, bốn chúng đệ tử, chẳng ai mà chẳng than khóc. Tôn giả Ðại Ca Diếp, chúng hiền thánh tuyển chọn A la hán được bốn mươi người, theo tôn giả A Nan để nghe bốn bộ A Hàm: một bộ A Hàm sáu mươi xấp. Chép kinh chưa xong, ở trong bảo tháp của đức Phật tự nhiên sanh ra bốn cây danh mộc. Một cây tên là Ca Chiên, một cây tên là Ca Tỉ Diên, một cây tên là A Hóa, một cây tên là Ni Lâu Loại.

Tỳ kheo tăng nói rằng:

-Chúng ta dùng tâm từ bi chép bốn bộ A Hàm, tự nhiên sanh ra bốn cây thần diệu. Bốn bộ A Hàm là cây đạo của đức Phật vậy. Do đó phải cùng nhau bó buộc giữ gìn. Giới của Tỳ kheo tăng gồm có 250 minh giới thanh tịnh, giới của Tỳ kheo ni gồm có 500 sự, giới của Ưu bà tắc gồm có năm, giới của Ưu bà di gồm có 10 (?). khi chép kinh xong, các tỳ kheo tăng mỗi người phải tự thực hành kinh giới, cùng nhau trao truyền giáo hóa cho đến ngàn năm. Trong ngàn năm ấy có người trì giới nên được ở chỗ thứ tư của Phật Di Lặc. Ðức Thế Tôn Di Lặc sẽ vì chúng trời nói kinh pháp. Nay trong chúng hội đều là những người trì giới của đức Phật Thích Ca Văn, tương lai sẽ sanh đến cõi ấy.

Ðức Phật Di Lặc nói: -Các ngươi hãy siêng năng tinh tấn thực hành rốt ráo những điều khó hành, nhiều ít cũng thọ trì giới luật. Sau khi Phật đã Nê hoàn( nhập diệt) hãy tạo tám bảo tháp. Các thứ chín là tháp thờ cái bình. Cái thứ mười là tháp thờ tro, tháp mười một là tháp thờ tro (dư).

Kinh nói: “Ðức Phật lấy ngày mồng tám tháng tư Ðản sanh, ngày mồng tám xuất gia, ngày mồng tám đắc đạo, ngày mồng tám thì diệt độ. Vào lúc Phất tinh (sao mai mọc), Ngài bỏ nhà học đạo. Vào lúc Phất tinh, Ngài thành đạo. Vào lúc Phất tinh, Ngài Bát Nê hoàn (nhập Niết bàn). Cỏ cây đều sanh hoa lá, toàn quốc cây cối đều lại sum sê. Ðức Phật đã Bát Nê hoàn rồi, vị Thiên trung thiên của ba cõi, ánh hào quang đã tắt, tất cả mười phương đều tự quy y Phật”.

 

KINH PHẬT BÁT NÊ HOÀN

(hết quyển hạ)

 

(20) Từ lúc Phật Bát Nê hoàn cho đến năm Vĩnh Hưng năm thứ 7, ngày 11 tháng 2, đã hơn 887 năm, vào ngày 11 tháng 7 đến nay là năm Bính Tuất, hiệp lại là 915 năm.

Ðó là do Tỳ kheo Khương Nhật chép lại.

Lại đến niên hiệu Khánh Lịch thứ 6 năm Bính Tuất 6, cộng lại là 1994 năm.

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 763)
Các chuyên gia đã từng nói cơ năng não bộ của con người so với máy vi tính phức tạp nhất trên thế giới lại càng phức tạp hơn.
(View: 1174)
Phật Đà Thập Đại Đệ Tử Tán - Hòa thượng Tuyên Hóa giảng thuật, Nguyễn Minh Tiến Việt dịch
(View: 2723)
Các tác phẩm của Thầy phần lớn được dịch từ Hán tạng, gồm giới kinh và các nguồn văn học Phật giáo Đại thừa với tư tưởng uyên thâm về triết họctâm lý học.
(View: 24032)
Đã phát khởi chí nguyện Đại thừa, lại kiên quyết thực hiện chí nguyện ấy, đó thực sự là cung cách hùng dũng của con sư tử đang vươn mình, và do đó phải được nhìn đến bằng cung cách của con voi chúa.
(View: 24016)
Vua và phu nhân gởi thơ cho Thắng Man, đại lược ca ngợi công đức vô lượng của Như Lai, rồi sai kẻ nội thị tên Chiên Đề La đem thư đến nước A Du Xà... HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 2798)
Tất cả các nhà đạo học và thế học muốn thành tựu kết quả tốt đẹp trong cuộc đời, thì trước hết, họ phải trải qua quá trình kham nhẫn, nỗ lực, tu, học, rèn luyện tự thân, giúp đỡ, và đem lại lợi ích cho tha nhân.
(View: 6898)
Bảy Đức Thế Tôn quá khứ từ Thế Tôn Tỳ Bà Thi, Thế Tôn Thích Ca, và chư Thế Tôn vị lai đều chứng ngộ Vô Thượng Bồ Đề từ sự chứng ngộ sự thật Duyên khởi.
(View: 6199)
Trong các bản Kinh Pháp Cú, phổ biến nhất hiện nay là Kinh Pháp Cú Nam Truyền, tức là Kinh Pháp Cú dịch theo Tạng Pali.
(View: 4368)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau:
(View: 3720)
Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama
(View: 12534)
Quy Sơn Cảnh Sách Học Giải - Tác Giả: Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu; Thích Thiện Trí (Thánh Tri) Phỏng Việt Dịch và Viết Bài Học Giải
(View: 4103)
Kinh này khởi đầu bằng lời người Bà La Môn hỏi rằng làm thế nào người ta có thể tự thanh tịnh hóa khi nhìn thấy một vị Thượng nhân đã Thanh tịnh,
(View: 41234)
Nguyên xưa ngài Quán Nguyệt Pháp sư đem hai thời kinh khóa tụng: Mai đóng chung và chiều nhập chung lại làm một đại thể làm một tập lớn. - Chú giải: Ngài Quán Nguyệt; Dịch giả: HT Thích Khánh Anh
(View: 5063)
Tôi nghe như vậy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại thành phố Śrāvastī (Xá-vệ), nơi rừng cây Jeta (Kì-đà), vườn của Ông Anāthapiṇḍada (Cấp-cô-độc),
(View: 3909)
Bài kinh này trong đoạn cuối (bài kệ 787), câu “không nắm giữ gì, cũng không bác bỏ gì” được Thanissaro Bhikkhu ghi chú rằng ...
(View: 4809)
Lúc bấy giờ, Bồ tát Đại sĩ Akṣayamatir[1] từ chỗ ngồ đứng dậy, vắt thượng y[2] qua một bên vai, chắp hai tay[3] hướng về đức Thế Tôn và thưa rằng:
(View: 4085)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(View: 4797)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(View: 6542)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(View: 13276)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(View: 4220)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(View: 3196)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(View: 5700)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(View: 6028)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(View: 6244)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(View: 7492)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(View: 7188)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(View: 5598)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(View: 6189)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(View: 6098)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(View: 7873)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(View: 8195)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(View: 5304)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(View: 6467)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(View: 6907)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(View: 9023)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(View: 6584)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(View: 6971)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(View: 5882)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(View: 6624)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(View: 6167)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(View: 11110)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(View: 5858)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(View: 6087)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(View: 6618)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(View: 6525)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(View: 8568)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(View: 7540)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(View: 7338)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(View: 7760)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(View: 10636)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(View: 6560)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(View: 7017)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(View: 11724)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(View: 7682)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(View: 12182)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(View: 11313)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 7868)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(View: 23808)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(View: 6613)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
Quảng Cáo Bảo Trợ