Logo Hanh Huong
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,271,282
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Kinh Đại Tam Ma Nhạ

14 Tháng Mười Một 201300:00(Xem: 8135)
Kinh Đại Tam Ma Nhạ

PHẬT NÓI KINH ÐẠI TAM MA NHẠ


Đại Chánh Tân Tu số 0018 - Nguyên tác Hán ngữ [1]

Hán dịch: Ðại Sư Pháp Thiên (đời Tống)

Việt dịch: Thích Chánh Lạc

--- o0o --- 

 

Tôi nghe như vầy:

Một thời Phật ở tại rừng Ca tỳ la, cùng với chúng Ðại Bí sô đều là A la hán, các lậu đã hết, việc cần làm đã làm xong, đã được tự lợi, dứt hết các sự trói buộc, tâm được tự tại; như vậy gồm có năm ngàn năm trăm người đông đủ.

Bấy giờ mười phương lại có chư Thiên, Thích, Phạm, đầy đủ đại oai đức, cùng các quyến thuộc cung kính vây quanh, thân sắc đoan nghiêm, hào quang chiếu sáng, đi đến rừng Ca Tỳ la, tới trước Thế tôn, đầu mặt lạy dưới chân, đứng qua một bên. Khi đó, bốn vị Ðại Phạm vương, mỗi vị dùng một bài kệ ca tụng công đức của Phật. Vị Phạm vương thứ nhất đọc tụng:

Ðại Tam Ma Nhã này.

Tuyên dương diệu pháp âm.

Phật của con hơn hết.

Trời, người đều tập hợp.

Vị Phạm vương thứ hai:

Trải qua vô số kiếp.

Tu hành, tâm tin sâu.

Giữ gìn mắt, các căn.

Không đắm nơi trần cảnh.

Vị Phạm vương thứ ba:

Giới định huệ chơn thật.

Thanh tịnh không cấu nhiễm.

Như Kim cang Ðế thích.

Kiên cố không thể hoại.

Vị Phạm vương thứ tư:

Nếu ai quy y Phật.

Trọn không đọa nẻo ác

Người ấy khi mạng chung

Liền được sanh cõi trời.

Bấy giờ đức Thế tôn dùng thiên nhãn thanh tịnh khắp xem đại hội, chúng trời và người vô lượng vô số, bảo các Bí sô:

–Thời quá khứ các đức Như lai, Ứng cúng Chánh đẳng giác, nhóm họp người trời để thuyết pháp, cũng như thế này. Ngày nay ta tập hợp trời người là chằm để thuyết pháp, các vị hãy nên thọ trì. Nếu người nào dõng mãnh, quyết định không sợ sệt, giống như sư tử, có sự tin tưởng sâu xa, vững chắc mà không tham đắm thì từ thế gian cõi người cho đến cõi Phạm thiên, đều đạt được Niết bàn.

Khi thuyết pháp này lại có một ngàn bảy trăm trời người hữu họcvô số chư thiên với hào quang chiếu sáng, đi đến chỗ Phật. Phật bảo các Bí sô:

–Các vị hãy lắng nghe cho kỹ. Ta xem các thiên chúng vừa đến đây, nên dùng pháp ưa thích của hàng Thanh vănhóa độ họ.

Bấy giờ lại có bảy ngàn Ðại dược xoa, có đủ oai đức đại thần thông, hào quang chiếu sáng, cùng các quyến thuộc cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la.

Lại có sáu ngàn Ðại Dược xoa đứng trên núi Kim sơn, có đầy đủ oai đức đại thần thông, hào quang chiếu sáng, cùng các quyến thuộc cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la.

Lại có ba ngàn Ðại Dược xoa đứng trên núi Ta Ða, có đầy đủ oai đức đại thần thông, hào quang chiếu sáng, cùng các quyến thuộc cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la.

Lại có trăm ngàn Dược xoa, Cung tỳ la... đứng trên núi Vĩ Bố La, thành Vương xá, có đầy đủ oai đức đại thần thông, hào quang chiếu sáng, cùng các quyến thuộc cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la.

Lại có Thấp phạ di đát ra, Bán tả thủy, Vĩ thấp phạ di phạ... các đại tướng Dược xoa, có đầy đủ oai đức đại thần thông, hào quang chiếu sáng, cùng các quyến thuộc, đi đến rừng Ca tỳ la.

Lại có Hộ Thế thiên vương Càn thát bà chủ ở phương Ðông, tên là Ðịa Lý Ða Ra Sắc Ðà Ra, có đủ đại thần thông, vô lượng oai đức, thân sắc đẹp đẽ, hào quang sáng chói, cùng các quyến thuộc cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la, nơi chúng hội để nghe pháp. Hộ Thế thiên vương Cưu bàn nô chủ ở phương Nam tên là Vĩ Lỗ Trà Ca, có đủ đại thần thông, vô lượng oai đức, thân sắc đẹp đẽ, hào quang sáng chói, cùng các quyến thuộc cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la, nơi chúng hội để nghe pháp. Hộ Thế thiên vương ở phương Tây là Ðại long chủ tên là Vĩ Lô Bác Xoa có đủ đại thần thông, vô lượng oai đức, thân sắc đẹp đẽ, hào quang sáng chói, cùng các quyến thuộc cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la, nơi chúng hội để nghe pháp. Hộ Thế thiên vương ở phương Bắc là Ðại dược xoa chủ tên là Câu Phệ Ra, có đủ đại thần thông, vô lượng oai đức, thân sắc đẹp đẽ, hào quang sáng chói, cùng các quyến thuộc cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la, nơi chúng hội để nghe pháp. Lại có, các quỷ thần theo hầu Tứ Ðại thiên vương, đó là Ma dã, Ca trí, Vĩ chỉ trí, Bạt lý ngu, Bạt lý cu trí.... đều có thần thông uy lực, ngã mạn, vô minh, hình dáng xấu xí, biến hóa đủ loại, cùng với quyến thuộc cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la, nơi chúng hội để nghe pháp.

Lại có các Dược xoa thần tướng đó là Ấn nại ra, Mộ phạ lỗ nô, Bát ra nhạ bát đế, Bà ra nại phược nhạ, Y xá nẳng, Tán nan nẳng, Ca ma, Tất lý sắc tra, Cu nễ kiến tra, Nễ kiến tra, Mãn ni ma ni tả ra, Bát ra nô na, Ô ba bán tả ca, Sa đa nghi lý, Hải ma phạ đa bố ra noa khư nễ ra cu vĩ tra ngu ba ra dược xoa, A tra phạ cu nẳng ra ra nhạ nễ, Nẳng lý sa bà, Tức đát ra tế nẳng, Hiến đà lý phạ, Nễ lý đà thiết đế ma đa lệ, Bán tả ra, Hiến noa tô mô ma nẳng di lý cụ, cùng các quyến thuộc Ðát lý phả lệ, Ðát lý kiến tra kế, cho đến các vị du hành trong thế gian, có đủ oai đức thần thông, hào quang chiếu sáng, cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la, nơi chúng hội để nghe pháp.

Lại có các Ðại độc long, đó là Rồng Ðát xoa ca, Kiếm mạt la thấp phạ đa lỗ, Bát ra bát đa, Bát ra nhạ ngu, Sa ngu nẳng sa họa tảo na cu, Ðịa lý đa ra sắt tra ra, Cu tổ ra, Ái ra phạ ni... sân hận bạo ác, có oai đức đại thần thông, hào quang sáng chói, cùng các quyến thuộc cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la, nơi chúng hội để nghe pháp.

Lại có Kim sí điểu tên là Vô Úy, cùng các loại thú bay, có mắt thanh tịnh... cùng các quyến thuộc cũng có đủ oai đức thần thông, hào quang chiếu sáng, cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la, nơi chúng hội để nghe pháp.

Lại có Kim cang thủ Vô năng thắng, ở trong biển cả, tất cả Bố uý dược xoa cùng các quyến thuộc đều có đủ oai đức thần thông, hào quang chiếu sáng, cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la, nơi chúng hội để nghe pháp.

Lại có chúng A tu la, đó là Vĩ ma tức đát ra, Tô tức đát ra, Bát ra hạ, Na mẩu na lệ và một trăm Mạt lệ a tu la tử cùng các quyến thuộc có đủ đại thần thông, vô lượng oai đức, hào quang chiếu sáng, cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la, nơi chúng hội để nghe pháp.

Lại có Tứ đại thiên vương, Ðao lợi thiên, Dạ ma thiên, Ðâu suất đà thiên, Hóa lạc thiên, Tha hóa tự tại thiên và các thiên chúng, đều có đủ oai đức thần thông, hào quang chiếu sáng, cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la, nơi chúng hội để nghe pháp.

Lại có các Danh thiên đó là Phạ Lỗ Noa thiên, Phạ Lỗ Ni thiên, Tô Ma thiên, Tất Lý Sắc Tra thiên, A Nga Ma thiên, Mật Ðát Ra Phạ Lỗ Ni thiên, Ðịa thiên, Thủy thiên, Hỏa thiên, Phong thiên, mười vị trời như vậy, có đủ đại oai đức, thần thông biến hóa, hào quang chiếu sáng, cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la, nơi chúng hội để nghe pháp.

Lại có Na la diên thiên, Ta hạ lợi tả thiên, Nhật thiên Nguyệt thiên, Tinh tú thiên, Ðế thích thiên, Mạc già thiên, tất cả tối tôn hiền thánh thiên, cùng các quyến thuộc... mười vị trời như vậy, có đủ đại thần thông, vô lượng oai đức, hào quang chiếu sáng, cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la, nơi chúng hội để nghe pháp.

Lại có các thiên nữ..., đó là Ta Hê Ca thiên nữ, Như Hỏa Diệm thiên nữ, A Lý Sắc Tra thiên nữ, Tô Ma thiên nữ, Ô Ða Ma thiên nữ, Bổ Sắc Ba Phạ Tất Nễ thiên nữ, Tả Ra Ca thiên nữ, Tô Bạt Nại Ra thiên nữ, Yết Xoa A Tả Dụ Ða thiên nữ, Bát Ra Nại Dụ Ma Nẳng thiên nữ, Sa Nễ Ca.... vô số thiên nữ như vậy cùng các quyến thuộc, có đủ đại thần thông, vô lượng oai đức, thân tướng đoan nghiêm, hào quang chiếu sáng, cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la, nơi chúng hội để nghe pháp.

Lại có Ðại dược xoa nữ, đó là Xá Ma dược xoa nữ, Ma Ha Xá Ma dược xoa nữ, Ma Nậu Sa dược xoa nữ, Ma Nậu Số Ðát Ma dược xoa nữ, Ngật Lý Noa dược xoa nữ, Bát Ra Mộ Sa dược xoa nữ, Ma Nẳng Bát Ra Nổ Sa Ca dược xoa nữ, Mạc Ra Hạ dược xoa nữ, Ma Hạ Mạt Ra dược xoa nữ, Bí Sô Mâu Ni Ca dược xoa nữ, mười hai đại dược xoa nữ như vậy, cũng có đủ oai đức thần thông, hào quang chiếu sáng, cùng các quyến thuộc, cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la, nơi chúng hội để nghe pháp.

Lại có mười Ðại dược xoa nữ, đó là Thâu ngật ra dược xoa nữ, Yết noa mạt ra dược xoa nữ, Ca lô noa dược xoa nữ, Nễ ra ca phạ tất nễ dược xoa nữ, A phạ na đa kế xá dược xoa nữ, Bát ra mục khế bế đa ca phạ tất nê dược xoa nữ, Ta na ma đa dược xoa nữ, Ha lý đế dược xoa nữ, Lô tức ca dược xoa nữ, các dược xoa nữ như vậy cũng có đủ oai đức thần thông, hào quang chiếu sáng, cùng các quyến thuộc, cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la, nơi chúng hội để nghe pháp.

Lại có Hạ lý đế và quyến thuộc đồng nam, đồng nữ cũng có đủ oai đức thần thông, hào quang chiếu sáng, cùng các quyến thuộc, cung kính vây quanh, đi đến rừng Ca tỳ la, nơi chúng hội để nghe pháp.

Như vậy, mười phương Phạm vương, Ðế thích, trời người, tám bộ, các đại Bí sô, vô lượng vô số đều đến nơi chúng hội.

Bấy giờ, trong chúng hội có một vị Ðại hắc thần tên là Tổ Tôn Na, có đủ đại thần thông, dõng mãnh, bạo ác, luôn gây não hại cho trời người, làm chướng ngại cho việc tu thiện, lấy tay vỗ mặt đất, phát ra âm thinh đại ác, ở trên hư không hóa ra gió lớn, mây lớn, sét lớn, mưa đá lớn, sấm lớn, tia chớp có sét lớn, các thứ tướng xấu ác khiến ai cũng khiếp sợ. Phật liền quán sát giảng nói pháp Thanh văn, ma đã nghe xong liền quy ychấm dứt các điều ác ấy, cùng các Bí sô đồng an trụ trong Thanh văn thừa.

Bấy giờ, chúng hội thấy Phật hàng phục các ma ác, tâm đều phấn khởi vui mừng, tin kính vâng làm.

 

PHẬT THUYẾT ÐẠI TAM MA NHẠ KINH

--- o0o ---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 1313)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1359)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1517)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1444)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2106)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 1833)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 1809)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2110)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 2553)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3120)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 1986)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 2838)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 2678)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 4569)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 2895)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3201)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2358)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 2979)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2569)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3127)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2362)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 2725)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3063)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3101)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 3989)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3524)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3509)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4028)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3401)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3025)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 3903)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 4605)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3549)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 5941)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 5881)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4020)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 19948)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3439)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 6823)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4320)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4176)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 3740)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4058)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5507)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4268)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 3925)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 3994)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4091)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 4822)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3610)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 4904)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 4871)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6509)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 4711)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5550)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4420)
Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi...
(Xem: 4780)
Lời dạy của Đức Phật được kiết tập thành kinh điển và bảo lưu trong nhiều truyền thốngbộ phái Phật giáo.
(Xem: 16768)
Toàn bộ Đại Tạng Kinh tiếng Việt trên 203 tập đã dịch và in xong...
(Xem: 5361)
Như vầy tôi nghe: Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, ngôi vườn ông Anàthapindika. Lúc bấy giờ...
(Xem: 5610)
Nếu thấy thân người nữ Cùng với vẻ diễm kiều Người ngu không biết rõ Vọng sinh ý dâm nhiễm.
Quảng Cáo Bảo Trợ