Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
19,634,058

Kinh Luân Vương Thất Bảo

Thursday, November 14, 201300:00(View: 9550)
Kinh Luân Vương Thất Bảo

PHẬT NÓI KINH LUÂN VƯƠNG THẤT BẢO

 

Đại Chánh Tân Tu số 0038 - Nguyên tác Hán ngữ [1]

Hán dịch: Ðời Tống Tây Thiên, Triều Phụng Ðại phu Thí Hồng Lô Khanh, Truyền pháp Ðại sư Thi Hộ.

Việt dịch: Thích Chánh Lạc

---o0o---

Nghe như vầy:

Một thời Phật ở tại nước Xá Vệ cùng đông đủ chúng đại Bí sô. Bấy giờ đức Phật bảo các Bí sô:

–Các ngươi nên biết, có Sát Ðế Lợi Ðại Quán Ðảnh Vương, đã thọ pháp quán đảnh, được địa vị luân vương, oai đức tự tại được mọi người tôn trọng. Lúc vua xuất hiện, ở thế gianbảy báu xuất hiện. Những gì là bảy báu? -Ðó là xe báu, voi báu, ngựa báu, chủ tàng thần báu (cư sĩ báu), chủ binh thần báu, Ma ni báu, nữ báu. Bảy báu như vậy theo vua mà xuất hiện.

Sao gọi là xe báu?

–Ðó là bánh xe bằng vàng có một ngàn căm, tối thượng tuyệt diệu, các tướng tròn đầy, có đại oai lực, kim luân báu này từ không trung hạ xuống, đứng trước cửa cung vua. Bấy giờ vua Sát Ðế Lợi Ðại Quán Ðảnh Luân Vương thấy xe báu này xuất hiện rồi, trong lòng hết sức vui mừng, liền bảo quan hầu rằng: “Ngươi hãy mau chuẩn bị bốn loại binh để ta du hành”. Khi ấy quan hầu vâng lệnh của vua xong liền chuẩn bị bốn loại binh. Khi đã nghiêm chỉnh rồi, liền đến chỗ vua tâu rằng: “Bốn thứ binh đã chuẩn bị xong, mong đức vua hãy du hành, nay đã đúng lúc”.

Bấy giờ vua Sát Ðế Lợi Ðại Quán Ðảnh Luân Vương liền từ tòa đứng dậy, sửa lại y phục, đi ra cửa cung, chiếc xe báu ngàn căm ấy đến trước vua, chạy về phía tay mặt của vua. Khi ấy vua du hành bốn biển, chỉ trong nháy mắt mà đã trở về cung vua, do vì công năng thù thắng của xe báu vậy. Này các Bí sô, đó gọi là khi vua Sát Ðế Lợi Ðại Quán Ðảnh Luân Vương xuất hiện thì xe báu xuất hiện. Ðó là thứ nhất.

Lại nữa, này các Bí sô, khi Sát Ðế Lợi Ðại Quán Ðảnh Luân Vương xuất hiện, lại có voi báu xuất hiện, voi báu có thân tướng thù diệu, hoàn toàn trắng tinh, không có xen tạp, giống như rồng lớn có bảy chỗ đầy đặn viên mãn nơi thân, nó từ phương Bắc cỡi hư không mà đến, đứng trước cung vua. Bấy giờ các quan liêu thấy voi báu rồi, tâu lại đầy đủ cho vua. Vua Ðại Quán Ðảnh Luân Vương thấy voi báu này xuất hiện rồi, trong lòng rất vui mừng, tự suy nghĩ: “Hết sức tốt lành, vô cùng thù thắng, nếu ta cần dùng hãy giữ lấy voi báu, nếu ta cần dùng hãy giữ lấy voi báu này mà dùng”.

Bấy giờ vua bảo các thần rằng:

–Voi báu xuất hiện, các ngươi hãy nên siêng năng gìn giữ để phòng bị lúc ta cần đến.

Khi ấy quân hầu vâng lệnh vua xong, luôn luôn siêng năng giữ gìn, khéo léo tập luyện voi báu, không để sơ sót một tí phòng lúc vua dùng đến.

Ðức Phật bảo các Tỳ kheo:

-Ngày xưa vua Sát Ðế Lợi Ðại Quán Ðảnh Luân Vương xuất hiện thế gian, bấy giờ cũng có voi báu xuất hiện, nhà vua vào lúc sáng sớm cỡi voi báu ấy du hành bốn biển, ngay tức khắc liền trở về cung. Các ngươi nên biết, voi báu có công năng thắng diệu như vậy.

Này các Bí sô, đó gọi là khi vua Ðại Quán Ðảnh Luân Vương xuất hiện thì có voi báu xuất hiện. Ðó là thứ hai.

Lại nữa, này các Bí sô, khi Luân Vương Ðại Quán Ðảnh xuất hiện, lại có bốn con ngựa báu xuất hiện, các bộ phận trên thân chúng đều tròn đầy, con nào cũng có sắc tướng cực đẹp. Ðó gọi là xanh, vàng, đỏ, trắng, trước cổ sau cổ thật đẹp, giống như Mịch La, nó bước đi rất nhanh, lại khéo điều phục, bốn con ngựa báu này xuất hiện ở cung vua. Khi ấy các quan thấy ngựa báu tuyệt đẹp, hiếm có, liền tâu với vua. Vua Ðại Quán Ðảnh thấy bốn con ngựa báu này rồi, trong lòng rất vui mừng tự suy nghĩ: “Ngựa báu xuất hiện hết sức tốt đẹp, nếu ta cần dùng, chắc chắn sẽ được như ý”.

Vua Ðại Luân Vương lại tuyên bố rằng: “Này hỡi các thần, hãy nên siêng năng giữ gìn, khéo léo luyện tập ngựa báu này trong mọi lúc, khi ta cần dùng thì ta sẽ xử dụng”. Khi ấy các viên quan vâng lệnh của vua, luôn luôn phòng hộ ngựa báu, chờ lúc vua xử dụng.

Này các Bí sô, Ngày xưa có vua Ðại Quán Ðảnh xuất hiệnthế gian, khi ấy cũng có ngựa báu xuất hiện. Nhà vua vào lúc sáng sớm cỡi ngựa báu này chu du bốn biển, ngay tức khắc liền trở về cung. Các ngươi nên biết, ngựa báu ấy có công năng thù thắng như vậy. Này các Tỳ kheo, đó gọi là khi Luân Vương Ðại Quán Ðảnh xuất hiện thì ngựa báu cũng xuất hiện. Ðó là thứ ba.

Lại nữa, này các Bí sô, khi Luân Vương xuất hiện, lại có Chủ tàng thần báu xuất hiện. Bấy giờ kho tàng báu to lớn vững chắc, có nhiều tiền của phú quý, do thần Bảo làm chủ. Khi ấy vị thần chủ kho tàng liền đi đến chỗ vua thưa rằng: “Có một kho tàng lớn, quý báu, có đầy đủ tất cả trân bảo thù diệu, đó là vàng... tất cả vật báu, nếu vua cần dùng tôi sẽ dâng tất cả như ý muốn của ngài, không thiếu vật gì”.

Bấy giờ vua Luân Vương thấy thần Bảo chủ kho tàng xuất hiện, trong lòng rất vui mừng. Vua lại nghe thần Bảo nói rằng: “Vàng ... các báu tất cả đầy đủ, ngài muốn lấy bao nhiêu tùy ý”. Khi ấy, nhà vua liền bảo thần Báu chủ kho tàng rằng: “Nay ngươi có oai lực, thần thông sắc tướng như vậy, có thể làm chủ những kho tàng lớn giấu trong đất, như vàng ... các báu, tất cả đầy đủ, thấy những việc làm như vậy hết sứchy hữu, vô cùng tốt lành, ngươi hãy khéo mà chủ trì. Khi nào ta cần, ngươi sẽ cung cấp, ngoài ra khi ta chưa cần, ngươi hãy khéo mà chủ trì.

Này các Bí sô, các ngươi nên biết các kho tàng che giấu dưới đất này, con người không thấy, nhưng phi nhơn thì thấy. Khi Luân Vương xuất hiện, có vị thần chủ kho tàng tự xuất hiện, giữ gìncung cấp tất cả cho vua. Gọi là khi Luân Vương xuất hiện là có Chủ tàng thần báu xuất hiện, đó là thứ tư.

Lại nữa, này các Bí sô, khi Luân Vương xuất hiện, lại có Chủ binh thần báu xuất hiện, vị chủ binh này có đại trí, thao lược, dõng mãnh, oai đức, sức lực lớn và sắc tướng, tất cả đều đầy đủ, khéo huấn luyện binh chủng, phòng thủ ranh giới của vương quốc, nên không bị địch quân xâm nhiễu. Bấy giờ vị Chủ binh thần báu đi đến chỗ vua, thưa như vầy:

–Ðại vương nên biết, tôi là chủ binh thiện nghệ, gìn giữ đất nước của vua, bất cứ lúc nào, có làm việc gì đều đúng theo ý của vua, không hề thiếu sót. Khi ấy nhà vua thấy Chủ binh thần này xuất hiện, trong lòng rất vui mừng, liền bảo rằng: “Nay ngươi có đại trí lược, dõng mãnh, oai đức, sức mạnh, sắc tướng, có thể làm bất cứ điều gì ở bất cứ lúc nào, khéo điều khiển binh chủng để giữ gìn biên giới đất nước, ngươi thật là bậc hiền thiện, ngươi hãy luôn luôn phụ tá cho ta, tất cả việc làm ngươi hãy phương tiện. Nay ngươi chính là người đại thủ hộ cho vua. Này các Bí sô, đây gọi là khi Luân Vương xuất hiện thì có Chủ binh thần báu xuất hiện. Ðó là thứ năm.

Lại nữa, này các Bí sô, khi Luân Vương xuất hiện, lại có Ðại Ma Ni báu xuất hiện. Ngọc Ma Ni báu này rất tối thượng, sắc màu tốt đẹp lạ thường, nó có đầy đủ ánh sáng to lớn viên mãn, ánh sáng ấy cực mạnh, chiếu sáng tất cả, có công đức lớn, ở trong cung vua nếu có ngọc báu này, dù cho đêm tối, không có đèn chiếu sáng, ngọc này phát ra ánh sáng tự nhiên chiếu sáng, giống như ánh sáng mặt trời. Này các Bí sô, xưa kia có vị Ðại Luân Vương xuất hiện thế gian, lúc ấy cũng có ngọc Ðại Ma Ni báu có ánh sáng lớn xuất hiện. Khi ấy nhà vua muốn thí nghiệm khả năng của viên ngọc, liền bảo quan đại thần chuẩn bị gấp bốn thứ binh vào lúc ban đêm du hành trong khu rừng. Bấy giờ quan đại thần vâng theo lệnh vua liền chuẩn bị gấp bốn loại binh, rồi đi đến chỗ vua tâu như vầy: “Bốn thứ binh chủng đã tập hợp, nay đã đến lúc xin vua khởi hành”.

Lúc đó nhà vua liền lấy viên ngọc Ðại Ma Ni báu đặt ở trên ngọn cờ, nhà vua đi đầu tiên, vào trong đêm tối, du ngoạn trong khu rừng. Ánh sáng của viên ngọc chiếu sáng cả một do tuần, bốn thứ binh chủng của nhà vua đều được ánh sáng chiếu soi, như ánh sáng trên trời không có sai khác. Này các Bí sô, đây gọi là khi Luân Vương xuất hiện thì có Ðại Ma Ni báu xuất hiện. Ðó là thứ sáu.

Lại nữa, này các Bí sô, khi Luân Vương xuất hiện, lại có nữ báu cũng xuất hiện, sắc tướng của nàng tuyệt đẹp, thân thể tròn đầy xinh đẹp đệ nhất, các người trong thế gian không ai sánh bằng. Nàng êm dịu, nhẹ nhàng, mềm mại như cây Cán Tức Lê; các lỗ chân lông trên người nàng đều toát ra mùi hương vi diệu giống như bình báu chứa đầy hương thơm, lúc nào cũng phảng phất mùi thơm. Lại nữa, hơi thở ra vào của nữ báu đều luôn luôn có mùi thơm như hoa sen xanh, mọi người đều yêu thích. Như lúc vua đi đâu thì nữ báu theo sau, những điều nàng làm đều thích hợp, hoan hỷ tự tại, tánh hạnh nàng thì trinh chánh, không có tà nhiễm, nàng thường nói lời khả ái, ai cũng thích nghe, thân nàng sáng rạng ai cũng thích nhìn. Này các Bí sô, đây gọi là khi Luân Vương xuất hiện thì có Nữ báu xuất hiện. Ðó là điều thứ bảy.

Ðức Phật bảo các Tỳ kheo :

–Như vậy gọi là khi Luân Vương xuất hiện thì có bảy báu xuất hiện. Các ngươi nên biết, khi Như Lai, Ứng Cúng Chánh Ðẳng Giác xuất hiện, Ngài nói pháp bảy giác chi. Những gì là bảy?

–Ðó là Niệm giác chi, Trạch pháp giác chi, Tinh tấn giác chi, Hỷ giác chi, Khinh an giác chi, Ðịnh giác chi, Xả giác chi. Như vậy gọi là pháp bảy giác chi, pháp này chỉ có Như Lai, Ứng Cúng Chánh Ðẳng Giác lúc xuất hiện thế gian mới tuyên nói ra, giống như bảy báu ở trước, cũng lại như vậy, chỉ có lúc nào vua Ðại Quán Ðảnh Luân Vương xuất hiện thì bảy báu mới xuất hiện mà thôi.

Các ngươi nên biết, Như Lai đã nói pháp bảy giác chi khiến cho các chúng sanh như lý tu hành, tất cả đều được an lạc, lợi ích. Các ngươi hãy nên siêng năng tu học như vậy 

 

PHẬT NÓI KINH LUÂN VƯƠNG THẤT BẢO

--- o0o ---

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 735)
Các chuyên gia đã từng nói cơ năng não bộ của con người so với máy vi tính phức tạp nhất trên thế giới lại càng phức tạp hơn.
(View: 1153)
Phật Đà Thập Đại Đệ Tử Tán - Hòa thượng Tuyên Hóa giảng thuật, Nguyễn Minh Tiến Việt dịch
(View: 2700)
Các tác phẩm của Thầy phần lớn được dịch từ Hán tạng, gồm giới kinh và các nguồn văn học Phật giáo Đại thừa với tư tưởng uyên thâm về triết họctâm lý học.
(View: 24013)
Đã phát khởi chí nguyện Đại thừa, lại kiên quyết thực hiện chí nguyện ấy, đó thực sự là cung cách hùng dũng của con sư tử đang vươn mình, và do đó phải được nhìn đến bằng cung cách của con voi chúa.
(View: 23986)
Vua và phu nhân gởi thơ cho Thắng Man, đại lược ca ngợi công đức vô lượng của Như Lai, rồi sai kẻ nội thị tên Chiên Đề La đem thư đến nước A Du Xà... HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 2782)
Tất cả các nhà đạo học và thế học muốn thành tựu kết quả tốt đẹp trong cuộc đời, thì trước hết, họ phải trải qua quá trình kham nhẫn, nỗ lực, tu, học, rèn luyện tự thân, giúp đỡ, và đem lại lợi ích cho tha nhân.
(View: 6882)
Bảy Đức Thế Tôn quá khứ từ Thế Tôn Tỳ Bà Thi, Thế Tôn Thích Ca, và chư Thế Tôn vị lai đều chứng ngộ Vô Thượng Bồ Đề từ sự chứng ngộ sự thật Duyên khởi.
(View: 6181)
Trong các bản Kinh Pháp Cú, phổ biến nhất hiện nay là Kinh Pháp Cú Nam Truyền, tức là Kinh Pháp Cú dịch theo Tạng Pali.
(View: 4344)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau:
(View: 3688)
Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama
(View: 12493)
Quy Sơn Cảnh Sách Học Giải - Tác Giả: Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu; Thích Thiện Trí (Thánh Tri) Phỏng Việt Dịch và Viết Bài Học Giải
(View: 4079)
Kinh này khởi đầu bằng lời người Bà La Môn hỏi rằng làm thế nào người ta có thể tự thanh tịnh hóa khi nhìn thấy một vị Thượng nhân đã Thanh tịnh,
(View: 41212)
Nguyên xưa ngài Quán Nguyệt Pháp sư đem hai thời kinh khóa tụng: Mai đóng chung và chiều nhập chung lại làm một đại thể làm một tập lớn. - Chú giải: Ngài Quán Nguyệt; Dịch giả: HT Thích Khánh Anh
(View: 5031)
Tôi nghe như vậy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại thành phố Śrāvastī (Xá-vệ), nơi rừng cây Jeta (Kì-đà), vườn của Ông Anāthapiṇḍada (Cấp-cô-độc),
(View: 3882)
Bài kinh này trong đoạn cuối (bài kệ 787), câu “không nắm giữ gì, cũng không bác bỏ gì” được Thanissaro Bhikkhu ghi chú rằng ...
(View: 4781)
Lúc bấy giờ, Bồ tát Đại sĩ Akṣayamatir[1] từ chỗ ngồ đứng dậy, vắt thượng y[2] qua một bên vai, chắp hai tay[3] hướng về đức Thế Tôn và thưa rằng:
(View: 4070)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(View: 4776)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(View: 6530)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(View: 13259)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(View: 4212)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(View: 3187)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(View: 5682)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(View: 6015)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(View: 6232)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(View: 7470)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(View: 7178)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(View: 5586)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(View: 6163)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(View: 6079)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(View: 7854)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(View: 8180)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(View: 5290)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(View: 6454)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(View: 6891)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(View: 9008)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(View: 6570)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(View: 6961)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(View: 5871)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(View: 6610)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(View: 6151)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(View: 11100)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(View: 5845)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(View: 6072)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(View: 6605)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(View: 6516)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(View: 8546)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(View: 7530)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(View: 7322)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(View: 7731)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(View: 10595)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(View: 6540)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(View: 7007)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(View: 11701)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(View: 7670)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(View: 12157)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(View: 11301)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 7849)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(View: 23792)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(View: 6600)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
Quảng Cáo Bảo Trợ