Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
18,449,630
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250

Quyển 8

Monday, November 25, 201300:00(View: 6513)
Quyển 8


KINH TỐI THẮNG

HỎI VỀ VIỆC TRỪ CẤU ĐOẠN KẾT CỦA BỒ TÁT THẬP TRỤ
 

Đại Chánh Tân Tu, Bộ Hoa Nghiêm, Kinh số 0309

Nguyên tác Hán ngữ: [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10]

Hán dịch: Đời Diêu Tần, Lương Châu, Sa-môn Trúc Phật Niệm
Việt dịch: Tỳ-kheo Thích Tâm Khanh

--- o0o ---


QUYỂN VIII

Phẩm 22: ĐẲNG TỪ

 

Bấy giờ Bồ tát Tối Thắng ở trước Đức Phật thưa:

- Thế nào là Bồ tát nhập Đẳng từ tam muội quán khắp ba ngàn đại thiên thế giới, thân ấm của người, thân ấm của thần và cõi của loài rồng, loài quỷ từ một thân, hai thân cho đến trăm ngàn thân? Thế nào là Bồ tát dùng sức thần túc từ một quốc độ Phật đến một quốc độ Phật như người dạo đi không ngăn ngại?

Khi đó Thế Tôn bảo ngài Tối Thắng:

- Hay thay! Câu hỏi đó thật kỳ diệu. Ta nay sẽ giảng rõ nghĩa đó cho ông. Hãy lắng nghe! Hãy lắng nghe! Khéo suy nghĩ ghi nhớ. Tất cả các pháp là hư tịch, không có nguồn cội, suy tư về các loại trí thành đạo cũng không có dấu tích. Bồ tát nhập Chánh thọ tam muội, quán khắp loại chúng sanh hữu hình trong ba ngàn đại thiên thế giới, quán thân năm ấm sanh rồi diệt, theo thân mà sanh, theo thân mà diệt. Lại nhập Không giới quán địa, thủy, hỏa, phong, phân biệt từng pháp hiểu rõ chúng là vô sở hữu, pháp khởi thì khởi, pháp diệt thì diệt. Tối Thắng nên biết, thuở xưa Ta tu đạo Bồ tát dài lâu, ý chuyên chú thiền định, giữ tâm không loạn, nhập Bất động tam muội, quán vô hạn lượng không thể nhớ kể chúng sanhhư không, tùy theo loại hình của họ mà giáo hóa. Trong đó có chúng sanh có dâm, nộ, si hoặc không có dâm, nộ, si; có tâm ái dục hay không có tâm ái dục, có tâm sân khuể hay không có tâm sân khuể, Bồ tát dùng quyền tuệ tùy theo loại mà thể nhập vào tất cả loại hình tướng giống như họ. Tâm Bồ tát nhập định trọn không tán loạn, trong khoảnh khắc khảy móng tay đi vào trăm ngàn cõi của chư Phật, hoặc dùng pháp tánh tuệ quán để giáo hóa, hoặc dùng pháp không, pháp khổ, không, vô thường hướng dẫn họ đến với Chánh pháp. Pháp giáo hóa của Bồ tát cũng không giới hạn, dùng mười pháp thiện hạnh để truyền dạy cho họ. Mười pháp đó là gì? Trước thanh tịnh quốc độ không tính công lao của mình. Phô diễn trí tuệ sáng suốt, biết không ngăn ngại. Ngồi dưới cội đạo thọ tâm không khiếp nhước. Hàng phục ma oán khiến chúng biết rõ đường tà. Dạo đến các cảnh giới, độ vô lượng người. Tâm nhẫn nhục như mặt đất không lay động. Phân biệt căn môn, tướng dễ tướng khó. Hạnh thuần thục, không đắn đo, phân vân trước tất cả hạnh. Phân biệt rõ ràng quá trình trì, nhập của ấm và sự hành hoạt của sắc, thống (thọ), tưởng, hành, thức. Quán sáu tình bên trong, trừ bỏ sáu trần bên ngoài. Nếu mắt thấy sắc không khởi nhãn thức, với sắc bên ngoài và thức bên trong đều ngộ rõ là hư giả không thật: “Sắc do mắt của ai nhận biết mà tồn tại?”. Nếu tai nghe tiếng không khởi nhĩ thức. Tiếng bên ngoài, thức bên trong đều ngộ rõ là hư giả, không thật: “Hương do mũi của ai ngửi biết mà tồn tại?”. Nếu lưỡi nếm vị thì không khởi thiệt thức. Vị bên ngoài, thức bên trong đều ngộ rõ là hư giả, không thật: “Vị do lưỡi của ai nếm biết mà tồn tại?”. Nếu thân biết trơn mịn thì không khởi thức tưởng xúc. Xúc bên ngoài, thức bên trong đều ngộ rõ là hư giả, không thật: “Cảm xúc trơn mịn do thân của ai nhận biết mà tồn tại?”. Tối Thắng nên biết, Bồ tát nhập định phân biệt rõ ràng từng pháp, tùy theo chủng loại mà giáo hóa, hoặc dùng lời để dạy, hoặc dùng thần túc, hoặc dùng trí tuệ phương tiện, tùy loạiđi vào không ngăn ngại. Khi ấy Bồ tát lại dùng mười pháp giáo huấn độ chúng sanh. Mười pháp đó là gì? Một là tuệ căn đầy đủ, tâm định không loạn. Hai là tâm giác ngộ kiên trí tuệ diễn bày vô ngại. Ba là giảng giải đạo phẩm đầy đủ nghĩa thú. Bốn là hiểu rõ các tướng tốt huyền tịch không sai lầm. Năm là hiểu rõ đạo phi đạo, liễu tri hư vô. Sáu là ý tôn sùng pháp luân, giảng dạy không mệt mỏi. Bảy là thực hành đạo Bồ tát, không thấy thân mình. Tám là tuy độ chúng sanh mà không thấy có độ. Chín là hiểu rõ nội ngoại Không là một chứ không phải hai. Mười là phân biệt thân thể không thấy có hóa. Đó gọi là Đại Bồ tát đầy đủ mười pháp thì có thể dạo khắp các cõi Phật, từ cõi Phật này đến cõi Phật khác, chưa từng lìa bỏ chư Phật Thế Tôn. Bồ tát phải nhớ tu tập các pháp Tổng trì. Các pháp Tổng trì gì? Chư pháp ấn khả Tổng trì, Bồ tát được pháp Tổng trì này thì với tất cả pháp trừ bỏ các vọng tưởng. Lại có pháp Phổ quang Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này được tâm Từ bình đẳng với tất cả chúng sanh, không có tâm điên đảo. Lại có pháp Tuệ minh Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này khiến quốc độ không thanh tịnh thành thanh ịnh. Lại có pháp Chiếu diệu Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này tâm ý đang loạn đều không có bụi trần. Lại có pháp Nghĩa biện Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì tu tập quán các hạnh, nhập định bất động. Lại có pháp Pháp biện Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này phân biệt cú nghĩa không mất thứ lớp. Lại có pháp Hương biện Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này quán sát âm hưởng, tùy theo loại mà độ. Lại có pháp Ứng biện Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này tương ưng với đầy đủ tất cả các hạnh. Lại có pháp Ý chỉ Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này quán sát rõ ràng chi tiết các pháp không do dự. Lại có pháp Thần túc Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này thọ mạng trụ tại thế gian suốt trăm ngàn kiếp. Lại có pháp Căn bổn Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này phân biệt căn môn hưng suy không biến đổi. Lại có pháp Lực thế Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này thì tu tập thể kim cang không thể phá hoại. Lại có pháp Giác ý Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này diễn bày các pháp, khai ngộ cho tất cả chúng sanh. Lại có pháp Đạo phẩm Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này quán rõ nhân duyên căn bổn của pháp ba đời. Lại có pháp Định ý Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này khiến tâm niệm loạn tưởng quay về với đạo như trước. Lại có pháp Quyền tuệ Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này thì có mọi phương tiện tương ưng với vô, cũng giác ngộ pháp vô. Lại có pháp Bố thí Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này ngộ rõ tam sự đều vô sở hữu. Lại có pháp Trì giới Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này không thấy người tu tập trì giới và người phá giới. Lại có pháp Nhẫn nhục Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này không thấy nhẫn với sân và tâm loạn tưởng. Lại có pháp Tinh tấn Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này không thấy nghiệp tinh tấngiải đãi. Lại có pháp Chánh thọ Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này nghe vạn tiếng sấm sét chấn động mà lông trên thân không dựng đứng. Lại có pháp Tuệ không Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này trí phân biệt biết bao la vạn tượng, diễn giải vô ngại. Lại có pháp Vô ngại Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này trí tuệ thông đạt không bị ngăn ngại. Lại có pháp Khoáng viễn Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này tuy trăm ngàn thân cũng hợp lại thành một. Lại có pháp Giáo thọ Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này dùng Chánh pháp giáo huấn, lời nói không làm ai phiền não. Lại có pháp Bất tư nghị Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này thì hàng La hán, Bích chi Phật không thể theo kịp. Lại có pháp Đạo thọ Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này trang nghiêm quốc độ, không lìa bỏ chư Phật. Lại có pháp Hàng ma Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này giữ ý kiên cố tâm không nghiêng theo tà. Lại có pháp Dung tướng Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này mỗi mỗi tướng đều có trăm ngàn phước báo. Lại có pháp Chúng hảo Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này không thấy tướng tốt trang nghiêm theo thân. Lại có pháp Quang chiếu Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này với trăm ngàn ánh sáng thấy hóa thành vô lượng. Lại có pháp Độ nhân Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này tuy độ chúng sanh mà thấy cũng như không độ. Lại có pháp Quảng tuệ Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này ý như hư không không nhỏ hẹp, thiên lệch. Lại có pháp Đạo ý Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này không tưởng Niết bàn cũng không chấp trước hữu. Lại có pháp Diệt độ Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này không thấy có pháp diệt và sanh. Lại có pháp Thanh tịnh Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này trần lao đều thanh tịnh vô tận bất tận. Lại có pháp Vô khổ tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này hiểu rõ khổ, không khổ tên gọi là Khổ đế. Lại có pháp Sanh tập Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này với nguồn gốc phiền não duyên với ý biết rõ đều là hư vô. Lại có pháp Diệt tận Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này diệt Tập trần lao, không còn tạo tác. Lại có pháp Thánh đạo Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này an trụ pháp giải thoát Niết bàn vĩnh viễn tịch tĩnh. Lại có pháp Chỉ quán Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này quán rõ tướng hưng suy của diệu pháp. Lại có pháp Không tạng Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này quán rõ các pháp đều biết là vô chủ. Lại có pháp Tịnh thanh Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này miệng nói ra lời nhẹ êm như thanh âm của Phạm Thiên. Lại có pháp Xưng khả Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này thì lời mọi người nói đều hợp với tâm ý mình. Lại có pháp Đẳng ý Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này lời nói trôi chảy lưu loát không vướng ngại. Lại có pháp Du xứ Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này người được nghe Bồ tát giáo giới không ai bị thương tổn. Lại có pháp Oai chiếu Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này ở trong đại chúng không khiếp nhược. Lại có pháp Phấn tấn Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này cất tiếng sư tử rống thì chim sa thú chạy. Lại có pháp Giới luật Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này hàng phục tất cả chúng sanh khó ngộ. Lại có pháp Thú đạo Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này ngộ rõ Niết bàn, không có tưởng sanh diệt. Lại có pháp Pháp tánh Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này khiến những kẻ nịnh hót thấy được chơn đạo. Lại có pháp Tức ý Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này không khởi tâm kiêu ngạo, tự cao với người. lại có pháp Thông đạt Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này nghe thánh tuệ đó không quên giáo pháp. Lại có pháp Hưng kính Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này liền trừ bỏ tâm cống cao, vâng theo việc làm của chư Phật. Lại có pháp Không giới Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này thông đạt phép tắc luật nghi, hiểu rõ nguồn cội các pháp. Lại có pháp Vô lượng Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này lời nói từ xưa đến nay không cùng tận. Lại có pháp Cường ký Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này phân biệt văn tự thú hướng của pháp. Lại có pháp Cứu ý Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này ngộ rõ bổn tánh, pháp giới cũng tịnh. Lại có pháp Nan diệt Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này quán rõ chúng sanh thanh tịnh, trong ngoài đều hư tịch. Lại có pháp Vô tế Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này ngộ rõ pháp Bổn vô, pháp Bổn vô cũng là vô. Lại có pháp Anh lạc Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này kinh pháp đã giảng nói không bị ngăn ngại. Lại có pháp Diệu yếu Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này là pháp mà hàng Nhị thừa chẳng thể tính lường được. Lại có pháp Như Lai Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này giác ngộ hướng đạo tịch mịch của chúng sanh. Lại có pháp Thập địa Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này luôn giảng nói vô trụ, cũng không thấy pháp trụ. Lại có pháp Ấm chủng Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này phân biệt nguồn cội của thân không khởi tâm nhiễm chấp. Lại có pháp Tịch mịch Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này ví dụ hô lên một tiếng cũng không có tiếng vang. Lại có pháp Thức tánh Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này đều có thể tư duykhông chấp trước văn tự. Lại có pháp Liễu bổn Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này không giảng, không nói cũng không dạy. Lại có pháp Văn tự Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này tự biết túc mạng, biết hướng sanh thú qua lại. Lại có pháp Pháp luân Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này không có ý, không có tưởng, không có thần thức. Lại có pháp Cam lộ Tổng trì, Bồ tát Tổng trì này giảng tụng, nói pháp đều không ngăn ngại. Lại có pháp Thâm hợp Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này phân biệt rõ ràng hợp nghĩa của tứ cú. Lại có pháp Pháp tràng Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này thấy rõ nghĩa lý, thông tỏ nguồn cội của thức – pháp. Lại có pháp Vô tận Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này diễn nói cùng tận Bổn tế không lìa bỏ pháp cận duyên. Lại có pháp Đẳng giác Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này thường giảng vô lượng pháp mà không chấp trước Chánh pháp. Lại có pháp Chư pháp Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này tu tập thuần thục các pháp không mất đầu mối thứ lớp. Lại có pháp Hoằng thệ Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này ngộ rõ trí tuệ đều không trái thuận. Lại có pháp Thiện quyền Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này dùng pháp thích ứng với loại chúng sanhhóa độ, không có tâm khiếp nhược. Lại có pháp Đạo tuệ Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này phân biệt đảnh pháp, tu tập pháp Ba la mật. Lại có pháp Ảo hóa Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này phân biệt pháp giới không có tánh trong ngoài. Lại có pháp Trung ấm Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này biết rõ trụ xứ nơi chư Phật Thế Tôn ngự. Lại có pháp Đạo tràng Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này thì cõi nước ở mười phương bừng chói sắc hoàng kim. Lại có pháp Hàng ma Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này tất cả ngoại đạo đều được hàng phục. Lại có pháp Tự thủ Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này phòng hộ thân, khẩu, ý mà không thấy có phòng hộ. Lại có pháp Thuyết pháp Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này đầy đủ pháp bổn không bị khuyết lậu. Lại có pháp Tư dụng Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này quán sát tâm ý của vô lượng chúng sanh. Lại có pháp Ân cần Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này phương tiện giảng nói đều khiến chúng sanh nhập đạo, kiểm thúc thân tâm. Lại có pháp Lưu hóa Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này phân biệt các trí tuệ, không chấp trước xưa nay. Lại có pháp Nhu thuận Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này nhận lãnh pháp không nhàm chán, cũng không có tâm giận dữ, mê lầm. Lại có pháp Tấn đức Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này với các pháp bổn đều không sở hữu. Lại có pháp Sắc tượng Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này nếu thấy hình tướng thì chưa từng xả bỏ sai lầm. Lại có pháp Thanh văn Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này suy lường các pháp, không tính toán, không chấp trước. Lại có pháp Khổ thuận Tổng trì, Bồ tát đắc pháp Tổng trì này nghe tìm hiểu pháp vị biết bình đẳng không hai.

Khi Thế Tôn nói pháp môn Tổng trì này, mười hai ức na thuật người đắc Tận tín pháp nhẫn bất khởi, lại có vô ương chúng sanh đều phát tâm đạo Vô thượng chánh chơn. Bấy giờ Thế Tôn bảo ngài Tối Thắng:

- Việc làm của Bồ tát không thể nghĩ bàn, chẳng phải pháp mà hàng La hán, Bích chi Phật biết được. Do sức oai thần cảm ứng của Đẳng từ tam muội định ý chánh thọ nên mới có thể được như thế. Do đó mà nói luật Đại thừa hướng đạo làm phương pháp giáo hóa chơn chánh, dùng đó để làm pháp phục.

Lúc đó ngài Tối Thắng ở trước Đức Phật thưa:

- Lành thay! Lành thay! Vui thay lời dạy ấy! Tất cả các pháp tu tập không có bổn mạt, ngộ rõ pháp tánh hư vô vắng lặng, phân biệt từng pháp đều là hư, đều là tịch. Thế Tôn giảng nói pháp Đại thừa rộng lớn khắp tất cả. Bồ tát nghe pháp này thực hành, sau khi thọ mạng đã hết đều được sanh vào thế giới Khoáng nhẫn.

Bấy giờ tất cả người trong hội đều phân vân, muốn được thấy cõi Phật ấy. Đức Như Lai dùng sức thần túc quán sát biết tâm niệm của chúng sanh liền dùng thần túc từ trên đỉnh đầu phóng ra ánh sáng chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới, đến tận cõi Khoáng nhẫn vô lượng ấy. Đức Phật ở cõi ấy hiệu là Vô Tậnpháp Thuận chấp Tổng trì nhớ mãi không quên, pháp đặc thù luôn hiện tiền, từ hằng sa kiếp đã cúng dường chư Phật tích lũy đạo pháp nên tự thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Đức Phật bảo ngài Tối Thắng:

- Ông phải nhớ nghĩ tu hành mười pháp. Mười pháp ấy là gì? Một là phân biệt pháp giới, liễu tri hư vô. Hai là biết rõ thân là hư tịch, trong ngoài đều không có chủ tể. Ba là tâm ngộ biết bốn đại, không nương tựa hữu dư. Bốn là với tất cả pháp không thấy diệt độ. Năm là thân, khẩu, ý hành không trụ tịch mịch. Sáu là hộ trì giới, vô giới cũng không hủy giới. Bảy là tu tập không phóng dật, kiểm thúc tâm là gốc. Tám là thệ nguyện thành đạo, không xả bỏ chí nguyện xưa. Chín là dùng pháp bất tư nghị độ người khó độ. Mười là các hành thanh tịnh thì việc làm không nặng nề. Đó gọi là mười pháp bổn mà bậc Đại Bồ tát tu hành. Lại nữa, Bồ tát lại phải tu tập mười pháp hiệu. Mười pháp ấy là gì? Một là đầy đủ giới thanh tịnh, không có hạnh phóng dật. Hai là dùng trí tuệ thí pháp cho người nghe mà không hủy pháp giới. Ba là phân biệt ấm nhập, liễu tri hư tịch. Bốn là biết bốn đạivô thường, đều quy về diệt. Năm là hiểu rõ mười tám nạn, bệnh của ấm trì nhập. Sáu là đầy đủ thệ nguyện được chư Phật gia trì, khen ngợi. Bảy là với chúng sanh chưa được an lập thì độ họ an trụ giải thoát. Tám là Bồ tát nhập định không thể loạn. Chín là quán khắp tất cả các hành trong ngoài. Mười là tự quán tướng sanh diệt nguồn gốc của thân. Đó gọi là mười pháp bổn mà bậc Đại Bồ tát phải nhớ nghĩ tu hành thì tự thân thành tựu trí Chánh giác. Lại nữa, Bồ tát lại phải tu tập định chánh thọ tam muội như pháp tam muội tên Đẳng quán tam muội. Bồ tát đắc tam muội đó thì thành tựu tuệ quán không bị phóng dật. Lại có tam muội tên Nhiếp ý, Bồ tát đắc tam muội này có thể thu nhiếp các phiền não không để chúng trói buộc. Lại có pháp Hộ giới tam muội, Bồ tát đắc tam muội này, ý như hư không không khởi nhị tưởng. Lại có pháp Đại bảo tam muội, Bồ tát đắc tam muội này diễn giảng pháp Thất giác ý, pháp bảo vô tận. Lại có pháp Đạo thọ tam muội, Bồ tát đắc tam muội này thì hoa đạo bừng nở đẹp, ai thấy cũng thích. Lại có pháp Hải lượng tam muội, Bồ tát đắc tam muội này là pháp chẳng phải hàng Nhị thừa có thể suy lường. Lại có pháp Nhập thất tam muội, Bồ tát đắc tam muội này thể nhập sâu xa tạng pháp yếu, không pháp nào không biết. Lại có pháp Nguyệt quang tam muội, Bồ tát đắc pháp tam muội này đến các cõi Phật dạo qua lại khắp nơi. Lại có pháp Nguyệt minh tam muội, Bồ tát đắc tam muội này ánh sáng chiếu soi tất cả, không ai không được chiếu sáng. Lại có pháp Huyền giám tam muội, Bồ tát đắc pháp tam muội này ngộ rõ ba đời không có pháp sanh diệt. Lại có pháp Vô tằng ái tam muội, Bồ tát đắc tam muội này bình đẳng với người oán ghét, thấy như con ruột. Lại có pháp Đại ai tam muội, Bồ tát đắc tam muội này thấy tất cả chúng sanh như cha, như mẹ. Lại có pháp Từ bi tam muội, Bồ tát đắc tam muội này vì tất cả chúng sanh làm cơn mưa tưới khắp. Lại có pháp Ngận ai tam muội, Bồ tát đắc tam muội này không có ngô ngã, ngã, nhân, thọ mạng. Lại có pháp Vô tưởng tam muội, Bồ tát đắc tam muội này thì có thể chuyển Pháp luân vô thượng. Lại có pháp Hành khổ tam muội, Bồ tát đắc tam muội này trong A tăng kỳ kiếp không hao tổn công đức của mình. Lại có pháp Kiến lực tuệ giới tam muội, Bồ tát đắc tam muội này không thấy ngô ngã, hạnh luôn thanh tịnh. Lại có pháp Ly thân tam muội, Bồ tát đắc tam muội này thoát ly các triền kết ràng buộc cũng không hủy giới. Lại có pháp Ngô ngã tam muội, Bồ tát đắc tam muội này không có tâm chấp trước pháp bỉ thử. Lại có pháp Huyền thông tam muội, Bồ tát đắc tam muội này ngộ pháp nhẫn nhục, không thấy tịch tĩnh hay chẳng tịch tĩnh. Lại có pháp Thanh bạch tam muội, Bồ tát đắc tam muội này tư duy phân biệt hạnh thanh bạch. Lại có pháp Tương ưng tam muội, Bồ tát đắc tam muội này cùng pháp tương ưng không khởi, không diệt. Đó gọi là chánh thọ tam muội của Đại Bồ tát. Bồ tát đến các cõi Phật phương khác, tôn phụng cúng dường chư Phật Thế Tôn, cũng không sợ hãi, không gặp nạn sợ hãi. Giả sử thân đang lúc suy yếu, sắp mạng chung, các thân phần dần dần ly tán, Bồ tát tự quán thân này như cỏ cây, tường vách, không khởi tâm nhiễm chấp mà thực hành nhẫn nhục, nghe lời ác không lấy đó làm sầu não, tuy gặp điều thích thú không vì thế mà vui mừng, suy tìm ngôn giáo cũng không có xứ sở, thấy rõ lời đã nói cũng không gốc ngọn, tâm Bổn vô mỗi niệm đều không thật. Đó gọi là Đại Bồ tát thanh tịnh dịnh ý. Tuy có lúc loạn tâm nhưng tâm không bị buộc ràng, không chấp bên này cũng không chấp bên kia, nội ngoại pháp đều thanh tịnh. Do quán như thế nên tâm nhẫn nhục. Đó gọi là thân, khẩu, ý của Đại Bồ tát thanh tịnh, thành tựu trí tuệ nhẫn nhục. Lại nữa, này Tối Thắng, Đại Bồ tát lại phải tu tập tinh tấn định ý, làm lớn các pháp lành không để thiếu mất, quán pháp giới không tăng, không giảm; dùng trí tuệ vô lậu quán pháp ngự. Lại phải tư duy quán pháp nương tựa thế gian, không thấy các pháp có thành tựu hay không thành tựu, không thấy chánh đế cùng với điên đảo, không theo, không xả cũng không từ bỏ pháp đã thành tựu. Đó gọi là kho báu quý vô tậnĐại Bồ tát đã tích tụ. Bồ tát không thấy pháp quá khứ, hiện tại, vị lai từ đâu đến, từ đâu đi; không có chỗ đến, đi cũng không dấu vết. Tám đạo Hiền Thánhđứng đầu trong các pháp, phân biệt rõ ràng pháp Tứ đế Hiền Thánh, thoát ly hành vọng tưởng điên đảo, nói pháp cho người không bị ngăn trệ, ngộ rõ chúng sanhhư giả, không thật; suy tìm các pháp cũng không thể được. Do vậy nên pháp pháp tương sanh, pháp pháp tương diệt; người không lìa pháp, pháp không lìa người. Tự thể của người là hư tịch, pháp cũng là hư tịch. Như người là pháp tự nhiên, pháp cũng tự nhiên. Ngộ rõ tự nhiên mới tương ưng với hạnh vô thượng chánh chơn, mới đạt được hạnh Phật pháp vô tận. Nếu có cầu pháp thì với pháp đã cầu, với pháp đang cầu đều không chấp ba đời, không bị nhiễm ô. Pháp mà Bồ tát cầu, pháp mà Bồ tát đã cầu dược đều không có pháp để đắc cũng không có pháp để không đắc. Này Tối Thắng, đó gọi là Đại Bồ tát thành tựu hành diệu tuệ tinh tấn. Tối Thắng nên biết, Đại Bồ tát lại phải tư duy tu tập thiền định chánh thọ tam muội, không hủy giới pháp, tâm bình đẳng không hai cũng không thấy hai, không thành tựu cũng chẳng phải không thành tựu. Bồ tát ở trong thiền định dùng chánh định khiến tâm không khởi loạn tưởng với tất cả các loại định cũng không phóng xả các pháp vô tưởng, ngộ rõ trong ngoài đều vô chủ. Đó gọi là Đại Bồ tát nhất tâm chánh định, không hủy thiền định, lại cũng không thấy có hội họp, không có tâm thoát ly xả bỏ các cảnh giới, tu tập nhưng không chấp trước thiền, dòng tâm ý không có nạn chướng ngại. Đó gọi là Đại Bồ tát không lập pháp cũng không ly pháp, luôn nhất tâm quán thể tự nhiên của các pháp, ngộ rõ các pháp, tâm không có tưởng sanh diệt, là pháp chẳng phải thấy chẳng phải tâm có thể nghĩ lường, tư duy tâm định bình đẳng không hai, hướng chí tánh chẳng phải pháp tương ưng hay pháp không tương ưng cũng không thấy pháp tương ưng. Bồ tát phân biệt nguôn gốc của mười hai nhân duyên: Duyên Hành có Si, duyên Si có Thức, duyên Thức có danh sắc, duyên Danh sắcLục nhập, duyên Lục nhập có Cánh lạc (Xúc), duyên Cánh lạc có Hữu, duyên Hữu có Ái, duyên Ái có Thọ, duyên Thọ có Sanh, duyên Sanh có Tử, sầu ưu khổ não không thể suy lường. Nói tóm lại, thân năm ấm thạnh là thân nguy nạn, yếu ớt, không thể bền lâu. Khi ấy tâm Bồ tát tu tập bình đẳng pháp Bổn vô, phân biệt sắc, thống (thọ), tưởng, hành, thức đều là hư tịch. Bồ tát lại dùng chánh định với pháp bổn tịnh cũng không nhiễm chấp, cũng không thấy sắc; ngộ rõ sắc là vô sắc, vượt qua tất cả hành điên đảo. Đó gọi là pháp thiền định nhất tâm của Đại Bồ tát chẳng phải pháp hàng La hán, Bích chi Phật theo kịp. Ngoại đạongũ thông tuy tuổi thọ vô lượng, do mất thần túc nên không thể đạt đến rốt ráo. Người tu tập thiền định chánh thọ tam muội thọ mạng trụ một kiếp và hơn một kiếp cũng không có gì khó. Đó là do vị ấy đắc thiền định, hiện trí tuệ trừ bỏ trần lao, không khởi vọng kiến. Đó gọi là chí nguyện của Đại Bồ tát dùng đạo khai hóa chúng sanh, tùy pháp thích ứng với chúng sanh theo bệnh cho thuốc. Bồ tát lại dùng pháp tuệ quán Không tánh, nhập Đẳng từ tam muội, quán khắp ba ngàn đại thiên thế giới chuyển đến hằng sa các cõi Phật, có chúng sanh đáng độ đều khiến họ được giải thoát. Đó là thiền định chánh thọ của Như Lai đều khiến chúng sanh đạt đến diệt độ. Đó gọi là Đại Bồ tát thành tựu Đẳng từ định ý, người được tế độ vô lượng không thể tính kể giới hạn. Này Tối Thắng, thần đức của Như Lai cao vòi vọi như thế. Phàm muốn quán pháp phải dùng tuệ nhãn, chẳng phải nhục nhãn cũng chẳng phải thiên nhãn, cũng chẳng phải là pháp hàng La hán, Bích chi Phật thấy được. Bồ tát do quán các pháp nên ngộ rõ các pháp hư tịch, các pháp thanh tịnh, ngộ rõ các pháp hư ảo, ngộ rõ các pháp định. Đó gọi là tâm hoằng thệ vô hạn lượng của Đại Bồ tát. Không có pháp hành, không có pháp trụ, cũng không có thể nhập, các pháp vốn tịch nhiên là pháp của người định tâm tu tập, chẳng phải pháp của kẻ loạn tưởng tu tập. Bồ tát quán khắp các pháp đều như thế. Quán như vậy là quán pháp. Bồ tát quán pháp mà không phân biệt đẳng loại pháp, với pháp giải thoát có lầm lỗi không đạt đến rốt ráo, không dùng Chánh phápthành tựu định ý. Bồ tát phải nhớ nghĩ trừ khử vọng kiến, không mong cầu, không giữ cũng không có niệm ngang trái mong cầu thọ phước lớn, biệt nội ngoại pháp đều là hư tịch. Đó gọi là Đại Bồ tát nhập Đẳng từ tam muội, quán rõ các pháp đều vô sở hữu. Do vô sở hữu mới gọi là thấy pháp. Phàm người thấy pháp là người thấy được không ngã, không nhân, không thọ, không mạng; các pháp đó đều là giả hiệu, chẳng phải pháp chơn thật, là pháp hữu vi, chẳng phải cảnh giới vô vi. Cảnh giới vô vi khôngpháp hữu vi. Bồ tát ngộ rõ hữu vi, vô vi; hữu lậu, vô lậu; pháp thường, pháp vô thường; ngã, nhân, thọ, mạng đều vô sở hữu. Đó gọi là Đại Bồ tát phân biệt pháp định ý vô sanh diệt. Nếu Bồ tát quán các pháp tướng, ngộ rõ các tướng hư tịch không hai cũng không thấy hai, ngộ rõ pháp đối đãi là không hai thì mới tương ưng với tâm định. Bồ tát với pháp điên đảo ngộ rõ là vô sở hữu, không thấy có con đường chánh hướng đến đạo, không thấy có con đường tà dẫn đến các kiến, trí tuệ vô lượng, tâm từ ái bao lao trùm khắp chúng sanh, làm thanh tịnh cảnh giới Phật, thanh tịnh cõi Phật. Từ cõi Phật này đến cõi Phật khác, Bồ tát đến tôn kính hầu hạ cúng dường chư Phật Thế Tôn, lại dùng trí tuệ sáng thần thông quán sát khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Nếu có chúng sanh căn tánh thuần thục, không gặp Hiền Thánh nên rơi vào tam đồ, khi ấy Bồ tát phải trụ nơi đó tế độ khiến họ không loạn lạc. Hoặc có khi Bồ tát Đại sĩ do độ chúng sanh nên nhân đó tạo duyên, qua lại dạo quanh không phí công sức, trong khoảnh khắc khảy móng tay thể nhập trăm ngàn chánh thọ định ý, thành tựu tuệ quán, tu các công đức. Khi bố thí, Bồ tát suy tư căn tánh của trời người cũng không thấy có người thí, ngộ rõ ba việc đều vô sở hữu. Đó mới gọi là Bồ tát tương ưng với pháp thí. Lại nữa, nếu Bồ tát dùng luật giáo huấn thì ngộ rõ phạm giớitrì giới cũng là pháp vô sở hữu, không có trì giới hay chẳng trì giới thì mới tương ưng với giới. Lại nữa, có khi Bồ tát luôn thực hành nhẫn nhục, thấy người khác thực hành nhẫn nhục thì vui thay cho họ. Nếu gặp phải người nóng giận, phẫn nộ thì tâm không ưu sầu, buồn bã; thấy rõ giải đãinhẫn nhục đều vô sở hữu, cũng chẳng phải là một, là hai hay trăm ngàn. Ngộ rõ nhẫn và vô nhẫn mới tương ưng với nhẫn nhục. Lại nữa, Bồ tát luôn tu tập tinh thấn, thấy người tinh tấn thì mừng thay cho họ. Nếu gặp kẻ giải đãi không vì thế mà hận ghét, ngộ rõ giải đãitinh tấn là một chứ không phải hai, cũng không thấy có hai pháp đối đãi; không thấy có pháp tinh tấn cũng không thấy có pháp giải đãi. Ngộ rõ tinh tấn, giải đãi đều hư tịch mới tương ưng với tinh tấn. Lại nữa, Bồ tát khi đi, khi ngồi luôn nhất tâm thiền định chánh thọ chưa từng khiếm khuyết. Trời sấm sét, đất chấn động, hàng vạn tiếng vang đồng trổi lên, Bồ tát vẫn chuyên tâm nhất ý. Không gì có thể làm lay động chuyển dời tâm Bồ tát. Bồ tát ngộ rõ định và loạn đều vô sở hữu, ngộ rõ định và không định mới tương ưng với định ý. Lại nữa, trí tuệ Bồ tát thấm nhuần khắp loại chúng sanh, phân biệt tất cả vạn căn cơ, dùng pháp thích hợp với tất cả diễn nói giảng bày mà không làm sai ý giáo pháp của Phật, dùng trí tuệ bình đẳng quán không thấy người hiền trí, kẻ ngu mê; ngộ rõ có trí tuệ hay không có trí tuệ cùng với người ngu mê đều vô sở hữu, không thấy có cũng chẳng thấy không có, có – không có đều vắng lặng như hư không, không hai. Đó gọi là Bồ tát dùng trí tuệ quán tướng các pháp thanh tịnh như thị, không thấy tướng cũng chẳng phải không có tướng. Ngộ rõ tướng, vô tướng mới thành tựu tướng hảo, tế độ chúng sanh đến bờ giải thoát. Lại nữa, Bồ tát lại phải nhập không định, dạo đến cõi hư không, phân biệt rõ ràng chúng sanh ở Không giới, hoặc dùng ngôn giáo, hoặc dùng thần túc, hoặc dùng quang tướng, hoặc dùng khổ hạnhgiáo hóa khiến tất cả chúng sanh được nhập đạo, kiểm thúc thân tâm. Lại nữa, Bồ tát tu tập pháp vô tưởng, trừ bỏ cách tu tập chấp trước tưởng điên đảo. Bồ tát lại đến cõi chư Phật ở phương khác, luôn dùng pháp vô tướng không biến đổi giáo hóa chúng sanh khiến họ đều đạt giải thoát. Lại nữa, Bồ tát tu tập vô nguyện, không mong cầu nhận lãnh có quả báo trong ba cõi, không nương chấp người, không chấp trước tướng tốt, phân biệt sự thành hoại của trong ngoài thân năm ấm: sắc, thống (thọ), tưởng, hành, thức. Pháp ngoại trần nhập vào các pháp bên trong như thế nào, Bồ tát đều phân biệt biết mỗi pháp đều là hư giả không thật. Như vậy, này Tối Thắng, Bồ tát Đại sĩ phát tâm hoằng thệ lớn độ chúng sanh loại mà không thấy có độ, thật khôngchúng sanh huống chi lại có người độ. Đó gọi là Đại Bồ tát tu tập thành tựu Đẳng từ tam muội làm cho tất cả chúng sanh đều được gốc tuệ.

Khi Thế Tôn nói phẩm Đẳng từ này, mười bốn na thuật người đều phát tâm đạo Vô thượng chánh chơn, tám ngàn Bồ tát ngay trên tòa ngồi suy tư liền đắc Đẳng từ tam muội.

 

 

Phẩm 23: PHÁP GIỚI

 

Bấy giờ Thế Tôn từ lưỡi phóng ánh sáng chiếu khắp ba ngàn đại thiên thế giới, lại chiếu đến quốc độ của chư Phật ở mười phương, bốn phương góc, phương trên, phương dưới đều được chiếu sáng. Ánh sáng ấy lại chiếu sáng đến tận tám mươi bốn ức hằng hà sa cõi về phương Đông. Chư Phật ở nơi ấy luôn giảng về hạnh Bồ tát thù thắng, không có pháp Nhị thừa, phân biệt thế giới, mỗi thế giới theo thứ bậc. Đức Phật cũng từ thế giới đó đến cõi Nhẫn, do vậy nên phát nguyện tìm đạo không sai loạn.

Đức Phật bảo ngài Tối Thắng:

- Ta nay tự nhớ lúc ở trong chúng của chư Phật ấy, chư Phật nhất tâm đồng thời nhập diệt. Ta là vị đứng đầu trong chúng ở thế giới ấy. Từ Thị lúc đó có hiệu là Kết Sư Tử, có trí tuệ dõng mãnh, đức độ truyền xa mọi người đều nghe tiếng, sắc mặt vàng chói huyền tịch bảo hùng, tâm luôn từ bi, thệ nguyện trong sạch, cũng như chư Phật Như Lai nhất tâm đồng thời nhập diệt, đúng thời thích hợp đến cõi Nhẫn.

Đức Phật bảo ngài Tối Thắngchúng hội:

- Thế giới của chư phật không thể nghĩ bàn, phương tiện quyền xảo biến hóa thay đổi hình tướng vô cùng. Có phải các ông cho rằng Bồ tát Từ Thị đang tu tập hạnh Bồ tát không? Chớ có nghĩ như vậy. Bởi vì Đức Từ Thị tích lũy công hạnh hằng sa số kiếp, trước kia đã thệ nguyện thành Đẳng Chánh Giác. Ta cùng tu hành mà ở sau vị ấy. Vị ấy hoặc thị hiện tu khổ hạnh, hoặc thị hiện tướng sáng, hoặc thị hiện thân trẻ con làm đệ tử của Bồ tát, tùy theo bổn hạnh của người mà vì họ nói pháp. Đức Bồ tát Từ Thị đang ngồi trên kia.

Đức Phật bảo ngài Di Lặc:

- Ông hãy hiện tướng sáng của Phật và bao nhiêu số đồ chúng tùy tùng.

Khi đó ngài Di Lặc ẩn thân Bồ tát hiện trở lại thân Phật và cảnh giới Phật quốc, số đệ tử Bồ tát không thể nghĩ bàn. Các vị trong hội thấy như vậy đều vui mừng chưa từng có. Pháp vô hình tự nhiên, sắc tướng tự nhiên, các pháp tự nhiên, tất cả chư Phật cũng tự nhiên. Lúc đó đại chúng lại thấy ở tám mươi bốn ức hằng hà sa số thế giới vắng lặng về phương Đông, chư Phật Thế Tôn đang giảng luận về hạnh thù thắng của Bồ tát gồm một ngàn tám trăm pháp môn vi diệu. Một ngàn tám trăm pháp môn vi diệu đó là gì? Bồ tát tu tập pháp môn Bổn tịnh. Người đạt được pháp môn này không nghĩ rằng mình có chứng đắc pháp Bổn tế. Lại có pháp môn Vô ngôn thuyết, Bồ tát đắc pháp môn này dạo cõi hư không mà không ai có thể hay biết. Lại có pháp môn Vô sở đắc, Bồ tát đắc pháp môn này tuy độ chúng sanh mà không thấy độ. Lại có pháp môn Vô sở trì, Bồ tát đắc pháp môn này biết rõ bổn tịnh, trong ngoài không có chủ tể. Lại có pháp môn Danh hiệu, Bồ tát đắc pháp môn này thấy tất cả các pháp là hư giả không thật. Lại có pháp môn Thành tựu, Bồ tát đắc pháp môn này tuy trụ ở hữu vikhông chấp trước hữu tưởng. Lại có pháp môn Hóa thức, Bồ tát đắc pháp môn này vào cõi vô hình giáo hóa chúng sanh vô hình. Lại có pháp môn Hiện hình, Bồ tát đắc pháp môn hiện vô số hình tướng để giáo hóa chúng sanh. Lại có pháp môn Nhân duyên, Bồ tát đắc pháp môn này vì chúng sanh mà tạo nhân duyên. Lại có pháp môn Pháp thanh, Bồ tát đắc pháp môn này chúng sanh chỉ nghe âm thanh mà không thấy thân Bồ tát. Lại có pháp môn Ly hữu, Bồ tát đắc pháp môn này không thấy pháp chấp đoạn sanh diệt. Lại có pháp môn Giải thoát, Bồ tát đắc pháp môn này không thấy Niết bàn có hướng tịch diệt. Lại có pháp môn Thâm áo, Bồ tát đắc pháp môn này phân biệt kinh điển bí yếu của Như lai. Lại có pháp môn Vô sắc tượng, Bồ tát đắc pháp môn này nhập định Vô sắcgiáo hóa chúng sanh. Lại có pháp mônquán hạnh, Bồ tát đắc pháp môn này nhập định Vô sắcgiáo hóa chúng sanh. Lại có pháp mônquán hạnh, Bồ tát đắc pháp môn này không giảng dạy Phật pháp cũng không trụ xứ sở. Lại có pháp môn Sổ tức, Bồ tát đắc pháp môn này không tính đếm các pháp, ngộ rõ tức vô tức. Như vậy, này Tối Thắng, có một ngàn tám trăm pháp môn vi diệu của Đại Bồ tát như thế. Khi ấy chúng hội nghe chư Phật đó giảng nói pháp môn vi diệu, tất cả đều ở ngay chỗ ngồi đạt được Tận tín pháp nhẫn, vô số chúng sanh theo Tiểu thừa đều phát tâm đạo vô thượng bình đẳng.

Bấy giờ Thế Tôn và ngài Di Lặc thâu nhiếp tướng ánh sáng trở về trong nhan diện. Tâm thương xót của Như Lai vòi vọi như thế, khai hóa chúng sanh không thể tính lường, độ cho mỗi người đều có chí hướng lập tâm kiên cố. Lúc đó chúng hội lại khởi niệm nghĩ: “Các nhân giả, chúng ta cùng nhau đều thấy thế giới vắng lặng kia nhưng nay đột nhiên đều không còn. Đó chẳng phải là ảo hóa như ngựa hoang, bóng nước hay sao! Chẳng phải là cảnh mộng, ảnh trong gương mờ ảo không thật hay sao!”. Khi ấy Thế Tôn biết tâm niệm của chúng hội liền bảo ngài Xá Lợi Phất:

- Thế nào Xá Lợi Phất, ông đã từng được nghe Như Lai vì ông mà giảng nói hạnh Thanh vănpháp hữu vi, là pháp vô vi, là pháp hữu lậu, là pháp vô lậu, là pháp chơn thật, là pháp chẳng chơn thật, là hiện pháp, là chẳng phải hiện pháp, là pháp trần lao, là pháp chẳng phải trần lao, là pháp hữu số, là pháp vô số, là pháp có chấp trước, là pháp chẳng có chấp trước, là pháp hữu tập, là pháp vô tập, là pháp sân hận, là pháp chẳng sân hận, là pháp đáng xả, là pháp chẳng xả, là pháp phàm phu, là pháp chẳng phải phàm phu, là pháp Hiền Thánh, là pháp chẳng phải Hiền Thánh, là pháp ý chỉ thần túc, là pháp chẳng phải ý chỉ thần túc; là pháp căn, lực, giác đạo; là pháp chẳng phải căn, lực, giác đạo; là pháp học, là pháp chẳng học, là pháp Thanh văn, là pháp chẳng phải Thanh văn, là pháp Duyên giác, là pháp chẳng phải Duyên giác, là pháp Bồ tát, là pháp chẳng phải Bồ tát, là pháp Phật, là pháp chẳng phải Phật hay không? Thế nào Xá Lợi Phất, ông từng được nghe Như Lai giảng nói ngôn giáo đó hay không?

Ngài Xá Lợi Phất thưa:

- Bạch Thế Tôn, chẳng có.

Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất:

- Ta nay vẫn còn chúng Thanh văn ở đây nên không giảng nói pháp đoạn trừ lậu có duyên tưởng chấp trước huống chi phải diễn nói pháp bí tạng. Việc ấy chẳng phải như vậy. Nói pháp, luận giảng đều không có chỗ trụ, không nói, không dạy cũng không có pháp tưởng. Pháp mà phát ra âm thanh phải chăng là pháp hiện hữu? Thế nào Xá Lợi Phất, Ta nay sẽ nói ví dụ. Người trí do ví dụ mà tự biết. Vì như kẻ sĩ phu dõng mãnh quán cõi hư không đều biết là vô hình, nhưng lại có người có ý mưu toan dùng các màu sắc để vẽ trên hư không, hoặc vẽ hình chư Thiên, hoặc vẽ hình người, hoặc vẽ hình rồng, quỷ, thần, hình Chiên đà la, hoặc vẽ hình súc sanh, côn trùng bay nhảy. Thế nào Xá Lợi Phất, người đó có ý như vậy có thể được không?

Ngài Xá Lợi Phất thưa:

- Bạch Thế Tôn, chẳng thể được. Rất khó! Rất khó! Việc đó chưa từng có.

Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất:

- Phương tiện giáo hóa của Như Lai không thể nghĩ bàn. Ngôn giáo thi thiết còn khó hơn điều đó. Vì sao như vậy? Tất cả các hành pháp hữu vi, pháp vô vi, pháp hữu lậu, pháp vô lậu, pháp đạo, pháp thế gian, mười hai nhân duyên và sáu thức thân, bốn pháp ý chỉ, bốn pháp ý đoạn, bốn pháp thần túc, năm căn, năm lực, bảy pháp giác ý; chư Phật ở quá khứ, tương lai, hiện tại đều không có hình tượng, không thể thấy được, không thủ xả cũng không tụ tán, không thể nắm bắt nên không thể đắc. Cảnh giới hư không không tịch không hai. Chư Phật Thế Tôn đến cõi nước các phương vì tất cả chúng sanh giảng nói ngôn giáo, thật khôngdanh hiệu mà tạm gọi là danh hiệu, thật khôngvăn tự mà tạm gọi là văn tự, thật khôngpháp tánh nhưng tạm nói là pháp tánh.

Lại nữa, này Xá Lợi Phất, Đại Bồ tát dùng quyền phương tiện thích ứng với chúng sanh, tùy theo căn tánh thuở trước của chúng sanh, điều đó mới thật là khó. Nếu có Tỳ kheo Tăng, Tỳ kheo Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di trọn lòng tin pháp hư vô tịch tĩnh như thế, đầy đủ các hạnh thì có thể thành tựu tướng tốt của Như Lai, từ cõi Phật này đến cõi Phật kia theo hầu cận, cúng dường chư Phật Thế Tôn, lại ở chỗ các Đức Phật đó đắc được pháp Cường ký Tổng trì cũng thông đạt nghĩa lý thâm diệu đó; lại chuyển Phấp luân diễn nói pháp để mọi người đều nghe hiểu. Đại Bồ tát phải nhớ nghĩ đầy đủ bảy pháp không chấp trước. Bảy pháp đó là gì? Ngộ rõ tất cả hiện hữu đều vô sở hữu, không nhiễm chấp hữu cũng không thấy có hiện hữu. Thân tướng hiện tại của mình cũng không có sắc tướng. Thân vô hữu của Phật cũng như vậy, huống gì lại có sắc tướng. Tất cả thế giới không có đầu mối há lại có căn gốc để có thể tìm cầu. Căn tánh của chúng sanh vô cùng vô tận, ai có thể khởi ý đo lường hạnh đó. Pháp tựp nhiên sanh, pháp tự nhiên diệt, lại cũng không thấy có sanh, có diệt. Các pháp như hóa, các pháp như ảo, lại cũng không thấy pháp ảo hóa như ngựa hong. Các pháp tự nhiên, các pháp vô sanh, lại cũng không thấy sanh diệt, trước đoạn. Này Xá Lợi Phất, đó gọi là Đại Bồ tát thành tựu bảy pháp không chấp trước thì có thể đầy đủ tất cả các hạnh, dần dần thành tựu địa vị Bồ tát, ngồi tại cội Phật thọ hàng phục ma oán, tích lũy công đức, đầy đủ tướng sáng. Bồ tát từ đệ nhát trụ địa đến thập trụ địa, trong khoảng thời gian ấy tâm chưa từng thoái chuyển, luôn được chư Phật hiện thân ủng hộ. Trời, Rồng, Quỷ, Thần, Kiền đạp hòa, A tu luân, Ca lau la, Chiên đà la, Ma hưu lặc cúng dường hương hoa, trổi xướng kỹ nhạc, dựng treo phướn lọng giúp Bồ tát thêm công đức, sức oai thần tiếp độ tự thăng đạt đạo Vô thượng chí chơn.

Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất:

- Ta nhớ khi xưa tu Bồ tát đạo, Ta hoặc làm thân trẻ con, hoặc làm thân Phạm Thiên, có khi xuất gia tu tập luật pháp Sa môn, đã cúng dường hằng hà sa số chư Phật Thế Tôn. Ta dùng đầu mắt, quốc tài, vợ con, hoặc dùng tứ sự: thuốc men… cúng dường, chỉ nghe chư Phật luận giảng nghĩa khổ, không, phi thân (vô ngã); hoặc nói sáu pháp Ba la mật, pháp không, vô tướng, vô nguyện; hoặc nói pháp cấm giới học đạo, hoặc giảng dạy pháp nhẫn nhục nhân hòa. Ta có khi ẩn thân suốt kiếp không xuất hiện, hoặc nhập thiền định, toàn thân không lay động đều do nội pháp chưa thành tựu.

Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất:

- Xưa kia Ta từ thế giới vắng lặng tịch tĩnh của chư Phật Thế Tôn đã được nghe pháp thâm diệu đó. Các vị Bồ tát tụ họp đến đúng thời đều đạt được Nhu thuận pháp nhẫn. Khi ấy có hai vạn bốn ngàn chúng sanh ngồi tại pháp hội ngay lúc đó liền đắc Bất khởi pháp nhẫn. Chư Phật quá khứ, vị lai và chư Phật hiện tại cùng tuyên dương, truyền giảng pháp thâm diệu không chỗ trụ, lại cũng không thấy ngã, nhân, thọ mạng; quán sát chúng sanhcăn tánh thuần thục, chúng sanh có tưởng thì dùng pháp vô tưởng để giảng dạy, chúng sanh có niệm thì dùng pháp vô niệm để giáo giới. Nếu có vị thiện nam, thiện nữ tụng đọc, khéo giữ gìn pháp thâm áo này, lại truyền dạy cho người khác thì phước đức, công đức của người ấy không thể xưng lường. Nếu có người tu học đạo Bồ tát, tâm từ, bi, hỷ, hộ (xả) thương xót tất cả chúng sanh, muốn họ thành tựu lên đến Bồ tát vị thì phải tu trì pháp tạng thâm áo này. Nếu có vị thiện nam, thiện nữ đầy khắp ba ngàn thế giới thọ trì năm giới, tu tập đầy đủ mười thiện hạnh, bốn thiền, bốn đẳng tâm, bốn pháp Không thì không bằng một người được nghe pháp thâm áo này. Nếu vị ấy không thể tư duy nhiều thì cũng trong vòng bảy ngày, nếu không thể trong vòng bảy ngày thì trong sáu, năm, bốn, ba cho đến một ngày; nếu không thể trong vòng một ngày thì chỉ trong khoảnh khắc khảy móng tay có thể (đạt đạo). Thế nào Xá Lợi Phất, nếu hàng Thanh văn của ông đầy khắp mười phương thế giới cúng dường tứ sự: y phục, thức ăn uống, đồ nằm giường chiếu và thuốc men trị bệnh suốt trong ức ức kiếp, lại hơn ức ức kiếp đó nữa thì cũng không bằng một người nghe pháp thâm áo này. Vì sao như vậy? Vì pháp đó là pháp tập hợp tất cả pháp tạng trân bảo của Bồ tát. Nếu diễn nói nghĩa một câu, nghĩa của vô thường, khổ, không, phi thân (vô ngã), ba pháp môn giải thoát và bốn pháp minh tuệ; pháp không, vô tướng, vô nguyện; hạnh hư tịch, tất cả các hạnh không sanh, không khởi, không diệt; bậc Đại Bồ tát như thế thì được an ổn, được vô lượng đức hạnh, phước không thể hạn lượng, không gì có thể ví dụ so sánh được. Nếu có Bồ tát dùng thân không ngăn ngại giới hạn tu tập pháp hữu vi, giáo hóa chúng sanh khiến họ được mãn nguyện, nhưng các loại chúng sanh đó chưa từng được nghe đạo pháp vô vi, muốn đạt được pháp thâm áo của Bồ tát thì việc đó không thể có. Nếu có Bồ tát nhập định ý chánh thọ từ vô lượng pháp tuyên duyên truyền bá kinh pháp thâm áo (để chúng sanh) nghe pháp vô vi, các pháp hư không đều vô sở hữu thì mới chính là nghĩa lý sâu xa, không pháp nào có thể sánh bằng. Cho nên Bồ tát nếu muốn đầy đủ nguyện của chúng sanh, muốn nói nghĩa lý này cho người khác, lại muốn tuyên xướng pháp bí yếu của Bồ tát Như Lai, muốn khiến chúng sanh thành tựu chứng đắc Tứ quả thì phải luôn nhớ nghĩ học tập pháp thâm yếu này.

Đức Phật lại bảo ngài Xá Lợi Phất:

- Thuở xưa Ta vì thực hành Bồ tát đạo nên đi khắp nơi tham học, luôn tu tập sáu pháp Ba la mật, bốn pháp đẳng tâm, tâm đại từ thương tưởng chúng sanh, diễn nói pháp nghĩa vị cam lộ, hoặc diễn nói ngôn giáo, hoặc im lặng như Hiền Thánh, hoặc hiện thần túc, hoặc dùng pháp quyền phương tiện khéo léo, hoặc dùng năm đạo thần thông, hoặc dùng đạo Nhất thừa đi khắp nơi truyền giảng, hoặc hiện thân Bích chi mang bát bay lên hư không, hiện thân Thanh văn nhận lãnh ngôn giáo, hoặc hiện thân trẻ con như thể không biết gì. Xá Lợi Phất nên biết, Bồ tát giáo hóa dùng phương tiện hiện hóa khắp nơi không thể cùng tận, tùy theo tập tục thế gian, tùy theo tánh loại mà vào, thể nhập tánh của đất cũng thể nhập tánh của nước, thể nhập tánh của lửa cũng thể nhập tánh của gió. Bồ tát phân biệt nguồn gốc của bốn đại đều không có chủ tể, phân biệt trong ngoài địa giới là hư tịch. Thủy, hỏa, phong, giới cũng như vậy. Bồ tát lại quán chúng sanh có dâm, nộ, si hay không có dâm, nộ, si; có tâm ái dục hay không có tâm ái dục, có ý kiêu mạn hay không có ý kiêu mạn, có tâm định hay không có tâm định, có tâm loạn hay không có tâm loạn. Bồ tát đều phân biệt rõ, hoặc dùng pháp An ban thủ ý, hoặc dùng pháp quán ác lộ bất tịnh, hoặc dùng pháp Niết bàn diệt tận, hoặc dùng pháp hữu vi, vô vi; hoặc dùng pháp hữu lậu, vô lậu; hoặc dùng pháp thế gian, hoặc dùng pháp đạo, hoặc dùng đạo thần thông lậu tận để giáo hóa họ. Ta từng đến, ở tại thế giới Thông Tuệ vì một chúng sanh nhập thiền định thân tâm bất động, không màng khổ khó chờ đợi để giáo hóa. Chúng sanh đó đâu phải ai khác. Ông chớ có nghĩ khác. Ông muốn biết người đó thì nay chính là Bồ tát Tối Thắng. Bồ tát Tối Thắngthế giới Thông Tuệ sanh vào nhà giàu sang, do công đức tích lũy từ xưa nên không sanh vào nhà nghèo túng khốn khó, một đời, hai đời cho đến trăm ngàn đời, cho đến mười hai trung kiếp khi sanh luôn ở tại nhà giàu sang, không ở chỗ thấp hèn. Ta cũng ở cách đó không xa, nhập định quán tâm ý mình suốt trăm ngàn kiếp mà không ngộ được một câu pháp thâm áo. Sau đó Ta mới có thể tự ngộ, tâm hoát nhiên khai ngộ, tự trở về tự thân, mong được nghe vô lượng kinh pháp thâm diệu, rồi vì chúng sanh nói pháp tạng bí yếu vô tận, gọi là Pháp tạng vô tận phân biệt âm thanh, hoặc dùng một âm thanh làm vang khắp ba ngàn đại thiên thế giới, hoặc dùng một câu mà ứng hợp với tâm niệm tất cả chúng sanh, âm thanh từ ngôn giáo phát ra vượt hơn cả Phạm âm. Lại có pháp Lục thông vô tận tạng, đến cõi nước chư Phật mười phương thừa sự, cúng dường các Đức Như Lai Thế Tôn, nhận lãnh pháp thâm diệu khó có, tu tập các khổ hạnh, hơn thế nữa còn tinh tấn trì giới, nhẫn nhục; tinh tấn tu tập pháp thiền định nhất tâm, pháp trí tuệ phương tiện khéo léo. Lại có pháp tạng vô tận khéo đạt được bốn pháp ý chỉ. Bốn pháp ý chỉ là pháp hạnh vô lậu. Pháp ý chỉ là con đường tắt đưa đến Niết bàn. Ngoài ra, pháp tu tập của phàm phu còn có bốn pháp ý đoạn, bốn pháp thần túc, năm căn, năm lực, bảy pháp giác ý, tám đạo Hiền Thánh, quả chứng báo ứng đều vô sở hữu cũng không thấy có. Đó gọi là pháp tạng vô tận của Bồ tát. Pháp nào là pháp rốt ráo ánh sáng bình đẳng, khéo giảng bổn tánh là pháp rốt ráo? Tu tập pháp tánh tướng là pháp rốt ráo? Tâm tư duy là pháp rốt ráo? Tư duy năm ấm là pháp rốt ráo? Thấy rõ mười hai nhân duyên là pháp rốt ráo? Biết trong ngoài bốn đại là pháp rốt ráo?

Ngài Xá Lợi Phất thưa:

- Bạch Thế Tôn, chẳng phải. Các pháp mà Như Lai vừa nói chẳng phải là pháp rốt ráo.

Đức Phật lại bảo ngài Xá Lợi Phất:

- Lại có bốn pháp sự giáo hóa vô tận, là pháp môn biện tài. Bốn pháp ấy là gì? Một là phân biệt trí tuệ vô tận. Hai là phân biệt trí tuệ sáng vô tận. Ba là tư duy nhớ rõ pháp Tổng trì. Bốn là phân biệt biện tài không ngoài. Này Xá Lợi Phất, đó gọi là bốn pháp tạng vô tậnBồ tát phải tu hành. Lại có bốn pháp tạng vô tận không thể thọ trì. Bốn pháp ấy là gì? Một là tâm tánh khó giữ gìn, phóng dật không an trụ. Hai là tâm đạo khó giữ gìn, bổn tánh rất sâu xa. Ba là thể nhập các pháp Bổn tế tu tập không rốt ráo. Bốn là thể nhập tâm ý chúng sanh biết rõ pháp vô. Đó gọi là tạng vô tận của Đại Bồ tát.

Đức Phật lại bảo ngài Xá Lợi Phất:

- Bồ tát lại có bốn pháp tạng vô tận, là pháp môn biện tài. Bốn pháp ấy là gì? một là chí nguyện kiên cố không chấp trước theo tà giáo. Hai là bổn hạnh thanh tịnh không khởi trần lao. Ba là theo ngôn giáo của chư Phật quá khứ an lập tâm nhẫn vô hại. Bốn là tùy duyên tạo hạnh không mất thệ nguyện của mình. Đó gọi là pháp môn biện tài, pháp tạng vô tậnĐại Bồ tát ở dưới cội đạo thọ hàng phục ma oán, ý không khiếp nhược. Lại có bốn pháp tạng vô tậnpháp môn vận chuyển bánh xe Chánh pháp. Bốn pháp ấy là gì? Một là lời nói chí thành không hủy báng người khác. Hai là ngộ rõ rốt ráo pháp duyên khởi, biết rõ các pháp từ đâu sanh. Ba là giáo huấn chúng sanh trọn không có tâm mệt mỏi lười chán. Bốn là phân biệt trí tuệ sáng thăng lên Bồ tát vị. Đó gọi là pháp tạng vô tận không hủy pháp giới của Bồ tát, là pháp Đại Bồ tát luôn tu tập thực hành.

Đức Phật lại bảo ngài Xá Lợi Phất:

- Đại Bồ tát lại có bốn pháp tạng vô tận thành tựu pháp giới. Bốn pháp ấy là gì? một là ngộ rõ pháp giới, thông đạt đường qua lại. Hai là ngộ rõ pháp tánh biết rõ là vô sở hữu. Ba là phân biệt nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn. Thế nào là nhục nhãn? Quán thấy hình sắc không khởi nhãn thức. Thế nào là thiên nhãn? Thiên nhãn là nhìn hình sắc của chư Thiên không thấy báo ứng. Tuệ nhãn phân biệt không thấy trần lao. Pháp nhãn thanh tịnh đầy đủ sáu pháp Ba la mật. Phật nhãn quán thấy thông đạt rõ ràng tướng, vô tướng. Bốn là ngộ rõ báo ứng, không chấp trước ba cõi. Đó gọi là pháp tạng vô tận thành tựu pháp giới của Đại Bồ tát.

Đức Phật lại bảo ngài Xá Lợi Phất:

- Đại Bồ tát lại có bốn pháp tạng vô tận. Bốn pháp ấy là gì? Một là tinh tấn nhưng tâm ý không định, hai là có tâm cầu trí tuệ hay không có tâm cầu trí tuệ, ba là ý hữu tận hay ý vô tận, bốn là hữu đắc ý hay vô đắc ý, Bồ tát đều phân biệt trong ngoài đều vô sở hữu. Cho nên, này Xá Lợi Phất, Bồ tát thực hành phương tiện đi khắp nơi giáo hóa phải lấy hạnh tinh tấn làm đầu, tu hành cấm giới, lấy sức tinh tấn làm gốc, từ chư Phật Thế Tôn cầu tích lũy công đức, nghe pháp hoan hỷ tập hợp trí tuệ sáng, truyền bá đạo giáo nhưng cũng không thấy có ngôn giáo, các pháp tương lai, quá khứ hay hiện tại. Trí tuệ quán kiên cố mới là giáo hóa chơn thật. Như Lai giảng nói không dùng văn tự. Văn tự thanh tịnh thì nói pháp cũng thanh tịnh. Đó là tích lũy công đức trí tuệ, thành tựu tâm nhẫn nhục kiên cố, tâm an trụ không thoái chuyển. Này Xá Lợi Phất, đó gọi là không vì tham sắc cũng không nương tựa sắc, chẳng phải không có sắc, ngộ rõ sắc vô sắc. Vì vậy gọi là pháp tánh. Giả sử chúng sanh ở ba ngàn đại thiên thế giới xông hương, mang phướn lọng, lụa gấm láng mịn đến cúng dường, Bồ tát cũng không vì thế khởi niệm vui mừngxa lìa, tâm giải đãi, không có tâm khiếp sợ, trừ bỏ niệm tham loạn và sân khuể, thành tựu tâm Chánh giác bình đẳng, truyền giảng pháp bí yếu thì mới thành tựu Phật quả. Bồ tát xả bỏ thân mạng, an lập tâm hoằng thệ thay chúng sanh nhận lãnh khổ não cho họ, siêng năng vui với pháp, hướng dẫn chúng sanh đi vào nhà Chánh pháp tu tập đạo. Chư Thiên chứng minh; Trời, Rồng, Quỷ, Thần, Kiền đạp hòa, A tu luân, Ca lưu la, Chiên đà la, Ma hưu lặc, Nhân và Phi nhân đều đến cúng dường. Các vị thiện năm, thiện nữ phụ tá khuyến trợ Bồ tát thành Phật, phát trọng nguyện kiên cố thành tựu trí tuệ không thoái chuyển, độ những kẻ có nhân duyên rơi vào ba đường ác, không nhận thức phân biệt, không giác ngộ cũng không đạt pháp rốt ráo. Này Xá Lợi Phất, đó gọi là Đại Bồ tát tu tập pháp vô tưởng niệm, tu tập pháp khôngngôn giáo nên mới đạt được Thánh giáo của Như Lai.

Bấy giờ các vị ngồi trong hội nghe pháp sâu xa nay đều phát tâm vô thượng bất thối chuyển địa. Khi ấy ngài Xá Lợi Phất ở trước Đức Phật thưa:

- Các vị ngồi trong hội nghe pháp, các vị ấy phải chăng rất lâu nữa mới được thành Phật?

Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất:

- Các vị đó trong hai trăm vô ương số kiếp nữa sẽ thành Phật, đều đồng một hiệu là Vô Cấu Siêu Đức Như Lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Thành, là Bậc Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Đạo Pháp Ngự, Thiên Nhân Sư, hiệu là Phật, Thế Tôn. Thế giới tên là Thanh Tịnh, kiếp tên là Nan Độ. Thế giới của các Đức Phật ấy chỉ có Nhất thừa, không có tên Thanh văn, Bích chi Phật, thường luận giảng về vô lượng đức hạnh của Bồ tát. Cõi ấy đất đai bằng phẳng, không có núi sông, gò nổng, suối khe, hang lạch; có vô số loại màu sắc như y cõi trời, không dùng ánh sáng của mặt trời, mặt trăng mà tự soi sáng bằng ánh sáng trên thân tướng phản chiếu lẫn nhau. Chúng sanhcông đức rộng lớn, niệm nghĩ vô số tưởng. Vì sao như thế? Là vì pháp giới ấy không có sai biệt, trái nghịch. Chúng sanhcõi Phật đó ăn cam lộ tự nhiên, vận y kiếp ba, ở chỗ an lạc như chư Thiêncõi trời thứ sáu. Đất đai màu mỡõ, ngũ cốc đầy ngập, có đầy đủ bảy loại báu: vàng, bạc, xa cừ, mã não, chơn châu, hổ phách. Có vị Chuyển luân Thánh vương tên Bạch Vũ Hoa, có bảy thứ báu đi theo. Bảy thứ báu đó: Một là bánh xe báu. Bánh xe báu này ngang dọc mười bốn khuỷu tay, toàn bằng bảy báu. Bánh xe có ngàn tăm. Mỗi cây tăm đều liên kết với nhau. Ý của vua muốn sang phương Đông, bánh xe liền đi trước. Hai là voi báu. Voi báu này màu sắc như tuyết trắng, miệng có sáu ngà; mỗi ngà đều liên kết với nhau. Vua muốn cưỡi voi dạo xem thế giới, trong khoảnh khắc khảy móng tay liền đến ngay thế giới đó không khó khăn. Ba là ngựa báu. Ngựa báu này thân màu xanh biếc, lông đuôi màu đỏ, chạy trên không chân không chạm đất. Ngựa này hí một tiếng thì thế giới chấn động, mọi loài đều nghe. Ý vua muốn cưỡi ngựa đi về bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc thì trong khoảnh khắc khảy móng tay đều đi khắp nơi. Bốn là ngọc nữ báu. Ngọc nữ báu này, thân tỏa mùi hương của hoa sen Ưu bát, miệng tỏa mùi hương Ngưu đầu chiên đàn. Thân toàn là thịt không có xương, thân tướng đoan chánh, không mập, không ốm, không cao, không thấp, không trắng, không đen, có đầy đủ dáng thùy mị nữ tính và sáu mươi bốn pháp biến hóa. Ý vua muốn gần gũi thì ngọc nữ liền hiện trước mặt. Năm là ngọc báu. Ngọc báu này ngang ba nhận, cao bảy nhận. Ý vua muốn thử ngọc báu này nên lúc đêm tối không người triệu tập bốn loại binh mã đến, treo ngọc báu này trên đài cao vạn trượng. Ánh sáng của ngọc đó soi sáng khắp thế giới, không nơi nào không sáng. Ngọc ấy tự do qua lại theo ý niệm của vua. Sáu là vị thần báu cai quản kho tàng. Khi đó Chuyển luân Thánh vươngý muốn đi dạo các nơi trên thế giới. Trên đường đi băng qua một biển rộng sâu không đáy, ý vua muốn thử vị bảo thần cai quản kho báu liền truyền lệnh dừng ngay giữa biển: “Ta muốn tạm nghỉ ngơi”, rồi lệnh cho vị bảo thần: “Nay ta muốn vật báu vàng, bạc, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, thủy tinh, lưu ly. Khanh có thể làm được không?”. Vị bảo thần cai quản kho tàng liền quỳ ngay trên mặt nước, dùng móc câu dưới nước lên tùy theo ý niệm bảy báu tự đến. Bảy là vị bảo thần thống lãnh quân đội. Nói về vị bảo thần thống lãnh quân đội, khi đó ý vua muốn tập hợp bốn loại quân binh liền bảo vị bảo thần thống lãnh quân đội: “Ta muốn kiểm tra bốn loại quân binh”. Ngay lập tức vị bảo thần ấy không dời chuyển mà có thể làm được ngay. Vị bảo thần lại tâu vua: “Không rõ ý Thánh vương muốn bao nhiêu binh?”. Vua nói: “Ta cần trước, sau, phải, trái, mỗi phía đều có một vạn hộc binh”. Khi ấy vị bảo thần thống lãnh quân đội theo lệnh vua, như lời vua nói, truyền bốn loại binh tập hợp. Bốn loại binh đó là tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh. Mỗi loại quân binh đều sắp theo hàng mười. Bốn loại quân binh đều như thế.

Bấy giờ Đức Phật bảo ngài Tối Thắngchúng hội:

- Vị Chuyển luân Thánh vương lúc đó đâu phải ai khác. Chớ có nghĩ khác! Vì sao? Vì đó chính là thân của Bồ tát Tối Thắng hiện nay. Lúc đó Chuyển luân Thánh vương có sức thần biến hóa, lời nói êm dịu, nhân dân đều vâng theo pháp âm tâm vắng lặng đạm bạc. Vua giảng nói pháp Ba la mật, pháp bốn ân, bốn đẳng âm, sáu trọng pháp, pháp quyền phương tiện khéo léo nhập Diệt tận định, pháp lìa dục không cấu nhiễm; pháp không, vô tướng, vô nguyện; pháp không sanh diệt, pháp không chấp trước. Nếu có chúng chư Thiên, người thế gian ở trong cõi đó còn mê mờ, vua phân biệt thánh tuệ đạo căn vô lậu, hoặc dùng thanh âm truyền dạy pháp sáng, hoặc dùng pháp khổ đế truyền dạy đưa họ vào pháp luật, hoặc dùng thần túc biến hóa ánh sáng để truyền dạy, muốn đưa chúng sanh dần dần đạt đến rốt ráo.

Đức Phật bảo ngài Xá Lợi Phất:

- Tất cả chúng sanh đều không có tướng ngã, nhân. Các pháp vốn thanh tịnh, các pháp không hình tướng. Không chấp đoạn pháp thì các pháp không hoại. Quán rõ cõi Phật đều không sở hữu. Lại nữa, này Xá Lợi Phất, mười hai nhân duyên, năm ấm, sáu suy đều không hình tượng. Tám loại âm thanh của Như Lai không phải thanh âm của nam, không phải thanh âm của nữ, không phải thanh âm mạnh to, không phải thanh âm nhẹ nhàng, không phải thanh âm trong trẻo, không phải thanh âm khàn đục, không phải thanh âm hùng tráng, không phải thanh âm lả lướt. Đó là do (Như Lai) thọ pháp đàn độ nên chứng được thật quả, ngộ biết thanh tịnh chiếu khắp pháp giới. Như Lai hoặc dùng một âm mà vang khắp ba ngàn thế giới mười phương. Ta từng đến trụ tại thế giới Dã Mã cách đây bảy mươi hai ức hằng hà sa số các cõi Phật. Ở nơi đó, Đức Như Lai phát ra âm thanh lớn vang khắp cõi Phật. Trăm ức chúng sanh nghe được âm thanh đó đều an lập tâm không thoái chuyển, đều phát tâm đạo Vô thượng chánh chơn. Khi ấy vị đệ tử của Ta tên Mục Liên, đứng đầu về thần túc, lên trên một ngọn núi Tu di, lại lên trên một ngọn núi Tu di nữa. Như thế trải qua nhiều kiếp chân vị ấy không chạm đất. Lúc đó Mục Kiền Liênthế giới Dã Mã phát ra âm thanh lớn vang khắp ba ngàn thế giới mười phương. Trong âm thanh đó diễn nói như vầy: “Như Lai nói pháp hạnh chưa từng có cũng không thấy hạnh, chẳng phải không có hạnh. Ngộ rõ hạnh, vô hạnh nên gọi là thanh tịnh. Các pháp không hình tượng cũng không có âm vang. Đức Như Lai lại nói pháp Tứ đế pháp tánh như thị, giải rõ khổ, vô khổ, không trụ khổ. Trí thể nhập như thế gọi là khổ trí. Nhân Tập nên giải rõ nguồn gốc của Tập, vô Tập. Do không thấy có Tập nên gọi là Tập trí. Biết nơi chốn của Tận, do Tận mà sanh, do Tận mà diệt, cũng không thấy Tận. Đó gọi là Tận trí. Đạo vô vi là không thấy chỗ trụ, là pháp được chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai ca ngợi. Pháp của Đức Phật hiện tại nói không có đạo. Pháp của chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai cũng như thế. Đạo không có hình tượng, không thể nhìn thấy. Ngộ rõ đạo, vô đạo nên gọi là Đạo trí. Đó gọi là Đại Bồ tát phân biệt nghĩa của đạo”. Lúc ấy tất cả loài chúng sanhthế giới Dã Mã đó chỉ nghe âm thanh mà không thấy thân tướng. Đại chúng đó đều ngạc nhiên tự nghĩ: “Đây là người nào mà phát ra âm thanh chấn động thế giới, lại còn diễn nói nghĩa lý thâm áo?”. Lúc ấy Đức Như Lai đó biết tâm niệm của chúng sanh liền bảo Mục Liền: “Ông hãy xả thần túc, hiện lại thân tướng ở trước chúng sanh kia”. Mục Kiền Liên liền nhập Như kỳ tượng đột nhiên hiện thân trở lại trong đại chúng. Các vị Bồ tát ở đó, thân cao tám vạn bốn ngàn do tuần. Thân Phật cao mười sáu vạn tám ngàn do tuần. Chúng hội trông thấy Mục Liên thân vận y, mang bát, tướng trạng giống như các vị Sa môn, ngạc nhiên, lạ lùng chưa từng có tự hỏi: “Đây là thân tướng gì? Là súc sanh hay là người?”. Lúc đó Đức Phật ấy biết tâm niệm của chúng hội liền nói với chúng hội: “Các ông chớ sanh tâm đó! Vì sao như vậy? Cách đây bảy mươi hai ức hằng hà sa số cõi Phậtcõi Phật tên là Nhẫn. Cõi đó có Đức Phật tên là Thích Ca Văn Như Lai Chí Chơn Đẳng Chánh Giác, đầy đủ mười hiệu, ở trong đời ngũ trược xuất hiện thế gian, luôn dùng văn tự truyền dạy cho chúng sanh. Con người thọ trăm tuổi, quá hơn nữa không có bao nhiêu. Đức Phật đó dùng pháp Tứ đế chí chơn phân biệt nghĩa lý nên giảng nói pháp trí tuệ không trụ xứ, không chấp trước. Tỳ kheo Mục Liên là vị đệ tử bậc nhất thần thông của Đức Phật đó”. Đức Phật ấy lại bảo Mục Liên: “Ông hãy hiện thần túc. Đại chúng trong hội này có ý muốn xem”. Khi ấy Mục kiền Liên vâng lời Phật dạy liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đầu mặt lễ chân Phật rồi đột nhiên biến mất, nhập Vô ngại tam muội định ý, đỡ lấy toàn bộ cõi nước của chư Phật ở mười phương đặt trên bàn tay phải, tay trái lấy cõi Phật đó treo giữa hư không. Mỗi vị trong hội đều thấy thần túc của Mục Liên, muốn thấy thân tướng của Mục Liên nhưng không thể thấy được. Bấy giờ các vị Bồ tát đó suy nghĩ nên tự đến quy mạng Đức Phật Thế Tôn kia, cầu mong Đấng Thiên Sư sẽ hiện cứu tế. Đức Phật bảo không khổ thì hoàn toàn không có tổn giảm. Khi đó Đức Phật ấy bảo Mục Liên: “Mục Liên hãy dừng lại! Hãy xả thần túc đó để thô thức của các Bồ tát này trở về đạo tích”. Lúc ấy Mục Liên vâng lời dạy của Đức Phật liền xả thần túc trở lại chỗ ngồi như trước. Các vị Bồ tát đó ở trước Đức Phật thưa: “Đức Phật Thích Ca Văn ở cõi Nhẫn kia dùng giáo pháp gì để hóa độ? Nói pháp như thế nào? Lại dùng đạo gì để giáo huấn chúng sanh? Dùng quyền trí gì để qua lại dạo khắp?”. Đức Phật bảo các Bồ tát: “Chúng sanh cõi đố tánh cang cường khó hóa độ, luôn tranh luận phải trái với nhau, mỗi người đều tự cho mình là tôn quý. Do đó Đức Như Lai dùng giáo lý khổ để đưa họ vào cửa đạo. Giống như rồng chúa và ác thú ngang ngạnh không thuần phải dùng gậy đánh khiến chúng biết khổ đau, sau đó chúng mới thuần hòa chịu để cho voi cưỡi. Chúng sanhquốc độ đó cũng như vậy, Đức Phật dùng vô số ngôn giáo để độ thoát cho họ, hoặc dùng khổ âm nói âm thanh khổ. Tập, Tận, Đạo cũng như vậy”. Bấy giờ các Bồ tát khen là việc chưa từng có: “Lành thay! Lành thay! Bạch Đức Thế Tôn, hạnh tinh tấn khổ khó của Đức Phật Như Lai ấy thật là khổ khó, ở trong đời nhiệt não như năm đỉnh nước sôi có thể giáo hóa chúng sanh, truyền giảng đạo lớn, là pháp diệt tận, vắng lặng khiến chúng sanh đều quy về giải thoát”.

--- o0o ---

 

Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 22158)
Đã phát khởi chí nguyện Đại thừa, lại kiên quyết thực hiện chí nguyện ấy, đó thực sự là cung cách hùng dũng của con sư tử đang vươn mình, và do đó phải được nhìn đến bằng cung cách của con voi chúa.
(View: 22362)
Vua và phu nhân gởi thơ cho Thắng Man, đại lược ca ngợi công đức vô lượng của Như Lai, rồi sai kẻ nội thị tên Chiên Đề La đem thư đến nước A Du Xà... HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 1336)
Tất cả các nhà đạo học và thế học muốn thành tựu kết quả tốt đẹp trong cuộc đời, thì trước hết, họ phải trải qua quá trình kham nhẫn, nỗ lực, tu, học, rèn luyện tự thân, giúp đỡ, và đem lại lợi ích cho tha nhân.
(View: 5469)
Bảy Đức Thế Tôn quá khứ từ Thế Tôn Tỳ Bà Thi, Thế Tôn Thích Ca, và chư Thế Tôn vị lai đều chứng ngộ Vô Thượng Bồ Đề từ sự chứng ngộ sự thật Duyên khởi.
(View: 4410)
Trong các bản Kinh Pháp Cú, phổ biến nhất hiện nay là Kinh Pháp Cú Nam Truyền, tức là Kinh Pháp Cú dịch theo Tạng Pali.
(View: 2851)
Có lần Đức Phật sống tại Rajagaha (Vương Xá) trong Khu Rừng Tre gần Nơi Nuôi Những Con Sóc. Lúc bấy giờ, vị Bà La Môn tên là Akkosa Bharadvaja đã nghe người ta đồn đãi như sau:
(View: 2207)
Tôi nghe như vầy. Có lần Đức Phật, trong khi đi hoằng pháp ở nước Kosala nơi có một cộng đồng rất đông Tỳ Kheo, ngài đi vào một tỉnh nhỏ nơi cư trú của người Kalama
(View: 7431)
Quy Sơn Cảnh Sách Học Giải - Tác Giả: Thiền Sư Quy Sơn Linh Hựu; Thích Thiện Trí (Thánh Tri) Phỏng Việt Dịch và Viết Bài Học Giải
(View: 2740)
Kinh này khởi đầu bằng lời người Bà La Môn hỏi rằng làm thế nào người ta có thể tự thanh tịnh hóa khi nhìn thấy một vị Thượng nhân đã Thanh tịnh,
(View: 38448)
Nguyên xưa ngài Quán Nguyệt Pháp sư đem hai thời kinh khóa tụng: Mai đóng chung và chiều nhập chung lại làm một đại thể làm một tập lớn. - Chú giải: Ngài Quán Nguyệt; Dịch giả: HT Thích Khánh Anh
(View: 3420)
Tôi nghe như vậy: Một thời, đức Thế Tôn trú tại thành phố Śrāvastī (Xá-vệ), nơi rừng cây Jeta (Kì-đà), vườn của Ông Anāthapiṇḍada (Cấp-cô-độc),
(View: 2666)
Bài kinh này trong đoạn cuối (bài kệ 787), câu “không nắm giữ gì, cũng không bác bỏ gì” được Thanissaro Bhikkhu ghi chú rằng ...
(View: 3285)
Lúc bấy giờ, Bồ tát Đại sĩ Akṣayamatir[1] từ chỗ ngồ đứng dậy, vắt thượng y[2] qua một bên vai, chắp hai tay[3] hướng về đức Thế Tôn và thưa rằng:
(View: 2957)
Khi khảo sát về PHÁT BỒ-ĐỀ TÂM, chúng tôi tự nghĩ, chúng ta cần phải biết Bồ-Đề là gì? Bồ-Đề Tâm là thế nào? Phát Bồ-Đề Tâm phải học theo những Kinh, Luận nào?
(View: 3399)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(View: 4378)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(View: 11826)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(View: 3136)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(View: 2283)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(View: 4415)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(View: 4564)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(View: 4701)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(View: 5560)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(View: 5719)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(View: 4446)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(View: 4846)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(View: 4770)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(View: 6438)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(View: 6594)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(View: 4231)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(View: 5387)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(View: 5651)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(View: 7697)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(View: 5477)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(View: 5766)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(View: 4856)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(View: 5497)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(View: 5091)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(View: 9963)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(View: 4842)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(View: 4937)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(View: 5453)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(View: 5433)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(View: 7223)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(View: 6427)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(View: 6104)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(View: 6571)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(View: 7741)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(View: 5495)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(View: 6091)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(View: 9310)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(View: 6308)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(View: 10283)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(View: 9668)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(View: 6550)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(View: 22472)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(View: 5549)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(View: 9255)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(View: 6794)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(View: 6357)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
Quảng Cáo Bảo Trợ