Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,849,451
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Quyển Thứ Nhất

04 Tháng Mười Hai 201300:00(Xem: 6102)
Quyển Thứ Nhất


KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI


Đại Chánh Tân Tu, Bộ Đại Tập, số 0402

Nguyên tác: [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10]

- Hán dịch: Thiên Trúc Tam Tạng Pháp Sư Ba La Pha Mật Ða La - Ðời Ðường

 - Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ - Phan Rang

Chứng nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh

---o0o---


Quyển thứ nhất. 

PHẨM THỨ NHẤT : HÀNG MA 

Tôi nghe như vầy, một thuở đức Thế Tôn ở bên bờ ao Ca-lan-đà trong rừng trúc tại thành Vương Xá, cùng với chúng Ðại Tỳ kheo gồm một ngàn người, đều là bậc A-la-hán, các lậu đã hết, việc làm đã thành tựu, bỏ các gánh nặng, đạt được lợi mình, hết các kết sử, đều được Chánh tri, tâm thiện giải thoát. Và cùng với Ðại Bồ tát, gồm một vạn người. Những vị ấy tên là Trì Tu Di Ðảnh đồng chơn, Thủy Trí đồng chơn, Ðịa Trí đồng chơn, Thắng Trí đồng chơn, Không Trí đồng chơn, Minh Trí đồng chơn, Ðiện Trí đồng chơn, Văn Thù Sư Lợi đồng chơn, Hàng Phục Thắng đồng chơn, Thủy Thiên đồng chơn, Vô Cấu đồng chơn, Ðại Bồ tát Di Lặc.v.v... mà là thượng thủ. Tất cả đều được Sằn-đề đà-la-ni tam-ma-đề, đầy đủ trí tất cả pháp không chướng ngại, đối với tất cả chúng sinh lòng các vị ấy bình đẳng, qua khỏi các ma giới, giỏi vào tất cả cảnh giới trí của Như Lai, đầy đủ trí đại từ đại bi thiện giải phương tiện... Các vị ấy đều theo đức Phật trụ ở bên bờ ao Ca-lan-đà trong rừng trúc tại đại thành Vương Xá.

Lúc bấy giờ, đại thành Vương Xá có hai người ngoại đạo thông tuệ minh đạt quá hơn mười tám minh xứ, cùng ở với năm trăm người. Một người tên là Ưu ba Ðể Sa, người thứ hai tên là Câu Lợi Ða mà là thượng thủ của nhóm người đó. Họ cùng nói với nhau rằng : Hợp đồng uống cam lộ với nhau. Lúc ấy, trưởng lão A Thuyết Thị (người đời Ðường gọi là Mã Ðằng) vào đầu ngày, mặc áo mang bát, vào đại thành Vương Xá khất thực. Ưu Ba Ðể Sa thấy ngài A Thuyết Thị thì sinh lòng hy hữu : “Ta chưa từng thấy người uy nghi tường tự như vị Sa môn này, lại không có người như vị Tỳ kheo đó. Ta nên đến hỏi xem vị trưởng lão này lấy ai làm thầy, nương ai xuất gia, nương ai cầu pháp ?” Lúc ấy, ngài Ưu Ba Ðể Sa liền đến chỗ vị Tỳ kheo đó, đến nơi thăm hỏi đủ thứ, rồi lui về trụ một bên mà bạch trưởng lão A Thuyết Thị rằng :

- Ngài lấy ai làm thầy ? Nương ai xuất gia ? Nương ai cầu pháp ?

Lúc bấy giờ, trưởng lão A Thuyết Thị đáp ngài Ưu Ba Ðể Sa rằng :

- Có vị dòng họ Thích, dũng mãnh tinh tấn, có thể tu đại khổ hạnh, ở tất cả chỗ được tự tại tối thượng, đã qua bể cả vô biên sanh tử, nay đem lòng Ðại bi muốn độ chúng sinh, hiệu danh là Phật. Ngài giác ngộ chúng sinh, làm cạn khô bể khổ, không ai sánh bằng. Tôi thường qui y cầu pháp Vô cấu.

Ngài Ưu Ba Ðể Sa nói rằng :

- Bậc thầy đó vì ngài nói những pháp gì ? Lấy gì dạy bày ?

Trưởng lão A Thuyết Thị đáp ngài Ưu Ba Ðể Sa rằng :

- Hay thay ! Khoái thay ! Hãy lắng nghe ! Tôi sẽ vì ngài giải nói !

Liền nói kệ rằng :

Nghiệp phiền não nhân duyên

Thế gian như vậy chuyển.

Nghiệp phiền não chẳng sinh

Ðạo sư như vậy nói !

Sinh, lão, tử hoại tan

Giải thoát đó Vô thượng

Như vua trâu dũng cường

Như Lai tự ngộ nói.

Lúc bấy giờ, ngài Ưu Ba Ðể Sa nghe pháp này rồi thì xa trần lìa cấu, pháp nhãn thanh tịnh, đắc quả Tu Ðà Hoàn mà nói kệ rằng :

Tôi chứng pháp giải thật

Cạn hẳn dòng tử sinh.

Cái gọi Như Lai nói

Cam lộ tạng khó khăn.

Chúng sinh được dứt khổ

Trí tuệ hay trừ tan

Các pháp tu đủ thứ

Hay tạo đạo rốt cùng.

Hành đạo rốt cùng ấy

Ðược Vô Ðẳng Niết bàn.

Lúc bấy giờ, ngài Ưu Ba Ðể Sa nói bài kệ này rồi, bạch trưởng lão A Thuyết Thị rằng :

- Thưa trưởng lão ! Thầy của ngài, đức Như Lai A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà hiện nay ở chỗ nào ?

Ngài A Thuyết Thị đáp rằng :

- Thưa trưởng lão ! Ðức Như Lai, thầy tôi hiện nay ở bên bờ ao Ca-lan-đà trong rừng trúc tại thành Vương Xá, cùng với chúng đại Tỳ kheo gồm một ngàn người vốn là ngoại đạo gặp đức Phật xuất gia.

Ngài Ưu Ba Ðể Sa nói rằng :

- Tôi nay từ giả thiện tri thức và các quyến thuộc, đi đến chỗ đức Phậtxuất gia.

Khi ấy, ngài Ưu Ba Ðể Sa làm lễ dưới chân ngài A Thuyết Thị, nhiễu quanh bên phải ba vòng rồi từ tạ mà đi. Ông ấy đi đến chỗ ngài Câu Lợi Ða. Ngài Câu Lợi Ða thấy ngài Ưu Ba Ðể Sa từ xa đi đến, gặp nhau rồi, liền bạch ngài Ưu Ba Ðể Sa rằng :

- Thưa ngài ! Các căn thanh tịnh, nhan sắc tươi vui, nhất định ngài được cam lộ rồi !

Ngài Ưu Ba Ðể Sa nói rằng :

- Ðúng vậy ! Thưa trưởng lão ! Tôi hôm nay được pháp cam lộ. Hãy lắng nghe ! Lắng nghe ! Nay tôi vì ngài nói pháp sở đắc của tôi.

Lúc bấy giờ, ngài Câu Lợi Ða liền đứng dậy, trật áo vai phải, quì gối phải xuống đất, chắp tay cung kính, liền nói kệ thỉnh rằng :

Xin nói đạo Vô ưu kiết tường

Ðạo này chóng qua biển ba cõi

Các ấm đại oán tặc biệt phân

Theo đạo này chẳng còn luân hồi.

Lúc bấy giờ, ngài Ưu Ba Ðể Sa đem kệ đã nghe, liền vì bạn nói cho :

Nghiệp phiền não nhân duyên

Thế gian như vậy chuyển.

Nghiệp phiền não chẳng sinh

Ðạo sư như vậy nói !

Sinh, lão, tử hoại tan

Giải thoát đó Vô thượng

Như vua Trâu dũng cường

Như Lai tự ngộ nói. 

Lúc bấy giờ, Câu Lợi Ða nghe kệ này xong, lòng rất vui mừng, lại một lần nữa khen ngợi, thỉnh nói lại kệ trước :

Khổ tịch diệt vô cấu

Mâu ni nói pháp này

Tất cả phiền não diệt

Ðoạn các kiến vô tri

Uế ác hữu vi rỗng

Chẳng thể tin không ta (vô ngã)

Nói lại câu vô cấu

Ðược Niết bàn, ta nghe.

Lúc bấy giờ, ngài Ưu Ba Ðể Sa liền một lần nữa vì bạn nói lại bài kệ đã nghe :

Nghiệp phiền não nhân duyên

Thế gian như vậy chuyển.

Nghiệp phiền não chẳng sinh

Ðạo sư như vậy nói !

Sinh, lão, tử hoại tan

Giải thoát đó Vô thượng

Như vua trâu dũng cường

Như Lai tự ngộ nói.

Khi ấy, ngài Câu Lợi Ða nghe bài kệ này xong thì xa trần lìa cấu, pháp nhãn thanh tịnh, đắc quả Tu đà hoàn, lại dùng kệ khen rằng :

Như pháp hạnh chơn ấy

Thuyền nhanh qua khỏi dòng.

Trí này dứt ba khổ

Hay độ khỏi thế gian.

Các ma ấm phiền não

Biết đây hay phục hàng

Giải thoát lìa oán tránh

Biển khổ cạn khô khan.

Ngài Câu Lợi Ða nói rằng :

- Nay đức Phật Thế Tôn trụ tại ở đâu ?

Ngài Ưu Ba Ðể Sa nói rằng :

- Thưa trưởng lão ! Tôi nghe đức Thế Tôn ở bên bờ ao Ca-lan-đà trong rừng trúc tại đại thành vương Xá, cùng với đại Tỳ kheo tăng và chúng Bồ tát. Tôi nay định sẽ cùng ngài đi đến chỗ đức Thế Tôn cầu Phật xuất gia.

Ngài Câu Lợi Ða nói rằng :

- Ðúng vậy ! Thưa trưởng lão ! Ta nên nói với đệ tử của mình đi đến chỗ đức Thế Tôn theo nhau xuất gia luôn !

Ngài Ưu Ba Ðể Sa cùng ngài Câu Lợi Ða đi đến chỗ đồ chúng của mình. Lúc bấy giờ, ác ma ở trong khoảnh khắc một niệm, nghe trong nước Ma Già Ðà có hai ngoại đạo, Ưu Ba Ðể Sa cùng Câu Lợi Ða và các quyến thuộc, thông minh đầy đủ, danh tiếng vang lừng, là những thiện trượng phu, đang muốn ở trong pháp của ông Sa môn Cù Ðàm xuất gia học đạo. Ma đó tác khởi ý niệm : “Lạ kỳ thay ! Nếu hai người này ở trong pháp của ông Sa môn Cù Ðàm mà xuất gia thì cảnh giới của ta trống không. Ta phải đến chỗ hai vị trượng phu đó phá sự xuất gia ấy, khiến cho họ mang ác kiến”. Lúc ấy, ác ma ở trong khoảnh khắc một niệm biến mất khỏi cung của mình, hóa làm uy nghi hình tướng của A Thuyết Thị, liền ở giữa đường, hiện ra trước mặt hai người, nói lên như vầy :

Như ta trước đã nói

Phi quyết định, thử ông !

Theo ý ông hành động

Nên mau thọ dục hoan (lạc).

Tất cả nghiệp đen trắng

Nhân quả thẩy đều không

Không sinh, già, bệnh, chết

Ðời hậu thế cũng không

Phước, phi phước quả nghiệp

Không có nhân này làm

Thích tử vì lợi nói

Nên bỏ, ông chớ tin !

Lúc bấy giờ, ngài Ưu Ba Ðể Sa, ngài Câu Lợi Ða nghe lời nói này xong đều nghĩ rằng : “Ác ma này đến muốn hoại sự xuất gia của chúng ta”. Lúc ấy, ngài Ưu Ba Ðể Sa quay lại gọi đệ tử nói như vầy :

- Các ông, hôm nay phải nhớ sở hữu thế gian là lỗi hoạn, liền nói bài kệ rằng :

Chúng sinh bị già bức (ép)

Bị khổ chết buộc ràng

Phải đoạn hai thứ đó

Quyết định xuất gia liền!

Lúc bấy giờ, ngài Câu Lợi Ða liền dùng kệ tụng đáp ma vương rằng :

Biết trí Vô thượng thiện

Trì pháp, ba khổ tan

Ông nói tham chẳng đoạn

Trí ta chẳng động rung

Lòng kiên cố như vậy

Với người khác đã không

Chúng ta thoát vòng khổ

Chẳng lầm (hoặc), trí Chánh chân.

Chớ giả dáng sư tử

Mà rống tiếng dã can.

Lúc bấy giờ, thấy được chơn lý, chư thiên trụ ở trong hư không khen hai vị trượng phu rằng :

- Hay thay ! Hay thay ! Thưa các trượng phu ! Hai ngài là tối thượng thủ ở trong tất cả chúng sinh ! Ðạo thắng diệu này là tối đệ nhất đối với tất cả thế gian ! Ðạo này dứt tất cả khổ ! Ðạo này vào tất cả hành xử của Như Lai ! Ðạo này được sự xưng dương của tất cả các đức Phật ! Cái đó gọi là nương theo Phật xuất gia.

Khi đó, lòng ác ma phát sinh ưu khổ, liền biến mất.

Lúc bấy giờ, ngài Ưu Ba Ðể Sa cùng ngài Câu Lợi Ða tự quan sát chúng của mình, rồi kêu gọi các đệ tử, nói lên lời như vầy :

- Các ông nên biết, chúng ta muốn qua bể khổ già chết nên nương theo đức Phật xuất gia ! Các ông, nếu chẳng ưa xuất gia theo Phật thì nên trụ ở đây !

Năm trăm người đệ tử đều nói lên rằng :

- Pháp giải thoát của chúng con đều theo thầy học tập. Hai thầy quyết định đại xứ xuất gia. Chỗ hai thầy sở y xuất gia, chúng con theo thầy, nên cũng nương theo chúng đó mà xuất gia học đạo.

Bấy giờ, Ưu Ba Ðể Sa và Câu Lợi Ða cùng năm trăm đồ chúng sắp đi đến chỗ đức Phật. Lúc đó, ác ma biết việc kia rồi thì ở bên ngoài thành Vương Xá hóa làm cái hầm lớn, sâu một trăm do tuần, khiến cho hai người đó chẳng được đi đến chỗ đức Phật Thế Tôn. Lúc đó đức Như Lai dùng sức thần thông khiến cho hai người kia chẳng thấy hầm lớn, cứ thẳng đường mà đi. Khi ấy, ác ma ở phía trước hai người lại hóa làm núi lớn cao vòi vọi, cao đến một ngàn do tuần, cao chắc hiểm trở, không có khe hở xuyên qua. Ở trong núi đó lại hóa làm một ngàn con sư tử, uy mãnh đáng sợ. Khi ấy đức Thế Tôn dùng sức thần thông gia hộ hai người đó chẳng thấy núi lớn và những con sư tử kia, lại không có tiếng rống uy mãnh đáng sợ nên họ cứ thẳng đường mà đi đến chỗ đức Thế Tôn. Và ở đó có vô lượng trăm ngàn chúng vây quanh, cúng dường chỗ đức Phật nói pháp.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ kheo rằng :

- Các ông thấy hai thiện trượng phu làm thượng thủ của chúng kia đang cùng các đồ chúng đi đến chỗ ta. Các ông có thấy không ?

Các Tỳ kheo đáp, đều nói rằng : “Con thấy”. Ðức Phật dạy :

- Thiện trượng phu này và các đồ chúng ở bên ta xuất gia. Một người là người trí tuệ đệ nhất ở trong tất cả Thanh văn đệ tử của ta. Một người là người thần thông đệ nhất ở trong chúng Thanh văn của ta.

Lúc đó, trong chúng có một vị Tỳ kheo dùng kệ khen rằng :

Hai vị sáng suốt gồm quyến thuộc

Người trên lợi ích Phật đã ghi

Ðủ trí thần thông không sở úy

Nên ta vưng đón hai trượng phu.

Lúc bấy giờ, vị Tỳ kheo kia nói bài kệ này xong, liền đứng dậy cùng với vô lượng chúng Tỳ kheochúng xuất gia, Ưu bà tắc.v.v... nghinh đón hai người đó, lời khéo léo hỏi thăm. Hai người đó đi đến chỗ đức Phật, đến rồi đảnh lễ dưới chân đức Phật, nhiễu quanh bên phải ba vòng, đứng trước đức Phật mà bạch rằng :

- Thưa đức Thế Tôn ! Chúng con hôm nay cầu đức Phật xuất gia, thọ giới Tỳ kheo, tu hành phạm hạnh.

Ðức Phật dạy rằng :

- Này thiện nam tử ! Các ông hai người tên chữ là gì ?

Ngài Ưu Ba Ðể Sa nói rằng :

- Ðể Sa là cha, Xá Lợi là mẹ, nay con theo mẹ nên tên là Xá Lợi Phất. Cha mẹ hôm nay đã cho phép con xuất gia.

Ngài Câu Lợi Ða nói rằng :

- Kiều Trân Như là cha, Mục Già La là mẹ, con nay theo mẹ tên là Mục Già La. Cha mẹ hôm nay đã cho phép con xuất gia.

Ðức Phật dạy rằng :

- Hai người các ông và các quyến thuộc có thể ở chỗ của ta xuất gia cụ túc, tu hành phạm hạnh.

Ðức Phật nói lời đó xong thì hai người này thành Cụ túc giới. Năm trăm đồ chúng chưa bao lâu cũng đồng với hai thầy được Cụ túc giới.

Lúc bấy giờ, ác ma liền tự hóa thân làm hình dáng Ma Ê Thủ La, đứng trước đức Phật nói kệ như vầy :

Trí lợi thế gian hay luận bàn

Phương tiện thắng trí đến bờ giác (bờ kia)

Bọn họ đều lễ ta dưới chân

Ta là đại đạo sư của họ.

Ðệ tử Cù Ðàm cùng bà con

Tất cả nên mau qui y ngã

Ta nay vì ông sẽ tuyên dương

Ðạo thiện diệu tịch diệt yên ổn.

Lúc ấy đức Thế Tôn dùng kệ đáp rằng :

Ðạo ngươi nói hướng về ác đạo

Chúng sinh làm thì khổ trầm luân.

Ðạo ta hay khiến động chẳng động

Biển khổ thế gian cạn khô khan

Tại sao ngạo mạn không xấu hổ

Lại còn khoe mình giọng dã can.

Việc ma của ông nay ta phá

Chẳng lại ở ta việc hay làm.

Lúc bấy giờ, hình tượng biến hóa Ma Ê Thủ La của ác ma liền biến mất, rồi lại hóa làm hình dáng Phạm Thiên Vương, trụ ở trước đức Phật, nói bài kệ như vầy :

Phiền não có mầm nghiệp 

Trí tuệ đã trừ tan

Ở đây vì sao mạnh

Cần khổ lợi chúng sinh.

Ở đời không tự tại

Ðạo khí do không kham

Mâu Ni đã trừ bệnh

Nên mau vào Niết bàn !

Lúc ấy, đức Thế Tôn liền dùng kệ tụng đáp lại Ma Vương rằng :

Ta xem các chúng sinh

Hơn lượng cát sông Hằng

Dùng Ðại Từ Bi lực

Giáo hóa khiến giải thoát.

Thượng trung hạ chúng sinh

Khiến thế gian giải thoát.

Chúng sinh giải thoát xong

Nhiên hậu mới Niết bàn.

Vì sao dùng ác huệ (ban cho ác)

Thỉnh ta lời trá gian.

Lúc bấy giờ, lòng ác ma sinh ưu hối, ở trước đức Phật biến mất, trở về cung trời của mình, vào nhà ưu não, lặng thinh mà ngồi. Ðang lúc ấy, trong giây lát, các quyến thuộc của ma tìm đến hỏi lẫn nhau rằng : “Ðại vương của ta hôm nay vì nhân duyên gì mà vào trong nhà ưu não, không ai biết cả ”. Bấy giờ, năm trăm kỹ nữ của ma vương trang nghiêm đủ thứ, đều mang hoa mạn, bột thơm, hương xoa, tấu lên năm trăm âm thanh của kỹ nhạc trời, ca múa hý nhạc đệ nhất vi diệu, rất đáng yêu thích... Tất cả tập họp ở trước ma vương.

Lúc bấy giờ, Ma vương buồn khóc, nắm tay đè nén tiếng bi ai. Làm như vậy rồi, tạm thời lặng thinh, các kỹ nữ lại ca múa nữa, tạo ra trạng thái hân duyệt (vui vẻ) khiến cho ma hoan hỷ. Lúc ấy, Ma vương đưa tay kêu lớn lời như vầy : “Im lặng ! Im lặng !...” cho đến bảy lần, các kỹ nữ mới lặng thinh mà trụ. Bấy giờ, ma cung có một kỹ nữ tên là Ðiện Khả Ý Thanh đến chỗ Ma vương cúi mình chắp tay, nói kệ như vầy :

Ngài nay ở tự tại

Thấy tướng chết lo buồn

Vì là gánh gánh nặng

Ai có thắng lực oán

Mà lo chẳng vui mừng.

Lúc đó, Ma vương nói kệ đáp rằng :

Ta có oán lớn điều phục lòng

Thích Ca Tử giỏi học huyễn thuật

Ta không phương tiện để hoại tan

Như vậy chẳng lâu cõi Dục rỗng.

Kỹ nữ đó liền nói kệ rằng :

Phương tiện đại gia thật vô lượng

Sức siêng hoại đó ắt không còn

Ba cõi buộc ràng ai thể mở ?!

Ai làm cạn biển tham đắm chìm.

Lúc đó Ma vương nói kệ đáp lại rằng :

Ðàn na(bố thí) và khổ hạnh 

Bi nguyện là tơ mành

Trì không cung vô tướng

Ðệ nhất trong khí binh.

Có thể đoạn sinh tử

Các “hữu” hết không còn

Lấy Không làm rừng chắn

Ðệ tử ở núi hang

Tinh cần thường tu định

Hết lỗi hoạn thế gian

Phương tiện thần thông lực

Từ bi, bạn giúp thêm

Ông Ưu Ba, Câu Lợi...

Mâu ni đều phục hàng.

Ở trong ba cõi đó

Phương tiện nhiếp khéo khôn

Cảnh giới ta dục rỗng

Tất cả đều không còn.

Lúc bấy giờ, năm trăm kỹ nữ ở bên Ma vương, nghe khen công đức sở hữu của đức Như Lai, liền được tam muội Bồ tát tên là Ly Nhất Thiết Tướng Ðiển Quang tam muội. Năm trăm kỹ nữ đó liền đem những đồ trang nghiêm ở trên trời, mưa xuống hương hoa trời và kỹ nhạc trời... từ xa hướng về đức Phậtcúng dường đức Thế Tôn. Ở trên rừng trúc giống như trời mưa xuống. Nhờ được thần lực của đức Như Lai nên khiến cho các thiên nữ đó từ xa thấy đức Thế Tôn và các đồ chúng. Họ thấy rồi, vui mừng phát sinh niềm tin thanh tịnh ái kính số một.

Lúc bấy giờ, trong chúng, các vị Tỳ kheo.v.v... thấy vùng rừng trúc có tướng như vậy liền sinh nghi lạ, bạch đức Phật rằng :

- Thưa đức Thế Tôn ! Chúng con từ xưa đến nay chưa từng thấy nghe ở vùng rừng trúc có điềm ứng mưa xuống hương hoa.v.v... như thế này. Phải chăng ngài Xá Lợi Phất, ngài Mục Kiền Liên.v.v... hiện tướng này vậy ? Hay vì nhân duyên gì mà nhìn thấy hiện tượng hy hữu ấy ?

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo các Tỳ kheo rằng :

- Chẳng phải hai người này hiện tướng thần thông. Ðây là năm trăm kỹ nữ của thiên ma, ở ma cung đó mưa xuống những hương hoa và đồ trang nghiêm, đem cúng dường ta, chẳng bao lâu họ sẽ đến đây, đều ở bên ta, được thọ ký A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề (Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác).

Năm trăm kỹ nữ của Ma vương kia từ xa nghe lời ký của đức Phật lại trở nên vui mừng phát sinh niềm tin thanh tịnh. Do niềm tin thanh tịnh nên họ liền được tam muội Bất Vong Bồ đề tâm. Bấy giờ, năm trăm kỹ nữ của Ma vương mặc áo một vai, gối phải quì xuống đất, ở trong ma cung, hướng về hướng có đức Phật, chắp tay cung kính nói kệ như vầy :

Tất cả thế gian mù không mắt

Chỉ Phật, một người gọi thấy trông

Làm cạn người trời dòng khát ái

Cùng tất cả Như Lai đưa sang

Chúng con làm sao mau thành Phật

Người trời cung kính bậc tuyên dương

Thân nữ đáng chán nên ưng bỏ

Mau gần Mâu Ni nghe pháp chân.

Như Lai tối thượng thần thông trí

Khai thị chúng con mà dẫn đường

Ðem báu Vô Thượng Giác chi đó

Nói diệu vô cấu như tịnh đăng (đèn thanh tịnh)

Thắng lực hàng ma không ai sánh

Giác ngộ chúng con, ký trao liền.

Bấy giờ, năm trăm kỹ nữ ma cung đứng dậy đi đến chỗ Ma vương, khác miệng đồng âm mà nói kệ rằng :

Như Lai thắng đức trọn chẳng động

Sao đối với Phật mà sinh sân

Thân này mọi khổ đã bức bách

Lại khởi kiêu mạn mà bôi mình.

Nên bỏ sân này, tin quyết định

Phật tát bùn kiêu mạn tử sinh

Thể tính chúng sinh Phật đã biết

Chỗ từ bi chúng con nên sang !

Bấy giờ, Ma vương nghĩ đến những người con gái đó, phát sinh ác ý tăng lên như vầy : “ Ta nay nên dùng năm thứ trói buộc để trói buộc năm trăm kỹ nữ này khiến cho chúng trụ ở đây chẳng sang bên đức Phật”. Năm trăm người con gái này nhờ được niệm lực của đức Như Lai gia hộ nên Ma vương đó đã chẳng thể cấm chế.

Lúc ấy, năm trăm người kỹ nữ ở cung ma đó muốn đến chỗ đức Phật. Khi họ sắp cất bước thì ma rất sân hận, liền tác khởi ý niệm này : “Ta nay tự dùng sức của cảnh giới cấm chế những người con gái này”. Ma liền khởi lên gió lớn Tỳ Lam chẳng phải lúc đầy khắp hư không, muốn khiến những người con gái mê muội, lạc mất phương hướng, quay trở lại trụ ở cung ta, chẳng thấy ông Cù Ðàm. Vì thần lực của đức Phật nên một ngọn gió nhỏ nhoi còn chẳng thể nổi lên, thậm chí chẳng thể lay động được một sợi lông huống gì là vô lượng.

Lúc bấy giờ, ma vương trở nên thêm ưu khổ, lòng sinh hối não, buồn khóc lớn tiếng, kêu gọi các con mình và quyến thuộc. Tất cả cung ma tiếng lớn tràn đầy mà nói kệ rằng :

Con yêu, quyến thuộc tập họp hết

Lòng ta nhiệt não như cây độc

Hoại lực ta, cảnh giới, thần thông

Lời ngon dua nịnh sư tử Thích.

Lúc ấy, con trai con gái sở hữu của Ma vương cùng các quyến thuộc nghe âm thanh này thảy đều chạy mau đến trụ ở trước Ma vương. Trong số quyến thuộc đó có một người con của ma tên là Thắng Trí, chắp tay đứng nói bài kệ như vầy :

Ðây chẳng kiếp cháy, chẳng tướng chết

Vì sao đủ thứ ưu não sinh ?

Ðây không đại lực hay thắng oán

Vì sao trí khác tợ ngu đần ?

Bấy giờ, Ma vương nói kệ đáp lại rằng :

Nay Thích Ca Tử này

Ngồi ở dưới rừng cây

Hiện tiền có đại oán

Tại sao ngươi nói không.

Kia dua nịnh thắng lực

Khiến lòng ta kinh mạng

Con ta cùng quân chúng

Như than vào lửa hừng.

Danh xưng trượng phu thắng

Sáng suốt nhiều tài năng

Hiện họp và chưa họp

Nay đều theo đó nương.

Ta oán vì giả trá

Sức siểm trí rất tranh

Danh cao hơn người trí

Ðều vì pháp dẫn đường

Nay các thị nữ ấy

Với ta không bi tâm

Thấy bỏ yêu thích cũ

Ði đến chỗ Sa môn.

Chỉ ta lấy làm chứng

Ngày nay về đó nương

Tất cả đất ba hữu

Các huyễn đều khiến không.

Kia tuy có đại lực

Ta phá thành tro tàn

Bọn ta tất cả chúng

Việc làm nên phải siêng.

Bấy giờ, tất cả các con của Ma vương cùng quyến thuộc sở hữu nội ngoại của hắn đều chắp tay mà nói lên rằng :

- Chúng con, tất cả đều nghiêm chỉnh xe cộ, dùng sức thần thôngtự gia bị. Dùng cảnh giới này bày ra khiến cho chúng biết, làm thoái lui Thích tử kia, khiến cho nát như tro. Nếu sẽ thắng lợi thì chúng con tốt lành. Nếu chẳng thắng thì chúng con sẽ qui y vị Thích tử đó. Chúng con, thuở trước, với đại quân vây quanh, đi đến cây Bồ đề, đối mặt nhìn thấy Thích tử độc một mình, không bạn bè, mà do thần thông lực nên quân chúng của chúng con đều thoái lui hủy hoại. Huống gì hôm nay Phật lại có vô lượng đồ chúng đều đã thành tựu.

Ma đáp lại rằng :

- Bọn các con hãy sớm ra đi ! Nếu có thể giết chết ông Sa môn Cù Ðàm thì sẽ phải quay trở về. Nếu chẳng thể thì cũng phải trở về cung mà tự thủ hộ !

Lúc đó, Ma vương liền dùng mười hai vạn chúng tả hữu, lại hơn số này, thậm chí tám muôn bốn ngàn do tuần, binh chúng sở hữu đều đầy khắp. Ma lại dùng sức thần thông tấn tật hiện lên đại hắc phong thổi mây đen lớn, mưa xuống đuốc lửa lớn đều đầy khắp tất cả bốn châu. Ma lại dùng tay đánh vua núi Tu Di, tất cả bốn châu đều chấn động. Ma lại phát ra âm thanh rất ác đáng sợ làm cho vua núi Tu Di và vua các núi, đất đai, đá núi, tất cả đều kinh động. Do sự chấn kích này mà sông ngòi lớn nhỏ và nước trong biển cả đều dậy sóng, tất cả các rồng, rồng lớn, dạ xoa, dạ xoa lớn thấy việc ấy rồi đều vọt lên hư không. Những ma chúng này trụ ở đỉnh Tu Di, lại ném đá lớn với số lượng hàng do tuần, ở giữa nước Ma Già Ðà như một trận mưa dữ, chấn kích kinh động. Ma lại mưa xuống dao, chày, dùi đục, đá lớn, vòng nguyệt, cây chọc, giáo ngắn, chuôi sắt, răng cọp, gậy lớn và tên đại nguyệt... rơi xuống giống như mưa.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn liền vào tam muội Toái ma quân trường, làm cho binh trượng và đuốc lửa lớn có ở trong hư không biến thành mưa hoa, như là mưa hoa Ưu bát la, mưa hoa Bát đầu ma, mưa hoa Câu vật đầu, mưa hoa Phân đà lợi, mưa hoa Mạn đà la, mưa hoa Ðại mạn đà la... Mưa xuống giữa nước Ma Già Ðà. Tam muội ấy lại biến âm thanh kinh động đáng sợ thành đủ thứ âm thanh vi diệu, như là tiếng Phật, tiếng Pháp, tiếng Tăng, tiếng Ba la mật, tiếng thần thông, tiếng A Tỳ bạt chí, tiếng thọ chức, tiếng bốn ma lui, tiếng đến Bồ đề đạo tràng... cho đến tiếng thủ câu (?), tiếng chẳng thủ câu (?). Tam muội ấy lại biến tất cả dược thảo, tàng lâm, núi đá, đất cát có trên đại địa của bốn châu này đều thành bảy báu. Lúc đó thế giới không có gió bụi, tất cả yên lặng.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn hiện thân tướng của mình qua tới Phạm thế tự tại mà chuyển. Từ thân ấy phân các tướng thành từng tướng một... cho đến tướng Vô kiến đảnh phát ra ánh sáng lớn soi khắp ba ngàn đại thiên thế giới, khắp nơi đều sáng rỡ. Lúc đó trời, rồng, dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la gia, Bệ lệ đa, Tỳ xá xà, Cưu bàn trà, người, chẳng phải người.v.v... địa ngục, súc sinh, thế giới Diêm La... như vậy tất cả trong ba ngàn thế giới đều thấy đức Thế Tôn và ánh sáng lớn. Lúc đó, trời, rồng, Dạ xoa... người, chẳng phải người.v.v... đều cùng ngần ấy trăm ngàn quyến thuộc, trên đất và hư không, đi đến chỗ đức Phật, tung hoa cúng dường. Ðến nơi rồi, họ nhiễu quanh bên phải, khen ngợi, lễ bái. Khi đó, địa ngục và các súc sinh, thế giới Diêm La, vô lượng trăm ngàn A súc tỳ câu chỉ na do tha.v.v... đều tự nghĩ nhớ lại căn lành gieo trồng đời trước, xưng lên Nam Mô Phật Ðà. Ðường ác hết rồi họ sinh lên cõi trời.

Lúc bấy giờ, các con hai vạn hai ngàn người của Ma vương cùng các quyến thuộc thấy tướng thần biến của đức Phật như vậy rồi đều ở chỗ đức Phật được niềm tin hy hữu. Chúng liền cùng với năm trăm kỹ nữ của Ma vương kia làm lễ dưới chân đức Thế Tôn, chắp tay cung kính, dùng kệ khen ngợi rằng :

Tịnh thân diệu sắc ánh biển trí

Cao viễn tột cùng danh vang lừng

Như Tu Di ánh sáng kim sắc

Chúng con không (chỗ) tựa theo ngài nương.

Chúng sinh lạc đường không thể thấy

Mặt trời trí Như Lai soi đường

Dưỡng hộ chúng sinh mãi chẳng thoái

Thân dẫn chúng con theo ngài nương.

Trí tạng tích tập giàu vô lượng

Tâm tính giải thoát như hư không

Từ bi thấm nhuần tuy có nói

Tất cả thành tựu theo ngài nương.

Ðồng trống sinh tử khó giúp vượt

Giải thoát Như Lai mở bày đường

Khéo nói nhân quả hay hiển rõ

Trụ đệ nhất Từ theo ngài nương.

Cảnh giới huyễn cháy như trăng nước

Vô trí che tối, các dục mang

Phật là y vương cứu cõi thế

Vậy nên chúng con theo ngài nương.

Cầu qua bốn dòng là pháp Phật

Giàu có thất tài (bảy thứ của cải) tư cấp luôn

Chánh đạo Thế Tôn bày cõi thế

Ðại bi con gần gũi cúng dường.

Chúng con ác ý hướng về Phật

Nay sám hối Ðệ Nhất Giác Vương

Các ác sở hữu đoạn dứt mãi

Nguyện Phật nhận con Tối thượng nương.

Chúng con đều bỏ ma bộ đảng

Cùng phát Vô thượng Bồ đề tâm

Mời khắp tất cả loài sinh chúng

Bồ đề đại nguyện đến không còn.

Phật hay hiển thị con thắng hạnh

Như Ba la mật con đã làm

Lời nói Như Lai không nói khác

Ðến Bồ đề, bao nhiêu pháp tròn ?

Hoa tung lên Phật thành lọng hoa 

Thị hiện các cõi nhiều không lường,

Ðấng Lưỡng Túc Tôn, con nay lễ

Nguyện vui Niết bàn, lợi thế gian.

Lúc bấy giờ, tất cả các quyến thuộc của ma cùng kỹ nữ của ma đều mang hoa trời, từ xa tung lên trên đức Phật. Nhờ thần lực của đức Phật Thế Tôn gia hộ nên tất cả hoa biến thành lọng hoa che khắp mười phương vô lượng câu chỉ na do tha trăm ngàn hằng hà sa các cõi Phật. Lại hơn số này biến thành lọng hoa cái che khắp các đức Phật hiện tại của mười phương, ở trong hư không che trên đảnh Phật. Năm trăm kỹ nữ cùng các quyến thuộc của ma đó, tất cả đều thấy mười phương vô lượng A tăng kỳ các cõi Phật yên ổn nói pháp và thấy quyến thuộc của các đức Phật đó vây quanh, mọi người ngồi uy nghi hực hỡ vi diệu, và thấy lọng hoa trụ ở trên hư không che trên đảnh Phật. Các đức Phật ở những cõi đó đều đồng một màu, hình tướng thị hiện đều đồng đẳng. Chỉ đức Thế Tôn ngồi tại tòa Sư Tử với các quyến thuộc công đức trang nghiêm hiện lên chẳng đồng. Lại nghe âm thanh của chư Phật đầy khắp câu nghĩa nói pháp. Quyến thuộc của ma này nhờ sự gia hộ niệm của đức Phật Thế Tôn nên được thấy thần thông biến hóa như vậy. Ðã thấy những việc này rồi thì họ yêu thích số một, phát sinh niềm tin thanh tịnh, làm lễ dưới chân đức Phật rồi ở trước đức Phật nghe pháp.

Lúc bấy giờ, các con của Ma vương cùng các quyến thuộc mười hai tần bà la lui trở lại cung ma bạch với Ma vương rằng :

- Chúng tôi tạo tác rộng rãi việc ác như thế này mà thậm chí chẳng thể hủy hoại được một lỗ chân lông của ông Cù Ðàm...

Lúc ấy, lại có hai vạn những ma qui y đức Như Lai đang ở trước đức Phật nghe pháp.

Bấy giờ, Ma vương đã mất uy đức, lại nổi giận dữ nói lên rằng :

- Ta hôm nay không giác ý khác, cho đến chẳng thể tru diệt người con của dòng họ Thích, làm cho người đó bị diệt hoại thì làm sao mà trụ đây ?

Mà liền trở về cung ma, vào nhã ưu não, lặng thinh mà ngồi. 

KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI

- Quyển thứ nhất- hết.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 469)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(Xem: 479)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 8802)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 555)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 487)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1828)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1873)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1900)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1962)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2738)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2170)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2173)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2481)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 3005)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3532)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2290)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3186)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3092)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 5027)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3289)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3573)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2665)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3366)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2912)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3459)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2647)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 3029)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3383)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3428)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4431)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3920)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3889)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4344)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3764)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3338)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4205)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5262)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3856)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6763)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6460)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4344)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20252)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3764)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7238)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4724)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4475)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 4028)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4388)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5951)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4541)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4257)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4309)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4538)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5201)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3947)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5337)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5184)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6904)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 5061)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5886)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
Quảng Cáo Bảo Trợ