Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,863,741
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Quyển Thứ Hai

04 Tháng Mười Hai 201300:00(Xem: 5434)
Quyển Thứ Hai


KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI


Đại Chánh Tân Tu, Bộ Đại Tập, số 0402

Nguyên tác: [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10]

- Hán dịch: Thiên Trúc Tam Tạng Pháp Sư Ba La Pha Mật Ða La - Ðời Ðường

 - Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ - Phan Rang

Chứng nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh

---o0o---


Quyển thứ hai.

 

PHẨM THỨ HAI: BỐN SỰ 

Kỳ nữ của ma và các con của Ma vương cùng quyến thuộc của chúng bạch đức Phật rằng:

- Hy hữu! Thưa đức Thế Tôn! Chúng con hôm nay chí cầu tướng như vậy, tánh như vậy, thừa như vậy, trí tuệ biện tài như vậy, phương tiện đại bi thần thông như vậy! Hy hữu! Thưa đức Thế Tôn! Ðầy đủ pháp trí tuệ, phương tiện, thần thông.v.v.. như vậy. Thưa đức Thế Tôn! Phải đầy đủ bao nhiêu pháp thì có thể khiến cho Ðại Bồ tát xa lìa bạn ác, mau chóng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác?

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Nếu Ðại Bồ tát có thể đủ bốn pháp thì xa lìa bạn ác, sẽ mau chóng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Những gì là bốn? Một là chẳng thủ. Hai là chẳng nói. Ba là chẳng thấy. Bốn là trống rỗng không phân biệt.

- Này thiện nam tử! Sao gọi là chẳng thủ? Ðó là chẳng thủ lấy tất cả pháp. Không một pháp có thể được, chẳng nhận, chẳng bỏ, chẳng thể, chẳng phải chẳng thể, chẳng kiến lập, chẳng niệm trước (chấp trước), chẳng phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt. Cái gọi là hành Ðàn Ba la mật (bố thí) là chẳng thủ lấy kết quả Ðàn Ba la mật, chẳng nhận, chẳng bỏ, chẳng thể, chẳng phải chẳng thể, chẳng kiến lập, chẳng niệm trước, chẳng phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt... cho đến hành Bát nhã Ba la mật (Trí tuệ) cũng lại như vậy... chẳng phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt.

Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là chẳng nói? Ðó là chẳng nói chúng sinh có thể được, chẳng nói mạng, chẳng nói thọ (sống lâu) , chẳng nói người. Chẳng nói chúng sinh giới có thể được, chẳng nói có ý, có sở thủ... cho đến chẳng phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt.

Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là chẳng thấy? Ðó là chẳng thấy sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, chẳng thủ lấy sắc, thanh, hương, vị xúc, pháp... cho đến chẳng phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt.

Lại nữa, này thiện nam tử! Sao gọi là trống rỗng không phân biệt? Ðó là quả báo nhân duyên của ấm, giới, nhập.v.v... trong ba cõi cả ba đời mà pháp sở duyên không khởi, không nương, không có sinh tướng, chẳng lấy, chẳng bỏ... cho đến chẳng phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt. Vì sao vậy? Vì lìa bỏ tất cả hành, tất cả trì, tất cả thân và phân biệt, chẳng phân biệt vậy. Trí Nhất thiết trí tương ứng chẳng thể được nên phải hành như vậy. Sở dĩ vì sao? Này thiện nam tử! Vì tất cả pháp và tất cả trí... cho đến không thanh (tiếng), không tướng, không tự (chữ), không nguyện, không sinh, không diệt, không thể (hình), không trước (chấp trước), không duyên, không ngã (ta), chẳng thể thấy tịch tịnh, lìa tướng, lìa niệm, lìa diệt, không tối, không sáng, không xứ sở, không cảnh giới, không căn bản, không bạn giúp, chẳng thể nghĩ, chẳng thể lường, không tham, không xan (keo kiệt), không hành, không nói, không sâu, không cạn, không thọ (nhận), không nương, không thức (biết), không thủ (lấy), không hình ảnh, không một niệm khoảnh, không phân tề, không sở hữu, rốt ráo không sở hữu. Vì sao vậy? Vì Nhất thiết trí bình đẳng giống như hư không, tương ứng chẳng thể được, chẳng lập tương ứng, chẳng thủ lấy tương ứng, chẳng hành tương ứng, hoặc tương ứng hoặc chẳng tương ứng, chẳng phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt... phải hành như vậy.

Này thiện nam tử! Ðó gọi là đầy đủ bốn pháp có thể khiến cho Ðại Bồ tát xa lìa bạn ác sẽ mau chóng được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Này thiện nam tử! Tất cả cảnh giới trong ngoài sở hữu, nếu dùng trí Nhất thiết trí quan sát, tìm cầu, y trì (nương giữ) kiến lập, chấp trước hai tướng này dùng ý phân biệt, khởi lên hai sự chấp trước thì người đó liền xa lìa Nhất thiết trí vậy. Sao gọi là hai tướng? Nếu quan sát vào bình đẳng mà thủ lấy, kiến lập hai tướng thì đó gọi là xa lìa Nhất thiết trí vậy. Nếu thủ lấy kiến lập hành động kết quả thì đó là phân biệt hai. Ðối với các chúng sinh có tướng thủ lấy, kiến lập thì đó là phân biệt hai. Khai thị tạo ra đạo ngôn ngữ, kiến lập pháp tổng trì âm thanh, dùng trí quan sát đây là thường, đây là đoạn thì đó là phân biệt hai. Chúng sinh, thọ mạng, dưỡng dục người, trượng phu, tạo sự sai khiến, tạo tư tưởng, kiến lập y trì (nương giữ) thì đó là phân biệt hai. Sở hữu đây đó, kiến lập trù lượng, chẳng kiến lập trù lượng (liệu tính đo lường) thì đó là phân biệt hai. Nếu dùng trí Nhất thiết trí quan sát ba đời mà tìm việc làm của ta, tập họp nghiệp đã làm, thủ lấy, kiến lập đó đây thì đó là phân biệt hai. Nếu người đem phân biệt có hai tướng thì chẳng thể được Nhất thiết trí vậy. Này thiện nam tử! Như lạnh thì tìm lửa mà ngược lại thì lấy đất, như khát cầu uống mà ngược lại thủ lấy lửa, như đói cầu ăn mà ngược lại thủ lấy đá, như trang sức cầu hoa mà ngược lại chọn lấy áo, như xông tẩm cầu hương thơm mà ngược lại chọn lấy thây chết, như hành cầu áo mà ngược lại chọn lấy bẩn, như xoa cầu hương mà ngược lại chọn lấy rỗng không... Ðúng vậy! Ðúng vậy! Này thiện nam tử! Nếu hành chấp trước quan sát thì đó là thân chọn lấy kiến lập hai tướng. Người cầu Nhất thiết trí là kẻ ném bỏ tinh tấn, không đạo, không quả.

Lúc bấy giờ, trong chúng có một vị Bồ tát tên là Trì Trí, đứng dậy, ở trước đức Thế Tôn, cúi mình, chắp tay nói lên rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu pháp chẳng nói thì đó chẳng thể được Bồ đề!

Ðức Phật dạy rằng:

- Nay ông phải biết rằng, không được Bồ đề, cũng không Bồ đề có thể nói! Này thiện nam tử! Hãy lắng nghe cho kỹ! Ông hỏi như vậy là đúng như sự ưa thích của ông. Theo ý ông nói thì hoặc vật sở hữu, hoặc Nhất thiết trí có tỉnh, có tướng, có danh tự sao?

Bồ tát Trì Trí bạch đức Phật rằng:

- Chẳng phải vậy, thưa đức Thế Tôn! Nếu có lời nói thì liền rơi vào thường kiến. Nếu không lời nói thì liền rơi vào đoạn kiến. Thậm chí trung đạo cũng chẳng thể được, chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng thủ lấy, chẳng chấp trước, chẳng sinh, chẳng hoại, quá Atăngkỳ chẳng thể lường, chẳng thể tính, không tối, không sáng... Nếu quan sát được như vậy thì mới được Bồ đề.

Bồ tát Ðiển Tuệ bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Không lai, không khứ, giỏi biết như vậy, giỏi vào như vậy thì mới được Bồ đề.

Bồ tát Tỳ Lư Giá Na bạch rằng:

- Ðúng vậy! Thưa đức Thế Tôn! Pháp là tướng chẳng đến, là tướng chẳng phải chẳng đến, chẳng phải được thời, chẳng phải chẳng được thời, chẳng phải làm chứng, chẳng phải chẳng làm chứng, chẳng phải diệt, chẳng phải bất diệt, chẳng phải ba đời, chẳng phải chẳng ba đời, chẳng phải ba thừa, chẳng phải chẳng ba thừa, cũng chẳng phải hành nguyện tập hợp xưng lường có thể được... Người biết như vậy thì mới được Bồ đề.

Bồ tát Ðịa Tuệ bạch rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu tất cả pháp chẳng phải ba cõi, chẳng phải ba kết, chẳng phải ba minh, chẳng phải ba thừa, chẳng phải ấm, giới, nhập, chẳng phải phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt, chẳng phải giảm, chẳng phải tăng, không có tập hợp... Biết như vậy rồi mới được Bồ đề.

Bồ tát Kim Cương Tuệ bạch rằng:

- Pháp phàm phu, pháp thánh nhân, pháp học, pháp vô học, pháp Thanh văn, pháp Bích Chi Phật chẳng phải phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt, cũng chẳng phải việc có thể biết của sự tập hợp xưng lường... Biết như vậy thì mới được Bồ đề.

Bồ tát Kiên Tuệ nói rằng: 

- Như Như tịch tịnh, Như Như quán sát chẳng xả, chẳng trụ thì mới được Bồ đề.

Bồ tát Bảo Thủ (tay) nói rằng:

- Nếu tất cả pháp chẳng sinh, chẳng đến, chẳng lúc, không tướng phân biệt thì mới được Bồ đề.

Bồ tát Bất Tư Nghị Tuệ nói rằng:

- Nếu đem tâm quan sát ba cõi cho vào tại tâm thì đó gọi là nhị tâm. Hai tâm như vậy quan sát chẳng thể được. Do không sở đắc nên mới được Bồ đề.

Bồ tát Thoái Oán nói rằng:

- Nếu tất cả pháp không trước (chấp) không tham, không xả, không ngại, không nguyện, không si, không nắm, không buông thì mới được Bồ đề.

Bồ tát Liên Hoa Tạng nói rằng:

- Nếu tội tính phước bình đẳng vào pháp như vậy, thâm nhẫn, chẳng chấp trước ngã và sở tác của ngã, chẳng phải phân biệt, chẳng phải chẳng phân biệt. Người quan sát như vậy mới được Bồ đề.

Bồ tát Nguyệt Quang nói rằng:

- Nếu quan sát tất cả pháp tụ tan tùy duyên không có tự tính giống như trăng đáy nước. Hiểu như vậy rồi mới được Bồ đề.

Bồ tát Hư Không Tuệ nói rằng:

- Nếu tất cả các pháp có tối, có sáng, có sinh, có diệt, có tăng, có giảm chẳng ở các pháp số của tâm mà khởi lên phân biệt. Người biết như vậy mới được Bồ đề.

Bồ tát Vô Tận Tuệ nói rằng:

- Nếu tu tập ba luân thanh tịnh Ba la mật (?) tương ứng chẳng thể được, chẳng nhiễm, chẳng phải chẳng nhiễm thì người tu như vậy mới được Bồ đề.

Bồ tát Di Lặc nói rằng:

- Nếu chẳng duyên, chẳng thọ y chỉ ba cõi, y chỉ phạm trụ thì mới được Bồ đề.

Bồ tát Văn Thù Sư Lợi nói rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Nếu hiểu sâu một pháp môn thì đối với tất cả páp chẳng nhiễm, chẳng phải chẳng nhiễm. Một pháp đó là vô ngã. Rõ một pháp đó chẳng giác, chẳng quán, không có tương lai, cũng không quá khứ, cũng không có thể tụ, có thể tan, có thể sáng, có thể tối, có thể sinh, có thể diệt, có thể tăng, có thể giảm, có thể giải thoát thì chẳng nên nhiễm bẩn, không phân biệt. Dùng một pháp môn, trí Nhất thiết trí mới được Bồ đề.

Bồ tát Hoại Ái Lạc nói rằng:

- Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Như vậy một pháp môn trí Nhất thiết trí đều vào chỗ trống rỗng của pháp thậm thâm thì vì sao ý có sở tácphương tiện tu hành?

Ngài Văn Thù Sư Lợi nói rằng:

- Lìa bỏ ác kiến, tu hành chánh kiến, chẳng dối đặt để, bỏ lòng dua nịnh quanh co, tu hạnh chất trực, chẳng dối đặt để. Lìa bỏ mười ác, kính trọng Tam Bảo, chẳng dối đặt để. Khéo nói, chẳng dối đặt để. Chánh mạng, chẳng dối đặt để. Bỏ tất cả kết, chẳng dối đặt để. Ðại bi bình đẳng, chẳng bỏ tất cả chúng sinh, chẳng dối đặt để. Ba hộ chẳng dối đặt để. Không lừa gạt pháp, chẳng dối đặt để. Chẳng sinh, chẳng diệt, chẳng dối đặt để. Hộ trì chánh pháp chẳng dối đặt để. Bỏ tất cả sở hữu, chẳng dối đặt để. Chúng sinh thiếu lực thường làm kiến trợ, chẳng dối đặt để. Người sợ sệt được nương về, chẳng dối đặt để. Người chẳng phải đạo thì chỉ vẽ chánh đạo, chẳng dối đặt để. Nhẫn nhục nhu hòa, chẳng dối đặt để. Chẳng chắp trước tất cả tướng, chẳng dối đặt để. Lìa bỏ tất cả trần cấu, ấm tối, chẳng dối đặt để. Lìa bỏ tất cả quả báo hồi hướng, chẳng dối đặt để. Thưa thiện nam tử! Hai mươi thứ phương tiện này có thể được trí Nhất thiết trí. Văn tự, âm thanh, ngôn ngữ, cú nghĩa sở hữu sai khác, tất cả đều tên như vậy nhập vào phương tiện của trí Nhất thiết trí. Tất cả lời nói của đức Như Lailời nói của các ngoại đạo khác, tất cả lấy, bỏ, sinh, diệt cho đến có thể biết tất cả ba giải thoát, y chỉ pháp nhân duyên nghiệp hành đều vào với Như. Ngài phải biết, đó đều là phương tiện giác trí của Nhất thiết trí vậy!

Hoại Ái Lạc Bồ tát nói rằng:

- Ðúng vậy! Ðúng vậy! Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Nếu hiểu được pháp môn thậm thâm thì không một pháp có thể thấy, cũng không pháp sở thuyết và cả người nói pháp... cho đến văn tự cú nghĩa đều nên bỏ hết. Hoặc tu hành, hoặc nhận biết không có tương ứng, tất cả nhập (vào) như vậy gọi là trí giác trí.

Ðức Phật dạy rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông có thể giỏi nói một pháp môn này, do trí Nhất thiết trí mới được pháp đó. Sao gọi là tất cả pháp chẳng dối đặt để? Ðó là cõi chẳng sinh, chẳng hoại, chẳng dối đặt để. Cõi sinh tử, Niết bàn chẳng dối đặt để. Cõi hư không Niết bàn chẳng dối đặt để. Cõi không sinh, không nói... cho đến tất cả các pháp cũng lại như vậy. Chỉ vẽ tất cả chúng sinh, tất cả pháp không thật tế. Chỉ vẽ tất cả vật chấp trước, tất cả ấm, giới, nhập.v.v... của ba cõi cả ba đời không thật tế sở hữu. Vào ba hạnh không tế. Vào pháp ấm, báo ấm, tụ tán ấm không thật tế. Vào không, vào chân tế. Ðầy đủ tất cả không nói pháp nghĩa. Ðó gọi là Ðại Bồ tát vào trí Nhất thiết trí. Bồ tát lại do trí Nhất thiết trí mà được thọ ký.

Khi nói pháp đó, các kỹ nữ của Ma và con của ma vương cùng quyến thuộc gồm hai vạn, nghe lời nói của đức Phật đều cùng lúc được pháp nhẫn Vô sinh, đều bỏ nghiệp thô ác sở hữu của thân ý, được tự tính sanh thân. Lại có hai vạn tám ngàn chúng sinh được pháp nhẫn Vô sinh. Chín mươi hai vạn trời, người được đủ thứ Tam ma đề, Ðà la ni, Vô sinh pháp nhẫn của Bồ tát.

Lúc bấy giờ, các Ðại Bồ tát được pháp nhẫn Vô sinh.v.v... mưa xuống mọi thứ hoa trời, tung lên trên đức Phật, dập dìu mà rơi giống như trời mưa xuống. Các vị Bồ tát ấy đầu mặt sát đất, đảnh lễ dưới chân đức Phật, nói lên như vầy:

- Thưa đức Thế Tôn! Chúng con nếu gặp bạn ác chẳng lành, cùng với ác hòa hợp, tự tại làm ác thì đối với tất cả chúng sinh, tất cả sự gom tụ thiện căn công đức nhất định chẳng thể khởi một ý niệm thiện căn.

Ðức Phật dạy rằng:

- Này thiện nam tử! Ông ở vô lượng ức kiếp trong quá khứ đã gần gũi cúng dường vô số các đức Phật. Do nghiệp duyên này nên hôm nay ông sinh tâm yêu thích, trở lại được gặp Phật. Ta nay vì đoạn dứt sự nghi hoặc của chúng sinh nên sẽ vì ông nói về nhân duyên đời trước. Này thiện nam tử! Trở về quá khứ, vô lượng vô số Atăngkỳ kiếp, có kiếp tên là Cụ Túc Ðại Thế (lực), cõi Diêm phù đề này có vị vua Chuyển Luân tên là Ưu Bát La Hoa, được lực tự tại, thống lĩnh bốn thiên hạ. Vua và thần dân đều sống lâu sáu muôn tám ngàn tuổi. Ðời có đức Phật hiệu là Nguyệt Quang Minh Hương Thắng Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri Minh Hành Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Ðiều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn. Chúng sinh nước đó tuy ở đời ngũ trược nhưng do tu thiện nên chẳng nhiễm pháp dục. Bấy giờ, đức Phật đó thường vì tứ chúng tuyên nói pháp tương ứng với ba thừa. Vua Ưu Bát La nghiêm chỉnh bốn binh chủng, cùng phu nhân của mình và quyến thuộc ở hậu cung đi đến chỗ đức Phật Nguyệt Quang Minh đó. Ðến rồi, họ đảnh lễ dưới chân đức Phật, tung lên đủ loại hoa, đốt lên đủ thứ hương thơm, tấu lên mọi thứ kỹ nhạc... cúng dường đức Phật xong, nhiễu quanh đức Phật ba vòng. Ðồng thời họ lại đảnh lễ dưới chân Tỳ kheo tăng, dùng hai bài kệ này khen hỏi đức Phật đó rằng:

Trời rồng ngưỡng vọng công đức lớn

Lỗi hoạn đoạn mãi, Vô Thượng Tôn

Dùng bảy của pháp lợi cõi thế

Nguyện nói những gì diệu tuệ thành?

Làm đèn Ðại từ diệt thế ám (tối tăm)

Hàng phục nỗi lo chết, già, sinh

Che chở người trời ba đường ác

Nói pháp gì đương ma thoát nhanh?

Này thiện nam tử! - Ðức Phật Thích Ca nói - Bấy giờ, đức Như Lai Nguyệt Quang Minh Hương Thắng bảo vua Ưu Bát La rằng: “Này đại vương! Ðầy đủ ba pháp có thể được trí tuệ vi diệu của Bồ tát. Những gì là ba? - Một là Ðại bi như mẹ có thể làm chỗ y chỉ cực cùng cho tất cả chúng sinh. Hai là tinh cần chẳng dứt có thể diệt trừ khổ não của tất cả chúng sinh. Ba là bình đẳng quan sát tất cả các pháp không mạng, không nuôi dưỡng, không người, không đủ thứ tướng. Này đại vương! Ðó gọi là đầy đủ ba pháp có thể được trí tuệ vi diệu của Bồ tát.

Này đại vương! Lại có đầy đủ ba pháp có thể khiến cho chẳng bị ma quyến rủ. Những gì là ba? Một là đối với tất cả chúng sinh được sự chẳng nổi sân, chẳng tìm lỗi lầm. Hai là bình đẳng quan sát tất cả chúng sinh, tạo tác tư tưởng phước điền. Ba là có thể được tất cả pháp, tác khởi quán một pháp. Ðó là hư không bình đẳng tất cả pháp, không tác, không đủ thứ, không sinh, không khởi, không diệt, tất cả rỗng không như thật tướng, lìa pháp quán chẳng thể tương ưng. Này đại vương! Ðó gọi là ba pháp khiến cho thiện nam tử chẳng bị ma quyến rủ, mãi thoát đươc đường ma”. Ðệ nhất phu nhân của vua Ưu Bát La tên là Thiên Tôn Ðà Lợi cùng cung nhân thể nữ của bà gồm tám muôn bốn ngàn người vây quanh trước sau kéo đến chỗ đức Như Lai Nguyệt Quang Minh Hương Thắng đó. Ðến rồi, họ đem đủ loại hoa tung lên trên đức Phật đó, đảnh lễ dưới chân đức Phật, dùng kệ khen rằng:

Phiền não ngăn che đã hết mãi

Công đức không sánh Giải Thoát Tôn

Làm sao dạy con chuyển thân nữ?

Khiến con đầy đủ tướng nam nhân.

Mau chóng xa lìa các đường ác

Với pháp tự tại điều nhu lòng

Thầy trời người, Thiện Thệ tối thượng

Hay ban lợi đệ nhất thế gian

Như nhờ Thế Tôn bỏ thân nữ

Sẽ được tịch diệt lạc vui mừng

Trượng phu này, làm sao mau nói?

Tự điều, điều lợi ích tha nhân.

Con được ra khỏi hầm ân ái

Tối đệ nhất vô đẳng thế gian

Niệm trì rộng đại công đức tụ

Hay mau điều phục các quần sinh.

Nay con ở đây ắt thủ chuyển (chọn lấy chuyển đổi)

Nguyện mở đường cam lộ cho nhanh!

Lúc bấy giờ, đức Như Lai Thích Ca nói lời như vầy:

- Này thiện nam tử! Ðức Như Lai Nguyệt Quang Minh Hương Thắng đó bảo đệ nhất phu nhân của vua Ưu Bát La, Tôn Ðà Lợi rằng: “Phu nhân có trí phương tiện phải nương theo tu tập để mau chuyển thân nữ đời trước cho đến Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, rốt ráo Niết bàn, lại chẳng thọ thân nữ một lần nữa, trừ khi tự phát nguyện. Này phu nhân! Nương vào phương tiện nào để sự gieo trồng nghiệp nữ của vô lượng đời trước mau diệt hết không còn? Này phu nhân! Có Bảo Tinh Ðà la ni kiến lập việc lớn, đủ công đức lớn có thể ủng hộ lớn, giỏi diệt thân nữ, ba nghiệp, ác hạnh, tất cả khổ báo... khiến cho chúng không có còn. Nếu có nữ nhân nghe Bảo Tinh Ðà la ni này mà chí tâm tụng niệm thì khi hết hình dáng nữ này, đời sau sẽ được làm đấng trượng phu đoan chánh, tất cả thân phận đều đủ đầy, đủ hạnh chất trực, có biện tài lớn, nghiệp thiện của thân, miệng, ý hòa thuận nhau, có thể khiến cho tất cả oán hiềm (hiềm khích) đều lui tan (thoái tán). Nếu có đủ thứ nghiệp ác của thân miệng mà hiện tại, tương lai ứng thọ khổ báo nhưng nhờ sức uy thần nghe Bảo Tinh Ðà la ni nên ác nghiệp đã làm, ngay hiện thế bị tiêu diệt không còn sót lại. Ngay cả người làm tội ngũ nghịch, bài báng hủy hoại chánh pháp, hủy báng thánh nhân nhờ sức uy đức nghe Kinh đó nên đến lúc thân ấy tận liền xả mạng, những tội như vậy cũng đều diệt theo, rốt ráo không còn. Nếu có nữ nhân mà thân miệng đã tạo nghiệp ác, quả báo lường bằng núi Tu Di, đời sau nhất định chịu mọi nỗi khổ nhiều không lường. Ðủ thứ khổ báo, đủ thứ nghiệp chướng, những hạt giống dư báo như vậy, nhờ sức nghe Kinh mà tận diệt không còn. Sở dĩ vì sao? Vì do tất cả các đức Phật A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà nói Kinh Bảo Tinh Ðà la ni này mà nếu ai thọ trì đọc tụng, hiền tiền tán thán xưng dương thì khổ báo sở hữu của các chúng sinh đó nhờ lực của Kinh đều diệt hết, thiện căn sở tác của họ theo thời giantăng trưởng. Nếu các cõi trong mười phương, các đức Phật A-la-ha-tam-miệu-tam Phật đà hiện tạichúng sinh ở từng địa phương, nói Kinh Bảo Tinh Ðà la ni này mà chúng sinh nghe hoan hỷ yêu thích thì tội chướng của họ không gì chẳng tiêu diệt, thiện căn sở tác của họ đều khiến cho tăng trưởng. Nếu các cõi trong mười phương vào đời đương lai, nơi tất cả các đức Phật nói Kinh đó, có người thậm chí chỉ trong một niệm sinh lòng hoan hỷ, thì các chúng sinh đó đều được hết khổ và tăng trưởng thiện căn. Ta hôm nay cũng nói Kinh này, nếu có người nghe đều sẽ tùy hỷ. Chỗ các đức Phật Thế Tôn hiện tại trong mười phương nói Kinh đó cũng sẽ xưng dường, sẽ cùng hoan hỷ. Này phu nhân! Nếu có vua Sát lợi thọ dấu ấn màu đen (mặc ấn) đến đất nước khác mà được Kinh Bảo Tinh Ðà la ni này, chép ra, trì giữ, yêu thích thì nhờ lực của Kinh nên vua Sát Lợi đó uy đức cao xa, có danh xưng lớn đầy khắp mười phương vô lượng đất nước, thậm chí tất cả chư thiên của Dục giớiSắc giới cũng nghe tiếng đức của vua ấy. Tất cả trời, rồng, dạ xoa, càn thát bà.v.v... vô lượng câu chỉ nadotha trăm ngàn vạn ức những vua dòng Sát lợi... thường theo vua ấy cùng ủng hộ. Tất cả cuộc chiến tranh, đói kém, oán địch, phương khác, gió, mưa, lạnh nóng, dịch bệnh, lỗi hoạn... sở hữu của đất nước vị vua đó đều được trừ diệt. Tất cả ác quỉ, dạ xoa, la sát, sư tử, voi, chó sói... đều phát sinh từ tâm, tuy ở tại nước ấy chẳng bị tổn hại. Ðất nước của vua ấy cũng không có tất cả sự thô nhám, vị đắng, ác xúc, đau đớn... không thứ gì chẳng bị tiêu diệt. Tất cả của cải báu vật, ngũ cốc, quả trái, dược thảo, hoa lá... thèm nhiều vị ngon đều được tăng trưởng. Nếu vua Sát lợi thọ ấn muốn cùng vua Sát lợi khác của địch quốc chiến đấu thì nên treo Kinh này đặt trên đầu tràng. Nhờ lực của Kinh nên binh chủng sở hữu của vua oán địch kia tự nhiên lui tan. Nếu hai vua Sát lợi thọ ấn trời, khi giao chiến đều treo Kinh đó đặt trên hai đầu tràng (phan) thì nhờ uy lực của Kinh mà hai vị vua đó liền kính yêu nhau, cùng chung hòa hảo với nhau. Như vậy thành tựu vô lượng công đức, lợi ích an lạc tất cả vua người chính là chỗ có Kinh Bảo Tinh Ðà la ni. Hoặc thành ấp, tụ lạc hoặc người chẳng phải người, loài bốn chân, loài nhiều chân, các loài trùng ác độc... không có thể khiến cho chúng nghe Kinh đó thì tật bệnh, chết yểunão loạn. Nếu ở chỗ sở tại của Kinh điển đó thì nên phải hết lòng thiết lễ đại cúng dường, nên dùng đồ cúng dường phụng nghinh Kinh này, cũng đem quyển Kinh đặt trên tòa sư tử. Người đọc Kinh đó và người nghe Kinh nên phải chí tâm, tắm rửa thanh tịnh, dầu thơm xoa thân, mặc áo mới sạch, thọ trì phạm hạnh, tung hoa đủ sắc, đốt mọi thứ hương thơm danh tiếng, đủ thứ vị ngon, cung kính, vây quanh, cúng dường Kinh đó. Người đó nếu có tất cả tai ách bệnh khổ, chết yểu và những tướng ác kinh sợ thì do lực của Kinh nên đều tiêu diệt biến mất. Nếu có nữ nhân vì cầu con trai con gái đều nên tắm gội, mặc áo mới sạch, tu tập phạm hạnh, đốt hương, tung hoa, cung kính cúng dường Kinh điển vi diệu đó thì liền sinh được con trai con gái phước đức trí tuệ. Như vậy nữ nhân tuy chẳng vì mình mà nhờ uy của Kinh lập lại lực huân tu nên sau khi xả thân cho đến được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác và được Niết bàn, rốt cùng chẳng thọ thân nữ nữa, ngoại trừ tự phát nguyện để thành thục chúng sinh. Này phu nhân! Theo nghe một bài kệ, một câu, một tiếng Kinh của Kinh này... thậm chí chim bay, thú chạy nghe Kinh này cũng lại như vậy, đều được bỏ thân súc sinh kia, cũng khiến cho tất cả mau được chẳng thoái chuyển Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Này thiện nam tử! Khi đức Như Lai Nguyệt Quang Minh Hương Thắng đời quá khứ kia nói Kinh đó, ngài liền dùng ngón chân cái của bàn chân phải chạm vào đất thế giới này sáu thứ chấn động.

Ðức Như Lai Thích Ca Mâu Ni, hôm nay nói Kinh này cũng lại như vậy. Do thần lực của Phật mà sơn hà đại địa của cõi Phật này, sáu thứ chấn động. Mười phương, atăngkỳ vô lượng trời, rồng, dạ xoa, càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Bệ lệ đa, Tỳ xá già, Cưu bàn trà, người, chẳng phải người... đều sinh nghi hoặc, quái lạ, tất cả cõi Phật ánh sáng lớn cùng khắp, đất bằng như bàn tay, núi Tu Di, núi Luân vi, núi Ðại Luân Vi, rừng cây, tường vách đều biến mất. Ðang khi chấn động, các trời, rồng, dạ xoa... đó trước đều nghi hoặc, quái lạ, sau nhờ sự gia bị của thần lực Như Lai nên các trời, rồng.v.v... bốn phương trông về xem, cách một đường tên, liền thấy đức Như Lai Thích Ca Mâu Ni, mỗi mỗi đều kinh ngạc vui mừng, phát sinh lòng hy hữu, nhất thời chắp tay chiêm ngưỡng đức Thế Tôn.

Lúc bấy giờ, đức Như Lai Thích Ca Mâu Ni nói lên như vầy:

- Này thiện nam tử! Khi đức Như Lai Nguyệt Quang Minh Hương Thắng đời quá khứ nói Kinh đó, lấy chân chạm đất, sáu thứ chấn độngcõi Phật này bằng phẳng như mặt nước, tất cả trời, người đều sinh lòng nghi hoặc, quái lạ, từ bốn phương trông về xem, cách một đường tên, liền thấy đức Như Lai Phật Nguyệt Quang Minh Hương Thắng đó. Thấy rồi, họ chắp tay sanh lòng hy hữu. Này thiện nam tử! Ðức Như Lai Nguyệt Quang Minh Hương Thắng đó liền ở trong đại chúng trời, rồng, vì chúng sinh nói bài chú Bảo Tinh Ðà la ni này rằng:

Ðát điệt tha (1) Xà lô kế (2) Xà lô ca mộ kế (3) Xà lê xà la xà lê nhỉ (4) Xà La Bà La Ðế (5) Xa tứ lợi (6) Ba la bố lâu sa la xoa na ta ma lũ tứ gia (7) A ma mê (8) A ma mê (9) Bà ma mê (10) Bà ma mê (11) Na bà mê (12) Ma ha mê (13) Xà ha mê (14) Xà ha mê (15) Khư bà la mê (16) Bà la tỳ (17) Bà bà tỳ (18) Bà ha tỳ (19) Bàng già tỳ (20) Bà xa tỳ (21) (Nguyên bản thiếu ba câu) A la xà hử ly (25) Thiền đô mộc khê (26) Ba ha la (27) Ba ha la (28) Tất đà bối la đế (29) Ðàn địa la (30) Ðàn địa la (31) Ðàn địa đà la (32) Tô lợi gia tỳ ha khư (33) Chiên bạt la tỳ ha khư(34) Chiết sô thù đế ta (35) Tỳ ha khư (36) Tát bà a xoa gia (37) Tất đế lị đỏa tô là tỳ ha khư (38) Xà khư già (39) Xa khư già (40) Tô la khư già (41) Tỳ ha ma (42) A ba lơi khư (43) A một lị khư (44) A một lị khư (45) A một lị khư (46) A một lị khư (47) A một lị khư (48) A một lị khư (49) A một lị khư (50) A một lị khư (51) Một lị khư (52) Một lị khư (53) Một lị khư (54) Tỳ bà hề đà yết ma (55) Ðộ nê độ nê (56) Ô ba đà tỳ gia hề đà (57) Nhược na ngật lị đa (58) A nộp ba đà khư già lệ nao ca (59) Ương quật lệ (60) Bàng quật lệ (61) Tỳ bạc câu lệ (62) Câu la ha (63) Nhơn đà la bát lị bà ha (64) Tỳ bà hề đà yết bà (65) Giá bà la đế (66) Giá bà la đế (67) A mộ ha đạt lị xá nô (68) Bát lị bạt đa bà sa đốt ma (69) Ngật lị ma thù đế (70) Khư già lị xà hử (71) Xà ha (72) Thù đế (73) Nhỉ sắt ca (74) Tỳ la ta (75) Tỳ la ta (76) Tỳ la ta (77) Tỳ la ta (78) Tỳ la xà ma để lị la ma bà bà (79) Ngật lị ba (80) Ma ha ngật lị ba (81) Hử lệ (82) Hử hử lệ (83) A lũ nả bà la đế (84) Tam ma gia nhỉ sắt kế (85) Ðà ma đà na (86) Hí địa dạ na (87) A ba la một lị thế (88) Pha la quân trà la bạc khê (89) Nhĩ hạt lị đa nhất tất đế lị bà bà (90) Yết ma xoa gia bát la đột bà bà (91) Bố lũ sa đỏa a tam ma tam ma (92) Tam ma gia tỳ địa xà nhã (93) Ðá tha già đa (94) Ta ba ha (95).

Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai nói Bảo Tinh Ðà la ni này rồi thì vào lúc không gián đoạnđại địa này lại chấn động nữa. Năm trăm kỹ nữ của ma vương kia do nghe Bảo Tinh Ðà la ni nên liền chuyển hình dáng nữ thành đủ tướng trượng phuvô lượng Atăngkỳ thiên nữ, long nữ, dạ xoa nữ, Càn thát bà nữ, a tu la nữ, Ca lâu la nữ, Khẩn na la nữ, Ma hầu la già nữ cho đến tất cả các con gái bệ lệ đa, tỳ xá già, cưu bàn trà.v.v... nghe Bảo Tinh Ðà la ni này cũng được chuyển hình dáng nữ thành đầy đủ tướng trượng phu, cũng khiến cho tất cả những thiện nam tử mau được chẳng thoái chuyển Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Thậm chí tất cả các nữ nhân vào đời đương lai sẽ thọ thân nữ, nhờ lực Kinh nên nghiệp đương lai liền diệt. Lúc ấy, tất cả nữ nhân đều cùng chắp tay, đầu mặt lễ dưới chân đức Thích Ca Như Lai, đồng thời lớn tiếng nói lên như vầy:

- Nam mô nam ma hy hữu có thể tạo lợi ích vô thượng! Thích Ca Như Lai A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà! Nguyện xin đấng đại Bi rộng vì chúng con nói bổn sự này! Chúng con hôm nay vì sao hình tướng nữ nhân đều đã diệt hết, thân phận trượng phu thành tựu đủ đầy? Do sự chuyển biến hy hữu này mà thân sinh mừng vui. Con nay đã phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác! Nguyện xin đức Thế Tôn nói lên bổn sự này, khiến cho vô lượng trời người đều được đạo quả!

Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Như Lai một lần nữa bảo Hiền Thủ thiện nam tử rằng:

- Khi đức Nguyệt Quang Minh Hương Thắng Như Lai đời quá khứphu nhân của vua Ưu Bát LaThiên Tôn Ðà Lợi tuyên nói Bảo Tinh Ðà la ni thì Tôn Ðà Lợi cùng quyến thuộc thể nữ hậu cung của mình gồm tám muôn bốn ngàn người, tướng nữ nhân diệt đi và tướng trượng phu hiện lên. Vô lượng vô số Atăngkỳ các thiên nữ của trời, cho đến tất cả các nữ của... người và chẳng phải người.v.v... đều chuyển hình tướng nữ thành đầy đủ tướng nam tử và cả nghiệp thân nữ ứng thọ trong dời vị lai cũng diệt không còn.

Lúc bấy giờ, vua Ưu Bát La xả bỏ ngôi vị vua Chuyển Luân tự tại của mình, đem bốn thiên hạ ủy thác cho thái tử, rồi cùng với phu nhân Thiên Tôn Ðà Lợi trượng phu với một ngàn người con của mình cùng chung với tám muôn bốn ngàn trượng phu hậu cung của Thiên Tôn Ðà Lợi (Thiên ái) và chín vạn hai ngàn những thứ dân khác ở chỗ đức Phật Nguyệt Quang Minh Hương Thắng, tin nhà mình chẳng phải là nhà nên bỏ nhà xuất gia, cạo bỏ râu tóc mà mặc pháp phục. Ðã xuất gia rồi, họ dũng mãnh tinh tấn đọc tụng, thọ trì, ý ưa tịch tịnh. Lúc ấy, Vô lượng câu chỉ na do tha trăm ngàn chúng sinh đều phát sinh ý này: “Vì sao Chuyển Luân Thánh xuất gia vào đạo?”. Như kẻ chấp trước tà kiến thì đều chung nói với nhau lời như vầy: “Hương Thắng Như Lai này ân cần ưa ma nghiệp, biện giải huyễn hoặc dua nịnh, khi thành tựu chuyển nữ nhân căn thành trượng phu tướng, khi thì cạo bỏ râu tóc theo mặc nhiễm y (áo nhuộm thầy tu mặc), hoặc vì người sinh lên trời nên nói việc sinh lên trời, hoặc vì người sinh trong loài người nên nói việc trong loài người, hoặc vì loài sinh trong súc sinh nên nói việc súc sinh, hoặc vì loài sinh trong ngạ quỉ mà nói việc ngạ quỉ, hoặc vì loài sinh trong địa ngục mà nói việc địa ngục, hoặc nói pháp chẳng sinh chẳng diệt, hoặc huyễn hóa tạo tác thân nữ nhân... ân cần ưa ma nghiệp đủ việc như trên. Ông Nguyệt Quang Minh đó tạo tác hình dạng Sa môn, ta nay quyết định lìa khỏi chỗ ở này, chẳng chịu nhìn thấy hình tướng Sa môn đó, cũng chẳng muốn nghe lời nói ông ấy nói ra”. Trong chúng đó có người bề tôi tên là Cưu Ma La, lòng sinh nghi hoặc điên đảo, hướng về người của nước đó nói lên rằng: “Thê thiếp, thị nữ sở hữu của chúng ta đều bị sự huyễn hóa của ông Sa môn thay đổi hình tướng nữ tạo thành tố chất trượng phu, biến hóa tất cả cạo tóc, nhuộm áo. Chỉ còn một mình thân ta ôm lòng lo lắng mà được thoát. Nay ta phải vào núi sâu, hang hiểm, chỗ không người như người tiên (tiên nhân) đi tránh yêu thuật huyễn hóa. Các ông, tất cả cùng chung với ta hòa hợp nên theo nhau mà đi, cẩn thận chớ vào sự trói buộc ma của ông Sa môn đó. Ông Sa môn huyễn hoặc hèn hạ, ta nay chẳng muốn nghe âm thanh của ông ấy, huống gì là mắt nhìn thấy!” Trong số thần dân đó, kẻ chưa đắc tâm nghe lời nói ấy, tất cả đều vui mừng. Người bề tôi Cưu Ma La khi nói lời nói đó thì vô lượng câu chỉ trăm ngàn chúng sinh đều rơi vào lưới tà kiến. Ông ấy lại vì chúng sinh tuyên nói tà pháp: “Không có sinh tử cũng không có giải thoát. Làm thiện, làm ác đời sau cũng không có các nghiệp quả báo. Ông Sa môn lừa dối này ân cần làm nghiệp ma. Nếu đến diện kiến ông ấy hoặc lễ bái ông ấy, hoặc nghe pháp ông ấy thì lòng người rối loạn mê hoặc chỉ muốn cạo tóc bỏ nhà, ra bãi tha ma tu hành, ngày chỉ ăn một bữa, đi xin tự nuôi thân, ưa chỗ tịch tịnh, vào phòng ít nói, thường chán năm dục, kỹ nhạc, ca múa, lìa bỏ vòng hoa cài tóc, hương xoa, hương tán và đồ dùng nghiêm sức thân, cũng chẳng ưa đủ thứ hoa trang sức và việc say rượu, hôn nhân dâm dục thỏa tình. Ông Sa môn đó ân cần ưa tuyên nói hành đạo trói buộc của ma tức là oán gia của tất cả chúng sinh. Ta vốn chẳng thấy, chẳng nghe việc làm của ông Sa môn khiến cho vô lượng câu chỉ trăm ngàn chúng sinh thấy tướng như vậy. Từ thuở xa xưa đến nay ta cũng chưa từng thấy ác kiến này”. Này thiện nam tử! Lại vào thời gian sau, đại Sa môn Ưu Bát La nghe nhân dân của nước mình chạy trốn vào hang núi, hoặc lại tự đi theo đường ác, lại dạy người khác khiến cho họ chấp trước ác kiến, hủy hoại Tam Bảo, bài báng chánh, làm theo tà. Nghe những việc đó rồi, ngài liền tự suy nghĩ: Nếu chúng sinh đó đều rơi vào ác kiến, chẳng được giải thoát, chẳng trụ chánh kiến thì chẳng có người đem lại lợi ích, chẳng ai an lập cho. Ta làm Sa môn, phải làm sao khiến cho những chúng sinh mù tối đó vào đời vị lai lìa khỏi đường ác, khử trừ bốn sự trói buộc của ma, người chưa giải thoát có thể khiến cho họ giải thoát... cho đến rốt ráo khiến cho họ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Bấy giờ, Ðại Sa môn Ưu Bát La nghĩ thế rồi, liền bạch với đức Như Lai Nguyệt Quang Minh Hương Thắng rằng: “Hôm nay con vì chúng sinh nên phát đại dũng mãnh, hành Ðại Từ Bi!” Ngài Ưu Bát La liền cùng với vô lượng trăm ngàn chúng sinh vây quanh trước sau đi đến vùng biên địa đó. Nơi thành ấp, tụ lạc trống không, chỗ núi non hiểm trở, ngài Ưu Bát La vì các chúng sinh tuyên nói chánh pháp: “Nếu chúng sinh đó rơi vào ác kiến thì nay ta sẽ ngăn lại khiến cho họ vào chánh kiến... cho đến dạy bảo những kẻ ấy an trụ ở Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Có người, hoặc nguyện cầu Bích Chi Phật thừa, hoặc cầu Thanh văn thừa... thì ta hoặc an lập họ ở Thánh quả, hoặc khiến xuất gia, hoặc khuyên thọ thì Ưu bà tắc giới, hoặc bát trai giới, hoặc hành tam qui, hoặc vì an lập tất cả nữ nhân đủ hình tướng trượng phu, đoạn dứt nghiệp nữ căn mà nói chú Bảo Tinh Ðà la ni này. Cho đến vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sinh ở bên đức Như Lai từng phát sinh nghi hoặc, điên đảo, tất cả chấp trước ác kiến như vậy, ta sẽ ngăn lại, đoạn dứt, khiến cho phát lộ ra. Tạo tác sự dạy bảo đó rồi, ta đều khiến cho họ an lậpVô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, đều ở chỗ đức Phật Nguyệt Quang Minh Hương Thắng cùng chung xuất gia, tịnh tu phạm hạnh”. Này thiện nam tử! Người bề tôi Cưu Ma La trước phát nguyện này: “Vì Ðại Sa môn đó có thể nói pháp huyễn hoặc phá đồ chúng của ta, dụ dỗ quyến thuộc của ta, ông vào đời vị lai khi sẽ được làm Phật thì ta trở lại tạo tác đủ thứ ma sự đối với ông. Như là khi bắt đầu ở trong thai, khi làm đồng tử, khi tuổi tráng thạnh vui chơixuất gia, khi ở dưới gốc cây ngồi đạo tràng... ta sẽ tạo đủ thứ phiền não rối loạn, đủ thứ phá hoại khiến cho ông thoái mất tâm Bồ đề”. Này thiện nam tử! Vị Ðại Sa môn cần khổ thêm bội phần, dũng mãnh tinh tấn du hành khắp bản quốc của mình, vào núi hiểm trở kia, bằng lời nói từ bi, lời nói êm ái, bằng mọi thứ thí dụ khai thông sự hiểu biết cho dân của mình. Những chúng sinh đó đều thấy đức vua cũ, nghe lời nói pháp của vua đều phát sinh vui mừng. Họ liền hồi tà tâm, đoạn ác kiến xưa, ở chỗ vị Sa môn cầu ai sám hối, đồng phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Người bề tôi Cưu Ma Lađồ chúng của hắn điều phục tà tâm, đều mang chánh tín, liền phát nguyện rằng: “Nếu Ðại Sa môn đủ đại bi thì đời tương lai, khi được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, nguyện xin ngài rũ lòng vì con trao cho ký Bồ đề”. Này thiện nam tử! Các ông muốn biết, vua Chuyển Luân Thánh Ưu Bát La thuở xưa là ai khác ư? Chính là thân ta hôm nay đó! Phu nhân Thiên Tôn Ðà Lợi của vua ấy thì nay là Bồ tát Di Lặc đó! Người bề tôi bài báng chánh pháp mang ác kiến Cưu Ma La thì hôm nay là ma vương đó! Vô lượng nadotha trăm ngàn chúng sinh nghe ta nói pháp cùng xả bỏ ác kiến, trụ ở đạo Tam thừa, đều được xuất giavô lượng nữ nhân nhờ lực của Kinh nên thành trượng phu lúc bấy giờ thành tựu hôm nay chính là các ông, bốn bộ đệ tử trong đại chúng đó vậy. Này thiện nam tử! Các ông hôm nay phải tín thọ lời nói của ta! Khi nghe bản sự của vua Ưu Bát La đời quá khứ chớ phát sinh nghi hoặc. Sở dĩ vì sao? Vì nhớ lại, kẻ bề tôi Cưu Ma La thuở xưa thấy quyến thuộc của hắn và vô lượng trăm ngàn chúng sinh kia đồng bỏ ma nghiệp, ở trong pháp của Phật xuất gia làm đạo, liền khởi nên ác niệm: “Nguyện đời đương lai ta cùng với binh chúng ma phá quyến thuộc của ông” trở lại đúng như ngày hôm nay. Này thiện nam tử! Các ông đã từng ở chỗ đức Như Lai Nguyệt Quang Minh Hương Thắng phát sinh niềm tin bất tịnh, nói lời nói bất thiện, do quả báo ác kiến mê hãm (hãm hại) chúng sinh, nhân duyên gặp Phật mà được giải thoát. Do lực của một ý niệm tốt xuất gia nên từ đó đến nay được gần gũi vô lượng trăm ngàn các đức Phật cúng dường, cung cấp mà chẳng sinh lòng khó nhọc (cù lao), ở chỗ các đức Phật phát đại thệ nguyện lòng ưa nghe pháp... cho đến thường hành sáu Ba la mật. Các ông từ xưa đến nay do việc làm nghiệp ác của thân miệng ý nên trải qua vô lượng kiếp thường ở ba đường, gia thêm các khổ não, nghiệp chướng đã dẫn dắt sinh vào trong ma đạo, nhân ta, Thích Ca Mâu Ni Như Lai, nói Bảo Tinh Ðà la ni này mà năm trăm kỹ nữ trong ma chúng đó liền chuyển thân nữ, đồng thời đều được Vô sinh pháp nhẫn. Vô lượng vô số nadotha trăm ngàn chúng sinh, tất cả đại chúng trời người của thế gian đều phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Lại có vô lượng vô số nadotha trăm ngàn chúng sinh đều dược Bất thoái Thanh văn Bích Chi Phật thừa

KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI - Quyển hai hết.

BÀI CHÚ NÀY CHÉP THÊM ÐỂ ÐỐI CHIẾU HIỆU ÐÍNH VỚI BÀI CHÚ DỊCH Ở TRÊN: (Bài chú này trong bản Kinh Bảo Tinh Ðà la ni của Minh Tạng)

Ða địa dã tha xà lô kế (1) Xà lô ca mộc kế (2) Xà lê xà la (3) Xà lê nhỉ (4) Xa la bà la đế (5) Xà hử lợi (6) Bà la bố lâu sa la xoa na bà ma lũ hử tà (7) A maa ma mê (8) Bà ma mêma mê (9) Na bà mê (10) Na ha mê (11) Xà ha mê (12) Xà ha mê khư bà la mê (13) Bà la mê (14) Bà la mê (15) Bà la mê (16) Bà bà tỳ (17) Bà ha tỳ (18) Bàng già tỳ (19) Bà xà tỳ (20) Bà la đa bà lợi si (21) Xà ha mê khư (22) Bà la tỳ (23) A la xà hử li (24) Thiền đổ li (25) Tổ đổ mẫu khê (26) Bà ha la (27) Bà ha la (28) Mê đà bột la đế (29) Ðàn địa la (30) Ðàn địa đà la (31) Tô lợi gia tỳ ha khư (32) Chiên đạt la tỳ ha khư (33) Chước sô thù để sa tỳ ha khư (34) Tát bà xoa gia (35) Tất để lý đỏa tô la (36) Tỳ ha khư (37) Xà khư già (38) Xà khư già (39) Tô khư già (40) Tỳ ha ma (41) A một lý khư (42) A một lý khư (43) A một lý khư (44) A một lý khư (45) A một lý khư (46) A một lý khư (47) A một lý khư (48) A một lý khư (49) A một lý khư (50) Một lý khư một lý khư một lý khư (51) Tỳ bà xỉ đà yết ma (52) Ðộ nê độ nê (53) Uất ba đà tỳ gia xỉ đà (54) Nhã na ngật lý sỉ (55) A nột sĩ ba đà (56) Khư già li nữu ca (57) Ương cữu lệ (58) Bằng cù lệ (59) Tỳ bạc câu lệ (60) Câu la ha (61) Nhơn đà la bát lý bà ha (62) Tỳ dã bà xỉ đà yết bà (63) Già bà la để (64) Già bà la để (65) Già bà la để a mộ ha đạt lý xá nô (66) Bát lý bạt đa hà sa dã khư ma (67) Ngật lý ma thù để (68) Khư già lý xà hử (69) Xa ha thù để (70) Nhỉ sắt ca tỳ la ta (71) Tỳ la ta (72) Tỳ la ta tỳ la ta (73) Tỳ la xà (74) Ma để lý già la ma bà bà (75) Ngật lý bạt dã ma ha ngật lý bạt (76) Hử lệ hử hử lệ (77) A lũ nả bà la đế (78) Tam ma tà nhỉ sắt kế (79) Ðà ma đà na (80) Ðịa dạ na (81) A ba la một lý (82) Pha la quân trà la bạt khê (83) Nhỉ bạt đa tất để lý bà bà (84) Yết ma xoa gia bát la đột bà bà phủ lũ sa sỉ phạm (85) A tam ma tam ma (86) Tam ma gia tỳ địa xà nhã (87) Sỉ tha già đa (88) Ta bà ha (89).

KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI

- Quyển thứ hai - hết.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 502)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(Xem: 494)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 8814)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 574)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 504)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1846)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1889)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1908)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1975)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2748)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2176)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2186)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2497)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 3022)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3552)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2296)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3198)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3099)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 5040)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3300)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3586)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2673)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3384)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2919)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3464)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2661)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 3040)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3392)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3437)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4443)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3931)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3899)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4351)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3781)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3348)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4219)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5286)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3863)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6778)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6477)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4345)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20258)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3773)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7246)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4729)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4491)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 4032)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4398)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5968)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4547)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4265)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4316)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4547)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5206)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3953)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5347)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5192)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6917)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 5073)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5892)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
Quảng Cáo Bảo Trợ