Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,869,326
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Quyển Thứ Bảy

04 Tháng Mười Hai 201300:00(Xem: 5519)
Quyển Thứ Bảy


KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI


Đại Chánh Tân Tu, Bộ Đại Tập, số 0402

Nguyên tác: [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10]

- Hán dịch: Thiên Trúc Tam Tạng Pháp Sư Ba La Pha Mật Ða La - Ðời Ðường

 - Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ - Phan Rang

Chứng nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh

---o0o---


Quyển thứ bảy.


PHẨM THỨ SÁU: ÐÀ LA NI

II- Lúc bấy giờ, trong chúng có một vị Ðại Phạm thiên vương tên là Diệu Âm, địa vị ở vào Thập trụ đại địa, nếu ở trong hàng Phạm là bậc tôn quí trong các Phạm. Nếu ở trong hàng ma là bậc tôn quý trong các ma, nếu ở trong hàng Ðế thích là bậc tôn quí trong các Ðế thích... cho đến Tỳ Sa môn, Tỳ lâu trà, Tỳ lâu bác xoa, Ðề đầu lại tra, Ðại tự tại, Na la diên, A tu la.v.v... đối với các chúa trời ấy là đấng tôn quí trong các chúa trời. Lúc đó Phạm vương Diệu Âm biến làm hình sắc đệ nhất nữ nhân với tướng hảo viên mãn, uy nghi đầy đủ, dùng đồ trang nghiêm thắng diệu mà tự trang nghiêm, ở trước đức Thích Ca Như Lai chắp tay mà ngồi, dùng hai tay bưng ngọc báu Như Ý cúng dường đức Phật, chiêm ngưỡng tôn nhan đức Phật, mắt chẳng nhìn chỗ khác, các căn tịch nhiên chẳng dùng các tướng mà quan sát đức Như Lai.

Bấy giờ, đức Thế Tôn bảo Phạm thiên Diệu Âm rằng:

- Ông nay vì sao mắt chẳng tạm chớp (nháy), thậm chí dùng dùng vô tướng quan sát ta vậy? Này thiện nam tử! Vả có một pháp tên là Phật sao? Vả có một vật có thể là tên (danh) sao? Như tham, sân, si, vô minh phiền não... có danh vật duyên tướng, tướng duyên vô minh, vô minh duyên hành... cho đến nói rộng tướng diệt, vô minh diệt, hành diệt cũng lại như vậy.

Phạm thiên Diệu Âm thưa:

- Quả thật đúng như lời nói của đức Thánh! Vì sao vậy? Vì vô minh chẳng thể được! Thưa đức Thế Tôn! Nếu vô minh chẳng thể được thì mười hai “hữu chi” đó từ đâu mà khởi lên? Có thể từ hư không sinh ra sao? Mà hư không lại chẳng thể được.

Ðức Phật dạy rằng:

- Ðúng vậy! Ðúng vậy! Này thiện nam tử! Tất cả pháp như hư không. Sở dĩ vì sao? Vì hư không không vật, không tướng, chẳng phải tối, chẳng phải sáng, chẳng phân biệt, không phân biệt, không thành, không hoại, chẳng thể nói, không một vật, không phân đều, đoạn tất cả vật. Ðúng vậy! Ðúng vậy! Này thiện nam tử! Phật pháp chân tế đoạn. Phật pháp Như Như. Phật pháp chẳng chọn lấy bờ này bờ kia. Phật pháp chẳng giảm chẳng tăng. Phật pháp chẳng phải ấm, giới, nhập. Thể không phân đều. Hoặc thật, hoặc vật, hoặc tướng tất cả đều không có. Phật pháp không động, không trụ, chẳng dối đặt để. Phật pháp mà tất cả ngôn ngữ nói lên là đoạn dứt.

Khi nói pháp này có tám muôn bốn ngàn chúng sinh phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Có ác ma nói lên như vầy:

- Nếu Phật pháp như hư không, chẳng phải vật, chẳng thể nói thì tại sao ngài dùng trí tuệ tinh tấn, phương tiện nhọc nhằn não hại đến tôi, phá cảnh giới của tôi, thậm chí đoạt lấy chúng sinh của cảnh giới tôi. Ngài lại dạy bảo chúng sinh chẳng lại, chẳng đi, không vật huyễn thuật. Nếu ngài dạy chúng sinh như vậy thì chẳng lại thấy phiền não của chúng hành khởi. Vì sao ngài vì tôi, ở thế giới Ta Bà này, triệu tập vô lượng vô số những đức Phật Thế Tôn, Ðại Bồ tát và Ðại Thanh văn, Phạm vương, Ðế thích, trời Hộ Thế, Ma ê thủ la có đại thần thông, có đại gia hộ như vậy? Thậm chí trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già.v.v... đại chúng khắp nơi đều cùng đến đầy ở tất cả các cõi Phật và khiến cho ông Ðại Phạm không có lòng từ nói chú như vậy? Chúng tôi đã nghe đều bị đau đầu, chịu khổ não lớn, thậm chí còn khiến cho trên, dưới thân thối rữa.

Bấy giờ, lại có sáu vạn tám ngàn các ma vươngvô lượng vô biên chúng ma của họ, Dạ xoa, La sát, Cưu bàn trà, Tỳ xá già cực ác.v.v... tất cả đồng thanh xướng lên như vầy:

- Ðồ đảng chúng tôi khi vừa nghe chú thì tăng thêm đau đầu, thân đều thối rữa, chịu khổ rất nặng.

Ðức Thích Ca Như Lai bảo các ma đó rằng:

- Nhớ ta ngày xưa khi ngồi dưới cây Bồ đề đạo tràng, chúng ma quân của ông ở khắp tám mươi do tuần và cả trên hư không đều tràn đầy, muốn đến hại ta, cho đến ngày nay lại cũng đem vô lượng câu đê binh chúng đến hại ta. Ta cũng như vậy, triệu tập vô lượng vô số các đức Phật Thế Tôn, Ðại Bồ tát... cho đến người, chẳng phải người khắp nơi đến tập hội, vì muốn khiến cho ông và những ma khác, người, chẳng phải người.v.v... đều hàng phục, diệt tất cả khổ, được niềm vui Niết bàn tịch diệt, cũng vì dạy ông chẳng lại chẳng đi, tính vô sở hữu như pháp huyễn hóa, tất cả thú hướng, tất cả diệt, tất cả khởi, dòng sông ái sinh tử đều khô kiệt, cũng khiến cho các ông và tất cả chúng sinh tà kiến vào cảnh giới vô dư Niết bànBát Niết bàn. Này ma vương! Các ông hôm nay hãy mau chóng phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì bệnh đau đầu này sẽ được giải thoát, tu tập dần dần tính không thì Phật pháp sẽ được hiện tiền và được cảnh giới của chư Phật, thắng được cảnh giới của ma, thu hoạch lợi ích lớn.

Lúc bấy giờ, sáu muôn tám ngàn những ma, đồ chúng của ma đồng thanh xướng lên rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Chúng con hôm nay phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì làm sao sẽ được tự tính không... Phật pháp hiện tiền... cho đến được cảnh giới thắng diệu của Phật và lợi ích hy hữu?

ác ma nói lên như vầy:

- Giả sử lại khiến cho chúng ta tận sau cùng, thân bị bệnh đau đầu nặng thì ta nhất định chẳng theo lời dua nịnh huyễn hoặc mà phát tâm Bồ đề.

Bấy giờ, đại phạm Diệu Âm nói lên như vầy:

- Ta nay cũng ở trước đức Phật, dùng giáo pháp vi diệu của cõi Phật này dũng mãnh thọ trì và ở thế giới ngũ trược này lưu bố lời dạy của đức Thích Ca Như Lai tôn trọng. Từ nay trở lui cho đến sau khi đức Thích Ca diệt độ, ta sẽ khiến cho pháp hóa này sẽ được rực rỡ. Tùy theo đất nước có chúng sinh chánh tín ta đều đem khiến cho chẳng thoái lui, mau ra khỏi lưới ma. Nếu pháp môn này mà thế gian chẳng lưu hành thì ta khiến cho lưu hành. Nếu chỗ đã lưu hành thì ta khiến cho lòng tin ấy thêm rộng bội phần. Những thiện nam tử, thiện nữ nhân có trong thành ấp, tụ lạc thì ta sẽ ủng hộ nuôi dưỡng từ tâm, ngăn chận việc phi nghĩa của họ, răn bày thiện nghĩa. Tùy chỗ có pháp môn Bất Thoái Ma Trường Ðà la ni này... cho đến ghi chép, giữ gìn, cũng tùy theo chỗ có pháp sư lên tòa sư tử, muốn khai thị diễn nói thì trước tiên pháp sư phải chí tâm tụng chương cú Ðà la ni này, kêu gọi triệu mời ta cùng các quyến thuộc. Ta sẽ tự đi đến chỗ vị pháp sư đó mà vì ông tạo tác sự ủng hộ và khiến cho chúng nghe pháp được đại cát tường.

Ðại phạm Diệu Âm liền ở trước đức Phật mà nói chú rằng:

Ða địa dã tha a bà nhĩ a bà nhĩ (1) Am bà ly am bà ly (2) Bạt lý quân xà na trà na trà (3) Bổ sa ca la bà ha (4) Xà lậu kha (50 Ma kha gia (6) Y lê nhị lê (7) Chỉ lê nhị lê (8) Cát chỉ già la mẫu đà ly (9) Mẫu đà la mẫu bả (10) Ta bà ha (11).

- Thưa đức Thế Tôn! - Ðại Phạm nói tiếp - Tùy theo chỗ có pháp sư nói pháp, trước tiên cần phải tụng câu chú này. Con dùng thiên nhĩ thanh tịnh ở trên thượng giới, nghe âm thanh ấy mà chẳng đến chỗ đó tạo tác sự thủ hộ, là đã lừa dối tất cả các đức Phật quá khứ, vị laihiện tại. Chư Phật cũng không khiến cho con được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Nhưng con nhất định đi đến chỗ vị pháp sư nói pháp đó cung kính làm lễ dưới chân, cũng cho biện tài lạc thuyết (nói hay). Con lại khiến cho pháp sư và chúng nghe pháp, tất cả bịnh khổ, ác kiến, ác tác, lòng tà nghi đều khiến cho đoạn diệt hết. Thưa đức Thế Tôn! Tùy theo chỗ phương diện nói pháp môn này mà có người có thể thọ trì, ôn tụng, thì con và quyến thuộc sẽ đi đến chỗ người đó. Nếu ở đó có tất cả những thứ đấu tranh, đói kém, bệnh hoạn, ưu não, oán địch trong ngoài, nắng hạn, mưa ngập, lạnh nóng mất thứ tự, gió mưa chẳng đúng lúc, ác kiến, ác tác... con sẽ khiến cho tiêu diệt. Những nỗi sợ của người và chẳng phải người, súc sinh.v.v... và tất cả những giấc mơ chẳng tốt lành, ác tướng, ác nhân, không có nhuận trạch, vị đắng thô ráp, cay thối khó chịu... Những hoạn nạn như vậy con sẽ đoạn trừ hết. Cho đến sư tử, ác thú, rồng độc, trâu hoang, sài lang, đạo tặc, người, chẳng phải người gian trá.v.v... vô lượng những nỗi sợ con đều đoạn diệt hết.Vì khiến cho chúng sinh được đồ ưa thích mà con khiến cho đủ thứ ngũ cốc, dược thảo, hoa quả, đồ ăn uống thượng vị, y phục, nhà cửa, chăn chiên, ngọa cụ... quả báo thành tựu đều sung mãn. Tùy theo chỗ có pháp môn này lưu thông thì việc chẳng lợi ích con sẽ ngăn chặn, việc lợi ích con sẽ khiến cho thành tựu. Nếu chúng sinh đó tin ưa chánh pháp, làm hạnh thiện thì con sẽ răn bày khiến cho phước tăng trưởng. Con nay ở trước tất cả các đức Phật này lập đại thệ nguyện. Nguyện xin chư Phật đồng thương xót con khiến cho đại nguyện làm Phật sự của con thành tựu. Nguyện thành tựu nên chỗ sở y (nương) của ý đều khiến đủ đầy. Nguyện đủ đầy nên liền thành tựu sở tác của bậc trượng phu.

Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Như Lai đứng đầu cùng tất cả chư Phật đồng chung thương xót nhiếp lấy Ðại Phạm Diệu Âm nói lên như vầy:

- Này thiện nam tử! Chúng ta sẽ đem chú Ðà la ni cho ông thọ trì. Sở dĩ vì sao? Vì nếu tất cả Ðế thích, Phạm vương, Hộ thế Tứ Thiên vương và những trời, rồng, Dạ xoa, A tu la khác.v.v... đối với lời Thánh giáo của đức Phậtkhởi tâm bất tịnh thì nhờ lực của chú này nên đều sẽ nhiếp phục.

Khi Ðại Phạm Diệu Âm tạo tác sự kiến lập việc sở tác của bậc Ðại trượng phu như vậy thì chư Phật mười phương đồng xướng lên rằng:

- Nguyện cho nguyện lực của Diệu Âm đại phạm thành tựu!

Ðức Phật liền nói chú rằng:

- Ða địa dã tha giả vấn trì (1) Vấn trà bả lý xỉ đề (2) Ha mậu ma (3) Ha mậu ma (4) Ta la xoa (5) Bà la cữu ta nhị kha (6) Bả lý bà ha (7) Già la ma (8) Dã tha giả sưu tỷ kha a mậu la bả lý xỉ đề (9) Tát bà bộ đà địa sử sỉ chỉ (10) Ta bà ha (11).

Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn nói chú đó rồi, nói lên như vầy:

- Này thiện nam tử! Ðà la ni này có thể khiến cho tất cả ma và Ðế Thích, Phạm vương, Hộ Thế thiên vương, các trời, rồng, Dạ xoa, A tu la có ánh sáng lớn thấm nhuần khác nhiếp lấy tất cả người, chẳng phải người.v.v..., đều khiến cho họ hồi hướng công đức chư Phật. Ông nay nếu có thể thọ trì Ðà la ni như vậy thì tức là có thể tạo tác việc sở tác của bậc đại trượng phu.

Ðại Phạm Diệu Âm thưa rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Con nay dùng hình tướng nữ nhân này sẽ khéo hộ trì tất cả nữ nhân, sẽ khéo thành thục tất cả nữ nhân. Thưa đức Thế Tôn! Nếu có nữ nhân chán ghét thân nữ, cầu tướng trượng phu thì nên phải thọ trì, đọc tụng, chép thành sách, cúng dường Kinh này. Con sẽ đi đến chỗ nữ nhân đó để thỏa mãn nguyện vọng của họ. Nếu có nữ nhân chán hoạn nam nữ thì cũng phải thọ trì đọc tụng, chép thành sách, cúng dường chú này. Như vậy, sức trì chú của nữ nhân tuy chưa lìa dục nhưng chẳng thọ thai. Lại có nữ nhân bị người khác khinh khi hèn hạ, bị người lừa dối, lấn hiếp, mất hết các lạc thọ (niềm vui nhận được) cũng nên đọc tụng Ðà la ni này. Do sức uy thần của Ðà la ni nên tất cả nguyện thỏa mãn, các niềm vui thành tựu.

Lúc bấy giờ, ngài Ðại Phạm vì cúng dường, vì hộ trì pháp môn Ðà la ni thần lực này, vì thỏa mãn nguyện tất cả chúng sinh nên liền hai tay bưng ngọc báu Ma ni dâng lên cúng dường, tất cả chư Phật mười phương. Lúc bấy giờ, các đức Phật đồng lên tiếng rằng:

- Ðúng vậy! Ðúng vậy! Này thiện nam tử! Nguyện cho ông thường có thể hộ trì Phật giáo, thỏa mãn nguyện chúng sinh.

PHẨM THỨ BẢY: NHIẾP THỌ DIỆU PHÁP.

Lúc bấy giờ, trong hội có vị Ðại Bồ tát tên là Diệu Tuệ Thông Ðạt ngồi ở trước đức Như Lai Thắng Châu Viêm, cách đức Như Lai Thích Ca chẳng xa, ở trong khoảnh khắc mâu hốt đa hiện làm tướng Phạm, ở trong khoảnh khắc sát na hiện làm hình tướng ma... cho đến hiện hình tướng trời Ðế Thích, hình tướng trời Tha Hóa Tự Tại. Lại nữa ông hiện làm hình tướng các chúa trời, hình tướng trời Hóa Lạc, trời Ðâu Suất, trời Dạ Ma, hình tướng Tứ Thiên Vương, trời Ðại Tự Tại. Hoặc hiện hình tướng Dạ xoa, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, La sát, ngã quỉ, Tỳ xá già, Cưu bàn trà, Sát lợi, Bà la môn, Tỳ xá, thủ đà.v.v... Hoặc hiện hình tướng sư tử, voi, ngựa, trâu nước.v.v... cho đến thị hiện đủ thứ hình tướng súc sinh. Ở trong khoảnh khắc sát na, ông hoặc hiện chim, cây, núi, quả (trái cây), y phục, ngọa cụ, đủ thứ y dược, khí cụ báu trang nghiêm... Trong khoảnh khắc mâu hốt đa ông thị hiện hình tượng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni. Trong khoảnh khắc sát na ông thị hiện hình tượng Phật, hoặc hiện tám muôn bốn ngàn đủ thứ sắc tướng... cho đến hình mạo tròn vuông, phân sắc tịnh diệu. Bấy giờ, trưởng lão Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử liền đứng dậy, chắp tay hỏi đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Vì nhân gì? Duyên gì? Mà vị Bồ tát này có tám muôn bốn ngàn tướng tịnh diệu và thân đủ thứ loại vuông tròn phân sắc như vậy?

Ðức Phật bảo ngài Phú Lâu Na rằng:

- Bồ tát này có đại công đức nhiếp lấy cảnh giới lực mà tất cả Thanh văn, Bích Chi Phật chẳng thể bì kịp. Ðại Bồ tát Diệu Tuệ Thông Ðạt theo chỗ trụ kia mà thọ cảnh giới lực để thành thục chúng sinh. Tất cả Thanh văn, Bích Chi Phật chẳng phải ở địa vị ấy. Tùy theo những chúng sinh đó đầy khắp mười phương nhiều vô lượng vô số, hoặc tịnh hay bất tịnh, ở những cõi Phật, ông ấy thường dùng tuệ nhãn không chướng ngại để thấy đúng như sở nguyện, đúng như điều nghĩ, đúng như sự ràng buộc suy não, đúng như chỗ nương về. Rồi Bồ tát này vào tam muội như vậy, dùng sắc mạo uy nghi đó để tùy theo ứng xử vuông tròn... đủ thứ sắc tướng đầy đủ... cho đến hình tướng Phật như việc hóa độ chúng sinh, an trí họ ở Tam thừa trụ ở Bất thoái địa. Nếu chúng sinhtham lam chẳng tự tại cầu đủ thứ ái dục thì vì đoạn dứt sự tham đó nên ông cho họ nhu cầu ấy, nhiên hậu mới đặt họ vào “bất thoái địa”. Nếu người bệnh hoạn cần thuốc men thì ông liền cho họ thuốc, nhiên hậu mới an lập họ ở bất thoái địa. Này Phú Lâu Na! Bồ tát Diệu Tuệ Thông Ðạt này, ở trong một ngày, có thể độ được số chúng sinh nhiều như cát sông Hằng, giải thoát các khổ, đặt vào địa vị bất thoái tam thừa.

Ngài Phú Lâu Na bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Vị thiện nam tử này thành tựu chúng sinh, làm việc của bậc trượng phu đến nay đã lâu chưa?

Ðức Phật dạy rằng:

- Số kiếp lâu bằng vi trần của a tăng kỳ cõi Phật ông thiện nam tử này đã phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Trải qua thời gian ấy, ông đã được sức tam muội gia hộ kiến lập việc của bậc trượng phu cho đến nay. Lại nữa, ông ấy lại trải qua sáu mươi tư a tăng kỳ kiếp.

Ngài Phú Lâu Na thưa rằng:

- Bồ tát Diệu Tuệ từ đây đến bao lâu và ở cõi Phật nào sẽ được A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề?

Ðức Phật dạy rằng:

- Lại trải qua hai mươi sáu trăm ngàn đại kiếp, qua khỏi số kiếp đó rồi có đại kiếp tên là Năng Ðộ, thế giới tên là Ma Ni Hoa Tu (Mạn). Chúng sinh nước ấy đều sống lâu bốn mươi ngàn năm, Bồ tát Diệu Tuệ ở trong số chúng sinh ác ngũ nghịch bất thiện pháp sẽ thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðức Phật ấy hiệu là Khai Phu Vô Biên Quang Như Lai A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà. Ðức Phật ở trong bốn mươi ngàn năm luôn luôn làm Phật sự. Ngài dùng pháp Tam thừa thành thục chúng sinh... cho đến khiến cho họ được Bát Niết bàn. Từ đó trở về sau, đức Phật Vô Biên Quang dùng Vô dư Niết bàn mà vào Niết bàn.

Ngài Phú Lâu Na thưa rằng:

- Bạch đức Thế Tôn! Những chúng sinh đã thành thục trước đó của Bồ tát này sẽ sinh ra ở đâu?

Ðức Phật dạy rằng:

- Bồ tát này trước đã tác khởi nguyện chẳng tự nhiếp thọ như vầy: “Mười phương thế giới, ở mỗi một phương cõi Phật nối nhau không gián đoạn nhiều như số vi trần. Các đức Phật có trong những cõi Phật đó khiến cho ta được thấy. Nếu ta chẳng thấy những đức Phật đó thì chẳng thủ lấy Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Khi hành Bồ tát đạo trước đây của ta, khuyến phát chúng sinh thì trước tiênphát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, rồi thị hiện giáo hóa kiến lập sáu Ba la mật. Người đã thành thục thì ở khắp các cõi Phật trong mười phương. Người đã được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì cũng khiến cho ta nhìn thấy. Do lực trang nghiêm Tam ma đề gia hộ như vậy nên mỗi một cõi Phật nối tiếp không gián đoạn trong số những cõi Phật nhiều như vi trầnmười phương, ta có thể làm việc của bậc đại trượng phu như vậy. Và chúng sinh tạo tác ngũ nghịch tội, chẳng thể trị cho đến chúng sinh đầy đủ pháp bất thiện trong những cõi Phật đó, sau khi mạng chung ở đó, thừa nguyện lực của ta đều vãng sinh đến nước của ta. Ta làm Bồ tát, khiến cho chúng sinh này gieo trồng các căn lành, đặt họ vào đất “bất thoái”, nhiên hậu thân ta sẽ thủ lấy Chánh Giác”. Bồ tát Diệu Tuệ có nguyện lớn như thế!

Lúc bấy giờ, các vị Bồ tát cùng đến của các cõi Phật trong mười phương đồng nói lên rằng:

- Chúng ta hôm nay từ khắp nơi vân tập đến cõi Phật này, được thấy Ðại sư có tướng như vậy và thấy những vị Bồ tát đầy đủ đại bi đại tập hội và được nghe điều xưa kia chưa nghe: Pháp thức “Kim Cương Pháp Ðẳng Nhân Duyên Pháp Tâm Năng Kiến Lập Tồi Toái Ðà La Ni Ấn Cú Sai Biệt Môn Ký của các đức Phật quá khứ, vị laihiện tại ủng hộ khiến ta được nghe.

 

 

PHẨM THỨ TÁM: THỌ KÝ

Lúc bấy giờ, đức A Súc Như Lai bảo khắp tất cả đại chúng bằng lời như vầy:

- Ta khuyên thiện nam tử các ông, Phạm thiên, Ðế thích, Tứ thiên vương trời, rồng, Dạ xoa, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người, chẳng phải người.v.v... những người có niềm tin thanh tịnh đối với Phật Giáo tập hội về đây, được thấy tất cả các đức Phật Thế Tôn và các vị Ðại Bồ tát, Ðế Thích, Phạm vương, Thiên vương, người, chẳng phải người.v.v... khắp nơi vân tập lại. Tướng lớn như vậy rất là khó được, các ông hôm nay thấy tập hội ở chỗ này đều ứng với tự nguyện của từng người ở trước đức Như Lai. Các ông nay ở cõi Phật này, nếu đời hiện tại và đời vị lai nhất định có thể hộ trì diệu pháp như vậy, khiến cho giống Tam Bảo thường được xí thạnh.

Bấy giờ, có ma tên là Tức Hoa dùng khí cụ báu đựng đủ thứ hoa quả và mạch nha (đồ ăn làm từ mầm mọng lúa), tự biến thân hình mình làm hình dáng nữ nhân với đầy đủ vi diệu, đoan chánh đệ nhất, sắc tướng viên mãn, không ai sánh bằng. Ma đó dùng y phục đệ nhất nghiêm sức thân mình, mang đồ báu đựng hoa dâng lên cúng dường đức Phật và nói lên như vầy:

- Xin các đức Phật Thế Tôn một lòng nghĩ đến con! Nếu các đức Phật có trong thế giới này và thế giới khác đến tập hội về đây thì như vậy, thưa các đức Phật Thế Tôn. Con hôm nay đem tất cả hoa trái và mạch nha đựng đầy trong bảo khí hiến dâng lên đức Phật. Nguyện xin chư Phật từ bi đều nhiếp thọ hết! Cho con thành tựu viên mãn nguyện Bồ đề. Như con đến hết kiếp Hiền này, ở trong tất cả cõi Phật dùng hình tướng nữ nhân ban cho chúng sinh đồ ăn, thức uống, hoa trái... cho đến thành thục chúng sinh. Do phước báo này khiến con viên mãn cụ túc sáu Ba la mật, được thành Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giácchúng sinh đã hóa độ của con đều cung cấp, không có sự thiếu thốn.

Lúc bấy giờ, tất cả các đức Phật đồng nói lên rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông có thể dùng tâm thanh tịnh kiến lập đại thí và cúng dường tất cả các đức Phật Thế Tôn. Ta nay đã thọ sự bố thí của ông khiến cho ông được như sở cầu, được như điều ông cầu làm... cho đến khiến cho ông viên mãn ý nguyện cầu xin lúc bấy giờ, công đức thành tựu, thần thông thành tựu.

Ma Tức Hoa lại nói lên rằng:

- Như có thành, ấp, thôn, xóm mà có người có thể thọ trì, khai thị Kinh điển này, có người chép thành Kinh quyển và cúng dường thì con sẽ ở quốc ấp, tụ lạc đó cho đến chỗ biên cương có người ở làm cho tòng lâm, hoa quả, ngũ cốc đâm hoa kết trái đều thành tựu. Chúng sinh có trong tất cả những chỗ đó, thậm chí loài cầm thú ăn hoa quả thì con đều khiến cho sung túc. Thưa đức Thế Tôn! Nếu có một người ở bất cứ đâu ưng ăn trái, nhưng chẳng được ăn mà mạng chung thì hôm nay con tức là đã lừa dối tất cả các đức Phật ba đời và những Thánh chúng trong đại hội này và cũng chớ cho con được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, chỉ trừ nghiệp hết và mạng hết. Những thứ hoa quả mỹ vị sở hữu đều khiến cho chúng sinh khắp nơi được thọ dụng. Do cái nhân này nên khiến cho con đầy đủ Ðàn Ba la mật. Nếu những chúng sanh ăn quả trái thì những chúng sanh này sẽ khởi bi tâm lợi ích lẫn nhau. Do cái nhân này nên khiến cho con đầy đủ Thi (trì giới) Ba la mật. Nếu các chúng sinh thọ dụng hoa trái thì những chúng sinh khởi tâm nhu nhuyến. Do cái nhân này nên khiến cho con đầy đủ Sàn đề (nhẫn nhục) Ba la mật. Nếu các chúng sinh thọ dụng hoa quả thì sẽ khiến cho lòng tinh tấn kiên cố. Do cái nhân này nên khiến cho con đầy đủ Tỳ Lê Gia (tinh tấn) Ba la mật. Nếu chúng sinh thọ hoa quả của con thì pháp tâm tâm số khởi lên vô thường tưởng. Do cái nhân này nên khiến cho con đầy đủ Thiền Ba la mật. Nếu chúng sinh, thậm chí loài cầm thú, ăn hoa quả thì đều khiến cho chúng ưa pháp, được trụ tính không. Do cái nhân này nên khiến cho con đầy đủ Bát nhã Ba la mật. Lại nữa, tùy theo chỗ có hành pháp môn này, những chúng sinh ở đó sở hữu đủ thứ lúa nước, lúa mì, đậu, hoa trái đủ loại... do đó nên lòng con rất cần lao vì những chúng sinh đó thu hoạch nhiều hạt giống, cũng khiến cho kho chứa lúa tràn đầy. Nếu chúng sinh đó, cho đến loài cầm thú ăn hoa quả thì do cái nhân này khiến cho con đầy đủ Bát nhã Ba la mật. Nếu mỗi một địa phương lưu thông, khai thị pháp môn này, tùy theo chỗ đó có mía, quả bồ đào, quả thạch lựu.v.v... thì tất cả nước cốt, hương vị, không thứ nào chẳng thơm ngon hơn bội phần so với thứ thường và những bình vò, hủ, đồ đựng (chứa) của chúng sinh đều khiến cho tràn đầy. Nếu có chúng sinh thọ dụng thì đều được thêm lớn trí tuệ và sắc lực. Do cái nhân này nên khiến cho con đầy đủ Bát nhã Ba la mật. Thưa đức Thế Tôn! Con được đầy đủ nhân duyên thanh tịnh của sáu Ba la mật như vậy khiến cho con được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, tất cả các đức Phật và tất cả chúng Ðại Bồ tát sẽ tùy hỷ. Con có thể tạo tác hành tướng của Bồ tát như vậy.

Tất cả các đức Phật trong đại chúng đều mặc nhiên hứa khả. Lúc bấy giờ, có đức Phật hiệu là Trí Tinh nói lên như vầy:

- Này thiện nam tử! Ông sẽ mời tất cả chúng sinh làm đại thí chủ. Ông dùng tướng như vậy, sức như vậy, tinh tấn dũng mãnh như vậy, nhọc nhằn chẳng nghỉ như vậy, này thiện nam tử! Ông có thể tạo tác tướng, lực, tinh tấn như vậy thì tức là việc làm của bậc Bồ tát trượng phu.

Ma Tức Hoa, ở trước đức Phật Trí Tinh, nghe lời an ủi như vậy rồi, liền bạch đức Phật rằng:

- Nguyện xin đức Thế Tôn một lòng hộ niệm cho nghiệp thiện của con thành tựu đủ đầy. Ở tại khắp nơi nơi, nếu chỗ pháp môn này chẳng lưu hành thì con cùng quyến thuộc chẳng vào cảnh giới ấy. Nếu chỗ pháp môn này lưu hành thì con cùng quyến thuộc luôn luôn trụ ở chỗ đó và làm cho ngũ cốc, thảo dược, hoa quả... của cõi đất ấy bội phần nhiều thêm, sắc hương mỹ vị đều đầy đủ, chúng sinh thọ dụng lúc nào cũng no đủ, kho đựng, hầm trữ đều chứa đầy. Thậm chí đồ ăn của loài súc sinh cũng khiến cho phong phú. Do thiện căn này khiến cho con đầy đủ Bát nhã Ba la mật. Thưa đức Thế Tôn! Con ở cõi Phật này cho hết một ngàn kiếp để khiến cho tướng như vậy, lực như vậy, thọ ăn uống như vậy của các chúng sinh sẽ trở nên sung túc. Thưa đức Thế Tôn! Ở mỗi một đất nước của thế giới ngũ trược nhiều như cát sông Hằng vô lượng vô số như vậy, con thề sẽ ở trong một ngàn kiếp để làm Phật sự lớn, nhiên hậu thân con sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Thưa đức Thế Tôn! Nay con dùng câu thần chú này nguyện tự hô lên nhiếp lấy.

Ma Tức Hoa liền nói chú rằng:

- Ða địa dã tha già nhỉ kha (1) Già nhỉ kha già nhỉ kha (2) Tỳ tỳ lý đa ha sa đế (3) Bà ha bà ha bà ha (4) Ta ma la a ta ma kiếm (5) Ta la tri (6) Tỳ bà bà ta tỳ (7) Ta la ta huyện đà ly (8) Ta la ma hiển đà ly (9) Ta la bà xà luyện đa ly (10) Lông hằng bả dạ ta ma kiếm (11) Hủ hủ hủ hủ hủ hủ (12) A tăng già xã tỳ (13) Sỉ kha sỉ kha sỉ kha (14) Bà do bà nghĩa (15) Ưu ba na dã (16) Lông hằng bả dạ (17) Tỵ xà pha la bổ sở báo sở đề (18) Ðà na đà nê di na (19) Chiên đà la si di (20) Xã văn bà ha nê (21) Ta ma la (dẫn) ta ma kiếm (22) Tam miệu ba la để bát na bà viêm (23) Ta xỉ ca lý dã ma di (24) Ma nhị ma nhị ma mẫn xà bà la (25) Ta bà ha (26).

Ma Tức Hoa nói chú đó rồi, tự bạch đức Phật rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Chỗ sở tại, có người có thể khai thị pháp môn Kinh này và câu Ðà la ni này thì con đến chỗ đó vì muốn tự thành thục, vì hạnh Bồ đề đầy đủ.

Lúc bấy giờ, tất cả các đức Phật đồng chung khen rằng:

- Hay thay! Hay thay!

Tại đại hội, đại chúng Ðại Bồ tát và tất cả Phạm vương, Ðế thích, Thiên vương, Hộ Thế Tứ thiên vương, trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Cưu bàn trà, Tỳ xá già, người, chẳng phải người.v.v... từ trong tất cả các cõi Phật đến đây đều chung đồng thanh xướng lên rằng:

- Hay thay! Hay thay! Thưa thiện nam tử! Ông có thể dùng hình tướng nữ này tu hành sáu Ba la mật thành thục chúng sinh! Bằng sức lực phước đức tinh tấn nhọc nhằn của chúng tôi, chúng tôi xin nguyện khiến việc làm Phật sự của ông sẽ được thành tựu!

Ðức Thích Ca Như Lai nói lên như vầy:

- Có ai thương xót thiện nam tử này thì có thể tá trợ!

 

KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI

- Quyển thứ bảy - hết.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 516)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(Xem: 498)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 8816)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 582)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 509)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1849)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1898)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1912)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1976)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2752)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2178)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2190)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2501)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 3026)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3555)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2302)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3202)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3106)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 5052)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3302)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3588)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2676)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3387)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2921)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3467)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2662)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 3043)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3393)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3444)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4450)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3934)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3903)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4358)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3783)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3351)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4223)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5291)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3867)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6781)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6486)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4347)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20258)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3777)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7250)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4733)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4493)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 4034)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4402)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5971)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4550)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4268)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4321)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4549)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5210)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3953)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5349)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5195)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6918)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 5075)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5895)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
Quảng Cáo Bảo Trợ