Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,869,062
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Quyển Thứ Tám

04 Tháng Mười Hai 201300:00(Xem: 5205)
Quyển Thứ Tám


KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI


Đại Chánh Tân Tu, Bộ Đại Tập, số 0402

Nguyên tác: [1] [2] [3] [4] [5] [6] [7] [8] [9] [10]

- Hán dịch: Thiên Trúc Tam Tạng Pháp Sư Ba La Pha Mật Ða La - Ðời Ðường

 - Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ - Phan Rang

Chứng nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh

---o0o---


Quyển thứ tám.


PHẨM THỌ KÝ (TIẾP THEO)

Lúc bấy giờ quyến thuộc của ma Tức Hoa đồng thanh xướng rằng:

- Thưa đức Thế Tôn! Quyến thuộc chúng con tùy thuận tá trợ! Nếu ông thiện nam tử khi được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì sẽ cùng chúng con thọ ký Bồ đề.

Ma Tức Hoa nói rằng:

- Ðúng vậy! Này các thiện nam tử!

Quyến thuộc của ma nói rằng:

- Có chúng sinh hạ chủng (dòng giống thấp hèn) ở dưới đất thâu lượm những quả trái mà thọ dụng thì do thiện căn này sẽ khiến cho chúng tôi được an lạc lớn, được lợi ích lớn.

Ma Tức Hoa lại bạch đức Thích Ca Như Lai rằng:

- Chính con hộ trì giáo pháp của đức Thế Tôn! Chính con làm rỡ ràng chánh pháp của đức Thế Tôn! Con ở trong này việc làm đầu tiên là tiêu diệt đói kém. Nguyện xin đức Thế Tôn cho con thọ ký Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Ma Tức Hoa, năm vóc gieo xuống đất, đầu mặt lễ bái dưới chân đức Thích Ca Như Lai, rồi lui về ngồi một bên. Bấy giờ, đức Thế Tôn liền vì Tức Hoa mà nói kệ rằng:

Ông dũng mãnh làm con Thiện Thệ

Vô cấu thanh tịnh mặt hoa sen

Nay có thể phát nguyện bền chắc

Sẽ được Bồ đề lớn tột cùng:

“Những chúng sinh này lửa đói bức

Ta hay cứu hộ, làm chí thân

Giải thoát cho tất cả sinh chúng

Sẽ làm Phật, khởi đại bi tâm.

Dùng sức Không, Vô tướng, Vô nguyện

Giải thoát chúng sinh khổ sáu đường

Luôn dùng pháp hư không thanh tịnh

Khiến cho chúng sinh được sạch trong (vô cấu)”

cõi Phật này chẳng lâu nữa

Hiệu Thắng Tuệ, giác pháp chứng thành

Ở đời vị lai được làm Phật

Hàng thắng oán thiện trí dũng cường.

Ma Tức Hoa nghe bài kệ đó rồi liền phát sinh niềm hoan hỷ thanh tịnh đệ nhất, dùng hoa trời tung lên trên đức Phật. Bấy giờ, lại có vị Ðại Bồ tát tên là Thành Tựu Trí đứng dậy, hướng về các đức Thế Tôn đến từ mười phương kia, trước dùng âm thanh giác ngộ, nói lên như vầy:

- Nguyện xin đức Thế Tôn một lòng nghĩ đến con! Sở dĩ vì sao? Vì nhớ lại, con thuở xưa, lúc mới vào kiếp Hiền, đã từng ở chỗ đức Phật Câu Lưu Tôn, phát đại thệ nguyện, khắp muốn thành tựu tất cả chúng sinh nên thị hiện thọ hình tướng nữ, vì muốn khiến cho bốn trăm linh bốn bệnh của chúng sinh được tiêu diệt. Con lại lấy tinh vị của đại địa lan trải vào đủ thứ rễ của những loài thảo mộc, hòa hợp bốn trăm linh bốn vị. Rồi tùy theo công hiệu của thuốc có thể khiến cho chúng sinh thọ dụng thì bệnh đều tiêu diệt. Con thị hiện cách dùng bốn trăm linh bốn thứ thuốc rễ, thị hiện cách dùng bốn trăm linh bốn thứ thuốc quả (trái), thị hiện bốn trăm linh bốn thứ thuốc chưng nấu, thị hiện bốn trăm linh bốn thứ thuốc dầu chưng cất, thị hiện cách dùng bốn trăm linh bốn thứ tả dược (?), thị hiện dùng những thuốc trị a già đà (?)... cho đến thị hiện dùng thuốc thang, thuốc tán, thuốc hoàn.v.v... Mọi thứ thuốc tổng trị các phần thân thể trong ngoài thông thường có một ngàn bốn trăm chủng loại, con vì thành thục các chúng sinh, vì muốn tiêu diệt các bệnh khổ, cũng vì lợi ích các chúng sinh nên con đều thị hiện hết mọi thứ thuốc như vậy. Thưa đức Thế Tôn! Con vì đức Phật Câu Lưu Tônchúng hội của ngài, thường làm đủ thứ việc chạy vạy, sai bảo, cung cấp, hầu hạ. Bản tâm con hy vọng được thọ ký biệt. Lúc đó, đức Phật Câu Lưu Tôn liền bảo con rằng: “Này thiện nam tử! Ðời vị lai lúc con người sống lâu một trăm tuổi, bấy giờ, có đức Phật xuất hiện ở đời hiệu là Thích Ca Mâu Ni Như Lai A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà. Ðức Thích Ca Như Lai do bổn nguyện nên tập họp lớn các đức Phật và chúng Bồ tát, ông sẽ ở đó được thọ ký Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác”. Từ đó về sau, đức Như Lai Câu Na Hàm cũng nói như vậy, đức Như Lai Ca Diếp cũng nói như vậy. Con từ xưa đến nay, phát nguyện này lâu lắm rồi, cho đến hằng hà sa số đại kiếp con ở cõi Phật này làm trời đại dược vì chúng sinh trừ tất cả bệnh. Vào thời gian lâu dài đó, con dùng đại địa thấm nồng tinh vị lan trải đủ thứ những rễ, cành, hoa, lá, quả, trái thuốc, khiến cho các chúng sinh khắp nơi được thọ dụngdiệt trừ những bệnh khổ trong, ngoài. Chúng sinh sở hữu, nếu khi thọ dụng hòa họp chơn chánh thì khiến cho họ khởi lên vô thường, khổ, không, vô ngã, tâm phân biệtchuyển tâm số pháp (?) Do thiện căn này khiến cho con đầy đủ Bát nhã Ba la mật. Con ở cõi Phật này làm việc của bậc đại trượng phu như vậy. Ðúng vậy! Ðúng vậy! Con đã dùng hình tướng nữ nhân trong các thế giới nhiều như cát sông Hằng ở khắp mười phương. Và vô số kiếp ở mỗi một thế giới nhiều như cát sông Hằng, con đã dùng tướng như vậy, lực như vậy, tinh tấn dũng mãnh như vậy, nhọc nhằn như vậy... cho đến cung cấp, hầu hạ... Ðúng vậy! Ðúng vậy! Chúng sinh bịnh khổ làm cho thành thục hết nhiên hậu thân con sẽ được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Và hôm nay con lại ở trước đức Phật tăng tiến bản nguyện, cùng với vị Tức Hoa này tạo tác đại công đức, kiên cố lòng mình, thường vì nhau tá trợ không có nhọc nhằn. Hai người chúng con chung làm hình tướng nữ, đồng một sắc mạo, vì muốn thành thục những chúng sinh... cho đến thành thục các nữ nhân thêm bội phần. Hôm nay hai người chúng con lấy tinh khí của đất hòa hợp vào đồ ăn thức uống khiến cho những hương vị đều đầy đủ. Chúng sinh già bệnh ăn vị này thì tất cả bệnh hoạn đều được tiêu diệt. Do cái nhân thù thắng này khiến cho con đầy đủ Bát nhã Ba la mật. Nếu con được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác thì nguyện xin đức Phật Thế Tôn nhiếp thọ chúng con, vì chúng con khen “hay thay!”. Nếu đức Phật Thế Tôn đồng cho chúng con lời ký Bồ đề thì nguyện xin vì chúng con khen ngợi “thiện tai!”

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn khen ngợi Bồ tát Thành Tựu Trí rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Ông có thể làm trượng phu đại lợi ích như vậy!

Ðức Thế Tôn liền vì Bồ tát Thành Tựu Trí mà nói kệ rằng:

Vì bệnh thế gian, ông làm thuốc

Hay giữ các căn được lạc an

Cõi hoa sen thanh tịnh tối thượng

Tỳ Lô Giá Na được Phật danh.

Ðại Bồ tát Trì Ðịa cũng phát nguyện đó, dùng hình tướng nữ nhân hóa độ chúng sinh, như đất giữ gìn vật, nghĩ mong được thọ ký. Ðức Thích Ca Như Lai vì ông nói kệ rằng:

Ông như đại địa giữ tất cả

Niềm nghĩ mong nay sẽ chóng thành

Cõi tên Thắng Nhiếp Công Ðức Mãn

Trí Tự TạiPhật hiệu danh.

Bồ tát Thượng Trí nguyện thọ hình tướng nữ hóa độ tất cả chúng sinh, tác khởi nghĩ mong được thọ ký như vậy. Ðức Thích Ca Như Lai vì ông nói kệ rằng:

Trí ông sung túc các chúng sinh

Nhiếp lấy bằng phương tiện hoa quả

Cõi Thượng Thanh Tịnh chưa từng có

Ðược Phật hiệu là Thượng Thắng Nhân.

Bồ tát Thị Hiên Khôi hóa làm hình tướng nữ nhân dùng việc thọ dụng lửa thành thục chúng sinh, nguyện xin được thọ ký. Ðức Thích Ca Như Lai vì ông nói kệ rằng:

Bày vô thường tưởng cho thế gian

Thành thục Bồ đề cho sinh chúng

Cõi tên Sinh Trần rất cát tường

Ở đó làm Phật hiệu Ðăng Hỏa.

Bồ tát Ðộng Chúng Sinh Ly Trần nguyện làm hình tướng nữ vì thành thục chúng sinh nên thọ dụng việc gió, nghĩ mong thọ ký. Ðức Thích Ca Như Lai vì ông nói kệ rằng:

Lay động chúng sinh khiến hoan hỷ

Khiến cho phiền não diệt rốt cùng

Cõi tên Thanh tịnh hiện bình đẳng

Sẽ được làm Phật hiệu Nguyệt Quang.

Bồ tátChướng Ngại Ðăng nguyện làm hình tướng nữ vì thành thục chúng sinh nên thọ dụng việc hư không, cũng mong thọ ký. Ðức Thích Ca Như Lai vì ông nói kệ rằng:

Người được trí Vô Y thanh tịnh

Hay nói đạo Chánh giác không trên (vô thượng)

Cõi tên Ðiều Chướng không nhiễm trước

Phật hiệu Thượng Trí sẽ được thành.

Bồ tát Diệu Hương Thuyết nguyện làm hình tướng nữ vì thành thục chúng sinh nên thọ dụng việc hoa, vì Bồ đề nên hy vọng thọ ký. Ðức Thích Ca Như Lai vì ông nói kệ rằng:

Hiện làm hương hoa khắp cúng dường

Khai thị đạo Vô thượng chư Phật

Cõi Liên Hoa Tạng, đất sạch trong

Phổ Hương Như LaiPhật hiệu.

Bồ tát Cà Sa Sắc nguyện làm hình tướng nữ, vì thành thục chúng sinh nên thọ dụng đủ thứ nhiễm sắc, nguyện được thọ ký. Ðức Thích Ca Như Lai vì ông nói kệ rằng:

Dùng áo cà sa lợi chúng sinh

Tương ứng cúng dường Tam Bảo chủng

Trong cõi Thanh Quang tối vô thượng

Sẽ được làm Phật hiệu Bảo Quang.

Lúc bấy giờ, vô lượng những trời hạt giống, trời rừng, trời quả cho đến sáu mươi bảy câu chỉ nadotha trăm ngàn Ðại Bồ tát vì muốn thành thục các chúng sinh, thêm vì độ thoát các nữ nhân, nên hóa làm hình tướng nữ nhân, phát nguyện đồng được thọ ký Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Ðức Thích Ca Như Lai đều nói cho mỗi người một bài kệ, họ đều được ký biệt. Vì sao vậy? Vì chuyển nam làm nữ, việc ấy thì dễ, còn chuyển nữ làm nam, việc ấy thì khó. Lúc đó trăm ngàn câu chỉ những đại long vương và những tiểu long đồng phát lên nguyện đó, nguyện xin hy vọng được thọ ký. Ðức Thích Ca Như Lai đều nói một bài kệ thọ ký Bồ đề. Lại có sáu vạn bốn ngàn tần bà và tám mươi câu chỉ a tu la, bảy mươi a súc tỳ câu chỉ na do tha trăm ngàn chư thiên và các thiên nữ, chín mươi chín tần bà câu chỉ trăm ngàn những ma và quyến thuộc của ma... cho đến người và chẳng phải người nhiều như cát sông Hằng và Sát lợi, Bà la môn, Tỳ xá, thủ đà, nam tử, nữ nhân, đồng nam, đồng nữ... cũng đều đồng tâm hy vọng thọ ký Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Những loài như vậy, mỗi một đều được một bài kệ thọ ký. Quá số lượng trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, Bệ lê đà, Tỳ xá già người, chẳng phải người.v.v... người chưa phát tâm thì hôm nay ở trước đức Phật đồng phát tâm Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Quá số lượng chúng sinh trụ ở A tỳ bạt trí địa, quá số lượng chúng sinh được đủ thứ tam muội nhẫn Ðà la ni của Bồ tát, quá số lượng chúng sinh lậu tận ly dục được quả A la hán, cũng quá số lượng chúng sinh, lòng hồi hướng Thanh văn, Bích Chi Phật, trụ ở Phật A tỳ bạt trí địa. Như vậy.v.v... tất cả đồng thanh mà nói lên rằng:

- Chúng con nương theo lời dạy của tất cả chư Phật nên thọ pháp môn này. Nếu có người thọ trì đọc tụng, ghi chép thành sách pháp môn này thì con và quyến thuộc sẽ chung nhau theo đúng như phápcung cấp cúng dường.

 

PHẨM THỨ CHÍN: TỪ MẪN 

Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Mâu Ni Như Lai lại nói rằng:

- Tất cả chư Phật nếu thương xót chúng sinh cõi Phật này đến thăm hỏi nhau thì phải nhất tâm nghĩ đến thiện nam tử Tức Hoa này.v.v... Muốn khiến cho chúng sinh được y phục, ẩm thực và các vật làm thuốc, tùy tâm thọ dụng khiến cho được sung túc mà lại dùng hình tướng nữ nhân, ở trong đạo Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác để thành thục chúng sinh thì tất cả chư Phật nên phải gia hộ ông Tức Hoa đó.v.v... khiến cho nguyện được thỏa mãn. Ðúng như sở nguyện của thiện nam tử đó, đúng như sở dục ông ấy, đúng như việc làm ông ấy, tùy theo đủ thứ sự cần dùng của những vị đó như y phục, ẩm thực cùng các dược vật... mà biến hóa bày ra khiến cho đủ đầy để cho sự nhu cầu cung cấp của chúng sinh được tùy ý thọ dụng. Tức là khi phát tâm thì những việc như vậy đều được thành tựu, thiện nam tử đó có thể làm việc sở tác của bậc trượng phu kiến lập như vậy.

Các đức Phật Thế Tôn nương theo Ðại Bi công đức, Ðịnh Tuệ trang nghiêm nhớ nghĩ chúng sinh mà nói lên rằng:

- Chúng ta đem câu thần chú này cho các ông, sở nguyện tùy ý đều khiến cho đầy đủ, chỗ nương của tất cả thiện căn, điều mà tất cả các đức Phật Thế Tôn ba đời cùng chung thọ trì.

Chư Phật liền nói chú rằng:

Sỉ địa dã tha thọ đê bà bà (1) Ðịa lý để bà bà (2) Mâu ni bà bà (3) Ta để dã bà bà (4) Phủ nhã lăng ca la bà bà địa dã na (5) La ta ma ha ca lũ nả bà bà (6) Ma ha bà la sỉ bà bà (7) A mộ ha bà bà (8) Lậu để bà bà (9) Si để bà bà (10) Ta lý văn bà bà (11) Kha già bà bà (12) Bà dụ bà bà (13) Phạt sỉ bà bà (14) A địa sở tra na bà bà (15) A ma bà bà (16) A ha na bà bà (17) Sỉ tha đa bà bà (18) Bộ sỉ cú trí bà bà (19) Niết tỵ lý để bà bà (20) Ðể lý cưu xả kha bà bà (21) Ðể phác dạ na bà bà (22) Sỉ nghi đà kế ca bà bà (23) Ðể lý tỳ mộ khứ sở bà bà (24) Ðể lý thủ ca la bà bà (25) La sở tra la địa sở tra na bà bà (26) Bà bà bà bà bà bà (27) A na nhã bà ma sỉ (29) Tra tra tra tra tra tra tra sở tra tử địa (30) Tát bà cưu xả la địa (31) Sở tra na dã (32) Ta bà ha (33).

Này thiện nam tử! Thần chú Nhất Thiết Pháp Bình Ðẳng này có thể khiến cho tất cả người hy vọng đều được thỏa mãn. Các ông và quyến thuộc nên phải thọ trì để khiến việc thọ dụng tùy theo chúng sinh đều được thành thục, có thể khiến cho các ông đủ đầy hạnh Bồ đề.

Lúc bấy giờ, trời Tức Hoa Thắng, trời Thánh Trí, trời Ðịa Trì.v.v... đứng đầu cùng với mười ngàn vị Bồ tát vì muốn khiến cho chúng sinh tùy theo sự thọ dụng được thành thục nên dùng hình tướng nữ nhân cần lao hóa độ, nhất thời đồng thanh nói lên rằng:

- Do lực của chú này mà các đức Phật Thế Tôn khiến cho sở nguyện của chúng con đều được đủ đầy. Như vậy thần chú đó có thể cùng chúng con tạo tác sự gia hộ lớn, có thể khiến cho chúng con được trí Vô thượng. Vậy nên chúng con sẽ cùng chung thọ trì Ðà la ni này, muốn khiến cho tất cả chúng sinh đều thành thục, dùng đại cần lao cung cấp sự cần dùng. Hôm nay, ở trước tất cả các đức Như Lai chúng con nguyện cho tất cả chúng sinh đều được thành thục, trụ ở tự giải thoát. Nếu có trời cho đến người, ở chỗ đức Như Lai nói diệu pháp muốn phá hoại diệt tan mà nếu con chẳng dùng phương tiện ngăn chặn để cho diệu pháp trụ thế lâu dài thì chúng con đã lừa dối tất cả ba đời các đức Phật Thế Tôn, cũng chớ khiến cho chúng con được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Nếu có thiện nam tử hoặc trời... cho đến hoặc người muốn não loạn Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di mà nếu chúng con chẳng siêng tạo tác phương tiện ngăn chận khiến cho sự não loạn đó chẳng bị tiêu diệt thì chúng con đã lừa dối tất cả ba đời những đức Phật Thế Tôn, cũng khiến cho chúng con không được Bồ đề. Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân cầu Vô thượng Bồ đề, có người sắp gặp nước, lửa, đồ độc hại, bệnh nóng, bệnh sốt rét.v.v... đã phát động hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày... những nỗi sợ như vậy, cho đến trời, rồng, dạ xoa, ca tra, phú đơn na, sát lợi, bàlamôn, tỳ xá, thủ đà, sư tử, chó.v.v... tật dịch, đói khát, đủ thứ ách nạn và các tai nạn não hại khác. Người có những nỗi sợ hãi đó đem câu thần chú “Nhất Thiết Chư Phật Sở Trì Nhất Thiết Hy Cầu Mãn Túc Ðà la ni” này tụng niệm thì đều được giải thoát, chỉ trừ nghiệp chướng quyết định của đời trước. Nếu chúng con chẳng trừ được những chướng đó tức là lừa dối tất cả ba đời các đức Phật Thế Tôn, cũng chớ cho con được Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.

Tất cả những đức Phật Thế Tôn đồng đến cõi Phật này tập hội kia đều xưng lên rằng:

- Hay thay! Hay thay! Này thiện nam tử! Sở nguyện của các ông rất là thắng diệu mới có thể làm việc sở tác của bậc đại trượng phu như vậy.

Lúc bấy giờ, đức Thích Ca Như Lai liền vì Ma vương mà nói kệ rằng:

Phải khởi niềm tin với chư Phật

Nên sinh lòng tối thượng vui mừng

Bồ đề nên sinh khánh hạnh (may mắn)

Ý lợi người nên phải phát nhanh.

Cõi ma của ông không thân hữu

Cũng không sở dục, người vừa lòng

Ông do vô lực mất ma nghiệp

Mâu Ni của ta sao so bằng.

Ðến đây, ác ma lại nói kệ rằng:

Tin Bồ đề ta không một niệm

Lòng cũng chẳng khởi tưởng vui mừng

Nói ông Mâu Ni vả lặng lẽ

Ta cũng tự có những bạn thân.

Do bạn thân đó ta có lực

Ta nay trụ ở cảnh giới mình

Ta có sức uy đức tối thượng

Hết cuộc đời ông, ta chẳng tùng (theo).

PHẨM THỨ MƯỜI: ỦNG HỘ 

Bấy giờ, trong hội có đức Phật Thế Tôn hiệu là Mạn Ðà La Hương bạch với đức Thích Ca Như Lai rằng:

- Những đức Phật quá khứ kia từ trong đủ thứ đất nước khi đến đại tập hội ở cõi Phật ngũ trược đều chung ủng hộ pháp môn này cũng khiến cho vô lượng câu chỉ ma chúng tự nhiên lui tan. Chư Phật dùng từ bi nhãn nhìn các chúng sinh, người có ác kiến đều khiến cho giải thoát. Ðuốc trí rực sáng an trí chúng sinh ở đạo Cát Tường. Khi chư Phật nói pháp môn “Kim Cương Pháp Ðẳng Duyên Pháp Tâm Kiến Lập Tồi Toái Ðà La Ni Ấn Chương Cú Sai Biệt Môn Ký” là vì khiến cho ác đảng đều lui tan, kiến lập pháp tràng. Ðúng vậy! Ðúng vậy! Chúng ta mười phương chư Phật, hôm nay trụ thế cũng vì nuôi dưỡng thương xót các chúng sinh, cũng ở cõi Phật ngũ trược bẩn ác đồng làm cuộc đại tập hội ủng hộ đúng

pháp môn vi diệu này... cho đến kiến lập pháp tràng Vô thượng. Sau ngày diệt độ của đức Phật Thích Ca thì ai có thể ở cõi này sẽ làm người đệ nhất hộ trì diệu pháp? Ai sẽ khiến cho chính pháp rực sáng lưu bố? Ai sẽ khiến cho chúng sinh khắp đều thành thục? Vào số đại tập này, chúng ta đem pháp môn này phú chúc vào tay ai?

Ðức Thích Ca Như Lai bạch với đức Mạn Ða La Hương Như Lai rằng:

- Ðã có những người trụ lâu ở cõi Phật này, những Bồ tát được nhẫn và Ðế thích, Phạm vương, Hộ Thế thiên vương, vua trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Khẩn na la, Ma hầu la già.v.v... siêng năng ủng hộ thêm pháp môn vi diệu này. Và chúng sinh trụ lâu trong bốn thiên hạ của thế giới này đối với pháp môn này sinh niềm tin thanh tịnh thì Ðế thích, Phạm vương, Hộ Thế thiên vương... cho đến vua Ma hầu la già.v.v... đem pháp môn Ðà la ni Ấn Thanh tịnh này phú chúc vào tay của họ.

Lúc đó, đức Mạn Ða La Hương Như Lai dùng âm thanhchướng ngại viên mãn vang khắp cõi Phật này mà nói lên như vầy:

- Này các thiện nam tử! Hãy lắng nghe! Hãy lắng nghe! Những người đến cõi Phật này hiện hữu, những đức Như Lai A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà khó được gặp lúc hưng thế. Và việc tất cả các đức Phật Thế Tôn, ở trong khoảnh khắc một sát na, tập họp ở một cõi Phật cũng rất là khó. Như tất cả những đức Phật Thế Tôn này thương xót các ông nên đến tập họp ở đây, nhiếp thọ tất cả các chúng sinh, hộ trì đại pháp môn của chư Phật, đặt để đạo Vô thượng. Tất cả số chư Phật vào ba đời, ngày hôm nay hộ trì tất cả địa giới, tất cả thủy giới, tất cả hỏa giới, tất cả phong giới, tất cả không giới khiến cho diệu pháp này trụ thế lâu dài, khiến cho giống Tam Bảo chẳng đoạn tuyệt, thành thục tất cả các chúng sinh, cho đến qua khỏi bờ sinh tử kia.

Lúc bấy giờ, tất cả các đức Phật Thế Tôn và các vị Ðại Bồ tát trụ lâu ở các cõi Phật, Ðế thích, Phạm vương, Hộ Thế thiên vương, vua trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già.v.v... và trong các tinh khí (?) khác có chúng sinh đại tinh khí (?)... cho đến những người cư trú có trong thế giới của bốn thiên hạ, tất cả chúng nói lên như vầy:

- Này thiện nam tử! Chúng ta đem chánh pháp được chư Phật hộ trì này một lần nữa phú chúc cho ông vì khiến cho chúng sinh đều thành thục. Các ông nên thường làm cho rực sáng như vậy, chẳng làm diệt hoại pháp, chẳng làm rơi mất pháp. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhântín tâm sẽ cùng chung thọ trì, ghi chép, đại tập pháp môn... cho đến Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di... tất cả những thiện nam tử đó.v.v... thọ trì, tụng niệm pháp môn này thì các ông luôn phải ủng hộ, cung cấp, đem pháp môn này theo đúng như pháp phú chúc cho họ. Nếu pháp sư ưa cầu pháp, ưa thiền định, ưa nghe pháp, ưa trì pháp thì các ông phải nên ủng hộ... cho đến cung cấp. Vì sao vậy? Vì các đức Như Lai A La Ha Tam Miệu Tam Phật Ðà có trong quá khứ, tất cả những đức Như Lai đó cũng tập họp ở trong cõi Phật ngũ trược bẩn ác cùng chung dùng diệu pháp phú chúc cho Ðế Thích, Phạm vương, Hộ Thế thiên vương nên khiến cho diệu pháp này chẳng ẩn mất, hộ trì cho người truyền pháp vị lai... cho đến thành thục tất cả chúng sinh. Ðúng vậy! Ðúng vậy! Chư Phật mười phươngtrong đời đương lai, ở trong đời ngũ trược, trong khoảnh khắc một sát na, khắp đều vân tập, lợi ích cho chúng sinh, sẽ nói Ðà la ni, sẽ ủng hộ diệu pháp, sẽ phú chúc cho Ðế thích, Phạm vương, Hộ Thế thiên vương.v.v..., sẽ cung cấp sự cần dùng... Chúng ta hôm nay cũng lại như vậy.

Các ông, những người trụ lâu ở cõi Phật này và Ðế thích, Phạm vương, Hộ Thế thiên vương, vua của trời, rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già.v.v... của bốn thiên hạ thêm bội phần phú chúc, đời đương lai thêm bội phẩn ủng hộ, thêm bội phần cung cấp. Các ông cũng nên phải nhớ nghĩ như vậy. Pháp như Kim cương chẳng thể hoại khiến cho rực sáng rộng khắp. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhânlòng tin hộ trì pháp này và Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di thọ trì pháp này cho đến chỉ ghi chép, giữ gìn Kinh quyển, đặt yên ở trong nhà, có người hay nói pháp và người ưa nghe pháp, chúng sinh người siêng tu thiền định thọ trì pháp thì các ông đều phải ủng hộ họ, lòng lành cúng dường cung cấp cho họ. Vì sao vậy? Vì tất cả các đức Phật khắp nơi đều thọ trì pháp môn này. Tùy theo xứ sở, hoặc thôn, hoặc thành, hoặc trong nước, hoặc ngoài biên địa, hoặc bên trong cung vua, hoặc chốn a lan nhã... nếu lưu thông pháp môn này hoặc khai thị tuyên nói, hoặc trao cho người hoặc hay ôn tụng... cho đến chỉ ghi chép thành Kinh quyển đặt yên trong nhà. Những chúng sinh đó nhờ pháp lực này nên có thể khiến cho vị đất và tinh khí chúng sinh đều tăng trưởng. Các ông nhờ thấm nhuần ánh sáng tinh khí đó mà tinh tấn dũng kiện đều được tăng trưởng, cũng khiến cho quyến thuộc và điền trạch của họ tăng trưởng giàu thịnh, sẽ khiến cho vua người thường được ủng hộ, thế lực tự tại. Tinh khí đó cũng sẽ ủng hộ sự giáo hóa của vua. Bên trong vua dùng pháp vị đó thường khiến cho sung túc. Những vua người bên trong cõi Diêm Phù Ðề sẽ sinh lòng lợi ích hòa hợp nhau, luôn luôn tin nghiệp báo, gieo trồng lòng thiện căn, lòng không san lận, thường đối với tất cả chúng sinh tác khởi lòng lợi ích, thường đối với tất cả chúng sinh phát sinh lòng thương xót, thậm chí khiến cho vua người có thể sinh chánh kiến. Từng vị vua, từng vị vua ở đất nước của mình tự phát sinh hoan hỷ, có thể khiến cho người hành thiện đầy đủ sung mãn. Ðất nước ấy giàu thạnh an vui bội phần, tinh vị đất đai tự nhiên hơn gấp bội, hoa quả, vật làm thuốc không thứ nào chẳng ngon ngọt, lúa gạo, của báu cũng bội phần nhiều thêm, nơi tiếp xúc đáng ưa thích, tất cả nhân dân không bệnh khổ, tất cả oán địch phương khác đấu tranh, muỗi mòng, rắn độc, ác quỉ, la sát, ác cầm (loài chim dữ), ác thú, sài lang, sư tử, gió mưa chẳng phải lúc... những việc ác như vậy đều sẽ tiêu diệt. Ngày đêm giữ độ bình thường. Một tháng, nửa tháng, thời tiết, niên tuế đều vận hành đúng đắn. Những chúng sinh ở đất nước đó phần nhiều hành thập thiện, sau khi mạng chung ở đó đều sinh lên trời, trở lại cùng với các ông mà làm quyến thuộc. Rất nhiều công đức vô lượng như vậy đều do xưng dương pháp môn Ðại pháp Ðà la ni của tất cả chư Phật. Những chúng sinh đó đều qua khỏi bờ này sinh tử, được vào Vô dư tên là “Văn Tăng Trưởng Quả Báo Mãn Túc Sở Chủng Nữ Thân Hiện Sinh Hậu Thọ”. Do pháp lực nên những thân như vậy, tất cả đều hết.

KINH BẢO TINH ÐÀ LA NI

- Quyển thứ tám - hết.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 516)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(Xem: 498)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 8816)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 582)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 509)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1848)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1897)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1912)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1976)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2752)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2178)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2189)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2501)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 3026)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3555)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2302)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3202)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3106)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 5051)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3302)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3588)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2676)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3387)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2921)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3467)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2662)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 3043)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3393)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3443)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4450)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3934)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3903)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4358)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3783)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3351)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4223)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5291)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3866)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6781)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6486)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4347)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20258)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3777)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7250)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4733)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4493)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 4034)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4402)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5971)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4550)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4268)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4321)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4549)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5210)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3953)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5349)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5195)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6918)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 5075)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5895)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
Quảng Cáo Bảo Trợ