Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,869,404
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Một Trăm Ngàn Bài Tụng Của Kinh Đại Tập Bồ Tát Địa Tạng Hỏi Phật Về Pháp Thân

04 Tháng Mười Hai 201300:00(Xem: 8730)
Một Trăm Ngàn Bài Tụng Của Kinh Đại Tập Bồ Tát Địa Tạng Hỏi Phật Về Pháp Thân

 

MỘT TRĂM NGÀN BÀI TỤNG CỦA KINH ÐẠI TẬP

BỒ TÁT ÐỊA TẠNG HỎI PHẬT VỀ PHÁP THÂN.


Đại Chánh Tân Tu, Bộ Đại Tập, số 0413

Nguyên tác: [1]

Hán dịch: Khai Phủ Nghi Ðồng Tam Ty, đặc Tấn Hồng Lô Khanh Ðại Hưng tự, Ðại Tam Tạng Sa môn Bất Không.

Việt dịch: Thích Chánh Lạc

---o0o---


Quy mạng lệ pháp thân

Ở giữa các hữu tình

Vì chúng không biến tri

Mới luân hồi Tam hữu

Mê tánh liền sanh tử

Tịnh thời cũng như xưa

Thanh tịnhNiết Bàn

Cũng chính là pháp thân

Thí như sữa xen tạp

Không thể thành Ðề hồ

Như phiền não xen tạp

Không thể thấy pháp giới

Thí như sữa lọc sạch

Tô tinh diệu không

Như thanh tịnh phiền não

Pháp giới rất thanh tịnh

Như đèn để trong bình

Aùnh sáng làm sao có?

Như trong bình phiền não

Pháp giới không chiếu sáng

Ðể ngọn đèn một bên

Cái bình có lỗ hỏng

Do để đèn một bên

Aùnh sáng chiếu ra ngoài

Dùng chày Tam ma địa

Ðập bể bình phiền não

Ðầy khắp cả hư không

Aùnh sáng chiếu tất cả

Pháp giới cũng không sanh

Cũng không từng hoại diệt

Tất cả thời không nhiễm

Ðầu, giữa thường thanh tịnh

Thí như phệ lưu ly

Lúc nào cũng rất sáng

Hang đá vì che tối

Aùnh sáng không chiếu diệu

Như vậy, phiền não che

Pháp giới diệu thanh tịnh

Không chiếu nơi sanh tử

Thì Niết Bàn rực sáng

Hữu tánh nếu có công

Thì thấy được vàng thiệt

Vô tánh nếu có công

Khổ mà không kết quả

Như trấu phủ lên trên

Không thể gọi là gạo

Phiền não phủ lên trên

Cũng không gọi là Phật

Nếu bỏ được vỏ trấu

Rõ ràng là gạo trắng

Xa lìa được phiền não

Pháp thân được hiển hiện

Thế gian lấy thí dụ

Cây chuối không chắc thật

Mà có quả chơn thật

Thực vị như cam lồ

Như sanh tử không thật

Lưu chuyển biển phiền não

Quả ấy chính thể Phật

Thí cam lồ hữu thí

Như vậy với các loại

In tuồng sanh ra quả

Không chủng cũng không quả

Kẻ trí quyết không tin

Chủng tử sanh ra tánh

Chỗ nương của các pháp

Thứ lớp nếu thanh tịnh

Ðạt được quả vị Phật

Nhật nguyệt không cấu uế

Vì năm thứ ngăn che

Mây, sương và khói thảy

Tay-la-hầu và bụi

Như vậy tâm chiếu sáng

Ngăn che bởi năm cấu

Tham ái, sân nhuế, thùy (miên)

Trạo cửnghi hoặc

Như lấy lửa giặt áo

Với các dơ bất tịnh

Nếu đôi vào trong lửa

Cháy dơ không cháy áo

Không loại, các khế kinh

Ðều do Như Lai nói

Thí như đất dưới nước

Thường trụthanh tịnh

Trí ẩn nơi phiền não

Thanh tịnh cũng như vậy

Pháp giới cũng phi ngã

Chẳng nữ cũng chẳng nam

Xa lìa tất cả chấp

Vì sao phân biệt ngã

Các pháp không trói buộc

Nam nữ cũng không có

Ðiều phục kẻ tham mù

Thị hiện tướng nam nữ

Tánh vô thường, khổ, không

Tâm tịnh lự có ba

Tâm tịnh lự tối thắng

Các pháp không tự tánh

Như con trong bào thai

Tuy có mà không hiện

Phân biệt có bốn loại

Ðã sanh bởi đại tạo

Ðại nguyện tất cả Phật

Vô sở hữu, vô tướng

Nhờ tự giác tương ưng

Tánh thường pháp chư Phật

Như nói thỏ có sừng

Phân biệt mà chẳng có

Như vậy tất cả pháp

Phân biệt không thể được

Phân tích như bụi nhỏ

Phân biệt không thể được

Như đầu, cuối cũng vậy.

Trí làm sao phân biệt

Như vậy hòa hợp sanh

Hòa hợp cũng hoại diệt

Một pháp tự chẳng sanh

Vì sao ngu phân biệt?

Dụ hai sừng thỏ, trâu

Ðó gọi tướng biến kế

An trụ nơi trung đạo

Như pháp tánh thiện thệ

Như trăng và tinh tú

Hiện trong hủ nước sạch

Aûnh tượng mới hiển hiện

Như vậy tướng viên thành

Ðầu, giữa đều là thiện

Thường hằng không dối láo

Không có năm thứ ngã

Sao gọi ngã phân biệt?

Thí như khi nấu nước

Nên gọi là nước nóng

Vậy thì khi để lạnh

Thì gọi là nước lạnh

Lưới phiền não che lấp

Thì gọi đó là tâm

Nếu lìa bỏ phiền não

Thì gọi là đẳng giác

Nhãn thức duyên nơi sắc

Aûnh tượng rất thanh tịnh

Không sanh cũng không diệt

Pháp giới không hình tướng

Nhĩ thức duyên nơi tiếng

Thanh tịnh thức ba thứ

Nhờ tự phần riêng nghe

Pháp giới không hình tướng

Mũi theo hương mà ngửi

Không sắc cũng không hình

Tỷ thứcchơn như

Pháp giới nên phân biệt

Thiệt giới tự tánh không

Tánh vị giới xa lìa

Không y cũng không thức

tự tánh pháp giới

Tự tánh thân thanh tịnh

Ðã xúc tưởng hòa hiệp

Xa lìa chỗ sở duyên

Ta nói là pháp giới

Các pháp ý là lớn

Lìa phân biệt năng sở

Pháp giới vô tự tánh

Pháp giớiphân biệt

Hay thấy, nghe và ngửi

Là vị và xúc chạm

Pháp Du Già nên biết

Như vậy tướng viên thành

Nhãn, nhỉ cùng với tỷ

Thiệt, thân và mạt na

Sáu xứ đều thanh tịnh

Tướng của nó như vậy

Tâm thấy có hai loại

Thế gian, xuất thế gian

Chấp ngã nên lưu chuyển

Tự giácchơn như

Vô tậnNiết Bàn

Nếu hết tham và si

Biết nó là Phật thể

Chỗ hữu tình qui y

Tất cả với thân này

Có trí hay không trí

Trói buộc, tự phân biệt

Nhờ ngộ được giải thoát

Bồ đề không gần xa

Không đến cũng không đi

Hoại diệthiển hiện

Với lưới phiền não này

Nói các loại khế kinh

Ðứng trên tự tư duy

Ðèn trí huệ chiếu sáng

Liền được tối thắng tịch

Bồ đề không nghĩ xa

Cũng không có nghĩ gần

ảnh tượng sáu cảnh

Ðều do như vậy biết

Như nước hòa với sữa

Ðồng ở trong một bình

Ngỗng (chúa) uống hết sữa

Chỉ còn nước trong bình

Như vậy trộn phiền não

Và trí ở trong bình

Bậc Du Già uống trí

Vứt bỏ các phiền não

Như vậy ngã, ngã chấp

Cho đến sở thủ chấp

Nếu thấy hai vô ngã

Có chủng mà hoại diệt

Phật Bát Niết Bàn

Thường thanh tịnh vô cấu

Phàm phu phân biệt hai

Kinh Du Già vô nhị

Thì tất cả là khó

Lấy giới nhiếp hữu tình

Nhẫn nhục tất cả tổn

Cõi tăng thêm làm ba

Ðối các pháp tinh tấn

Tâm tịnh lự gia hạnh

Thường tập sự trí tuệ

Lại được tăng Bồ đề

Phương tiện cùng với huệ

Nhờ nguyện đều thanh tịnh

Nhờ lực diệu kiên trí

Cõi thêm làm bốn loại

“Không nên lạy Bồ Tát”

Không sanh ra pháp thân

Không ưa loại cây mía

Lại muốn ăn đường phèn

Nếu bỏ loại cây mía

Làm gì có đường phèn?

Nếu gìn giữ cây mía

Ba thứ mới được sanh

Ðường, một nửa đường phèn

Trong đó mới sanh ra

Nếu giữ tâm Bồ đề

Ba thứ mới sanh ra

Như gìn giữ mạ, lúa

Nông phu nhờ đó sống

Như hạnh thắng giải trước

Như Lai bảo phải giữ

Như ngàn rằm trăng sáng

Thấy rõ mặt trăng tròn

Như vậy Thắng giải hạnh

Aûnh hiện hình tướng Phật

Cũng như trăng mới mọc

Tăng từng phút, từng phút

Như vậy người nhập địa

Từng niệm thấy tăng ích

Như trăng sáng ngày rằm

Mặt trăng mới tròn trịa

Như vậy cứu cánh địa

Pháp thân mới được sanh

Thắng giải kia kiên cố

Thường đối với Phật pháp

Hay phát tâm như vậy

Ðược sự bất thối chuyển

Nhiễm y được chuyển y

Ðược gọi là Tịnh y

Nhờ một phần giác ngộ

Gọi là Cực-Hỷ-Ðịa

Luôn luôn bị nhiễm ô

Dục ... các thứ cấu uế

Không cấu, được thanh tịnh

Gọi là Ly cấu địa

Hoại diệt lưới phiền não

Chiếu diệu được Ly cấu

Lìa vô lượng tối tăm

Gọi là Phát Quang Ðịa

Thanh tịnh thường chiếu sáng

Xa lìa Thế kiết tường

Chung quanh trí huệ chiếu

Gọi là Diệm Huệ Ðịa

Tất cả kỹ nghệ sáng

Trang sức các tỉnh lự

Nan thắng trị phiền não

Ðược thắng nan thắng địa

Với ba thứ Bồ đề

Nhiếp thọ khiến thành tựu

Sanh diệt rất thậm thâm

Gọi là Hiện tiền địa

Du hý nơi lưới sáng

Biến khắp trời Ðế Thích

Vượt qua dòng thác dục

Gọi là Viễn hành địa

Tất cả Phật gia trì

Sáp nhập vào biển trí

Tự tại vô công dụng

Bất động giữa sứ ma

Với các vô ngại giải

Du Già đến bờ kia

Với thuyết pháp đàm luận

Gọi là Thiện huệ địa

Thân nhờ trí mà thành

Như hư không vô cấu

Chư Phật đều hộ trì

Cùng khắp như mây pháp

Chỗ nương tựa Phật pháp

Hạnh quả đều gìn giữ

Sở y đều được chuyển

Nên gọi là pháp thân

Lìa Bất tư nghị luận

Và lìa lưu chuyển tập

Ngươi không nghĩ ý nghĩ

Làm sao mà được biết

Vượt qua các ngôn ngữ

Tất cả căn, phi cảnh

Yù thức đã nắm giữ

Như sở hữu bản ngã

Thứ lớp mà tích tập

Phật tử đại danh xưng

Ðều dùng trí Pháp Vân

Vi tế thấy pháp tánh

Khi nào rửa sạch tâm

Vượt qua biển sanh tử

Ngài dùng hoa sen lớn

Làm tòa lớn an tọa

Vô lượng lá báu sáng

Aùnh sáng báu là đài

Vô lượng ức hoa sen

Cùng khắp là quyến thuộc

Trước dùng mười thứ lực

Dùng bốn loại vô úy

Bất cọng pháp các Phật

Ðại tự tại mà ngồi

Tập hợp tất cả thiện

Phước trí làm lương thực

Trăng tròn giữa các sao

Cùng khắp mà vây quanh

Mới dùng tay Phật nhật

Lấy bảo quang trong sạch

Chiếu trên đầu trưởng tử

Khắp nơi đều thấm nhuần

Ngài trụ Ðại Du già

Ðều thấy bằng thiên nhãn

Vô minh quấy rối đời

Aùc tập khổ, sợ hãi

Giống như ánh sắc vàng

Từ ánh sáng Du già

Kẻ vô tri che lấp

Ðược mở cửa vô minh

Nhờ phước trí chiêu cảm

Nhờ giữ định không chấp

Từ duyên mà viên tịch

Tâm đều được biến hóa

Các pháp không tự tánh

Tự tánh nơi cảnh giới

Bồ Tát vương khéo quán

Pháp thân diệu không

Ðều nhờ thân trong sạch

An trụ nơi biển trí

Liều làm lợi chúng sanh

Như ngọc Ma Ni khéo

Tất cả bậc Du Già

Ðại Du già tự tại

Bóng Phật đều biến hóa

Biến khắp mà lưu xuất

Hoặc người có tám tay

Ba mắt thân bừng sáng

Họ nhờ Du già vương

Biến khắp mà lưu xuất

Ðều nhờ tay Từ bi

Thắng hỷ, nắm cây cung

Bắn bằng tên Bát nhã

Ðoạn hết tế vô minh

Dùng đại lực tiến lên

Nắm giữ gậy trí huệ

Tất cả giống vô minh

Thảy đều bị dập nát

Các hữu tình sức lực

Kim Cang thân rực rỡ

điều phục hữu tình

Phải dùng Kim Cang thủ

Tự mình là tác giả

Thị hiện các thứ tập

Dạy dỗ đúng giáo lý

Biến làm vua bình đẳng

Ðói khát thiêu đốt thân

Thí như các ẩm thực

Thường khổ vì bệnh tật

Thí làm Y vương giỏi

Ma vương mong não loạn

Ma nữ làm mê hoặc

Bồ Tát làm thân hữu

Hay thí chỗ Bồ đề

Như mặt trời, mặt trăng

Aùnh sáng ai cũng thích

Thông chảy như điện sáng

Chiếu diệu vô số cõi

Do nhờ một ngọn đèn

Chiếu khắp nơi đều sáng

Nếu một đèn bị tắt

Tất cả đèn tắt theo

Như vậy Phật dị thục

Thị hiện các ánh sáng

Một Phật hiện Niết bàn

Các Phật cũng qui tịch

Một vị không diệt độ

Trời sáng làm sao tối

Thường hiện sự sanh diệt

Thường hiện biển sát độ

Kẻ vô trí đời tối

Hay tịnh trí huệ nhãn

Ði đến vô số cõi

Xót thương các hữu tình

Ngài đều không mệt mỏi

Nhờ áo giáp đại từ

Với tất cả thần túc

Du già đến bỉ ngạn

Ðều quán thời, phi thời

Khiến họ được lưu chuyển

Cứng rắn với dua nịnh

Tức thời liền vứt bỏ

Ðộ vô lượng hữu tình

Tức thì khiến thanh tịnh

Vô lượng Phật biến hóa

Tức thì được đổi dạng

Với trong biển ba cõi

Giăng tấm lưới điều phục

Co duỗi lưới diệu pháp

Phổ biến khiến thành thục

Nhờ dùng lưới điều phục

Khắp nơi được thành thục

Khắp nơi được giác ngộ

Kẻ phiêu lưu trong đó

Như hàng ngàn hữu tình

Ðã độ thoát tất cả

Ðộ rồi khiến giác ngộ

Không nghi ngờ diệu pháp

Chuông diệu pháp Thế Tôn

Khiến tất cả được nghe

Nhờ diệu pháp chấn động

Trừ sạch bụi phiền não

Người vô minh, tăng thượng

Khiến thanh tịnh tức khắc

Dùng sức sáng mặt trời

Chiếu phá sự mù tối

Vì theo phiền não tối

Và tội khác của thân

Khiến họ làm lợi ích

Dần dần được thanh tịnh

Nơi nơi người hiện hóa

An trụ như thủy nguyệt

Phiền não khuấy nhiễu tâm

Không thấy được Như Lai

Như ngạ quỷ ở biển

Chỉ thấy toàn biển khô

Như vậy kẻ ít phước

Không thể thấy được Phật

Kẻ hữu tình ít phước

Làm sao thành Như Lai?!

Như kẻ mù lúc sanh

Ngồi trên đống châu báu

Làm sao mà thấy được?!

Pháp thân bậc vô thượng

Thân Nhật quang vô số

Lưới ánh sáng vây quanh

Chư thiên ít thiện phước

Nên không thể thấy được

Bậc trời lớn ở trên

Làm sao mà thấy được?

Sắc ngài không thể thấy

Chư thiên lìa phiền não

Thiên, Tu la, Phạm thảy

Vì sao còn chút huệ

Nhưng nhờ oai lực Phật

thanh tịnh tự tâm

Mới thấy được thân Phật

Ðược tất cả lợi ích

Hữu tình phước đoan nghiêm

Phật đứng trước người đó

Hào quang chiếu diệu thân

Ba mươi hai tướng tốt

Bậc trượng phu như vậy

Thầy giống như biển lớn

Không cần nhiều thời gian

Liền được trí như biển

Sắc thân của Thế Tôn

An trụ trong nhiều kiếp

Ðiều phục kẻ khó điều

Dẫn đến giới các loại

Ðại Du già sống lâu

Vì sao lại chết yểu

Với vô số người khác

Thị hiện tuổi tăng giảm

Vô lượng vô số kiếp

Từng mạng sống tăng trưởng

Nhân duyên vô cùng tận

Ðạt được quả vô tận.

Nếu ai tương ưng hiểu lý này

Lấy huệ phân tích ngay nơi thân

Kẻ ấy sanh nơi Tịnh Liên Hoa

Nghe pháp Phật nói vô lượng thọ.

 

MỘT TRĂM NGÀN BÀI TỤNG CỦA KINH ÐẠI TẬP

BỒ TÁT ÐỊA TẠNG HỎI PHẬT VỀ PHÁP THÂN.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 516)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(Xem: 498)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 8816)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 582)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 509)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1849)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1898)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1912)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1976)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2752)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2178)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2190)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2501)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 3026)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3555)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2302)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3202)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3107)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 5052)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3302)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3588)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2676)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3387)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2921)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3467)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2662)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 3043)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3393)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3444)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4451)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3934)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3903)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4358)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3783)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3351)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4223)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5291)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3867)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6781)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6486)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4347)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20258)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3777)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7250)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4733)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4493)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 4034)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4402)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5971)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4550)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4268)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4321)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4549)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5210)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3953)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5349)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5195)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6918)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 5075)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5895)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
Quảng Cáo Bảo Trợ