Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,473,647
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Chứng Đạo Ca

16 Tháng Mười Hai 201300:00(Xem: 14866)
Chứng Đạo Ca


CHỨNG ĐẠO CA


 HUYỀN GIÁC

Bản dịch thơ Chứng Đạo Ca của H.T Thích Thuyền Ấn


 chung_dao_ca_ht_thuyen_an


I. Ngộ Phật tánh:

 1. Ai có hay chăng bực Đạo nhân

 Vô vi tuyệt học, vọng là chân?

 Chính vô minh tánh: Bồ đề tánh

 Thân huyễn không nầy tức Pháp thân.

 

 2. Đốn ngộ Pháp thân vạn vật không

 Pháp thân, Phật tánh bản nguyên đồng

 Thân mây năm ấm bay qua lại

 Ba độc nổi chìm bọt biển đông.

 

 3. Thực tướng chứng rồi không pháp, nhân

 Diệt A-tỳ nghiệp sát na phân

 Nếu ta vọng ngữ lừa nhân thế

 Lưỡi cắt ngàn đời tội vướng thân.

 

II. Cảnh giới tự chứng:

 4. Hoát nhiên đốn ngộ Như Lai thiền

 Sáu độ vẹn toàn muôn hạnh viên

 Mê mộng đó đây sinh lục thú

 Giác rồi không cả cõi tam thiên.

 

 5. Không tội phước, không thêm bớt đâu

 Bản nhiên tánh tịnh chớ tìm cầu

 Từ xưa gương bụi chưa lau rửa

 Tẩy sạch ngay đi đừng đợi lâu.

 

 6. Ai không niệm? Liễu ngộ không sanh

 Nếu có không sanh, không chẳng sanh

 Xin hỏi mộc nhân[1] nguyên cớ ấy

 Giúp công nhờ Phật việc không thành.

 

 7. Buông bốn đại không hề vướng mang

 Trong tâm ăn uống sống thanh nhàn

 Vô thường vạn pháp toàn không cả

 Viên Giác Như Lai huệ ngọc vàng.

 

III. Bảo tạng Như Lai:

 8. Nói quyết định nêu rõ Thánh tăng

 Có người chưa dám lộ cao đăng

 Chân tâm liễu ngộ Phật minh chứng

 Vạch lá tìm cành không khả năng.

 

 9. Ma-ni châu, có ai hay đâu

 Bảo tạng Như Lai toàn vẹn thâu

 Vô tận thần thông gì chẳng có

 Viên quang diệu thể quá thâm sâu.

 

 10. Tịnh năm nhãn, diệu lực toàn năng

 Ai chứng mới hay người thấu chăng

 Ngắm ảnh trong gương điều chẳng khó

 Đáy song ai dễ kiếm mò trăng.

 

IV. Niết bàn lộ:

 11. Thường độc hành, đi bộ một mình

 Niết bàn lộ liễu ngộ quang minh

 Tinh thần trầm mặc, hình siêu thoát

 Thân huyễn không nầy đầy tánh linh.

 

 12. Xuất gia thoát tục làm bần tăng

 Say đạo, vui nghèo, quên khó khăn

 Nghèo tất thân choàng manh áo rách

 Đạo thì tâm ngọc sáng như trăng.

 

13. Dùng chẳng hết vô giá bảo châu

 Tùy duyên cứu độ thiếu gì đâu

 Ba thân, bốn trí tâm sẵn đủ

 Tám giải, sáu thông Đạo nhiệm mầu.

 

14. Thượng sĩ quyết tâm tất cả thông

 Bực trung, bực hạ ngu và ngông

 Hãy tìm bảo ngọc trong áo rách

 Vô ích bề ngoài khoe tính công.

 

V. Chuyển chướng duyên thành trợ duyên:

 15. Mặc ai hủy báng, chê bai gì

 Đem lửa đốt trời có ích chi

 Lời mắng nghe như cam lộ thủy

 Tiêu dung thể nhập nan tư nghì.

 

 16. Xem như công đức những rầy la

 Người ấy thiện tri thức của ta

 Không khởi hận thù, không oán trách

 Nhân từ, nhẫn nhục lòng dung tha.

 

VI. Thông đạt:

 17. Đạo lý suốt thông, tông chỉ thông

 Sáng ngời định tuệ bỏ mê không

 Điều nầy nào chỉ mình ta đạt

 Chư Phật hằng sa ngộ tánh đồng.

 

 18. Sư tử rống lên vô úy thanh

 Thất kinh muôn thú chạy tan tành

 Cong đuôi hoảng nhảy chúa voi trốn

 Thiên long nghe được tâm an lành.

 

VII. Tâm ấn Tào khê:

 19. Đạo rừng thiêng, thưởng ngoạn trùng dương

 Học đạo tầm sư khắp vạn phương

 Từ lúc Tào khê duyên hạnh ngộ

 Liễu sinh thoát tử chứng chân thường.

 

 20. Ngồi cũng thiền, đi đứng cũng thiền

 Nói phô động tịnh tâm an nhiên

 Kiếm đao hung dữ lòng thanh tịnh

 Độc dược vướng nhằm thân vẫn yên.

 

VIII. Tự giác:

 21. Bổn sư ta gặp Phật Nhiên Đăng

 Tu nhẫn nhục tiên nhiều khó khăn

 Sinh tử, tử sinh bao nạn kiếp

 Liễu sinh thoát tử Phật cao thăng.

 

 22. Từ khi đốn ngộ pháp vô sinh

 Vui khổ không còn đổi nhục vinh

 Vào tận thâm sơn, Lan nhã

 Rừng tùng xanh, núi ngợp U linh

 Tọa thiền thanh thản quên trần thế

 Siêu thoát an nhiên trí tuệ minh.

 

 23. Giác là liễu ngộ không thi công

 Các pháp hữu vi vốn bất đồng

 Bố thí phước sinh trời hưởng lạc

 Thân như tên bắn lên hư không

 Đến khi lực hết tên rơi xuống

 Phiêu bạt trầm luân khổ não lòng

 Đốn ngộ pháp môn: Chân thực pháp

 Ai tu triệt chứng Như Lai tông.

 

IX. Giác tha:

 24. Cội gốc phải lo, chớ bận cành

 Lưu ly ngậm trọn trăng trời xanh

 Trân châu ý ấy ai thông đạt

 Độ thế cứu nhân siêu tuyệt danh

 Trăng chiếu trên sông, tùng vút gió

 Tuyệt vời trăng, nhạc thiền thanh thanh.

 

 25. Phật tánh viên minh ẩn chứng tâm

 Cà sa Phật bận hết thăng trầm

 Hàng long bình bát, trượng trừ hổ

 Hai dãy vòng vàng ngân diệu âm

 Pháp khí trân châu không hủy bỏ

 Như Lai dấu tích chẳng sai lầm.

 

X. Như Lai địa:

 26. Chẳng đoạn vọng, rồi chẳng chứng chân

 Vọng chân không tướng khó ai phân

 Không “KHÔNG”, không “CÓ” siêu siêu hết

 Chính đấy Như Lai chân Pháp thân.

 

 27. Chân tâm sáng chiếu khắp nơi nơi

 Thế giới hằng sa quá tuyệt vời

 Vạn pháp muôn trùng tâm hiện rõ

 Viên quang diệu thể khó nên lời.

 

 28. Chẳng tin nhân quả, đắm mê không

 Phóng đãng nghênh ngang họa vướng vòng

 Bỏ “CÓ”, chấp “KHÔNG” bịnh cũng thế

 Khác nào tránh nước, lửa thiêu ông.

 

 29. Chân lý giữ, tâm vọng bỏ xa

 Tâm thủ xả nầy loại quái ma

 Liễu ngộ chẳng thông tu luyện bậy

 Bỏ con ôm giặc đừng rên la.

 

 30. Tâm, ý, thức mê vọng ám đi

 Mất công đức, đạo lực còn gì

 Nên thiền môn dạy thông tâm pháp

 Đốn ngộ vô sanh trí diệu vi.

 

XI. Hành Như Lai sự:

 31. Đại trượng phu, thanh kiếm huệ cầm

 Tuyệt vời bát nhã ngời chân tâm

 Thiên ma khiếp đảm tàn lui bước

 Ngoại đạo tỉnh mê bỏ chấp lầm.

 

 32. Pháp âm ngân, sấm pháp rền vang

 Cam lộ mưa rơi trong nắng vàng

 Vạn loại tam thừa đều giải thoát

 Siêu nhân xuất hiện cứu trần gian.

 

XII. Pháp tánh viên dung:

 33. Cỏ phì nhị[2] tuyết sơn tươi xanh

 Nơi tạo đề hồ ta biết danh

 Một tánh bao hàm tất cả tánh

 Viên dung một pháp vạn hình sanh

 Ánh trăng chiếu khắp muôn sông nước

 Trăng nước muôn sông một ánh trăng

 Chư Phật pháp thân tâm liễu nhiếp

 Tâm ta, tâm Phật: diệu huyền đăng.

 

 34. Tất cả địa trong một địa thông

 Chẳng tâm, chẳng sắc, chẳng tây đông

 Sát na diệt nghiệp ba kỳ kiếp[3]

 Pháp môn muôn vạn phút giây xong

 Văn chương chữ nghĩa toàn không cả

 Chẳng dính líugiác tánh ông.

 

 35. Chê khen vượt thoát, tâm thường an

 Tĩnh lặng hư không thể niết bàn

 Viên giác diệu tâm ngay trước mặt

 Tìm là không thấy chớ nghênh ngang

 Vướng vào thủ xả toàn không được

 Không được ấy mà giác đạo quang

 Lúc nói im, khi im lại nói

 Mở khai thí hội tâm thênh thang.

 

 36. Có người lại hỏi giảng tông gì?

 Bát nhã kinh truyền tâm đại bi

 Hoặc trái, hoặc sai người chẳng biết

 Việc làm thuận nghịch trời hay chi.

 

XIII. Truyền tâm pháp yếu:

 37. Trải qua nhiều kiếp ta chuyên tu

 Nào dại bịp người hạnh ngốc ngu

 Khai đạo tràng, truyền tâm pháp yếu

 Tào khê liễu ngộ Tổ công phu.

 

 38. Ca Diếp truyền tâm vị Tổ đầu

 Tây thiên hăm tám Tổ truyền nhau

 Khai thiền Đông độ Đạt Ma Tổ

 Y bát tâm truyền sáu Tổ sau

 Tiếp nối nhiều người tâm Phật chứng

 Truyền tâm đốn ngộ: Pháp tu mau.

 

 39. Chân không lập, vọng vốn toàn không

 Trút bỏ có không mê chấp thông

 Không tưởng đắm say trừ sạch hết

 Như Lai thể tánh xưa nay đồng.

 

 40. Tâm thành căn, pháp biến ra trần

 Như bụi che gương đều khó phân

 Căn cảnh băng tiêu gương bụi sạch

 Ngàn đời lưu hộ Như Lai thân.

 

XIV. Ma chướng thời mạt pháp:

 41. Than ôi! Mạt pháp: ác gian thời!

 Phước bạc chúng sinh say đắm đời

 Cách Phật lâu xa tà kiến nặng

 Ma cường pháp nhược oán không vơi

 Được nghe đốn ngộ Như Lai giáo

 Cuồng hận phá, tan nát tả tơi.

 

 42. Ác do tâm, khổ lụy thân sầu

 Chớ oán trời người, không được đâu

 Muốn khỏi sa vào vô gián ngục

 Như Lai diệu pháp phải qui đầu.

 

XV. Khí tượng Phật thừa:

 43. Thú thường không ở rừng chiên đàn

 Sư tử một mình sống dọc ngang

 Lãnh chúa sơn lâm uy dũng ngắm

 Thú chim trốn đến nơi bình an.

 

 44. Sống cạnh Mẹ đàn sư tử con

 Lúc lên ba tuổi hét vang non

 Chó rừng, muôn thú run lo sợ

 Khi thấy Pháp vương vía chẳng còn.

 

XVI. Pháp viên đốn:

 45. Pháp viên đốn vượt thoát thường tình

 Diệt bỏ nghi nan chớ để sinh

 Nhân ngã luận bàn xin chẳng dám

 Đoạn, thường hố thẳm tránh điêu linh.

 

 46. Thị chẳng thị, phi cũng chẳng phi

 Lạc xa ngàn dặm, sai hào li

 Thị như Long nữ khắc thành Phật

 Thiện Tịnh vì phi đọa A-tỳ.

 

XVII. Chứng tích cá nhân:

 47. Ta nay học vấn đã từ lâu

 Kinh luận sớ sao nghiên cứu sâu

 Mê đắm văn chương quên nhọc mệt

 Biển mò đếm cát ngu như trâu

 Đáng nghe quở trách Như Lai mắng

 Đếm bảo châu người lợi ích đâu?

 Tính lại mới hay công sức phí

 Làm phong trần khách nhiều đêm thâu.

 

 48. Hiểu lầm lạc, tánh chấp mê

 Đốn giáo Như Lai không ngộ ra

 Tinh tiến tiểu thừa thiếu huệ lực

 Thông minh ngoại đạo trí yêu ma

 Vừa ngông ngu, lại vừa thơ dại

 Tay chỉ trời khờ khạo tưởng là:

 “Tay chính mặt trăng”. Si tối thế!

 U mê căn cảnh loạn phong ba.

 

 49. Rời xa các tướng tức Như Lai

 Như Quán Thế Âm giác huệ khai

 Liễu được, tan vong toàn nghiệp chướng

 Bằng không, oan trái vướng lâu dài.

 

 50. Đói gặp tiệc vua không thể ăn

 Bịnh xa thầy thuốc bịnh càng tăng

 Thiền trong rừng dục thiền kiên cố

 Biển lửa sen sinh thân vạn năng

 Phạm giới Dũng Thi tâm liễu ngộ

 Sớm thành Phật đạo quả cao đăng.

 

XVIII. Duy Ma sư tử hống:

 51. Sư tử rống lên giọng dũng uy

 Thương người mê tối lắm ngu si

 Chỉ hay phạm trọng[4], chướng thành Phật

 Chẳng rõ Như Lai ý diệu vi.

 

 52. Hai vị tỳ kheo phạm sát, dâm

 Ba-ly trí cạn tội phân lầm

 Duy Ma Đại sĩ trừ nghi hoặc

 Tội tiêu, vọng hết, chứng chân tâm.

 

 53. Giải thoát nhiệm mầu sức tuyệt vời

 Hằng sa diệu dụng hiện nơi nơi

 Cúng dường tứ sự dâng không thiếu

 Hiến triệu lượng vàng, hiến trọn đời

 Thịt nát xương tan, đền chẳng đủ

 Trần gian siêu thoát một câu thôi.

 

XIX. Pháp vương:

 54. Tối thắng Pháp vương: Đức Thế Tôn

 Đồng nhau chư Phật chứng tâm môn

 Pháp vương tâm ngọc ta minh ngộ

 Quên hết trần gian những dại khôn.

 

 55. Liễu thoát thấy: không một vật nào

 Không người, không Phật, không trăng sao.

 Hằng sa thế giới: bọt trong biển

 Tất cả Thánh hiền: điện chớp cao.

 

 56. Giả sử thiết luân quay đỉnh đầu

 Viên minh định tuệ mất nào đâu

 Mặt trời lạnh, hoặc vừng trăng bừng nóng

 Ma quỷ phải hàng Phật đạo mầu

 Đường dốc xe voi lên vững mạnh

 Cản đường châu chấu chuyện còn lâu.

 

 57. Voi lớn không theo dấu thỏ đi

 Ngộ rồi chấp tiểu tiết làm gì

 Ếch ngồi đáy giếng chê trời hẹp

 Chưa ngộ ta bày chỗ diệu vi.

 

 Phật tử Quảng Minh đánh máy vi tính – 16/12/2013


[1] Mộc nhân: Người bằng gỗ.

[2] Phì nhị: Tương truyền trên tuyết sơn có loại cỏ rất quí tên là phì nhị, bò ăn loại cỏ nầy sinh ra sữa rất quí. Đem sữa ấy nấu và chế biến thành đề hồ, là thức ăn rất bổ dưỡng cho cơ thể.

[3] Ba kỳ kiếp: Gọi đủ là ba A tăng kỳ kiếp, có nghĩa là ba vô số kiếp.

[4] Phạm trọng: Phạm bốn trọng giới: Sát, Đạo, Dâm, Vọng.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 8145)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 220)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 213)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1536)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1536)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1691)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1621)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2396)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 1960)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 1942)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2215)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 2709)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3246)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2081)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 2948)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 2833)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 4707)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3022)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3329)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2474)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3124)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2718)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3220)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2461)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 2839)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3183)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3201)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4156)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3662)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3648)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4131)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3523)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3153)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4004)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 4791)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3663)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6175)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6102)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4158)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20046)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3537)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 6951)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4478)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4276)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 3841)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4164)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5677)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4365)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4044)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4101)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4233)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 4942)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3715)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5025)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 4977)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6637)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 4820)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5679)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4528)
Thưa Tôn giả Gotama, những ngày về trước, những ngày về trước nữa, rất nhiều Sa-môn, Bà-la-môn là du sĩ ngoại đạo ngồi...
(Xem: 4889)
Lời dạy của Đức Phật được kiết tập thành kinh điển và bảo lưu trong nhiều truyền thốngbộ phái Phật giáo.
Quảng Cáo Bảo Trợ