Logo HHAD 2018 250
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
14,868,791
Free Support Hoavouu.com
Ho Tro Hoavouu 250
hotels-Hoavouu

Kinh Xưng Tán Tịnh Ðộ Phật Nhiếp Thọ

19 Tháng Mười Hai 201300:00(Xem: 9121)
Kinh Xưng Tán Tịnh Ðộ Phật Nhiếp Thọ


Kinh Xưng Tán Tịnh Ðộ Phật Nhiếp Thọ


Đại Chánh Tân Tu, Bộ Bảo Tích, Kinh số 0367

Nguyên tác Hán ngữ  [1]

Ðại Ðường, Tam tạng pháp sư Huyền Trang vâng chiếu dịch [1].
Việt dịch: Quảng Minh.


Tôi nghe như vầy:

Một thời đức Bạc già phạm ở thành Thất La Phiệt, rừng Thệ Ða, trong vườn Cấp cô độc, cùng chúng đại bí sô một ngàn hai trăm năm mươi vị tụ hội, toàn là bậc tôn túc thanh văn, bậc đại A la hánmọi người đều biết: tôn giả Xá lợi tử, Ma ha Mục kiền liên, Ma ha Ca diếp, A nê luật đà, các vị đại thanh văn đại loại như vậy làm thượng thủ. Lại cùng với vô số vị bồ tát ma ha tát tụ hội, tất cả đều trú địa vị Không còn thoái chuyển, trang nghiêm bằng vô lượng công đức, danh hiệu của chư vị là: bồ tát Diệu Cát Tường, bồ tát Vô Năng Thắng, bồ tát Thường Tinh Tấn, bồ tát Bất Hưu Tức, các vị đại bồ tát đại loại như vậy làm thượng thủ. Lại có Ðế thích, Ðại phạn thiên vương - chủ của thế giới Kham nhẫn, bốn vị thiên vương hộ thế, các vị như vậy làm thượng thủ. Có số trăm ngàn câu chi na dữu đa [2] các vị thiên tử, vô lượng chư thiên, nhân loại, a tố lạc và các hạng thế gian khác, vì muốn nghe pháp nên cùng đến ngồi trong pháp hội.

Vào lúc bấy giờ, đức Thế Tôn bảo tôn giả Xá lợi tử: Tôn giả có biết không, từ thế giới này, hướng về phương Tây, qua trăm ngàn câu chi na dữu đa cõi Phật, có một thế giới Phật tên là Cực lạc. Cõi Phật ấy có đức Thế tôn danh hiệuVô Lượng ThọVô Lượng Quang Như lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, mười hiệu viên mãn, hiện nay vẫn còn trú trì yên ổn nơi cõi ấy, tuyên thuyết cho người ở đó về pháp thậm thâm vi diệu, làm cho họ được lợi ích yên vui thù thắng.

Này Xá lợi tử, vì lý do gì thế giới Phật ấy tên là Cực lạc? Này Xá lợi tử, vì người sống trong thế giới ấy không có tất cả sự lo nơi tâm và sự khổ nơi thân, mà chỉ có vô lượng sự hỷ lạcthanh tịnh, nên gọi là thế giới Cực lạc.

Này nữa Xá lợi tử, trong cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực lạc, chỗ nào cũng có bảy lớp lan can báu, bảy lớp hàng cây Đa la [3] báu, bảy lớp lưới giăng báu, bao quanh khắp cả, trang nghiêm bằng bốn chất liệu quí báu: vàng, bạc, lưu ly [4] và pha lê [5], được trang sức tinh tế, xen kẽ [6].

Này Xá lợi tử, cõi Phật ấy có các sự trang hoàng mầu nhiệm, công đức trang nghiêm như vậy, thật đáng ưa thích, nên gọi là thế giới Cực lạc.

Này nữa Xá lợi tử, trong cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực lạc, chỗ nào cũng có cái hồ bằng bảy chất liệu quí báu, trong đó đầy ắp nước tám công đức. Vì sao gọi là nước tám công đức? Một là lóng sạch, hai là trong mát, ba là ngon ngọt, bốn là mềm nhẹ, năm là tươi nhuận, sáu là an hòa, bảy là uống vào trừ được đói, khát, nhẫn đến vô số tội lỗi, tám là uống vào chắc chắn trưởng dưỡng căn thân tứ đạităng ích các thứ thiện căn thù thắng. Chúng sanh nhiều phước đức [7] thường thích thọ dụng nước ấy. Ðáy các hồ báu rải toàn cát bằng vàng. Bốn phía bao quanh hồ đều có thềm cấp và lối đi, trang sức bằng bốn chất liệu quí báu, thật đáng ưa thích. Bao quanh các hồ có cây quí báu, xếp theo hàng lối, tỏa hương ngào ngạt, trang sức bằng bảy chất liệu quí báu, thật đáng ưa thích. Bảy chất liệu quí báu: một là vàng, hai là bạc, ba là lưu ly, bốn là pha lê, năm là xích chân châu, sáu là mã não [8], bảy là xa cừ [9]. Trong các hồ đó thường có các hoa sen đủ màu sắc, lớn như bánh xe: hoa sen xanh, hiển thị màu xanh, ánh ra sáng xanh, ảnh tượng xanh; hoa sen vàng, hiển thị màu vàng, ánh ra sáng vàng, ảnh tượng vàng; hoa sen đỏ, hiển thị màu đỏ, ánh ra sáng đỏ, ảnh tượng đỏ; hoa sen trắng, hiển thị màu trắng, ánh ra sáng trắng, ảnh tượng trắng. Bốn loại hoa sen, hiển thị bốn màu, ánh ra bốn ánh sáng, có bốn ảnh tượng nơi tâm [10]. 

Này Xá lợi tử, cõi Phật ấy có các sự trang hoàng mầu nhiệm, công đức trang nghiêm như vậy, thật đáng ưa thích, nên gọi là thế giới Cực lạc.

Này nữa Xá lợi tử, trong cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực lạc, tự nhiên thường có vô lượng vô biên kỹ nhạc tuyệt diệu, âm khúc hòa nhã, thật đáng ưa thích. Các loài hữu tình nghe được âm thanh tuyệt diệu ấy thì tất cả ác phiền não đều tiêu diệt, vô lượng thiện pháp lần lượt tăng trưởng, mau chứng Vô thượng chánh đẳng bồ đề.

Này Xá lợi tử, cõi Phật ấy có các sự trang hoàng mầu nhiệm, công đức trang nghiêm như vậy, thật đáng ưa thích, nên gọi là thế giới Cực lạc.

Này nữa Xá lợi tử, trong cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực lạc, khắp cả mặt đất cấu thành bằng vàng ròng, chạm vào thì mềm mại, thơm dịu, sáng chói, và trang sức xen kẽ bằng vô lượng vô biên chất liệu quí báu.

Này Xá lợi tử, cõi Phật ấy có các sự trang hoàng mầu nhiệm, công đức trang nghiêm như vậy, thật đáng ưa thích, nên gọi là thế giới Cực lạc.

Này nữa Xá lợi tử, trong cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực lạc, ngày đêm sáu buổi thường mưa xuống nhiều loại hoa trời thượng diệu. Hoa trời tươi sáng, thơm dịu, mềm mại và màu sắc xen nhau. Người nhìn thấy hoa ấy có sự dễ chịu nơi thân và sự vui thích nơi tâm, nhưng không tham đắm. Hoa trời làm cho người thế giới Cực lạc tăng trưởng vô lượng vô số công đức thù thắng, không thể nghĩ bàn [11]. Người thế giới Cực lạc, ngày đêm sáu buổi, thường đem hoa trời hiến cúng đức Phật Vô Lượng Thọ. Vào mỗi sáng sớm, người thế giới ấy mang hoa trời, trong khoảng bữa ăn, bay đến vô lượng thế giới ở phương khác, hiến cúng trăm ngàn câu chi chư Phật. Nơi chỗ chư Phật, dùng trăm ngàn câu chi hoa trời mà tung rải trên mỗi đức Phật để hiến cúng, rồi trở về thế giới của mình, nghỉ trưa [12].

Này Xá lợi tử, cõi Phật ấy có các sự trang hoàng mầu nhiệm, công đức trang nghiêm như vậy, thật đáng ưa thích, nên gọi là thế giới Cực lạc.

Này nữa Xá lợi tử, trong cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực lạc, thường có các loại chim đẹp lạ, đáng yêu, màu sắc xen nhau, như là: ngỗng, nhạn, thu lộ [13], hồng hạc, khổng tước, anh vũ, yết la tần ca [14], mạng mạng [15]. Những loại chim như vậy, ngày đêm sáu buổi, thường tụ tập lại, hót ra âm thanh giao hòa và tuyệt nhã. Âm thanh của mỗi loại chim đều diễn đạt những giáo pháp tuyệt diệu, như là: bốn niệm trú, bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, tám chánh đạo [16], vô số giáo pháp tuyệt diệu sâu xa như vậy. Người thế giới Cực lạc nghe âm thanh ấy, ai cũng nhớ nghĩ về Phật, nhớ nghĩ về Pháp, nhớ nghĩ về Tăng, có được vô lượng công đức huân tu thân mình.

Này Xá lợi tử, ông nghĩ thế nào, các loại chim ở thế giới Cực lạc có phải là bàng sanh thuộc nẻo dữ không? Ông đừng nghĩ như thế. Vì sao? Vì tịnh độ của Phật thì không có ba nẻo đường dữ, cũng không nghe cái tên ba nẻo đường dữ, làm sao có thật các loại chim do tội nghiệp chiêu cảm vào bàng sanh. Nên biết, các loại chim này toàn do đức Phật Vô Lượng Thọ biến hiện ra để diễn đạt vô số âm thanh diệu pháp, làm cho người thế giới Cực lạc được lợi ích yên vui.

Này Xá lợi tử, cõi Phật ấy có các sự trang hoàng mầu nhiệm, công đức trang nghiêm như vậy, thật đáng ưa thích, nên gọi là thế giới Cực lạc.

Này nữa Xá lợi tử, trong cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực lạc, thường có gió nhẹ thổi qua những hàng cây và lưới giăng quí báu, phát ra âm thanh tuyệt diệu, tựa như trăm ngàn câu chi thiên nhạc đồng thời hòa tấu, vang ra âm thanh tuyệt diệu, thật đáng ưa thích thưởng thứcCõi Phật ấy như vậy, thường có gió nhẹ thổi qua những hàng cây và lưới giăng quí báu, phát ra âm thanh tuyệt diệu, nói các giáo pháp. Người thế giới Cực lạc nghe âm thanh ấy thì sanh khởi nhớ nghĩ về Phật, nhớ nghĩ về Pháp, nhớ nghĩ về Tăng, là những tác ý có được vô lượng công đức.

Này Xá lợi tử, cõi Phật ấy có các sự trang hoàng mầu nhiệm, công đức trang nghiêm như vậy, thật đáng ưa thích, nên gọi là thế giới Cực lạc.

Này nữa Xá lợi tử, trong cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực lạc, có vô lượng vô biên sự không thể nghĩ bàn, sự rất hiếm có, đại loại như thế. Giả sử trải qua thời gian trăm ngàn câu chi na dữu đa kiếp, dùng vô lượng trăm ngàn câu chi na dữu đa cái lưỡi, và mỗi cái lưỡi thốt ra vô lượng âm thanh, tán dương công đức của cõi Phật ấy, cũng không thể tán dương hết được, nên gọi là thế giới Cực lạc.

Này nữa Xá lợi tử, trong cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực lạc, do duyên gì đức Phật ấy có danh hiệuVô Lượng Thọ? Này Xá lợi tử, do đức Như lai ấy và người ở tịnh độ của ngài có thọ mạng đến vô lượng vô số đại kiếp. Do duyên này, đức Như lai ở cõi ấy có danh hiệuVô Lượng Thọ. Này Xá lợi tử, đức Phật Vô Lượng Thọ chứng được Vô thượng chánh đẳng chánh giác đến nay đã mười đại kiếp. Này Xá lợi tử, do duyên gì đức Phật ấy có danh hiệuVô Lượng Quang? Này Xá lợi tử, do đức Như lai ấy thường phóng vô lượng vô biên ánh sáng kỳ diệu, chiếu soi khắp cả cõi Phật mười phương, thực hiện Phật sự không có chướng ngại. Do duyên này, đức Như lai ở cõi ấy có danh hiệuVô Lượng Quang.

Này Xá lợi tử, cõi Phật ấy có các sự trang hoàng mầu nhiệm, công đức trang nghiêm như vậy, thật đáng ưa thích, nên gọi là thế giới Cực lạc.

Này nữa Xá lợi tử, trong cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực lạc, đức Phật Vô Lượng Thọ thường có vô lượng đệ tử thanh văn, tất cả đều là bậc đại A la hán, đầy đủ các thứ công đức vi diệu, số ấy vô biên không thể tính kể.

Này Xá lợi tử, cõi Phật ấy có các sự trang hoàng mầu nhiệm, công đức trang nghiêm như vậy, thật đáng ưa thích, nên gọi là thế giới Cực lạc.

Này nữa Xá lợi tử, trong cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực lạc, đức Phật Vô Lượng Thọ thường có vô lượng đệ tử bồ tát, tất cả đều là những bậc Nhất sanh sở hệ [17], đầy đủ các thứ công đức vi diệu, số ấy vô biên không thể tính kể. Giả sử trải qua thời gian vô số lượng kiếp, tán dương công đức của chư vị, cũng không thể tán dương hết được.

Này Xá lợi tử, cõi Phật ấy có các sự trang hoàng mầu nhiệm, công đức trang nghiêm như vậy, thật đáng ưa thích, nên gọi là thế giới Cực lạc.

Này nữa Xá lợi tử, các hữu tình sanh về cõi ấy thì đều ở địa vị Không còn thối chuyển: chắc chắn không còn sa vào các nẻo đường dữ, các xứ biên địa man dã [18]; thường du hành qua các quốc độ thanh tịnh của chư Phật; hạnh nguyện thù thắng tăng tiến trong từng ý nghĩ; quyết định sẽ chứng được Vô thượng chánh đẳng chánh giác

Này Xá lợi tử, cõi Phật ấy có các sự trang hoàng mầu nhiệm, công đức trang nghiêm như vậy, thật đáng ưa thích, nên gọi là thế giới Cực lạc.

Này nữa Xá lợi tử, các hữu tình nghe cõi Phật thanh tịnh của đức Phật Vô Lượng Thọ ở phương Tây, trang nghiêm bằng vô lượng công đức, hãy nên phát nguyện sanh về cõi Phật ấy. Vì sao? Vì ai sanh cõi ấy sẽ được cùng chung sống một chỗ với các bậc đại sĩ, trang nghiêm bằng vô lượng công đức như vậy; thọ dụng cõi Phật thanh tịnhpháp lạc đại thừa, trang nghiêm bằng vô lượng công đức như vậy, vĩnh viễn không thoái chuyển, vô lượng hạnh nguyện tăng tiến trong từng ý nghĩ, mau chứng Vô thượng chánh đẳng bồ đề.

Này Xá lợi tử, các hữu tình sanh cõi Phật ấy đã thành tựu vô lượng vô biên công đức. Chẳng phải các hữu tình có chút thiện căn sẽ được sanh cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực Lạc của đức Phật Vô Lượng Thọ. Này nữa Xá lợi tử, thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào có đức tin thanh tịnh, được nghe danh hiệu công đức vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn của đức Phật Vô Lượng Thọthế giới Cực lạc công đức trang nghiêm như vậy, nghe rồi tư duy: hoặc một ngày đêm, hoặc hai, hoặc ba, hoặc bốn, hoặc năm, hoặc sáu, hoặc bảy ngày đêm, buộc sự nhớ nghĩ không cho tán loạn [19], thì thiện nam tử hay thiện nữ nhân đó lúc sắp chết, đức Phật Vô Lượng Thọ cùng vô lượng thánh chúng đệ tử thanh văn, bồ tát của Ngài, bao quanh trước sau, đứng trước người ấy, từ bi gia hộ, làm cho người ấy tâm không thác loạn, và chết rồi thì theo Ngài và thánh chúng mà sanh cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực Lạc của đức Phật Vô Lượng Thọ. Này nữa Xá lợi tử, Như lai thấy lý do trọng đại, lợi ích yên vui như vậy, nên nói lời thành thật rằng: “Các thiện nam tử hay thiện nữ nhânđức tin thanh tịnh, được nghe danh hiệu công đức vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn của đức Phật Vô Lượng Thọcõi Phật thanh tịnhthế giới Cực lạc, thì hết thảy nên tin tưởng, tiếp nhận, phát nguyện, tu hành đúng như kinh này dạy, nguyện sanh cõi Phật ấy.”

Này nữa Xá lợi tử, như hiện thời Như lai xưng dương tán thán công đức Phật độ vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn của đức Phật Vô Lượng Thọ; như vậy ở phương Ðông, hiện tại cũng có đức Như lai Bất Ðộng, đức Như lai Sơn Tràng, đức Như lai Ðại Sơn, đức Như lai Sơn Quang, đức Như lai Diệu Tràng, căng già sa số [20] các đức Như lai đại loại như vậy, trú ở phương Ðông, nơi tịnh độ của mình, mỗi vị thị hiện tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, bao quanh khắp cả, nói lời thành thật như vầy: “Hữu tình các người đều nên tin nhận Pháp môn tán dương công đức Phật độ không thể nghĩ bàn, hết thảy chư Phật đều nhiếp thọ cho [21].”

Này nữa Xá lợi tử, như vậy ở phương Nam, hiện tại cũng có đức Như lai Nhật Nguyệt Quang, đức Như lai Danh Xưng Quang, đức Như lai Ðại Quang Uẩn, đức Như lai Mê Lô Quang, đức Như lai Vô Biên Tinh Tiến, căng già sa số các đức Như lai đại loại như vậy, trú ở phương Nam, nơi tịnh độ của mình, mỗi vị thị hiện tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, bao quanh khắp cả, nói lời thành thật như vầy: “Hữu tình các người đều nên tin nhận Pháp môn tán dương công đức Phật độ không thể nghĩ bàn, hết thảy chư Phật đều nhiếp thọ cho.”

Này nữa Xá lợi tử, như vậy ở phương Tây, hiện tại cũng có đức Như lai Vô Lượng Thọ, đức Như lai Vô Lượng Uẩn, đức Như lai Vô Lượng Quang, đức Như lai Vô Lượng Tràng, đức Như lai Ðại Tự Tại, đức Như lai Ðại Quang, đức Như lai Quang Diệm, đức Như lai Ðại Bảo Tràng, đức Như lai Phóng Quang, căng già sa số các đức Như lai đại loại như vậy, trú ở phương Tây, nơi tịnh độ của mình, mỗi vị thị hiện tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, bao quanh khắp cả, nói lời thành thật như vầy: “Hữu tình các người đều nên tin nhận Pháp môn tán dương công đức Phật độ không thể nghĩ bàn, hết thảy chư Phật đều nhiếp thọ cho.”

Này nữa Xá lợi tử, như vậy ở phương Bắc, hiện tại cũng có đức Như lai Vô Lượng Nghiêm Thông Ðạt Giác Tuệ, đức Như lai Vô Lượng Thiên Cổ Chấn Ðại Diệu Âm, đức Như lai Ðại Uẩn, đức Như lai Quang Võng, đức Như lai Sa La Ðế Vương, căng già sa số các đức Như lai đại loại như vậy, trú ở phương Bắc, nơi tịnh độ của mình, mỗi vị thị hiện tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, bao quanh khắp cả, nói lời thành thật như vầy: “Hữu tình các người đều nên tin nhận Pháp môn tán dương công đức Phật độ không thể nghĩ bàn, hết thảy chư Phật đều nhiếp thọ cho .”

Này nữa Xá lợi tử, như vậy ở phương dưới, hiện tại cũng có đức Như lai Thị Hiện Nhất Thiết Diệu Pháp Chánh Lý Thường Phóng Hỏa Vương Thắng Ðức Quang Minh, đức Như lai Sư Tử, đức Như lai Danh Xưng, đức Như lai Dự Quang, đức Như lai Chánh Pháp, đức Như lai Diệu Pháp, đức Như lai Pháp Tràng, đức Như lai Công Ðức Hữu, đức Như lai Công Ðức Hiệu, căng già sa số các đức Như lai đại loại như vậy, trú ở phương dưới, nơi tịnh độ của mình, mỗi vị thị hiện tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, bao quanh khắp cả, nói lời thành thật như vầy: “Hữu tình các người đều nên tin nhận Pháp môn tán dương công đức Phật độ không thể nghĩ bàn, hết thảy chư Phật đều nhiếp thọ cho.”

Này nữa Xá lợi tử, như vậy ở phương trên, hiện tại cũng có đức Như lai Phạm Âm, đức Như lai Tú Vương, đức Như lai Hương Quang, đức Như lai Như Hồng Liên Hoa Thắng Ðức, đức Như lai Thị Hiện Nhất Thiết Nghĩa Lợi, căng già sa số các đức Như lai đại loại như vậy, trú ở phương trên, nơi tịnh độ của mình, mỗi vị thị hiện tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, bao quanh khắp cả, nói lời thành thật như vầy: “Hữu tình các người đều nên tin nhận Pháp môn tán dương công đức Phật độ không thể nghĩ bàn, hết thảy chư Phật đều nhiếp thọ cho.”

Này nữa Xá lợi tử, như vậy ở phương Đông Nam, hiện tại cũng có đức Như lai Tối Thượng Quảng Ðại Vân Lôi Âm Vương, căng già sa số các đức Như lai đại loại như vậy, trú ở phương Đông Nam, nơi tịnh độ của mình, mỗi vị thị hiện tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, bao quanh khắp cả, nói lời thành thật như vầy: “Hữu tình các người đều nên tin nhận Pháp môn tán dương công đức Phật độ không thể nghĩ bàn, hết thảy chư Phật đều nhiếp thọ cho.”

Này nữa Xá lợi tử, như vậy ở phương Tây Nam, hiện tại cũng có đức Như lai Tối Thượng Nhật Quang Danh Xưng Công Ðức, căng già sa số các đức Như lai đại loại như vậy, trú ở phương Tây Nam, nơi tịnh độ của mình, mỗi vị thị hiện tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, bao quanh khắp cả, nói lời thành thật như vầy: “Hữu tình các người đều nên tin nhận Pháp môn tán dương công đức Phật độ không thể nghĩ bàn, hết thảy chư Phật đều nhiếp thọ cho.”

Này nữa Xá lợi tử, như vậy ở phương Tây Bắc, hiện tại cũng có đức Như lai Vô Lượng Công Ðức Hỏa Vương Quang Minh, căng già sa số các đức Như lai đại loại như vậy, trú ở phương Tây Bắc, nơi tịnh độ của mình, mỗi vị thị hiện tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, bao quanh khắp cả, nói lời thành thật như vầy: “Hữu tình các người đều nên tin nhận Pháp môn tán dương công đức Phật độ không thể nghĩ bàn, hết thảy chư Phật đều nhiếp thọ cho.”

Này nữa Xá lợi tử, như vậy ở phương Đông Bắc, hiện tại cũng có vô số trăm ngàn câu chi đức Như lai Quảng Tuệ [22], căng già sa số các đức Như lai đại loại như vậy, trú ở phương Đông Bắc, nơi tịnh độ của mình, mỗi vị thị hiện tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới, bao quanh khắp cả, nói lời thành thật như vầy: “Hữu tình các người đều nên tin nhận Pháp môn tán dương công đức Phật độ không thể nghĩ bàn, hết thảy chư Phật đều nhiếp thọ cho.”

Này nữa Xá lợi tử, vì lý do gì kinh này tên là “Pháp môn tán dương công đức Phật độ không thể nghĩ bàn, hết thảy chư Phật đều nhiếp thọ cho”? Này Xá lợi tử, vì trong kinh này xưng dương tán thán công đức Phật độ vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn là thế giới Cực lạc của đức Phật Vô Lượng Thọ, và lại được mười phương chư Phật Thế tôn vì muốn phương tiện cho các hữu tình được lợi ích yên vui, nên mỗi vị đều ở nơi quốc độ của mình, thị hiện đại thần biến, nói lời thành thật, khuyên các hữu tình tin nhận pháp môn này, vì vậy mà kinh này tên là “Pháp môn tán dương công đức Phật độ không thể nghĩ bàn, hết thảy chư Phật đều nhiếp thọ cho.”

Này nữa Xá lợi tử, thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào hoặc đã nghe, hoặc sẽ nghe, hoặc đang nghe, nghe kinh này rồi tin hiểu sâu xa, tin hiểu rồi thì chắc chắn được mười căng già sa chư Phật Thế Tôn trú trong mười phương nhiếp thọ cho, tu hành đúng như kinh này dạy, nên ai cũng quyết chắc được sự không thoái chuyển đối với Vô thượng chánh đẳng chánh giác, ai cũng quyết chắc sanh cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực Lạc của đức Phật Vô Lượng Thọ.

Thế nên, này Xá lợi tử, hết thảy hữu tình các người đều nên tin tưởng, tiếp nhận và lý giải lời nói của Như lai và của mười phương chư Phật Thế tôn, phải nỗ lực tinh tiếntu hành đúng như kinh này dạy, chớ sanh hoài nghi, lo ngại.

Này nữa Xá lợi tử, thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào đối với công đức trang nghiêm của cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực lạc của đức Phật Vô Lượng Thọ, hoặc đã phát nguyện, hoặc sẽ phát nguyện, hoặc đang phát nguyện (nguyện sanh cõi Phật ấy), thì chắc chắn được mười căng già sa chư Phật Thế tôn trú trong mười phương nhiếp thọ cho, tu hành đúng như kinh này dạy, nên ai cũng quyết chắc được sự không thoái chuyển đối với Vô thượng chánh đẳng chánh giác, ai cũng quyết chắc sanh cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực Lạc của đức Phật Vô Lượng Thọ.

Thế nên, này Xá lợi tử, thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào có lòng tin thanh tịnh, hết thảy đều nên đối với cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực lạc của đức Phật Vô Lượng Thọ, có sự tin hiểu sâu xa, thì hãy phát nguyện vãng sanh, đừng sống phóng dật [23].

Này nữa Xá lợi tử, như nay đây Như lai tán dương công đức không thể nghĩ bàn của cõi Phật thanh tịnhthế giới Cực lạc của đức Phật Vô Lượng Thọ, chư Phật Thế Tônmười phương cũng tán dương công đức vô biên, không thể nghĩ bàn của Như lai, đều nói như vầy: “Rất kỳ lạ hiếm có, đức Thích Ca Tịch Tĩnh, Thích Ca Pháp Vương, Như lai, Ứng cúng, Chánh đẳng giác, Minh hạnh viên mãn, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng trượng phu, Ðiều ngự sĩ, Thiên nhân sư, Phật: Thế Tôn, có thể ở trong thế giới Kham nhẫn này, vào thời kỳ dữ dội đầy cả năm thứ vẩn đục, đó là: kiếp trược, hữu tình trược, phiền não trược, kiến trượcmạng trược, lại chứng đắc Vô thượng chánh đẳng chánh giác, và vì muốn phương tiện cho các hữu tình được lợi ích yên vui, nên nói pháp môn mà tất cả thế gian rất khó tin.”

Thế nên, này Xá lợi tử, các người nên biết Như lai ở trong thời kỳ dữ dội đầy cả năm thứ vẩn đục của thế giới Kham nhẫn tạp nhiễm này, lại chứng đắc Vô thượng chánh đẳng chánh giác, và vì muốn phương tiện cho các hữu tình được lợi ích yên vui, nên nói pháp môn mà tất cả thế gian rất khó tin này, thì đó là việc rất hiếm có, không thể nghĩ bàn.

Này nữa Xá lợi tử, trong thời kỳ dữ dội đầy cả năm thứ vẩn đục của thế giới Kham nhẫn tạp nhiễm này, thiện nam tử hay thiện nữ nhân nào có lòng tin thanh tịnh, nghe nói về pháp môn tất cả thế gian rất khó tin này, mà có sự tin hiểu, thọ trì, diễn giảng, tu hành đúng như kinh này dạy, phải biết người ấy thật là hiếm có, đã từng trồng căn lành với vô lượng đức Phật. Người ấy mạng chung thì quyết định sanh thế giới Cực lạc ở phương Tây, thọ dụng cõi Phật thanh tịnhpháp lạc đại thừa, trang nghiêm bằng vô lượng công đức; ngày đêm sáu buổi, thân cận, hiến cúng đức Phật Vô Lượng Thọ; du hành khắp mười phương để hiến cúng chư Phật, từ nơi chư Phật được nghe pháp, được thọ ký; tư lương phước tuệ chóng đạt đến viên mãn, mau chứng Vô thượng chánh đẳng bồ đề

Khi đức Bạc già phạm nói kinh này xong, tôn giả Xá lợi tử, các vị đại thanh văn, cùng chúng bồ tát ma ha tát, vô lượng chư thiên, nhân loại, a tố lạc, hết thảy đại chúng nghe đức Bạc già phạm dạy, ai cũng rất hoan hỷ, tin tưởng, tiếp nhậnphụng hành.

19.03.2013 (08.02.Quý Tỵ)



[1] ĐTK 367, Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh (稱讚淨土佛攝受經).

[2] Câu chi na dữu đa (俱胝那庾多, Skt. koṭi-nayuta): ~10 000 000 x 100 000 000 = 1015 . Trăm ngàn câu chi na dữu đa = 1020.

[3] Đa la thọ (多羅樹, Pāli: tāla): một giống cây cọ, tên khoa học Borassus flabelliformis.

[4] Chánh văn là Phệ lưu ly (吠琉璃, vaidurya).

[5] Chánh văn là Pha chi ca (頗胝迦, sphaṭika).

[6] Thí dụ: “Cây Đa la bằng vàng thì hoa, lá và trái bằng bạc. Cây Đa la bằng bạc thì hoa, lá và trái bằng vàng. Cây Đa la bằng lưu ly thì hoa, lá và trái bằng pha lê. Cây Đa la bằng pha lê thì hoa, lá và trái bằng lưu ly.” (Trung a hàm, kinh Đại Thiện Kiến vương, Thích Tuệ Sỹ dịch)

[7] Chỉ cho người sống trong thế giới Cực lạc: “Này Xá lợi tử, các hữu tình sanh cõi Phật ấy đã thành tựu vô lượng vô biên công đức.”

[8] Chánh văn là A thấp ma yết lạp bà (阿濕摩揭拉婆, Ashmagarbha).

[9] Chánh văn là Mâu sa lạc yết lạp bà (牟娑落揭拉婆, Musàragalva).

[10] Đối tượng phân biệt của nhãn thức là sắc (rūpa), chỉ cho mọi hiện tượng vật chất sanh diệt biến hóaSắc cảnh bị phân biệt bởi nhãn thức được chia làm ba loại: a. Hiển sắc: có 12 hoặc 13 loại: xanh, vàng, đỏ, trắng (4 màu căn bản), khói, mây, bụi, sương, bóng ảnh, ánh sáng, sáng, tối (và hư không); b. Hình sắc: có 8 loại hoặc 10 loại: dài, ngắn, vuông, tròn, cao, thấp, thẳng, cong, (thô, tế); c. Biểu sắc: lấy, bỏ, đi, đứng, nằm, ngồi, cong, duổi … chỉ các động tác biểu hiện ra bên ngoài có thể thấy được. Ở đây, hoa sen được đề cập qua 2 phương diện hình sắchiển sắc, bởi lẽ, theo luận Tỳ bà sa, “Nếu xứ nào có đủ hình sắchiển sắc thì được lập làm sắc xứ.” Ngài Huyền Trang dịch là thanh hình, thanh hiển, thanh quang, thanh ảnh (青形,青顯,青光,青影) v.v..., dịch ý là thanh, thanh sắc, thanh quang, thanh thanh nhập mục (青,青色,青光,青青入目) v.v…, nghĩa là: một hoa sen xanh (thanh hình), hoa có màu xanh (thanh hiển), hoa ánh ra sáng xanh (thanh quang), nơi nhãn thứcấn tượng hoa xanh và sáng xanh (thanh ảnh).

[11] “Hoa trời tươi sáng … không thể nghĩ bàn” là để giải thích sự thượng diệu của hoa trời.

[12] Chánh văn là du thiên trú (遊天住): Phạn ngữdivavihara; diva là thiên, vihara là trú hay du; dịch ý là ngọ hưu (午休),tức nghỉ trưa. Ngài Cưu ma la thập dịch divavihara là phạn thực kinh hành (飯食經行).

[13] Thu lộ (鶖鷺,Śāri): chim Xá lợi.

[14] Yết la tần ca (羯羅頻迦, Kalavika): chim Ca lăng tần già.

[15] Mạng mạng (命命, Jivamjivaka): chim Cộng mạng

[16] Giác đạo chi (覺道支): chỉ cho thất giác chibát chánh đạo chi.

[17] Nhất sanh sở hệ (一生所繫) = Nhất sanh bổ xứ (一生補處): Bồ tát ở giai vị cao tột, tức đẳng giác vị, còn hệ phược một đời thì bổ xứ làm Phật.

[18] Chánh văn là biên địa hạ tiện, miệt lệ sa trung (邊地下賤,蔑戾車中). Biên địa là những chỗ ở quanh bên ngoài (đối lại, chỗ ở giữa, bên trong là trung quốc). Miệt lệ xa là những giống dân dơ bẩn, ác, mọi rợ. Diễn nghĩa rộng, biên địa man dã là những xứ không có Phật pháp, không có văn minh.

[19] Hệ niệm bất loạn (繫念不亂): Buộc sự nhớ nghĩ vào danh hiệu của Phật mà không nhớ nghĩ gì khác, dù là tốt hay xấu. Ngài Cưu ma la thập dịch là nhất tâm bất loạn (一心不亂), tức chuyên nhất cho đến đồng nhất tâm trí vào danh hiệu của Phật.

[20] Căng già sa (殑伽沙) = Hằng già sa (恆伽沙) hay hằng hà sa (恆沙).

[21] “Xưng tán bất khả tư nghị Phật độ công đức, nhất thiết chư Phật nhiếp thọ pháp môn.” Ngài Cưu ma la thập dịch đề kinh này là: “Xưng tán bất khả tư nghị công đức, nhất thiết chư Phật sở hộ niệm kinh.” (Bản kinh Tán dương công đức bất khả tư nghị, hết thảy chư Phật đều giữ gìn cho.)

[22] Các đức Như lai khác nhau nhưng cùng một danh hiệu Quảng Tuệ Như lai.

[23] Phóng dật có 2: một là, phóng dật do tác ý (động niệm) mà hiện hành, thì đối trị bằng giới niệm, tức chánh niệm do tịnh giới đem lại; hai là, phóng dật không do tác ý (bất động) mà chỉ do tập quán nhậm vận hiện hành, thì đối trị bằng chánh trí liên tục, tức sự trì danh niệm Phật sao cho “hệ niệm bất loạn”. Đừng sống phóng dậtnỗ lực tự chế ngự tâm mình đối với 5 căn, 5 dục, và nỗ lực liên tục trong sự niệm Phật. Chính sự bất phóng dật quyết dịnh sự sanh Cực lạc và sự không thoái chuyển Vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 516)
Đại ý bài kinh này Đức Phật dạy chúng đệ tử không nên truy tìm quá khứ, không nên ước vọng tương lai vì quá khứ đã đoạn tận.
(Xem: 498)
Evaṃ me sutaṃ, “như vầy tôi nghe”, là lời Ngài Ananda bắt đầu mỗi bài kinh mà có lẽ không Phật tử nào là không biết.
(Xem: 8816)
Nếu tính từ thời điểm vua Lương Vũ Đế tổ chức trai hội Vu lan ở chùa Đồng Thái vào năm Đại Đồng thứ tư (538), thì lễ hội Vu lan của Phật giáo Bắc truyền đã có lịch sử hình thành gần 1.500 năm.
(Xem: 580)
Phật dạy giới này áp dụng chung cho tất cả các Phật tử tại gia, không phân biệt Phật tử này thuộc thành phần hay đẳng cấp xã hội nào.
(Xem: 509)
Sa-môn Thích Đàm Cảnh dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502). Cư sĩ Hạnh Cơ dịch từ Hán văn ra Việt văn, tại Canada, năm 2018.
(Xem: 1848)
Đức Phật A Di Đà tự thân có ánh sáng vô lượng, chiếu khắp cả mười phương mà không có vật gì có thể ngăn che. Vì vậy nên Phật A Di Đà có nghĩa là Vô Lượng Quang Phật.
(Xem: 1896)
Nguyên tác Hán văn: Tì-kheo Linh Diệu, tông Thiên Thai soạn - Dịch sang tiếng Việt: Thích Thọ Phước
(Xem: 1912)
Ngài Buddhaghosa sanh ra và lớn lên nước Magadha, thuộc Trung Ấn Độ, vào thế kỷ thứ V trong ngôi làng Ghosa, gần địa danh nơi đức Phật thành đạo Bodhigaya
(Xem: 1976)
Nghiên Cứu Về Kinh A Hàm (Ãgama, Sanscrist)
(Xem: 2752)
Ai nói như sau, này các Tỷ-kheo: "Người này làm nghiệp như thế nào, như thế nào, người ấy cảm thọ như vậy, như vậy".
(Xem: 2178)
Đây là những điều tôi nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà ở thành Vương Xá.
(Xem: 2189)
Vào thời Đức Thích-ca-mâu-ni, không có hệ thống chữ viết được phổ biếnẤn Độ. Do đó, những thuyết giảng của Ngài được ghi nhớ và ...
(Xem: 2501)
"Lại nữa, lúc bấy giờ Mahāmati thưa rằng: “Bạch Thế Tôn, ngài đã từng dạy rằng: từ lúc Như Lai chứng nghiệm giác ngộ cho đến...
(Xem: 3026)
Kinh Địa Tạng là một trong các kinh Đại thừa được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam từ hơn nửa thế kỷ nay song song với các kinh Kim Cương, Di Đà, Phổ Môn...
(Xem: 3555)
Nguyên tác: Tôn giả Thế Thân (Acarya Vasubandhu) - Hán dịch: Tam Tạng Pháp sư Huyền Tráng; Việt dịch: Tỳ khưu Tâm Hạnh
(Xem: 2302)
No. 1613 - Nguyên tác: Tôn giả An Huệ; Dịch Hán: Tam Tạng Pháp sư Địa-bà-ha-la; Dịch Việt: Tâm Hạnh
(Xem: 3202)
Duy thức nhị thập luận, do bồ tát Thế Thân soạn, ngài Huyền trang dịch vào đời Đường... được thu vào Đại chính tạng, tập 31, No.1590.
(Xem: 3106)
Bồ-tát Trần Na tạo luận. Tam tạng Pháp sư Huyền Trang phụng chiếu dịch. Việt dịch: Quảng Minh
(Xem: 5051)
Nghe như vầy, một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ ở vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc cùng chúng đại Tỳ Kheo năm trăm vị. Bấy giờ các thầy Tỳ Kheo...
(Xem: 3301)
No. 699; Hán dịch: Đời Đại Đường, Trung Thiên Trúc, Tam tạng Pháp sư Địa bà ha la, Đường dịch là Nhật Chiếu
(Xem: 3588)
Đức Phật Thích-Ca Mưu-Ni, bắt đầu chuyển pháp-luân, độ cho năm vị Tỳ-Khưu là Tôn-giả Kiều-Trần-Như v.v... Sau cùng, Ngài thuyết pháp độ cho ông Tu-bạt-đà-la.
(Xem: 2676)
Kinh Phạm Võng nằm trong Đại Chánh Tạng, tập 24, ký hiệu 1484, gọi đủ là Phạm võng kinh Lô xá na Phật thuyết bồ tát tâm địa giới phẩm đệ thập
(Xem: 3387)
Phật thuyết-giảng Kinh Phạm-Võng để dạy về giới-luật, và các pháp cao-siêu vượt thoát được sáu mươi hai kiến-chấp vốn là các tà-kiến đã...
(Xem: 2921)
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana, vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Ở đây,,,
(Xem: 3467)
Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, Kinh số 0434; Dịch Phạn - Hán: Tam Tạng Cát-ca-dạ, Dịch Hán - Việt và chú: Tỳ-kheo Thích Hạnh Tuệ; Hiệu đính: HT Thích Như Điển
(Xem: 2662)
Đời Đường, Thận Thủy Sa Môn Huyền Giác Soạn; Thánh Tri dịch nghĩa Việt và viết bài học giải...
(Xem: 3043)
Phật giáo được khai sáng ở Ấn-độ vào năm 589 trước kỉ nguyên tây lịch (năm đức Thích Ca Mâu Ni thành đạo), và đã tồn tại liên tục, phát triển không ngừng trên ...
(Xem: 3393)
Trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền, Dược Sư là một bản kinh thường được trì tụng nhằm mục đích giải trừ tật bệnh, cầu nguyện bình an...
(Xem: 3442)
Thích-ca là phiên âm của tiếng Phạn. Phiên âm Hán Việt là Năng Nhân. Tức là họ của đấng hóa Phật ở cõi Ta-bà...
(Xem: 4450)
Kinh chuyển Pháp luân là bài thuyết Pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi Ngài đã đắc đạo.
(Xem: 3934)
Ba Ngàn Oai Nghi Của Vị Đại Tỳ Kheo - Được xếp vào tập T24 - Kinh số 1470 - Tổng cộng kinh này có 2 quyển
(Xem: 3902)
Những gì xảy ra trong thế giới này đều bị qui luật Nhân quả chi phối. Mọi thứ xuất hiện ở đời đều có nhân duyên. Hạnh phúcthế gian hay Niết bàn của người tu đạo không ra ngoài qui luật ấy.
(Xem: 4358)
Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana...
(Xem: 3783)
Kinh Tứ Thập Nhị Chương là một bài Kinh được truyền bá khá rộng rải ở các Tồng Lâm Tự Viện của Trung QuốcViệt Nam từ xưa đến nay.
(Xem: 3350)
Bản dịch này được trích ra từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh Vol. 48, No. 2010. Bởi vì lời dạy của Tổ Tăng Xán quá sâu sắc, súc tích, và bao hàm trong 584 chữ Hán,
(Xem: 4223)
Dịch từ Phạn sang Tạng: Kluḥi dbaṅ-po, Lhaḥi zla-ba; Dịch Tạng sang Việt: Phước Nguyên
(Xem: 5291)
Trí Phật là trí Kim – cang, Thân Phật là thân Kim – Sắc, cõi Phật là cõi Hoàng – kim, lời Phật tất nhiên là lời vàng.
(Xem: 3866)
Bấy giờ Hòa Thượng Vakkali nhìn thấy Đức Phật đang đi đến từ xa, và ông đã cố gắng ngồi dậy.
(Xem: 6781)
Xin dâng hết lên Tam Bảo chứng minh và xin Quý Ngài cũng như Quý Vị tùy nghi xử dụng in ấn tiếp tục hay trì tụng cũng như cho dịch ra những ngôn ngữ khác...
(Xem: 6479)
Niệm Phật Tâm Muội do HT Hư Vân soạn, Sa môn Hiển Chơn dịch; Tọa Thiền Dụng Tâm Ký do Viên Minh Quốc Sư soạn, HT Thích Thanh Từ dịch
(Xem: 4347)
Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã Ba-la-mật-đa, ngài soi thấy năm uẩn đều KHÔNG, liền qua hết thảy khổ ách.
(Xem: 20258)
Viết ra các bài Phật học thường thức này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ Phật pháp và chỉ cốt giúp cho các bạn sơ cơ hiểu được một cách đúng đắn, đạo lý năm thừa trong Phật giáo mà thôi.
(Xem: 3776)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Kinh văn số 1675. Tác giả: Long Thọ Bồ Tát; Sa Môn Sắc Tử dịch Phạn sang Hán; HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 7250)
Thuở đó đức Phật đang ngự tại rừng Ta-la-song-thọ, ở ngoại ô thành Câu-thi-na, thuộc lãnh thổ trị vì của bộ tộc Lực-sĩ.
(Xem: 4732)
Đức Thế Tôn từ nơi cung trời Đâu-suất sinh xuống thành Ca-duy, chán đời sống dục lạc ở vương cung, thành tựu đạo chơn thường dưới cội cây...
(Xem: 4492)
Kinh Rong Chơi Trời Phương Ngoại là một phẩm của Kinh Pháp Cú Hán tạng có tên là Nê Hoàn Phẩm. Nê HoànNiết bàn (Nirvana, Nibbâna).
(Xem: 4033)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, quyển thứ 32, luận tập bộ toàn, kinh văn số 1637. HT Thích Như Điển dịch
(Xem: 4402)
Đây là kinh Pháp Quán Phạm Chí. Khung cảnh dựng lên cho kinh cũng giống như khung cảnh của kinh thứ mười một...
(Xem: 5969)
Đại Chánh Tân Tu đại tạng kinh, quyển thứ 32, kinh văn số 1680, luận tập bộ toàn. HT Thích Như Điển dịch Việt
(Xem: 4550)
Một thời, đức Bhagavat trú tại Vārāṇasi, nơi xứ Ṛṣipatana, trong rừng Mṛgadāva. Bấy giờ, đức Thế Tôn nói:
(Xem: 4266)
Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 32, luận tập bộ toàn, kinh văn 1671; HT Thích Như Điển dịch sang tiếng Việt.
(Xem: 4321)
Kinh Bát Đại Nhân Giác này của Đại Sư An Thế Cao từ nước An Tức sang Trung Quốc vào thời Hậu Hán (năm 132-167 sau công nguyên) soạn dịch.
(Xem: 4548)
Năm nay (2016) trong chương trình của tôi, không dự định đi sang Úc, nhưng ngày 23 tháng 6 năm 2016 vừa qua...
(Xem: 5209)
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ...
(Xem: 3953)
Nay ở nơi chư Phật Chắp tay kính đảnh lễ Con sẽ như giáo nói Tư lương Bồ-đề Phật.
(Xem: 5349)
Lúc bấy giờ, ngài Vô-Tận-Ý Bồ-Tát (1) liền từ chỗ ngồi đứng dậy trịch áo bày vai hữu (2), chấp tay hướng Phật mà bạch rằng:
(Xem: 5194)
Bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taisho Shinshu Daijokyo) xuất xứ từ thời Vua Taisho (Đại Chánh) ở Nhật Bản từ đầu thế kỷ thứ 20.
(Xem: 6917)
Có lẽ Lăng Già là một trong những bộ kinh phân tích cái Tâm một cách chi li, khúc chiết nhất trong kinh điển Phật giáo.
(Xem: 5075)
Tôi nghe như vầy. Có một lúc, Đức Phật đã sống ở gần Xá Vệ (Savatthi) trong Khu Rừng Kỳ Đà (Jeta Wood) ở tu viện Cấp Cô Độc
(Xem: 5894)
Đại Chánh Tân Tu Đại tạng Kinh, quyển thứ 32 thuộc Luận Tập Bộ Toàn. Kinh văn số 1641. HT Thích Như Điển dịch
Quảng Cáo Bảo Trợ