Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
19,179,453

Phật Nói Kinh Phạm Võng Bồ Tát Tâm Địa Phẩm

Thursday, February 13, 201400:00(View: 11896)
Phật Nói Kinh Phạm Võng Bồ Tát Tâm Địa Phẩm


Phật Nói Kinh Phạm Võng Bồ Tát Tâm Địa Phẩm

Ngài Hoằng Tán Lược Sớ
Tỳ Kheo Ni Thích Nữ Trí Hải (tự Như Hải) dịch


Lời nói đầu


Trong Tam tạng Kinh điển tất cả giáo PhápTiểu Thừa hay Đại Thừa, dù tại gia hay xuất gia, Giới Luật luôn là phần trọng yếu nhất. Vì thế, khi Đức Thế Tôn sắp nhập Niết Bàn, A Nan hỏi: “Bạch Thế Tôn, khi Ngài còn tại thế, hàng Đệ tử chúng con nương theo Ngài là bậc Thầy chỉ giáo, sau khi Ngài nhập diệt rồi, chúng con biết nương vào ai làm Thầy?” Phật dạy: “Sau khi Ta nhập diệt, các ông lấy Giới Luật làm bậc Đại Sư. Vì sao? Vì nếu Ta còn trụ ở đời, có nói ra Pháp nào chăng nữa, cũng không ngoài Giới Luật như Ta đã nói.”

Thế nên, trong tất cả Kinh điển của Phật, nhất là Luật Tạng, Chư Phật, chư Tổ luôn có lời dạy cho hàng Đệ tử của Ngài trong hiện tại cũng như vị lai. Hàng Đệ tử luôn phải trân quý cung hành Giới Luật. Lời dạy đẵ khắc ghi đậm nét trong Tam tạng giáo điển là: “Giới Luật là thọ mạng của Phật Pháp, Giới Luật còn thì Phật Pháp còn.” Thế đủ biết Giới Luật với hành giả quan trọng như thế nào!

Như trong Tạng Tỳ Ni, Phật còn dạy rõ: “Không một vị Phật nào vong giới thể, không một Bồ Tát nào không hành giới độ, không một Thanh Văn nào không hành giới hạnhthành tựu sở nguyện tu hành.” Trăm ngàn Thắng, Định, Vô Lậu, Diệu Huệ đều nhờ trì giớithành tựuHành giả chúng ta khởi một niệm rong ruổi theo tiền trần, đó là cơ hội của ma chướng. Ngược lại, nếu biết trân quý Giới Luật, cung hành nghiêm mật, đúng như Pháp chơn thật thanh tịnh tu hành dõng mãnh, kiên trì lập chí thệ nguyện y theo Giới Luật tấn tu, dù bỏ thân mạng cũng không vi phạm cấm giới của Phật thì quả vị Giác ngộ giải thoát chỉ còn tùy thuộc vào thệ thâm nguyện tấn tu dõng mãnh của hành giả chậm hay mau mà thôi.

Đệ tử có chút thiện duyên được đọc Phẩm Hạ Lược Sớ - Kinh Phạm Võng Bồ Tát do Ngài Cưu Ma La Thập dịch từ Phạn sang Hán ngữ, Ngài Hoằng Tán lược sớ giải. Vì muốn giúp cho Tăng NiPhật tử tại gia mới thọ giới Bồ Tát có thêm tài liệu để tìm hiểu, phần nào trợ duyên cho việc hành trì tấn thú trên bước đường tu tập, lần lần trở về tự tánh bản nguyên thanh tịnh của chính mình, Đệ tử không ngại tài hèn sức mọn, hiểu biết cạn cợt, đã dịch Kinh Sớ này sang Việt ngữ. Trong quá trình chuyển dịch, tất không tránh khỏi những khiếm khuyết , nhầm lẫn, ngưỡng mong chư Tôn Thiền Đức cao minh hoan hỷ niệm tình chỉ giáo.

Kính mong chư Tăng Ni Phật tử sơ cơ thọ Bồ Tát giới cùng tôi góp ý vào những phần khiếm khuyết để cho Phẩm Kinh Giới Phạm Võng Bồ Tát văn nghĩa được hoàn hảo hơn.

Nguyện đem công đức chuyển dịch Giới Kinh này hồi hướng cầu nguyện cho chúng sanh trong Pháp giới đều trọn thành Phật đạo.

Nam Mô A Di Đà Phật.

Từ Nghiêm, trọng Hạ năm Mậu Thìn 
PL. 2545 – DL. 2001.

Tỳ Kheo Ni Thích Nữ Trí Hải (Tự Như Hải)
Cẩn soạn.

Phần một

GIẢI THÍCH ĐỀ MỤC

A. GIẢI THÍCH ĐỀ KINH

Phật thuyết, tức là chính từ Kim khẩu của Đức Lô Xá Na cho đến Đức Thích Ca trước sau kế thừa nói ra.

Phạm Võng, tức là màng lưới báu ở cung trời Đại Phạm. Khi Đức Thích Ca trụ nơi cung điện của Đại Phạm Thiên Vương Ma Hê Thủ La, Ngài đã thấy lưới Nhân đà la đang giăng nơi đây, nên lấy làm dụ mà tuyên thuyết. Màng lưới này được kết thành bởi vô lượng trăm ngàn vạn ức hạt bảo châu ma ni, ánh sáng của mỗi hạt châu đều sai biệt nhưng soi chiếu nhiếp nhập lẫn nhau, vì thế một hạt châu đã hàm chứa màu sắc của vô lượng hạt châu khác, sắc màu ánh chiếu, lớp lớp vô tận mà chẳng ngăn ngại nhau. Nhân đó Đức Phật nói vô lượng thế giới như mắt lưới, mỗi mỗi thế giới đều sai biệt, giáo môn Phật thuyết cũng như thế. Từ nghĩa này mà dẫn dụ để chỉ rõ sự an lập của các thế giới trong 10 phương, mỗi mỗi đều bất đồng; Chư Phật trong 10 phương lập bày pháp môn cũng bất đồng; Lại Bồ Tát trong 10 phương nương vào giáo pháptu chứng cũng có vô lượng sai biệt như thế. Do đó, lấy Phạm Võng dụ làm tên Kinh.

Đại bản của Kinh này gồm 12 quyển, như 1 mắt của màng lưới kia; còn Phẩm Tâm Địa thì như 1 hạt châu trong đó vậy.

Kinh, tiếng Phạn là Sutra (Tu đa la), Trung Hoa dịch là Khế Kinh. Khế nghĩa là trên hợp với yếu lý của chư Phật, dưới ứng hợp với căn cơ của chúng sanh. Kinh hàm nghĩa xuyên suốt và nhiếp giữ, tức xuyên suốt nghĩa lý nên biết, nhiếp giữ chúng sanh được độ.

Chú giải Duy Ma Cật Kinh của Ngài Tăng Triệu ghi: “Kinh tức là Thường, cổ kim tuy khác, nhưng đạo giác ngộ chẳng thay đổi; các tà giáo chẳng thể phá hoại, các Thánh chẳng thể đổi thay, vì thế gọi là Thường.”

Xét các Kinh Luật, có bộ dùng nhân pháp làm tên, có bộ dùng pháp dụ làm tên; nay kinh này chỉ lấy dụ làm tên ; nếu luận chung cả tên phẩm thì lấy đủ nhân, pháp, dụ làm tên. Trong đó, Phạm Võng là dụ, Bồ Tát là nhân (người), Tâm địa là Pháp. Kinh là giáo năng thuyên, Phạm Võng là giáo sở thuyên, Phật là người năng thuyên. Nếu luận về Tông thú, Thể dụng, Giáo tướng, Quyền thật, thì chánh giới bản nguyên Tâm địa là Tông, đạt đến Phật quả Xá na là Thú, thật tướng Tâm địa là Thể, dứt ác tu thiện là Dụng, Đại Thừa Tỳ Ni là Giáo tướng; lại thuộc Tỳ Ni Tạng (Tạng Luật) trong Tam Tạng; thuộc Bồ Tát Tạng trong Đại Tiểu Thừa Tạng; thuộc Quyền thật trong giáo Quyền thật. Kinh Anh Lạc ghi: “Tất cả giới phàm phu đều lấy Tâm làm Thể; vì Tâm vô tận, nên Giới cũng vô tận.” Do đó, Kinh nầy lấy Thật tướng Tâm địa làm Thể. Tông tức là Sùng, nghĩa là điều mà kinh tôn sùng. Thú tức là nơi hướng về rốt ráo của Tông.

Nhân-đà-la, Trung Hoa dịch là Thiên Đế, cũng gọi là Thiên xích châu. Vì thế gọi chung là Đại Phạm Thiên Vương xích châu (võng tràng).

Tâm Địa phẩm hạ: (Phần hạ của phẩm Tâm Địa)

- Bồ Tát, gọi đủ là Bồ Đề Tát ĐỏaBồ Đề, Trung Hoa dịch là đạo; Tát Đỏa dịch là chúng sanh, tức dùng Phật đạo hóa độ chúng sanh. Bồ Đề còn dịch là Giác, Tát Đỏa dịch là hữu tình, là khiến cho loài hữu tình được giác ngộ.

Hàng Bồ Tát trên thì cầu Phật đạo, dưới thì hóa độ chúng sanh, kiến lập đại sự (việc lớn; khai thị ngộ nhập Phật tri kiến) nên gọi là bậc Đại sĩ; cũng gọi là Khai sĩ, vì hay khai hóa tất cả chúng sanh.

Người tu hành từ lúc sơ phát tâm cho đến Đẳng giác đều được gọi là Bồ Đề Tát Đỏa.

- Tâm địa, tức cội nguồn của tất cả phàm thánhPhàm phumê tâm nầy, nên trôi lăn trong 3 cõi, 6 đường. Bậc Thánh vì ngộ tâm nầy mà trở về nguồn chơn, cắt đứt dòng sanh tử.

Bồ Tát vì muốn trở về nguồn chơn, nên nương vào chánh giới tâm địa này làm nhân thù thắng, để chứng đắc cực quả Xá-na.

Địa (đất) là từ dụ lập tên, nghĩa là Bồ Tát tu tập lục độ vạn hạnh, giáo hóa, nâng đỡ tất cả chúng sanh, chẳng khởi tâm yêu ghét. Nhờ đó mà thắng nhân diệu quả được tăng trưởngVí như đại địa chuyên chở, nâng đỡ tất cả vạn vật mà chẳng hiềm dơ sạch, nhờ đó mà vạn vật sanh trưởng. Tâm Bồ Tát bình đẳng cũng như thế.

- Phẩm, tiếng Phạn là Bát lý vật đa, nghĩa là tụ (nhóm). Tức ý nghĩa và chủng loại các pháp đồng tập hợp tại một nhóm. Các phẩm khác của Kinh này phần lớn còn luận chung về thế gian, nhưng phẩm này thì chỉ chú trọng đến giáo tu, nói về Tâm địa. Toàn phẩm phân làm hai phần thượng, hạ. Phần thượng nói về việc Bồ Tát dùng sức Định huệ tu chứng giai vị Tam hiền, Thập thánh. Phần hạ này chủ yếu chỉ dạy bậc Đại sĩ nương vào giới pháp bản nguyên Tâm địa, làm chánh nhân cho Định huệ. Cho nên hàng Bồ Tát từ Tam hiền, Thập thánh cho đến Đẳng giác đều phải tụng trì.

B. GIẢI THÍCH TÊN NGƯỜI DỊCH

Diêu là họ, Tần là Quốc hiệu – chính là Quốc chủ hậu Tần, họ Diêu tên Hưng. Tam Tạng Pháp Sư, là người khéo dịch văn kinh của ba Tạng: Kinh - Luật – Luận. Cưu Ma La Thập, Trung Hoa dịch là Đồng Thọ, nghĩa là Pháp sư tuổi tuy còn trẻ mà trí tuệ biện bác vượt hơn bậc kỳ lão. Cha Ngài người nước Thiên Trúc, do trí tuệ thông mẫnnổi tiếng ở đời. Quốc chủ nước Quy Tư nghe danh, bèn đem con gái gả cho.

Khi Ngài còn ở trong thai mẹ, tự nhiên mẹ Ngài trí tuệ lần lần tăng trưởng. Ngài xuất gia năm bảy tuổi, mỗi ngày tụng cả ngàn kệ, năm chín tuổi Ngài đã tranh luận nghĩa lý Kinh điển với ngoại đạo. Tài biện bác của Ngài đã bẻ gãy được mũi nhọn tà kiến của ngoại đạo. Các vua nước Thiên Trúc đều tôn xưng Ngài làm thầy. Phù Kiên nghe danh Ngài đạo đức phi phàm, bèn sai tướng quân Lã Quang đem bảy vạn binh, chinh phạt nước Quy Tư để mời Ngài vào Trung Quốc. Ngài mới đi được nửa đường nghe tin Phù Kiên đã băng hà, Diêu Hưng kế ngôi nhà Tần, niên hiệu Hoằng Thỉ năm thứ 3, ra sắc lệnh thỉnh Ngài về nước, mời vào Trường An. Tần chủ Diêu Hưng hết lòng kính trọng, rước Ngài ở riêng tại lầu Tây Minh, nơi vườn Tiêu Diêu. Nhà vua sắc lịnh thỉnh Ngài dịch Kinh Luận, tất cả hơn 50 bộ. Bộ Phạm Võng này là bộ được dịch sau cùng. Khi ấy, 800 vị Sa môn như : Thông Huệ, v.v...xin thọ giáo, Diêu Hưng cùng với 300 Sa môn như: Duệ Trí, v.v...phát đại tâm thọ giới Bồ Tát. Đây là lần đầu tiên Phật giáo Trung Quốccơ duyên thọ Bồ Tát giới, Trời, người đều hân hoan. Ngài Tuyên luật sư nói: “Thầy La Thập đã ở bậc Tam Hiền, từ thất Phật đến nay, thầy luôn là người dịch Kinh” (dịch tức là phiên dịch từ tiếng Phạn ra tiếng Trung Quốc).

CHÁNH TÔNG


1. MƯỜI GIỚI TRỌNG

1. Nêu chung

Phật bảo các Phật tử: “Có 10 giới trọng, nếu người thọ giới Bồ Tát mà không đọc tụng giới này thì chẳng phải Bồ Tát, chẳng phải đệ tử của Phật. Ta nay cũng tụng như thế. Tất cả Bồ Tát đã học, tất cả Bồ Tát sẽ học, tất cả Bồ Tát đang học, Ta đã nói sơ lược tướng trạng của giới Bồ Tát rồi, cần nên học và hết lòng kính trọng phụng trì.

Giải thích:

Giới vốn vô hình, làm gì có tướng mạo. Nhưng Trì, Phạm là tướng mạo. Không tụng thì gọi là Phạm, học thì gọi là Trì. Nếu thọ giới mà không đọc tụng thì làm sao biết được hình tướng ? Không biết hình tướng thì không hiểu Giá, Khai, không hiểu Giá, Khai nên tội lỗi từ đó mà sanh. Bởi vậy, đầu tiên là khiến cho Phật tử phải học giới, tụng giới. Nếu không học, không tụng thì người này đánh mất tên gọi Đại thừa ngay trong hiện tại, nên họ không phải là Bồ TátQuả vị cao tột là thành Phật trong tương lai cũng mất, nên họ chẳng phải chủng tử Phật. Phật mà vẫn còn tụng, cho nên tất cả Bồ Tát, cầu Đại Bồ đề trong quá khứ đã học, Bồ Tátvị lai sẽ học. Hàng Bồ Tát sơ học trong hiện tại phải nên tôn trọng, cung kính, chí tâm lãnh thọ, phụng trì, đừng để lãng quên dù chỉ trong chốc lát.

2. Nêu riêng

Giới thứ 1
SÁT SANH

Nếu Phật tử, hoặc tự giết, hoặc bảo người giết, phương tiện giết, khen ngợi giết, thấy giết vui theo, nhẫn đến dùng bùa chú để giết, nhân giết, duyên giết, cách thức giết, nghiệp giết, nhẫn đến tất cả loài hữu tình có mạng sống đều không được giết. Là Phật tử, lẽ ra phải khởi lòng từ bi, lòng hiếu thuận, lập thệ cứu giúp tất cả chúng sanh, mà trái lại phóng tâm giết hại chúng sanh, Bồ Tát này phạm tội Ba-la-di.

Giải thích:

Thanh văn nhàm chán sanh tử, chỉ lo phần tự lợi bởi vậy Phật để giới Dâm đứng đầuBồ Tát tâm luôn luôn nghĩ làm lợi ích giáo hóa chúng sanh, lấy từ bi làm gốc. Tất cả chúng sanh đều có tâm tham sống sợ chết, nếu Bồ Tát đoạn mạng họ thì liền mất bổn nguyện từ bi, lại khiến họ sanh lòng buồn khổ oán hận không dứt, nhiều đời thù oán không thôi, vì thế để giới sát ở trước.

Trong Kinh Lăng Nghiêm, Phật bảo A Nan: “Lục đạo chúng sanh trong các thế giới, nếu khôngtâm sát hại thì không phải trôi theo sanh tử tương tục. Ông tu Tam muội, cầu ra khỏi trần lao, nếu không dứt tâm sát thì trần lao khó ra khỏi. Dù có nhiều trí tuệthiền định hiện tiền, nhưng tâm sát sanh không dứt, ắt phải lạc vào Ma đạo.”

Phật dạy rất rõ việc sát sanh. Những giới khinh cũng phải giữ gìn cẩn mật, huống gì giới trọng. Khi biết rõ không sát hại là giới của Bồ Tát, lấy việc lợi sanh làm việc thiết yếu, cho nên đối với Bồ Tát giới, thì giới Sát đứng đầuPhật tử không hành trìtrái lại buông lòng sát hại, trong giới của Bồ Tát kết tội không hành trìPhật bảo Phật tử là nói với Bồ Tát, nghĩa là Phật tử đã thọ trì giới của Phật, phải y giới tu hành, không nên coi thường trái bỏ lời Phật dạy. Tự giết là tự mình làm việc giết hại, chính là thân tâm đã phạm nghiệp sát. Dạy người giết, tuy không đích thân giết mà khiến cho người khác giết chính là tâm và khẩu tạo nghiệp sát. Hoặc không tự dạy cũng không tự giết, mượn phương tiện thi thuyết khiến cho họ chết, đó gọi là phương tiện giết, là ý đã tạo nghiệp sát. Khen ngợi giết, là dùng lời lẽ khen ngợi khiến cho người khác phấn chấn hành động giết hại, thích ý mà làm, đây cũng thuộc về khẩu nghiệp hành động tạo nghiệp. Thấy người giết mà vui theo là thấy người khác làm việc sát hại, tuy không dạy, không tán thán nhưng trong tâm có ý niệm vui theo. Đây thuộc về ý nghiệpCho đến chú thuật giết, phương pháp giết thì rất nhiều, không cần nêu hết thêm phiền phức, nên chỉ nêu đại lược thôi. Ở nước Tây Vức có ác chú, tụng thần chú ấy khiến cho họ chết là cũng thuộc về tâm khẩu tạo ác.

Do trước đã nói rõ tướng sát hại hoặc chỉ có nhơn giết, hoặc duyên giết không gây nên, thì không thành giết. Nếu hội đủ nhân giết, duyên giết mà trước khi khởi niệm giết không có tâm tương tục, cũng không thành giết, cần đủ ba sự kiện: Nhơn, Duyên và Phương tiện mới thành tựu nghiệp sát. Nhơn sát, nghĩa là tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, đầy đủ hạt giống tham, sân, si, mười nhơn ác nghiệp, sơ tâm Bồ Tát Kiến tư các hoặc, v.v... các phiền não chướng chưa bỏ, tập khí sát sanh chưa dứt, bỗng khởi một niệm hiện hành, nên gọi là nhơn sát. Duyên sát, nghĩa là tâm ác giết người và súc vật, gây oan gia nhiều đời hội tụ làm duyên. Phương pháp giết, nghĩa là dùng các phương tiện như : Dao, trượng, lưới, ác chú, v.v...khiến cho họ mất mạng. Ba thứ nhơn, duyên và phương pháp đầy đủ, mặc tình trở thành nghiệp sát để gây nên tướng sát hại ở tương lai.

Do Bồ Tát nối tiếp dòng Phật, Thượng hoằng Hạ hóa, cầu đạo giải thoát, phải đem lòng từ bi, hành lục độ làm gốc, thế nên để giới Sát trước hết. Lại nữa, chẳng những người mà tất cả thân mạng chúng sanh đều không được giết hại, cho đến các loại nhỏ nhít như kiến, muỗi mòng, lăng quăng có mạng sống cũng không được giết. Các loài cây cỏ sanh trưởng cũng không được gia hại, huống gì các sinh linh ư?

Hỏi: Bồ Tát độ khắp tất cả kẻ oán, người thân, thấy giết đều ngăn, nhưng nếu cố giết tựa hồ không có tâm từ...?

Đáp: Vì hàng Bồ Tát xuất gia mà nói ngăn tất cả, như vị Quốc vương, Tể quan giết một người cứu muôn người, hưng thiện diệt ác, chính là Đại bi tâm của hàng Quyền thừa Bồ Tát, nên có giới Giá, giới Khai,... mà nói không được vô cớ, nếu vì tâm riêng tư, danh lợi mà giết thì thành nghiệp sát.

Những Bồ Tát này, là nói rõ Phật tử đã tu đạo thì khuyên họ nên hành tâm từ bi là tâm căn bản của Bồ Tát, chính là tâm địa pháp môn, phải nên thường hằng an trụ, không quên, đừng để mất, nên nói: “Bồ Tát thường khởi tâm an trụ niệm từ bi.”

Hai chữ “thường trú” xuyên suốt tâm hiếu thuận, dùng tâm từ bi thương chúng sanh cũng như mẹ thương con đỏ, thường ban vui và cứu khổ nó. Dùng tâm hiếu thuận kính mến chúng sanh như Cha mẹ, không dám trái bỏ mà luôn luôn để tâm phụng sự, phương tiện cứu giúp tất cả chúng sanh. Bốn chữ “phương tiện cứu hộ” đây chính là tâm từ bi. Trong tâm hiếu thuận cứu hộ chúng sanh, thiện xảo học xứ, khiến cho tất cả chúng sanh được an vui, xa lìa tất cả đao trượng, mà ngược lại, phóng tâm khoái ý giết hại họ là phạm tội sát sanh. Người tu Bồ Tát hạnh, nếu thấy chúng sanh bị khổ, không có phương tiện cứu giúp họ, còn thấy khuyết tâm từ bi, trái với bổn hạnh, nỡ nào lại phóng tâm khoái ý làm việc tổn hại ấy. Khởi tâm như vậy là đoạn mất tâm từ bi của chính mình, nên phải kết tội. Đây là Bồ Tát phạm tội Ba-la-di, vĩnh viễn bỏ ra ngoài biển Phật pháp.

Ba-la-di là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Cực ác, cũng gọi là Tội khí, nghĩa là Bồ Tát phạm tội này rồi, mãi mãi bỏ ra ngoài biển Phật Pháp, không được vào trong chúng thanh tịnh đồng yết ma thuyết giới, tất cả việc Tăng đều không có phần, nên gọi là khí tội. Phải đọa vào đường ác, nên nói cực ác.

Giới thứ 2
TRỘM CƯỚP

Phật tử, không được tự mình trộm cướp, bảo người trộm cướp, phương tiện trộm cướp, cho đến dùng bùa chú để cướp, nhơn trộm cướp, duyên trộm cướp, cách thức trộm cướp, cho đến dù vật của quỷ thần đã có chủ, hoặc của giặc cướp; nhẫn đến một cây kim, một cọng cỏ, đều không được trộm cướp. Là Phật tử, lẽ ra phải có lòng từ bi, lòng hiếu thuận thường cứu giúp cho mọi người được phước, được vui, mà trái lại trộm cướp tài vật của người, Phật tử này phạm tội Ba-la-di.

Giải thích:

Giới thứ hai nói về tướng trộm cướp. Trộm nghĩa là người ta không cho mà cố ý trộm lấy, đoạt lấy hoặc cưỡng đoạt lấy đều gọi là tội trộm. Như Kinh Lăng Nghiêm chép: “Tâm trộm không trừ thì trần lao không ra khỏi, dầu có trí tuệ, thiền định, hiện tiền tâm trộm không dứt, quyết chắc phải đọa vào tà đạo, nên Phật ngăn cấm.”

Nếu Phật tử - một cây kim, một cọng cỏ, không được cố trộm lấy, đây thuộc về Nhiếp luật Nghi giớiBồ Tát - khiến cho người được phước, được vui, gọi là Nhiếp thiện Pháp giới.

Trước đã nói “đoạn ác sanh thiện”, chính là Nhiêu ích Hữu tình giới.

Tự mình trộm cướp, là đích thân tự tay trộm lấy tài vật của người, gọi là tự trộm. Khiến cho người khác trộm gọi là dạy người ăn trộm hoặc cướp đoạt. Giả như lập phương tiện khéo léo để lấy, khiến người kia tự nhiên đem đến cho, gọi là phương tiện trộm cướp. Tụng niệm chú thuật tà đạo, dùng huyễn thuật khiến tài vật của họ tự nhiên đem đến, ấy gọi là bùa chú trộm cướp.

Nhơn trộm nghĩa là vô thỉ huân tập chủng tử tham cướp đoạt là “nhơn”, hoặc là khởi ý niệm trộm cướp. Duyên trộm nghĩa là các vật báu như vàng bạc hiện tiền giúp cho thành tâm trộm là “duyên”. Cách thức trộm chính là lập ra mưu kế để trộm tài vật của người. Nghiệp trộm nghĩa là nhơn, duyên, cách thức, ba việc đều đủ, đi đến hành động thành tội trộm cướp để gây nên cái nhơn ở tương lai, làm súc sanh hay nô bộc, đời đời phải chịu khổ báo. Chẳng những tài vật của nhân dân không được trộm lấy, cho đến tài vật của thần, tài vật, dụng cụ trong đình miếu thờ cúng, của giặc cướp đã có chủ, nghĩa là tài vật họ đã cướp trộm được rồi, cũng không được trộm lấy.

Tất cả tài vật, là mượn vật thường để nói đến vật báuNhất định không được trộm lấy, nghĩa là không luận tài vật tốt hay xấu, quý hay tiện, cũng không được cưỡng đoạt lấy, dù vật nhỏ như cây kim cọng cỏ, không cho không được đoạt lấy. Nếu cố ý đoạt lấyphạm tội trộm, nên nói: “Không được cố ý trộm lấy” và khuyên Phật tử phải hành trì. Đã là Bồ Tát, phải quán tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, cũng như Cha mẹ mình, thế nên phải sanh lòng hiếu thuận, cúng dường như Phật, như Cha, như Mẹ. Nếu trộm lấy tài vật của họ, chính là trộm của Phật vậy. Đáng lẽ ra phải sinh lòng từ bi cứu giúp họ, vì đó là bổn hạnh tâm địa của Bồ TátTâm từ bi là phải ban vui, cứu khổ chúng sanh, phải quán chúng sanh như con mình, nỡ nào phóng tâm khiến cho họ phải khổ đói lạnh ư? Nên Kinh ghi: “Sanh tâm từ bi thường phải giúp đỡ tất cả chúng sanh”. Văn trước chép: “Thường đầy đủ tâm từ bi hiếu thuận nên phải giúp đỡ tất cả mọi người, sanh phước trong thân họ, sanh niềm vui trong tâm họ, mà trái lại trộm tài vật của họ, thật là vô lý.” Thế nên kết giới không nên làm, nếu làm sẽ phạm tội Ba-la-di.

 

Giới thứ 3
DÂM DỤC

Nếu Phật tử tự mình dâm dục, nhẫn đến tất cả các phái, không được cố ý hành dâm. Nhơn dâm dục, duyên dâm dục, cách thức dâm dục, nghiệp dâm dục, nhẫn đến súc sanh, quỷ thần (trống hoặc mái, nam hoặc nữ) cho đến phi đạo hành dâm. Là Phật tử phải sanh lòng hiếu thuận, cứu độ tất cả chúng sanh, đem pháp thanh tịnh cho mọi ngườitrái lại khởi tâm hành dâm với tất cả, không luận súc sanh quỷ thần, nhẫn đến cha mẹ anh em trong lục thân mà hành dâm, đó là không có tâm từ bi, Phật tử này phạm tội Ba-la-di.

Giải thích:

Dâm nghĩa là cùng với khác phái thân tâm giao cấu, nhiễm ô tịnh hạnh. Đây chính là cội gốc luân hồi trong ba cõi, sáu đường sanh tử, nên Khế Kinh chép: “Dâm tâm không đoạn, vĩnh viễn không được ra khỏi cảnh khổ sanh tử luân hồi, dù người ấy có trí tuệ, thiền định hiện tiền, nếu không đoạn dứt tâm dâm ắt phải lạc vào đường ma, do đó Phật chế giới.”

Tự mình hành dâm, nghĩa là tự thân cùng khác phái gây cái nhơn trói buộc, dạy người dâm dục cũng khiến cho họ bị trói buộc, nhẫn đến tất cả người khác phái, không được cố tâm hành dâm, các đối tượng hành dâm rất nhiều loại, nhưng chỉ nêu một vài sự việc thôi. Nhân dâm dục, mãn nguyện sở thích không phải đơn giản mà hội đủ căn cảnh đối tượng mới thành, thành rồi đó là nhơn hội đủ duyên dâm dục và cách thức cả ba thành nghiệp dâm.

Nhân dâm dục, nghĩa là từ vô thủy tập khí tham dâm làm “nhân”. Duyên dâm dục, nam nữ khác phái hội hợp giúp thành dâm. Cách thức dâm nghĩa là vỗ về xoa nắn, khiến cho tình cảm ái nhiễm bộc phát. Do cả ba yếu tố nhơn, duyên, cách thức hòa hợp thì tự nhiên thành nghiệp dâm. Thành nghiệp ấy rồi, tất nhiên thân phận cảm nhận nỗi khổ sinh tử luân hồi trong lục đạo, không sao tránh khỏi các báo quả khổ đau triền phược trong tam giới, nhẫn đến phải cảm nhận thân phận hạ đẳng như các loài súc sanh, cầm thú, trâu bò, chó, lợn, heo, dê, v.v... .Nên Phật dạy chẳng những đối với khác phái, Phật tử không được dâm dục, mà cho đến các loài chúng sanh hay phi chúng sanh hành dâm cũng đều trái phép. Ngoài thê thiếp là chánh dâm, cũng không nên phi đạo hành dâm.

Với Phật tử tại gia, Phật chế không được lang chạ ngoại dâm, cũng không được phi đạophi thời hành dâm. Riêng đối với đệ tử Phật xuất gia thì hoàn toàn tuyệt hẳn, không để tâm móng tưởng vì móng tưởng dâm cũng là nhơn của tội.

Phần giới kinh Phật đã dạy ngăn tất cả ác, sau khuyến tu tất cả thiện và nghĩ đến ân chúng sanhBồ Tát phải sanh lòng hiếu thuận với tất cả chúng sanh, mới xứng đáng là Phật tử Bồ Tát. Không như kẻ vô trí, Bồ Tát phải biết quán sát tất cả nam tử là cha ta, tất cả nữ nhân là mẹ ta, không dám xâm phạm, nên nói: “Phải sanh lòng hiếu thuận, cứu độ tất cả chúng sanh, đem tịnh pháp ban cho họ, mình và người, làm lợi cả hai, nghĩa là đem pháp thanh tịnh của mình mà chia xẻ cho người, khiến cho họ đoạn dứt cội gốc sanh tử, cứu độ tất cả chúng sanh thoát khỏi khổ trói buộc trong ba cõi.” Bồ Tátlòng từ bi dẫn dắt chúng sanh , ban tịnh pháp cho người. Nếu Bồ Tát không sanh tâm làm lợi ích chúng sanh như thế thì chẳng phải Bồ Tát, ngược lại, khởi tâm xấu hành dâm tất cả mọi người, không luận là súc sanh, cho đến hành dâm với cha mẹ, anh em trong lục thân, khiến cho họ rơi vào hầm hố ái dục, không có tâm từ bi, Bồ Tát như thế phạm tội Ba-la-di.

Giới thứ 4
VỌNG NGỮ

Nếu Phật tử, tự mình nói dối, dạy người nói dối, phương tiện nói dối, nhân nói dối, duyên nói dối, cách thức nói dối, nghiệp nói dối, cho đến không thấy nói thấy , thấy nói không thấy, thân và tâm nói dối. Bồ Tát phải sanh tâm nói chánh ngữ, chánh kiến và cũng khiến cho tất cả chúng sanh nói chánh ngữ, chánh kiến. Trái lại, nếu khiến cho mọi người nói lời tà ngữ, tà kiến, tà nghiệp, Phật tử này phạm tội Ba-la-di.

Giải thích:

Vọng ngữ nghĩa là lời nói dối gạt, không thật, ngay cả vấn đề chưa được nói đã được, chưa chứng nói đã chứng, chẳng phải là Thánh nhơn, tự nói ta là Thánh nhơn, chẳng phải được pháp hơn người mà nói ta được pháp hơn người, đây là lời dối gạt kẻ ngu, cũng là tự dối gạt mình. Nếu xét cho cùng, tâm đó là kẻ cầu thanh danh, tham lợi dưỡng, đó là ý đồ hành vi bất thiện, tạo nghiệp luống dối.

Tự nói dối, là tự mình nói ta là Thánh nhơn, ta đã ngộ đạo, ta là tổ sư thứ mấy v.v... Nên kinh ghi: “Tự mình nói dối, dạy người nói dối. Hoặc dạy đệ tử, hoặc khiến cho bạn bè truyền nói, giống như ta nói, nên nói dạy người nói dối.” Phương tiện nói dối, là dùng lời xảo quyệt nói, hợp với cơ nghi người nghe, tự nhiên họ tin. Nhơn nói dối chính là chủng tử tham lam từ vô thủy đến nay dối gạt hư vọng, thói quen là “nhơn”. Duyên nói dốihiện tiền nói lời dối gạt, giúp cho thành “duyên”. Cách thức nói dối là muốn cho kẻ ngu sanh lòng tin cậy, ắt có phương pháp đặt điều dối gạt nói. Nghiệp nói dối là do nhơn, duyên, cách thức, ba việc hợp lại, hiển nhiên thành nghiệp, đọa địa ngục Vô gián.

Cho đến không thấy nói thấy, thấy nói không thấy, v.v... chẳng những đại vọng không được cố phạm, cho đến dối gạt không được sai phạm như không thấy nói thấy, thấy nói không thấy, đều không được nói dối gạt. Không thấy nói thấy, như chưa từng thấy người kia làm ác, vì thuận theo ý người, nói là tôi thấy. Thấy nói không thấy, như thật thấy người kia làm tốt nhưng do tâm ganh tỵ, tật đố mà nói, tôi chưa thấy người kia làm tốt bao giờ.

Thân và tâm nói dối, nghĩa là trước không thấy nói thấy, v.v... đã thốt ra lời nói ở miệng, miệng thuộc về thân, miệng không tự nói, do tâm kích động nói ra. Như giới trước đã nói, chính là Nhiếp luật nghi giới. Sau khuyên nên tu chínhNhiếp thiện pháp giới, đã thốt ra lời nói chân thật, chính là Nhiếp chúng sanh giớiBồ Tát thường sanh lòng từ bi cứu độ chúng sanhNhiêu ích chúng sanh.

Nếu là Bồ Tát, phàm có nói ra lời gì, thường phải chánh ngữ, cũng khiến cho chúng sanh phát ra lời nói chánh ngữ, chánh kiếnChánh ngữ nghĩa là lời nói chân thật, không tà bậy, thiên chấp, dối gạt người. Chánh kiến tức là thấy một cách chính xác, không điên đảo, sai lệch. Nói lời chơn chánh, thì tầm nhìn và thấy cũng chân thật, do tự mình đã nói lời chân thật , không luống dối, mới khiến cho người khác đặt niềm tin vào mình, thế nên cần phải khiến cho tất cả chúng sanh cũng nói chánh ngữ, chánh kiến, trở về quy y nơi Phật, làm người chơn chánh.

Nếu là Bồ Tát tự mình không có chánh ngữ, chánh kiến đã chẳng phải trí hạnh của Bồ Tát, huống gì lại khiến cho tất cả chúng sanh khởi tâm tà ngữ, tà kiến, tạo tà nghiệp, tội kia làm sao kể xiết. Thế nên nói Bồ Tát phạm tội Ba-la-di. Chỉ trừ cứu người gặp nạn gấp, phương tiện quyền xảo, tất cả làm lợi ích cho người, chẳng những không lỗi mà còn có công đức.


Giới thứ 5
BÁN RƯỢU

Nếu Phật tử tự mình bán rượu, dạy người bán rượu, nhân bán rượu, duyên bán rượu, cách thức bán rượu, nghiệp bán rượu. Là Phật tử tất cả rượu không được bán, vì rượu là nhân duyên sanh ra các tội lỗi. Là Phật tử, lẽ ra phải làm cho tất cả chúng sanh có trí tuệ sáng suốttrái lại đem sự say mê điên đảo cho chúng sanh, Bồ Tát này phạm tội Ba-la-di.

Giải thích:

Bán rượu, nghĩa là làm ra rượu bán cho người, đem rượu cho người, người bị hại không ít, hay khiến cho người uống rượu, phần nhiều khởi tâm không tốt, làm nước mất, nhà tan, tán thân mất mạng. Các thứ ác họa không gì không tạo, đều do uống rượu mà ra, nên Phật chế giới ngăn cấm. Tự bán rượu, nghĩa là tự mình tham lợimua bán đổi chác. Dạy người bán rượu có hai nghĩa

1. Dạy người bằng lối tạo tác mua bán đổi chác.
2. Dùng vốn của mình chia cho họ chút phần lời.

Nhơn bán rượu, tâm tham lợi từ vô thủy làm “nhơn”. Duyên bán rượu, nghĩa là gạo, mạch, công nhân, đầy đủ các thứ, v.v... để trợ giúp cho thành rượu. Cách thức bán rượu, ủ gây thành men rượu, đó là phương pháp. Nghiệp bán rượu, do nhân, duyên, cách thứa hòa hợp lại. Việc nấu rượu là nghiệp, hễ gây ra thì phải chịu quả báo vô trí, tối dốt, các khổ đời sau. Nên nói tất cả rượu không được bán.

Từ những thứ rượu bằng gạo, mạch cho đến trái nho, táo, dương mai cho đến các thứ trái cây, v.v...tất cả đều không được tạo . Sở dĩ nói như thế, vì tất cả rượu đều là nhân duyên gây tất cả nghiệp tội, nên Tứ Phần Luật ghi: “Rượu có ba mươi sáu lỗi, trước hết bất hiếu với Cha mẹ, không kính Tam bảo, chết rơi vào cảnh băng giá, đọa địa ngục thiêu đốt.” Lại nữa, Trí Độ Luận ghi: “Uống rượu có 35 lỗi, trước hết hiện đời đói khát, đời sau không có trí tuệ, thân tâm tối dốt, thật là thuốc độc ở thế gian, ác liệt hơn chất đá độc và lông chim chẫm.”

Xưa có một vị Ưu bà tắc, do uống ly rượu mà các giới đều phá. Nên nói: “Nhơn duyên tạo tội do rượu mà ra”, như trước đã nói:”Dứt tất cả ác để rõ chánh hạnh Phật tử đã hành, chính là tu tất cả thiện” trong đó nói rõ đoạn ác tu thiệnNhiêu ích chúng sanh giớiBồ Tát hạnh phải khiến cho chúng sanh có trí tuệ sáng suốt, trái lại phạm tội.

Minh đạttrí tuệ chiếu soi thấu rõ nghĩa lý, Bồ Tát nương vào trí tuệ, dùng đại trí tuệ quang minh, tự giác, giác tha đem hết phương tiện quyền xảo, khai hóa chúng sanh, phải khiến cho họ mỗi mỗi đều phát sanh trí tuệ sẵn có của mình, đối với các sự lý tự nhiên thông đạtNếu không làm được như thế thì mất phương tiện hạnh của Bồ Tát, huống gì tự mình đem rượu bán cho người, khiến cho chúng sanh phát sanh tâm điên đảo ư? , nên kết lỗi và nói “Đây là Bồ Tát phạm tội Ba-la-di.”


Giới thứ 6
RAO NÓI LỖI CỦA BỐN CHÚNG

Nếu Phật tử tự mình rao nói tội lỗi của Bồ Tát xuất gia, Bồ Tát tại gia, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, hoặc bảo người rao nói những tội lỗi ấy, nhơn rao nói tội lỗi, duyên rao nói tội lỗi, cách thức rao nói tội lỗi, nghiệp rao nói tội lỗi. Là Phật tử, lẽ ra khi nghe những kẻ ác, hàng Nhị thừa, ngoại đạo nói những lời phi pháp, trái luật trong Phật pháp, phải có lòng từ bi luôn luôn giáo hóa những kẻ ác ấy, khiến cho họ có tín tâm lành đối với Đại thừatrái lại Phật tử lại tự mình rao nói những điều không tốt trong Phật pháp, Phật tử này phạm tội Ba-la-di.

Giải thích:

Nói lỗi là một hình thức hủy báng. Có hai cách:

1. Chánh lý mà đem ra để luận bàn thị phi
2. Phi lýluận bàn so sánh.

Đây đều là phi lý luận bàn.

Nói lỗi của bốn chúng, chính là luận bàn, dị nghị chúng xuất giaTỳ kheo, Tỳ kheo niBồ Tát. Mình đã là Bồ Tát, là bạn đồng hành với nhau, người khác không lỗi thì không nên phỉ báng chê bai. Giả sử họ có lỗi, mình phải dùng tâm từ bi khuyên dụ họ, khiến cho họ biết lỗi để cải đổi, sám hối đó mới là việc then chốt cần yếu nhất, lẽ đâu lại đi nói lỗi của bạn đồng tu cho người ngoài biết ư? Nếu thế thì tự mình hủy nhục pháp môn của mình, khiến cho Thánh đạo không được thạnh hành, tội này không phải nhẹ, nên Phật ngăn cấm.

Tự mình nói, nghĩa là lỗi phỉ báng phát xuất từ miệng mình.

Bốn chúng xuất giatại gia, chính là người phát tâm Đại thừa, đã lãnh thọ giới pháp Đại thừa nên gọi là Bồ Tát. Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, riêng chỉ cho hai chúng xuất gia là những người tuy thọ giới Thanh văn nhưng bên trong ẩn hạnh Bồ Tát.

Dạy người nói tội lỗi của người khác, có hai hình thức:

1. Vì mình có tâm oán hận riêng tư, muốn hạ nhục người ấy nên sai người khác phô bày những lỗi lầm của người kia để thích ý thỏa lòng.
2. Người kia nghe sanh tâm buồn rầu, khiến phải sân hận.

Rao nói tội lỗi của người, nghĩa là bảo người này phạm tội gì đó hoặc nặng hay nhẹ, để cho người khác phải khinh khi. Mặc dầu chỉ nói lỗi một người, nhưng thật ra là đã xúc phạm đến tứ chúng mà không biết, phạm tội ngũ nghịch, căn cứ vào lời ấy mà định nên nói là tội lỗi, vì tứ chúng là người hoằng dương và trụ trì Tam bảo.

Phật tử chẳng những không được tự mình rao nói tội lỗi của người khác mà cũng không được dạy người khác nói lỗi. Đã là Phật tử phải luôn luôn khéo giữ ruộng phước, ấy là chánh hạnh của Bồ Tát.

Nhơn rao nói tội lỗi, nghĩa là từ vô thủy đến nay tập khí ác khẩu là “nhơn”. Duyên rao nói tội lỗi, nghĩa là người kia bị chút thành tích không tốt, lấy chút cớ ấy để rao bày điểm xấu của người gọi là “duyên”. Cách thức rao nói tội lỗi, nghĩa là bộc lộ tâm địa bất thiện, vẽ rắn thêm chân, thêm bớt nhiều điều của người bằng cách này cách khác, mục đích làm cho ai nghe nói cũng tin. Nghiệp rao nói tội lỗi, hợp bởi ba việc trên là nhơn, duyên, cách thức đầy đủ tạo thành câu chuyện hay sự việc nói ra, phô bày lỗi xấu của người. Bốn sự kiện này kết thành nghiệp báo đời sau phải chịu cảnh khổ địa ngục cắt lưỡi. Như giới trước đã nói, dứt tất cả điều ác, tu tất cả điều lành. Đoạn ác tu thiệnNhiếp chúng sanh giới.

Bồ Tát nghe kẻ ác và ngoại đạo là bọn ác độc tà kiến, vì đoạt mất huệ mạng của Phật, khiến cho chúng sanh phải rơi vào ba đường ác nên gọi là kẻ ác. Hàng Nhị thừa cũng là kẻ ác, vì không phát tâm nối huệ mạng Phật, cũng gọi là ác. Hơn nữa, kẻ ác hay nói những điều phi pháp, phi luật. Trong Phật pháp, vì hàng Nhị thừa không thấu rõ cảnh giới nghịch hạnh của Bồ Tát, hoặc thuận hay nghịch đều là diệu dụng của Bồ Tát trong Phật pháp, do đó họ thấy Bồ Tát làm nghịch hạnh mà cho rằng phi pháp, phi luật. Nên Bồ Tát nghe lời ác này sanh tâm từ bi thương xót chúng sanh, giáo hóa họ, khiến cho họ cải ác tùng thiện, bỏ tà quy chánh, đối với hàng Nhị thừa thì xả tiểu hướng đại, ngỏ hầu làm hột giống chánh đạo ngày càng thêm lớn. Nếu không khai hóa được như thế thì lòng từ của Bồ Tát chưa được dung thông, Bồ Tát lẽ đâu tự mình rao nói tội lỗi của người ư? Nên cuối cùng nói: “Bồ Tát này phạm tội Ba-la-di.”


Giới thứ 7
TỰ KHEN MÌNH CHÊ NGƯỜI

Nếu Phật tử tự khen mình chê người, cũng như bảo người khác khen mình chê người, nhơn chê người, duyên chê người, cách thức chê người, nghiệp chê người. Là Phật tử lẽ ra phải chịu thay những sự khinh chê khổ nhục cho tất cả chúng sanh, mình nhận lấy việc xấu, nhường cho người việc tốt. Nếu Phật tử phô trương tài đức của mình mà che giấu điều hay tốt của người, làm cho người bị khinh chê, Phật tử phạm tội Ba-la-di.

Giải thích:

Đưa công đức của mình lên gọi là tự tán thán khen ngợi. Chê bai lỗi xấu của người khác gọi là hủy nhục. Phô bày tốt, che cái xấu cho người, không hại cả mình và người, đó chính là bổn hạnh lợi sanh của Đại sĩ. Khen mình chê người, lợi mình tổn người, chẳng phải tâm từ bi của Bồ Tát.

Tự khen mình chê người là đưa ta lên và dìm người xuống, đủ hai lỗi này là phạm trọng tội.

Dạy người có hai cách:

1. Dạy người khen mình chê người, hoặc hiện tướng, hoặc sai khiến đem thơ đến.
2. Dạy người kia tự tán thán đức hạnh của mình, khinh hủy người khác.

Trước khi khởi tâm khen ngợi tán thán, tâm đó là nhân, tâm tương tục giúp thành duyên, dùng các thứ phương tiện khéo léo là cách thức, người đối diện nhận hiểu là nghiệp. Trong bốn câu này, chỉ đơn cử việc hủy báng người khác, không nói tự khen ngợi mình, vì lược bớt văn từ.

Lại tự khinh hủy người khác và khen ngợi mình, đem điều hay tốt về mình, khiến người khác phải chịu nhục, đó là ác tâm nặng nề về một mặt, nên nêu tội nặng bao gồm tội nhẹ. Ngược lại, người chịu thay người khác thì không làm cho họ phải chịu nhục, dẫn việc xấu xoay về mình, quyết không nên tự khen mình.

Dương là tán thán khen ngợi. Ẩn là ẩn khuất, tự đưa mình lên, sợ mình không hơn người. Dìm điều hay tốt của người sợ người hơn mình, chỉ biết lợi mình, không đếm xỉa người khác bị hại là chẳng phải Đại sĩ. Đem điều xấu đổ về mình, đưa điều tốt đẹp của người lên đó là “thiện tâm”

Tự mình chê bai người khác chính là nghiệp dẫn dắt nên mắc tội nặng. Nếu bị dắt dẫn vào đường tà rồi trở về chánh đạo, chê Nhị thừa, khiến họ trở về Nhứt thừa, tuy lỗi giống như là chê bai mà thực ra tâm là Đại từ bi, đây chính là tâm từ bi hoằng hóa thương xót chúng sanh, đại nguyện kiến lập pháp tràng, đâu được dụng tâm chấp nhơn, ngã, bỉ, thử, hơn, thua mà luận bàn, đồng lòng mà nói ư?

Kinh Trì Địa chép: “Khinh khi ngoại đạo mà khen ngợi Phật pháp, nếu dùng phương tiện để điều phục họ, chưa tin khiến cho tin, đã tin khiến cho tăng trưởng thì không phạm.”


Giới thứ 8
BỎN XẺN THÊM MẮNG ĐUỔI

Nếu Phật tử tự mình bỏn xẻn, nhơn bỏn xẻn, duyên bỏn xẻn, cách thức bỏn xẻn, nghiệp bỏn xẻn. Nếu là Bồ Tát, thấy tất cả người bần cùng nghèo khổ đến xin, theo sự cần dùng của họ mà cấp cho tất cả. Trái lại, Bồ Tát lại dùng ác tâm, sân tâm, nhẫn đến không cho một tiền, một cây kim, một cọng cỏ, có người đến cầu hỏi giáo pháp, chẳng nói một kệ, một câu mà trái lại còn mắng nhiếc hủy nhục, Bồ Tát này phạm tội Ba-la-di.

Giải thích:

Người đến xin thí tài, thí pháp mà không cho gọi là bỏn xẻn (nhơn bỏn xẻn, duyên bỏn xẻn, cách thức bỏn xẻn). Sân hận mắng nhiếc hủy nhục gọi là gia hại, như thế trái với đạo từ bi, trái với hoài bão lợi sanh của Bồ Tát.

Bồ Tát thực hành bố thí Ba-la-mật, không lựa kẻ thân người sơ. Nếu người đến cầu xin bố thí pháp hay tiền của, Bồ Tát đều cho, đâu phân biệt tốt hay xấu. Nếu họ đến xin, không có tâm bố thí mà lại thêm đánh đuổi quở mắng là rất trái với giới hạnh của Bồ Tát.

Tự mình bỏn xẻn, hoặc miệng nói, hoặc hiện tướng bỏn xẻn, hoặc ẩn tránh không cho tài pháp, hoặc nói không có, tay cầm gậy xua đuổi, hoặc dùng lời ác mắng nhiếc. Dạy người bỏn xẻn, là hoặc dạy người khác cất giấu tiền của không cho, hoặc dạy người gia hại mắng nhiếc. Khi mới khởi tâm như thế là nhơn, tiếp theo trợ giúp cho bỏn xẻn là duyên. Dùng mọi phương tiện khéo léo thực hiện việc bỏn xẻn là cách thức bỏn xẻn. Người đối diện hiểu rõ lời nói trên đó, thành tựu việc bỏn xẻn là nghiệp bỏn xẻn. Bốn câu này, không nói thêm lời hủy mắng đánh đuổi. Trước do tâm bỏn xẻn, sau thêm đánh đuổi hủy nhục, nếu không bỏn xẻn mà chỉ hủy nhục là thuộc về phạm khinh tội (tội nhẹ).

Kinh Ưu Ba Ly Vấn Phật chép: “Đã ở trong căn bản tội, sao còn gọi là nặng? Phật dạy: Trụ trong giới Đại thừa Bồ Tát, như phạm hằng hà sa số tội tham, cùng với một tội sân. So sánh trong hai tội này, sân thuộc về tội nặng vì hiện sân giận xa lìa chúng sanh, hiện tham ái hộ chúng sanh, thì không bị phiền não.” Đối với Bồ Tát, không có các sự lo sợ tai ương hoạnh tử, nên Học Luận chép: “Sân là bổn tánh của đại tội, không sanh phương tiện thương xót, hành động sân giận, chẳng những không lợi ích mà còn trưởng dưỡng phiền não, giảm mất tâm bi mẫn chúng sanh, ấy là lỗi rất lớn.”

Giới này nói về bỏn xẻn keo kiệt, đã tiếc của lại còn thêm đánh mắng hủy nhục. Nếu nghèo mà hay làm việc bố thí thì không có các lỗi sân, hận, hủy nhục. Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ chép: “Nếu trước thiếu phần suy nghĩ về mình, rồi sau không bố thí, đọa vào loài quỷ đói. Nói mà không cho thì đọa vào địa ngục.” Tất cả là chỉ Tăng tục, nam nữ.

Nghèo khốn cùng khổ có hai loại:

1. Thân nghèo đói khổ, cần tiền của nên thí cho tài vật.
2. Tâm nghèo khổ, cần pháp thí thì nên thí cho món ăn tinh thần pháp thí, nên nói tùy theo sự cần dùng, tất cả đều cung cấp cho.

Kinh Quyết Định Tỳ Ni chép: “Bồ Tát tại gia nên thực hành hai pháp thí:

1. Tài thí
2. Pháp thí

Còn Bồ Tát xuất gia nên thực hành bốn cách thí:

1. Thí cho giấy
2. Thí cho mực
3. Thí cho viết
4. Thí cho pháp.”

(Vì người xuất gia không có tiền của thì cho giấy, mực, viết, pháp, chút ít dễ làm, khiến cho thành tựu được kinh sách, cũng gọi là thí pháp.)

Bồ Tát đắc nhẫn thực hành 3 cách bố thí:

1. Ngôi Vua
2. Xả thí vợ con
3. Xả thí da thịt, xương cốt.

Phàm phu Bồ tát tùy sức tùy nghi thí cho. Nếu gặp người không nên thí pháp hoặc họ căn tánh ám độn, hạ liệt chẳng phải pháp khí, hoặc nghe pháp quá sâu xa, ngược lại sanh tâm hủy báng, hoặc người nữ đến cầu pháp mà không có nam tử thân nhân ở bên, thời không nên vì họ nói, cũng không nên thí tài, có khi thí tiền tài không được phước, nhẫn đến còn hại thân mạng, thì không nên thí cho.

Kinh Trì Địa chép: “Vì sao Bồ Tát dùng chút căn lành, được vô lượng kết quả? Vì Bồ Tát dạy chúng sanhcăn cơ hạ liệt, dùng chút ít tài vật gieo xuống phước điền, nhẫn đến chỉ thí một sợi bún nhỏ cho súc sanh. Thí rồi hồi hướng đạo Vô thượng Bồ đề, nhờ dùng sức hồi hướng, nên được kết quả vô lượng.”

Cho đến ... , là luận về tiền tài theo số nhiều, cho đến rất nhỏ như cây kim, ngọn cỏ. Đây muốn nói, người không có tiền của, không thể tùy ý thí. Luận về pháp, thì nói rộng ra, cho đến rất ít, chỉ nói một câu hay một hạt bụi nhỏ, đây ý nói ít biết không nghe, nên không thể nói rộng được. Nếu thật không có pháp sở đắc, mà nói dối, nói xằng, nói bậy khiến cho người bị mê lầm, mắc tội không phải nhẹ. Nếu có mà không bố thí cho người lại thêm xua đuổi mắng chửi nhục mạ, thời gây cả hai tội bỏn xẻn và hủy nhục, đây chính là “nghiệp chủ” nên mắc tội nặng.

Không phạm nghĩa là thấy người kia do bị quở tráchmắng nhiếc nên hối lỗi, nhờ sự chiết phục ấy mà sửa lỗi, tự không có ác tâm, sân tâm, tùy theo căn cơ được lợi ích, chính là diệu dụng cơ nghi của bậc Đại sĩ. Nên Kinh Trì Địa chép: “ Nếu biết Pháp mà không nói khiến họ được điều phục, nếu biết người trước không hay kính trọng, nếu oai nghi không tề chỉnh hoặc căn cơ họ ám độn, nghe diệu pháp thâm sâu, sanh lòng lo sợ, hoặc biết họ nghe rồi tăng trưởng tâm tà kiến, hoặc nghe chê bai thối thất, hoặc nghe rồi nói lại cho người ác, phá hoại chánh pháp, như vậy không nói thì không phạm.”


Giới thứ 9
GIẬN HỜN KHÔNG CHỊU SÁM HỐI

Nếu Phật tử tự mình sân giận, dạy người sân giận, nhơn sân giận, duyên sân giận, cách thức sân giận, nghiệp sân giận. Bồ Tát đáng lẽ ra phải gieo căn lành cho tất cả chúng sanh không gây gỗ, thường có lòng từ bi, lòng hiếu thuậntrái lại đối với tất cả chúng sanh, nhẫn đến chẳng phải chúng sanh, đem lời ác mạ nhục, còn thêm dùng tay chân dao gậy để đánh đập mà vẫn chưa hả dạ, cho đến khi họ đến cầu xin sám hối tạ tội nhưng vẫn còn chưa hả giận, Phật tử này phạm tội Ba-la-di. 

Giải thích:

Tâm sân giận hoặc người xúc phạm đến mình, hoặc mình xúc phạm đến người, người kia biết lỗi, thành tâm cầu xin sám hốiBồ Tát trong lòng ôm sự sân hận, ngoài hiện tướng không giận nhưng trong lòng buồn rầu khổ nãotrái với hạnh Bồ Tát.

Tự mình sân, là để trong lòng sự giận dữ, ngoài phát ra thân khẩu nghiệp. Bắt đầu mống tâm khởi sân là nhơn. Tâm sân hận ý niệm không dứt tạo thành duyên sân. Dùng các cách đánh đập mắng nhiếcphương pháp hay cách thức sân, tạo thành nghiệp sân. Kinh Hoa Nghiêm chép: “Một niệm sân tâm khởi, trăm vạn cửa chướng mở” (Nhứt niệm sân tâm khởi, bá vạn chướng môn khai). Phải biết một niệm mới manh nha còn vậy, huống gì các duyên sân tâm tương tục mà không thành nghiệp sân sao? Nghiệp thành rồi thì tai ương sa đọa, chìm đắm, lôi kéo, oán thù kết nối muôn đời, hết đời này sang đời khác không hết, thật đáng thương thay!

Tất cả chúng sanh tâm địa vốn thiện, do bị chướng ngại vô minh phiền não ngăn che, bậc Đại sĩ phải dùng lòng từ bi khiến cho chúng sanh phát khởi căn lành từ bi của mình để xả bỏ vô minh phiền não chướng, thì không có việc đấu tranh, huống gì tự mình không chịu cho họ sám hối tạ tội để phát khởi sự tranh cãi ư? Bồ Tát phải luôn nhớ đến tất cả chúng sanh, như con đỏ của mình, nhẫn chịu sự hủy nhục, đó là tâm từ bi của mình. Thường quán tất cả chúng sanh như cha mẹ, đâu nỡ ngỗ nghịch với họ, ấy là tâm hiếu thuận. Bậc Đại sĩ làm cho chúng sanh phát khởi tâm lành, lại còn thể hiện lòng từ bi hiếu kính, thì làm sao bức não chúng sanh được.

Phi chúng sanh là bậc Tam thừa Thánh nhơn, và người biến hóa. Đánh mắng sỉ nhục là thân và khẩu nghiệp. Tay đánh là thân nghiệp, niệm sân không dứt là ý nghiệp. Do ba nghiệp này não loạn, dữ hơn lang sói. Không cởi mở, không dứt tâm sân, nên thành tội nặng.

Không phạm là dù người đã biết lỗi cầu xin sám hối với tâm hối không thật, niệm sám không tha thiết, Bồ Tát cũng nên đem tâm từ bi khiến cho họ biết cải đổi lỗi trước, không dám tái phạm lỗi sau. Phải chỉ rõ cho họ biết tướng sân hận, hoặc chiết phục những chúng sanh ngỗ nghịch, vô tâm ác tánh tà kiến, bậc Đại sĩ ngoài hiện uy phong, nhưng tâm thực là từ bi, miệng quở trách bài xích mà trong tâm rất thương xót. Đây chính là đại dụng của Bồ Tát để điều phục chúng sanh cang cường, lẽ đâu đem họ so sánh với kẻ đủ ba độc?

Kinh Trì Địa chép: “Nếu dùng phương tiệnđiều phục họ, nếu họ không như pháp sám hối, tâm họ bất bình, không chịu sám hối, thì không có lỗi.”


Giới thứ 10
HỦY BÁNG TAM BẢO

Nếu Phật tử tự mình hủy báng Tam bảo, xui người hủy báng Tam bảo, nhơn hủy báng, duyên hủy báng, cách thức hủy báng, nghiệp hủy báng. Phật tử khi nghe một lời hủy báng Tam bảo của ngoại đạo và kẻ ác, còn đau lòng như ba trăm cây nhọn đâm vào tim mình huống là tự mình hủy báng, không có đức tin và lòng hiếu thuận đối với Tam bảo, lại còn giúp sức cho những kẻ ác và tà kiến hủy báng nữa, Phật tử này phạm tội Ba-la-di.

Giải thích:

Tự mình đem tâm tà kiến, báng loạn chánh pháp. Tội hủy báng mắng nhiếc kia thì có thể sám hối, riêng tội báng loạn chánh pháp, còn gọi là hủy báng Bồ Tát tạng, thì tội rất nặng.

Lấy tà làm chánh, lấy chánh làm tà, phỉ báng kinh luật và Bồ Tát, bảo rằng kinh luật này chẳng phải Phật nói, ấy là phỉ báng đức Thế Tôn; nói chẳng phải Đại thừa kinh điểnbáng Pháp, người thọ trì kinh điểnđọc tụng chẳng phải đệ tử Phật, ấy là báng Tăng. Hoặc tự thốt ra lời tà kiến, dựng lên tà thuyết, tự cho là chánh pháp, hoặc theo tà sư lãnh nạp tà ngữ, biên chép sao tả sách vở tà mị, như dùng lời dạy của Lão Trang sánh bằng giáo lý của Phật, lấy thuật trị thế, so sánh pháp môn tâm địa Phật nói, để hoặc loạn tâm người, làm mê lầm người sau, đánh mất chánh đạo, vùi lấp trong đường tà, truyền bá đời sau, mãi mãi không dứt, chịu tai ương muôn kiếp, đoạn dứt chủng tử Phật tánh rồi mắc tội, không phải Nhứt-xiển-đề thì không chỗ nào dung chứa được. Khi tâm mới khởi tà kiến là nhân, tà tâm tương tục là duyên, giúp nhau thành việc hủy báng là các phương pháp xảo thuyết hay cách thức hủy báng, người nghe lãnh hiểu là nghiệp hủy báng. Hoặc tâm muốn nói, miệng chưa nói ra thì chưa thành trọng tội. Hoặc tự phát ngôn, hoặc nói cho người khác, hoặc khiến cho người truyền nói, đối tượng nhận hiểu lời tà ngụy ấy dù chỉ một lời cũng là trọng tội. Nếu viết sách bằng ngôn ngữ báng loạn, người xem nhận hiểu thì mỗi lời, mỗi lời đều là trọng tộiTín đồ dị học của Trung Hoa và Thiên Trúc, cho đến Bồ Tát ngoài tâm cầu pháp, đều thuộc về ngoại đạo. Không có tâm tin Đại thừa, thường trụ Tam bảo, nên xả bỏ Đại giới Tam địa để học theo dị đạo tà giáo, bài bác không có thiện ác nhơn quả, đó gọi là bọn người ác. Một lời, nghĩa là khi nghe bọn người ác, dù chỉ nói một lời, nhưng chẳng khác ba trăm kim nhọn đâm vào tim mình, huống gì tự mình buông ra lời hủy báng, tâm của bậc Đại sĩ làm sao chịu được? Thực đáng thương cho bọn tà kiến ác nhơn, tự xô mình xuống hố sâu tội lỗi, lại kéo thêm vô lượng chúng sanh lầm mê đọa vào biển khổ.

Như mũi nhọn đâm vào tim, không phải chỉ cho niệm sân hận hủy báng Tam bảo, Thể của Tam bảo sáng như mặt trăng, mặt trời, ngón tay đâu có thể che khuất được ánh sáng ấy. Như liệng búa chém trời, trái lại hại mình. Bậc Đại sĩ vốn đem tín tâm hiếu thuận để thọ chánh giới này, phải thường kính thuận Tam bảo, không mảy may trái nghịch, lẽ đâu có thể phản lại để theo bọn tà kiến ác nhân ngoại đạo, ham thích ngoại giáo, hằng mất tâm địa đại giới Bồ Tát, không còn được gọi là đệ tử Phật ư?

Nếu chưa bỏ chánh giáo theo tà giáo, thì chưa mất giới. Nhưng mới suy nghĩ nói: “Tam bảo không bằng ngoại đạo, Đại thừa không bằng Nhị thừa”, tính toán chưa dứt khoát, thì phạm tội khinh. Dù tin Tam bảo và lý nhơn quả, mà còn tin quỷ thần tà ma ngoại đạo, có oai lực rất linh cảm, bèn bắt chước phù phiếm tế lễ, tấu trình quỷ thần, hoặc khuyên người khác tin thọ, đều phạm tội khinh. Hoặc chấp Đại thừa, phỉ báng Tiểu thừa, bảo rằng không có Tiểu mà chỉ có Đại thôi, còn cho rằng Tứ A Hàm và Biệt Giải Kinh (Luật) không phải Phật nói, đây là phỉ báng Thanh văn tạng, cũng là tội khinh. Đâu biết ba đời chư Phật xuất thế, tùy theo căn cơ chúng sanh mà thuyết giáo, đều nói Tam thừa, Tứ quả Thanh văn, để làm ruộng phước cho Hiền, Thánh, Trời, Người, lẽ đâu có thể khinh chê và hủy báng ư? Chỉ vì hàng Nhị thừa không có tâm lợi sanh nên Phật quở trách thế thôi. Người thời nay mới sơ cơ học đạo, chưa phân biệt được lúa thóc, Thiền và Giáo còn mù mờ chưa rõ, theo sự hiểu biết cạn cợt của mình, tự mình lầm lẫn, cho rằng người trì giớichấp tướng, liền chẳng thọ giới pháp. Phật gọi những hạng người này là cư sĩ trọc hoặc người thọ giới mà không giữ gìn cấm giới. Luật gọi đó là phao lủng trong biển khổ. Nếu khinh rẻ, bỏ cụ túc giới, cho rằng không cần thọ, như thế phạm khinh tội (tội nhẹ).

Mười giới trọng này đều là tánh tội, Tiểu thừa lấy rượu là Giá giới. Bồ Tát lấy việc lợi ích chúng sanh là gốc, nếu khiến cho người khác mê hoặc tâm địa, rượu cũng thuộc tánh tội. Như Luận Trí Độ chép: “Tánh giới là Thi-la. Thân, khẩu tám thứ, nghĩa là thân ba, khẩu bốn, lại thêm giới rượu, để ngăn ý địa, khiến cho thân tâm được thanh tịnh. Đó chính là ba nghiệp của ý trong mười thiện nghiệp.” Số lượng tuy khác nhưng nghĩa như nhau.

Tánh tội, nghĩa là giới này không đợi Phật chế hay không, tánh chất của nó nếu phạm là ác rồi, nên gọi là tánh tội. Luận Chỉ Quán chép: “Tánh giới nghĩa là bất luận người thọ hay không thọ, phạm tức là có tội.” Người thọ giới hay không thọ, giữ gìn không vi phạm gọi là thiện. Nếu thọ giới giữ gìn cẩn mật không sai phạm thời sanh được phước, sai phạm thì mắc tội. Không thọ không sanh được phước. Không thọ nếu phạm cũng không mắc tội khuyềt giới, chỉ có ác hạnh, vào nghiệp đạo. Tội nghĩa là thọ giới mà sai phạm thì mắc tội lại thêm tội khuyết giới.


3. Phần tổng kết

Này các Phật tử, trên đây là mười giới trọng của Bồ Tát, các vị cần nên học. Trong mười giới này không nên sai phạm một giới nào cả, dù một mảy may nhỏ như vi trần, huống chi phạm cả mười giới ư?

Giải thích:

Chẳng trái bổn nguyên tâm địa mà tu là khéo học. Người có lòng từ bi cứu giúp chúng sanh gọi là Nhơn giả. Đây là từ hay đẹp tán thán người học giới, khuyến nên học, nên trì giới, nếu sai phạm tâm địa giới này thì phạm tội trọng, ắt phải chịu lấy báo khổ ở ngục A Tỳ. Nếu giữ gìn cấm giới này làm nhân sẽ chứng cực quảgiải thoát, do quả nên không gọi là Ba-la-di mà gọi là “Ba-la-đề-mộc-xoa” chính là trong quả đã nói đến nhân. Nhân là trí dụng Bát nhã, quả là thể tịch tĩnh của Chơn như. Do xứng thể khởi dụng trừ được vô minh, thấy được bổn pháp thân, đó là trong quả nói rõ nhân.

Ngài Khuê Phong nói: “Nương Chơn như mà phát ra trí tuệ, đoạn dứt Hoặc nghiệp, chứng đắc Chơn trí rồi khởi ra diệu dụng.” Nếu hành giả không dựa vào Chơn như trí, thì tâm chấp tướng ngã nhơn sanh khởi, không biết nương vào đâu để mà tu chứng được. Nên biết muôn đức, muôn hạnh đều là dụng của Chơn như Trí cả. Nếu hành giả lại hay khởi tâm tha thiết cầu học ham mộ đắc quả, dốc lòng kiên trì cấm giới, đây cũng là trong quả nói đến nhân.

Ư trung, nghĩa là trong mười giớiMảy may như vi trần, là nêu ra phần nhỏ để so sánh với số nhiều, nghĩa là Phật dạy: “Phạm giới khinh còn không được gọi là Bồ Tát, huống gì phạm cả mười giới trọng?” Nếu phạm giới trọng, đã đánh mất nhơn cực quả rồi, tất nhiên phải chịu ác báo khổ vô cùng cực, nên phần sau chỉ rõ được và mất, hay nói cách khác là tội và phước.

Nếu hành giả nào vi phạm cấm giới Bồ Tát, hiện đời không phát Bồ đề tâm và cũng mất hết các ngôi như Quốc vương, Chuyển luân Thánh vương, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, cũng mất ngôi Thập Phát thú, Thập Trưởng dưỡng, Thập Kim cangThập địa, Diệu quả Phật tánh thường trú, tất cả đều mất, phải đọa trong ba ác đạo, hai kiếp, ba kiếp không được nghe tên Tam bảoCha mẹ, vì thế không nên sai phạm một giới nào.

Giải thích:

Nếu Bồ Tát vi phạm cấm giới của Phật, cũng như cây bị chặt ngọn, không thể nảy mầm được. Người phạm giới cấm cũng thế, mầm mống Bồ đề đã khô cháy nên nói hiện đời không thể phát Bồ đề tâm được.

Quốc vương là chủ một nước, Chuyển Luân vương là chủ Tứ thiên hạ hoặc hai, ba thiên hạ. Hai ngôi vị trên là do nhiều đời tu hành trì giới nghiêm mật nên có được thắng quả này. Nay chúng ta đã thọ cấm giới của Phật, mà còn để sai phạm thì đức vị tôn quý liền mất và thắng phước đời sau cũng mất.

Tỳ kheo, Tỳ kheo ni vốn trì thọ cấm giới mà đặt tên. Nếu phạm Ba-la-đề-mộc-xoa chẳng những không còn con mắt bậc Đại sĩ, mà tên gọi Tỳ kheo, Tỳ kheo ni cũng mất, chẳng những mất tên gọi mà cả ngôi vị Tam Hiền, Thập Thánh cho đến Diệu quả Phật tánh thường trú cũng mất.

Diệu quảDiệu giác Phật quả, chẳng những vĩnh viễn mất lợi ích lớn lao như thế mà cho đến thân này, sau khi xả báo duyên, phải đọa vào ba đường ác. Khi đã đọa vào ác đạo rồi, chẳng phải một hai đời hết được, thế nên kinh nói một kiếp, hai kiếp cho đến nhiều kiếp không được nghe tên Cha mẹTam bảo, huống gì được tu tập, hiếu kính ư?

Danh tự xuất thế gian Tam bảo còn không được nghe, làm sao tu hành để chứng đắc đạo quả?

Đã mất đại lợi như thế, nên Phật răn nhắc mỗi giới phải kiên trì cẩn mật và phát thệ thà đập nát thân thể này như tro bụi, không nên sai phạm một giới nào dù là giới nhỏ. Kinh Anh Lạc chép: “Nếu sai phạm giới trọng, không được sám hối, vì đã phạm tội Ba-la-di, phải chịu suốt trong 10 kiếp thọ tội khổ. Một ngày phải trải qua 84,000 lần sống, 84,000 lần chết, nên không được phá giới .” Từ quả vị Tam Hiền, Thập Thánh, cho đến Đẳng Giác, tất cả quả vị ấy đều đánh mất, bởi vậy giới này là hạnh căn bản của tất cả Phật, tất cả Bồ Tát. Không có Phật nào lìa giới thể, Bồ Tát nào lìa giới hạnh, nói cách khác không ai không từ Thập giới pháp môn này mà chứng đắc đạo quả.

Tất cả Bồ Tát các ông đã học, sẽ học và hiện đang học, mười giới như thế hết lòng kính trọng phụng trì. Còn phần giảng rộng như trong phẩm Tám Muôn Oai Nghi nói rõ.

Giải thích:

Giới này là mười phương ba đời chư Phật đồng họcđồng hành trì, đồng thành vô thượng Phật quả, vì thế đức Như Lai ba lần dặn dò, khuyến họckhuyến trì. Còn phần giảng rộng nói rõ về việc hành trì và sai phạm tánh tướng như thế nào, như trong Đại Bổn phần cuối phân ra. Trong phẩm Tám Muôn Oai Nghi nêu rõ, nay chỉ lược nêu ra phần đại cương của mười Vô tận tạng mà thôi.

 

I I. BỐN MƯƠI TÁM GIỚI KHINH


1. Nêu chung

Phật bảo các Bồ Tát: “Ta đã nói xong 10 giới trọng, nay nói đến 48 giới khinh.”

Giải thích:

Khinh cấu, nghĩa là tội này tuy nhẹ hơn mười giới trọng trước, nhưng năng lực nhiễm ô Bổn nguyên tâm địa cũng không phải nhỏ. Nếu không gấp cầu sám hối sẽ làm chướng ngại cho tâm địa, khó thành chánh quả. Nhưng trước khi sám hối cần phải biết tướng tội kia thuộc về căn bản, tùng sanh, hay độc đầu.

Nếu y vào mười giới trọng trước, muốn làm mà chưa thực hiện nên chưa kết tội nặng. Nếu có tác tiền phương tiện khinh cấu, ấy gọi là tùng sanh. Nếu lỗi đã gây không từ mười giới trọng mà sanh, tự riêng khởi, gọi đó là độc đầu khinh cấu. Nay trong khinh cấu căn bản, lại có tùng sanh nên lầm lẫn các tội. Nếu trong 48 giới căn bản khinh cấu cố ý sai phạm, phải sám khinh cấu tội, phải tác pháp sám tội Đột-kiết-la. Ngoài ra, phạm lỗi tác tiền phương tiện phi oai nghi, ác tác (thân nghiệp). Nếu vô tình gây tội, chỉ phạm tội Ác tác, tự trách tâm. Nên kinh Giới Bổn chép: “Sai phạm đây do tâm nhiễm ô khởi tội, nên sám hối ác tác, nếu không sám hối thì chướng ngại giới Bồ Tát.” Khi sám hối cần phải biết đưa ra phương pháp sám hối thì tội mới tiêu diệt. Bởi vậy kinh Bồ Tát Ưu Bà Tắc Oai Nghi chép: “Nếu có sai phạm, phải hỏi người biết rõ pháp sám tội ác tác theo Tiểu thừa hay Đại thừa, để đúng như pháp sám hối.” Như Tỳ kheo phạm tội Đột-kiết-la (Trung Hoa dịch là Ác tác), luận về cách sám tội, cần phải tự biết rõ, ở đây không nêu ra nhiều.


2. Nêu riêng

Giới thứ 1
KHÔNG KÍNH THẦY, BẠN

Nếu Phât tử lúc sắp lãnh ngôi Quốc vương, ngôi Chuyển luân vương hay chức quan, trước nên thọ giới Bồ Tát, như thế tất cả quỷ thần cứu hộ thân vua, thân các quan, chư Phật đều hoan hỷ. Khi đắc giới rồi, Phật tử nên có lòng hiếu thuậncung kính. Nếu thấy có bậc Thượng tọa, A Xà Lê, những bậc Đại đức, đồng học, đồng hạnh, đồng kiến đến nhà, phải đứng dậy tiếp rước, lễ lạy, vấn tấn, mỗi sự đều như phápcúng dường, hoặc tự bán thân cho đến quốc thành con cái, cùng bảy báu, trăm vật để cung cấp cho vị ấy.

Nếu Phật tử sanh lòng kiêu mạn, sân hận ngu si, không chịu tiếp rước lạy chào, cho đến không chịu y theo pháp mà cúng dường, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Sư trưởng chính là bậc mô phạm của trời người, bậc lương y mô phạm của thế gianGiới thân của ta được sanh ra, trí tuệ của ta được nuôi lớn đều nhờ vào đạo lực của Sư trưởng, do đó phải biết kính thuận, không trái bỏ. Nếu ta sanh tâm ngạo mạn sẽ mắc tội lớn như biển cả.

Bạn là người có khả năng giúp cho ta vun bồi đức để tiến tu, các điều thiện do đây mà thành, muôn hạnh nhờ đây mà tiến. Như người muốn qua biển cả phải nhờ thuyền buồm, nếu bỏ buồm thì thuyền sẽ bị trôi hoặc chìm. Thế nên Như Lai dạy phải kính thầy và bạn như Phật.

Đoạn này nói các vị trước nên lãnh thọ giới Bồ Tát rồi mới thọ nhận ngôi vị, mục đích để giúp cho người đó trước nên lập đức để cảm hóa trời rồng, được quỷ thần ủng hộ, sau vua tôi mới an ổn, đất nước bình an. Phước của vua tôi, tức là phước của người dân một nước.

Phần khuyến thọ mười giới, trước để Quốc vương đứng đầu, sau tổng kết cũng để Quốc vương đứng đầu.

Nay phần giới khinh này cũng nói đến Quốc vương trước, bởi vì nếu vua chánh thì thiên hạ chánh, vua tốt thời sĩ thứ tốt, nên vua phải có sức giáo hóa, có lòng khuyến thiện. Nếu vua không thọ giới này thì tự mất lợi ích cứu hộ, lại tự thị mình là cao quý, có khi còn phá hoại Phật pháp, ngăn cấm các vị đệ tử Phật không cho xuất gia tu đạoGiả sử đã thọ giới này rồi, còn sợ rằng tâm kiêu ngạo kia chưa dứt, không kính người có đức, nên Như Lai đặc biệt khuyên thọ. Năm chúng xuất gia đều tuân theo giới luật hành trì, tự mình biết kính thuận, nên đây chỉ nói sơ lược.

Do vua và bề tôi quần thần sùng kính Tam bảothọ giới, được quỷ thần ủng hộ, thân thì khang kiện, cõi nước an ninh, các tai họa lần lần tiêu dứt, gió thuận mưa hòa, nhân dân được lợi ích, nên kinh Tâm Địa Quán chép: “Nếu có bậc nhơn vương thành tựu chánh kiến, đúng như pháp trị đời, gọi là Thiên chủ, dùng thiện pháp của trời để hóa độ thế gianThiện thần các trời và Tứ thiên vương thường đến gia hộ, giữ gìn cung vua. Tuy ở nhân gian mà tu nghiệp lành, tâm thưởng phạt công minh, bậc Thánh vương như thế gọi là Chánh Pháp vương.”

Trong kinh Đại Kim Quang Minhbài kệ rằng:

 Do chư Thiên hộ trì
Cũng gọi là Thiên tử
Chủ ba mươi ba trời
Chia sức giúp nhơn vương
Ngàn sao nương ngôi xoay
Trời trăng không trái mùa
Gió thuận đúng thời tiết
Mưa tốt thuận thời hành
Tất cả các thiên chúng
Đầy khắp nơi cung vua
Nên nhơn vương các ông
Quên mình truyền chánh pháp
Đem pháp dạy chúng sanh
Khiến cho họ an ổn
Khiến tất cả thứ dân
Tu hành mười nghiệp lành
Cõi nước thường an lạc
Quốc giới được an ninh.

Chư Phật hoan hỷtâm địa giới này là ngàn Phật lưu truyền, vốn trông mong Phật pháp truyền thọ không dứt, nay vua, tôi, thứ dân kính thuận phụng trì, mọi người làm lành, mỗi mỗi Phật tử đâu không hỷ lạc ư? 

Bậc Thượng tọa có hai:

1. Thượng tọa trong chúng Tăng, là người trên, không có ai cao hơn, nên ở vào trên ngôi vị Hòa thượng A Xà Lê của ta. 
2. Thọ giới trước ta, cho đến trước một giờ, một khắc, một bóng nắng, ấy là Thượng tọa. Vua Bình Sa xưng Phật tử là bậc Thượng nhơn, nghĩa là Thượng nhơn này lớn hơn vua, tôi, thứ dân.

Trong Kinh Bát Nhã, Phật nói: “Bồ Tát nhất tâm hành đạo vô thượng Bồ đề, tâm không tán loạn, ấy gọi là Thượng nhơn.”

A Xà Lê, Trung Hoa dịch là Quỹ phạm. Quỹ phạm có nghĩa là Sư, vì người có khả năng, có khuôn phép dạy đệ tử trong năm chúng xuất gia.

Có năm bậc A Xà Lê:

1. A Xà Lê trao mười giới
2. Yết ma A Xà Lê trao cụ túc giới
3. Giáo thọ A Xà Lê
4. Y chỉ A Xà Lê
5. Dạy kinh giáo A Xà Lê.

Đại đức là tiếng tôn xưng cho người tu hànhđức hạnh thanh tịnh.

Đồng học là đồng do một thầy dạy pháp Đại thừa. Đồng kiến là tâm cùng chánh giải Đại thừa giáo. Đồng hạnh là thân đồng tu hạnh Đại thừa, tất cả những vị đến phải nghinh tiếplễ bái, cung kính khiêm tốn, tiến thối có chừng độ.

Lễ là lạy. Theo phép lễ thế gian có hai cách lạy: Hai lạy là tượng trưng cho Lưỡng nghi, bốn lạy là tượng trưng cho Tứ tượng. Riêng cách lạy ba lạy tiêu biểu cho chí kính Tam thừa rồi quy y Tam bảo, lìa được Tam độc.

Vấn tấn là thưa hỏi, trình bày lên. Lễ rồi sắc diện hân hoan vui mừng, tâm chánh niệm nhìn thẳng, hỏi thăm Ngài ít bệnh, ít não chăng? Đi đứng an lạc không? Như Kinh Trì Địa chép: “Đi đứng thong thả, tứ đại điều nhu, thức ngủ an ổn không?” Như thế, tùy thời thưa hỏi, việc này không nhứt định. Đây là điều tiêu biểu tôn kính giới pháp, phụng hành đạo hiếu thuận.

Kiêu là thân tâm phóng túng. Mạn là ỷ thị khinh người khác. Si là không phân biệt tôn ti phải quấy. Sân là trong bốn thứ phiền não trên đây, nếu trong lòng chỉ ôm một trong bốn tâm, liền đồng thời biểu hiện tướng bất kính, nên không đứng dậy nghinh tiếp, lễ bái, cúng dường.

Tấn tu hạnh nghi gọi là cúng, có tâm nhiếp trì giúp đỡ gọi là dường. Lại nữa, đối với người dưới mến tặng người trên, gọi là cúng, kẻ dưới giúp đỡ bậc tôn trưởng gọi là dường.

Tự bán thân là biểu hiện tâm chí kính, tôn trọng pháp và người nói pháp, hết lòng thành kính cúng dường. Xưa ngài Thường Đề Bồ Tát được nghe kinh Bát Nhã, tự phát nguyện bán tim, gan, tủy, não để cúng dường Đại sĩ Đàm Vô Kiệt. Trong nhân địa tu hành, Thích Ca Như Lai, khi ấy là một người nghèo, được nghe kinh Đại Niết Bàn, mỗi ngày cắt thịt thân mình ba lượng, bán cho một người bệnh ghẻ lác để họ trị bệnh. Suốt một tháng như thế, Ngài lấy tiền ấy cúng Phật. Người đời nay, tuy nghèo, nhưng lẽ đâu không có chút vật, cũng chưa ai chịu bán thân con trai, con gái. Vì tâm coi trọng tiền tài hơn chánh pháp, nên mắc tội.

Bảy báuvàng bạc, lưu ly, xa cừ, pha lê, mã não, trân châu, hổ phách, v.v... Trăm vật là số lượng lớn chỉ cho vật cúng dườngNếu không cung kính cúng dường như trên thì phạm tội khinh cấu.

Kinh Bồ Tát Ưu Bà Tắc Ngũ Giới Oai Nghi chép: “Dù có nói bao nhiêu lời mà không nghe, dù có gì hỏi han cũng không thật đáp, thì phạm trọng cấu tội. Nếu người không có ý mạn, sân, nhuế, si, mà chỉ do biếng nhác không ghi nhớ, tán tâm thì phạm tội khinh cấu. Nếu người bệnh khi nghe pháp, thuyết pháp hoặc trước cùng người khác nói, cho đến cố ý ủng hộ nhiều người nói pháp thì không phạm tội.”


Giới thứ 2

UỐNG RƯỢU

Phật tử không được cố uống rượu, vì rượu sanh ra vô lượng tội lỗi. Tự tay trao chén rượu cho người, bị quả báo năm trăm đời không tay, huống gì tự mình uống ư? Cũng không được bảo tất cả mọi ngườichúng sanh uống rượu, huống gì tự mình uống?

Tất cả các thứ rượu, Phật tử không được uống và bảo người uống, nếu uống hoặc dạy người uống, Phật tử phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Rượu sanh ra các tội lỗi, chẳng những phạm 36 việc mà thôi, nên nói là vô lượng. Nếu bưng bình rượu trao cho người uống, còn mắc quả báo năm trăm đời không tay huống gì tự mình uống, không chịu báo nặng nề ư?

Người uống rượu si mê điên đảo, sau khi chết phải đọa vào loài súc sanh, phải làm con ruồi ngu si, đói khổ, cho đến con giun, con đỉa, cá thu, các loại không tay v.v...

Kinh Quỷ Vấn Mục Liên chép: “Có một con quỷ hỏi: Tôi một đời nay không biết đã gây tội gì mà phải chịu quả báo ngu si?, Ngài Mục Liên trả lời: Khi ngươi làm người, đem rượu dâng cho người ta, lại còn khuyên ép họ uống, khiến cho họ điên đảo, nay phải chịu họa báo và quả báođịa ngục.”

Kinh Chánh Pháp Niệm chép: “Nếu đem rượu tặng Tăng chúng, người thọ giới, người tu hành tịch tĩnh, người tâm đã tịch diệt, chứng thiền định, làm tâm đã tịch diệt, chứng thiền định, làm tán loạn tâm họ, phải đọa địa ngục kêu gào.”

Hỏi: Bồ Tát khi hành Đàn Ba-la-mật, có người đến xin rượu cũng thí cho, vậy là sao?

Đáp: Bậc Đại sĩ tu Lục độ Vạn hạnh, bố thí khắp cả, hễ có người đến xin, không trái với ý họ, để họ được đầy đủ, như Đàn Ba-la-mật tối thượng mà trao.

Kinh Sở Vấn chép: “Khi Bồ Tát hành Bố thí Ba-la-mật, nếu có người đến cầu xin vật cần dùng, phải nói: Hãy làm theo ta thì ta cấp cho. Nếu có người ưa thích rượu, liền sanh chánh niệm mà cùng họ uống. Sau đó phải khuyên họ bỏ hẳn. Bồ Tát thanh tịnh như thế, phương tiện nhiếp thọ chúng sanh. Nếu họ trong lòng ưa thích, không muốn dứt, thì Bồ Tát liền dùng những lời quở trách và nói những tai họa do rượu gây nên, nguy hiểm như lưỡi dao bén, quyết định phải xa lìa, không để cho nuối tiếc tương tụcBố thí như thế thì không có lỗi. Đây là Bồ Tát quán sát căn cơ mà làm, khác hẳn hàng Thanh văn.”

Kinh Ngũ Giới Oai Nghi chép: “Bồ Tát vì người mà làm, từ việc nhận y đến trăm ngàn thứ khác đều theo người cư sĩ không phải bà con mà xin. Xin y thế nào thì xin bát cũng vậy. Vì người khác nên xin chỉ và dạy người thợ dệt dệt y, chứa y Kiêu-sa-gia, thu nhận vàng bạc, cho đến trăm ngàn việc như thế đều khác với hàng Thanh văn.” Bởi vậy Kinh Tỳ Ni Quyết Định chép: “Trì giới Thanh văn là phá giới Bồ Tát, trì giới Bồ tátphá giới Thanh văn.”

Hoặc có người vì lòng riêng, bắt chước Bồ Tát thực hành bố thí nhưng lại tiếc của, chẳng chịu ban cho, cũng muốn học hạnh Bố thí viên mãn, chẳng trái ý người xin, nhưng thực ra là làm bừa, chẳng khác nào khỉ vượn đeo chuỗi ngọc Anh lạc, rõ ràng chuốc lấy thất bại, lẽ đâu tránh khỏi được khổ báo ngu siđịa ngục kêu gào chăng!

Tất cả mọi người là chỉ cho nam, nữ, già, trẻ, tại gia, xuất gia, người ở xứ khác, nước khác. Chúng sanh là chỉ cho phi nhơn và dị loại như quỷ thần, súc sanh, v.v... . Dạy người, chẳng phải người hay tự mình uống, cả ba đều phạm tội khinh cấu.

Tất cả các thứ rượu: như trong giới trọng đã giải thích. Kinh Luật ghi: “Ăn bã và hèm rượu có thể say, tùy theo mỗi miếng nuốt vào mà mắc tội, như có bệnh nặng, các thứ thuốc không thể chữa lành bệnh nên đức Như Lai vì bệnh khai cho, như trong luật Tỳ kheo và kinh Xá Lợi Phất Vấn nói rõ.

Hỏi: Đã sanh vô lượng lỗi, tại sao Nghĩa Sớ ghi: “Không vì họa hoạn, thảy đều hứa cho?”

Đáp: Như có thể tránh khỏi lỗi này thì nên hứa. Xưa phu nhơn của vua Ba Tư Nặc là bà Mạt Lợi theo Phật thọ giới, lúc vua sắp giết quan đầu bếp, bà liền dùng rượu dâng cho vua. Vua và phu nhân cùng nhau chung vui hoan hỷ, tâm vui nên quên việc giết vị quan ấy, hình phạt kia coi như không có. Sau đó Mạt Lợi phu nhơn đến chỗ Phật cầu xin sám hối, Phật dạy: “Uống rượu như thế được đại lợi ích nên không phạm giới.” Giả sử người mới được nghe lời nói này, mà không biết Mạt Lợi phu nhơn khéo dụng Quyền hạnh Bồ Tát, bắt chước học đòi làm, thời hậu quả khó tránh khỏi. Lại nữa, đời nhà Tề có vị Tăng tên Đàm Hiển, trong lúc say rượu đã tranh biện Phật pháp với bọn Hoàng Quan, khiến vô lượng Đạo sĩ trở về quy y Phật, Phật pháp nhờ đây được phát triển mạnh. Nếu không phải là Quyền hiện Bồ Tát chớ giả dạng thói ngông, chuốc họa không phải nhỏ.


Giới thứ 3

ĂN THỊT

Phật tử, tất cả thịt của mọi loài chúng sanh đều không được ăn. Luận về người ăn thịt mất lòng từ bi, dứt giống Phật tánh, tất cả chúng sanh thấy đều tránh xa, người ăn thịt mắc vô lượng tội lỗi. Vì thế Phật tử không được ăn thịt mọi loài chúng sanh. Nếu cố ăn, Phật tử này phạm tội khinh cấu. 

Giải thích:

Tất cả thịt đều do đoạn mạng chúng sanh mà có. Bồ Tát dùng lòng từ bi làm gốc, lợi ích chúng sanh làm bổn hoài, từ bi bạt khổ, ban vui, lợi ích độ sanh, hạnh lợi tha rộng lớn làm lợi ích quần sanh, nếu ăn thịt thì hai hạnh đều trái, làm sao gọi là bậc Đại sĩ độ sanh?

Cố ăn, không phải là lầm lỡ mà ăn. Tất cả thịt của mọi loài chúng sanh, không ngoài các loài cầm thú thủy lục, không hành, như các loài sò, hến, trai, ốc, thằn lằn, v.v... . Tất cả loài có mạng sống đều không được ăn thịt chúng.

Lòng từ bi là tâm Vô thượng Bồ đề, nếu đoạn dứt tâm này chính là đoạn dứt hạt giống Phật tánh. Một khi hạt giống đã dứt rồi thì cội gốc Bồ đề sao có thể thành? Chúng sanh thấy người ăn thịt thảy đều tránh xa vì tập khí sát hại chưa dứt. Như chim bồ câu lao mình vào đậu vai ngài Xá Lợi Phất, nó hết sức run sợtập khí sát hại của Ngài vẫn chưa hết, huống gì ăn thịt chúng sanh. Khi hình sắctập khí dứt hết thì nó thấy, nó nghe, có thể không còn sợ hãi tránh xa nữa. Bởi vậy Kinh Lăng Nghiêm chép: “Thợ săn, đồ tể giăng lưới bắt chim cá, những người ác này, loài chó thấy cũng kinh sợ, sủa cắn, các loài thú thấy đều chạy trốn. Người này khi dứt hơi thở cũng như quỷ La-sát, đến đây ắt sẽ giết ta. Vì để giữ gìn thân mạng, tất cả chúng đều chạy trốn, nên nói thấy đều tránh xa.

Tất cả Bồ Tát là chỉ cho tất cả người sơ phát tâm thọ giới, dù chưa đăng địa cũng đã đăng vị Bồ Tát địa, tự biết giữ giới, ăn thịtvi phạm.

Kinh Lăng Nghiêm chép: “Phật bảo ngài A Nan: Người ăn thịt , giả sử được khai mở tâm, như Tam ma địa, đều là đại quỷ La-sát, rốt ráo quả báo quyết chắc phải sa vào biển khổ sanh tử, làm sao có thể ra khỏi ba cõi được?”

Kinh Lăng Già chép: “Phật bảo Ngài Đại Huệ: Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay thường là lục thân quyến thuộc với nhau, xả báo thân rồi thọ các thân cầm thúBồ Tát thấy chúng sanh đều là thân thuộc, cho đến khởi từ niệm, tưởng họ như con mình. Tất cả thịt các loài chúng sanh đều là tinh huyết ô uế tạo thành, người cầu thanh tịnh làm sao nỡ ăn thịt. Người tu hành từ bi tâm, trì chú thuật, cầu giải thoát, thú hướng Đại thừa, nếu ăn thịt thì tất cả người trời cho đến các chúng sanh cũng tránh xa người ấy.”

Phật tử nếu ăn thịt, trong giấc mộng cũng không yên, bị ác quỷ, La-sát đoạt mất tinh khí, bệnh tật ngày càng tăng, sanh ra các tội lỗi, các công đức đều bại hoại tiêu tan theo ác nghiệp.

Trong Kinh có bài kệ:

 Không giải thoát sanh tử
Vì giết hại chúng sanh
Lấy tiền mua đủ thịt
Cả hai là ác nghiệp
Chết đọa ngục kêu gào
Phải chịu vô lượng tội

Có một con quỷ hỏi Tôn giả Mục Liên: “Tôi từ khi sanh ra đến nay, có rất nhiều con, tất cả đều đoan chánh, đẹp đẽ đáng ưa, nhưng lại chết yểu. Nghĩ đến sự chia lìa đó, thống khổ không thể nói, xin hỏi Ngài, không biết tôi đã gây nên tội gì mà nay phải chịu báo khổ này?”, Ngài Mục Liên đáp: “Khi ngươi làm người, tâm ưa ăn thịt, thấy trẻ nhỏ sát sanh thì vui theo và còn giúp cho trẻ nhỏ cố đoạn mạng chúng sanh, vì ưa sát sanh nên chịu báo đau khổ, nay thọ họa báo, còn quả báo phải vào địa ngục.”

Như thế đủ biết, thấy người khác sát hại sanh tâm vui theo còn mắc quả báo như thế, huống gì tự mình giết hại, đâu thể tránh khỏi báo khổ.

Giới thứ 4
ĂN NGŨ VỊ TÂN

Phật tử, không được ăn loại ngũ tân như: hành, hẹ, tỏi, nén và hưng cừ. Loại ngũ tân này gia vào trong tất cả các thực phẩm, đều không được ăn, nếu cố ăn, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Ngũ vị tân, kinh và luật đều gọi là không đồng, phần nhiều gọi là hành hẹ, tỏi, nén và hưng cừ. Nay kinh này đem hành chia thành năm thứ, cũng vì mỗi quốc độ có tên gọi khác nhau.

Tỏi (Đại toán) còn có tên là Hồ hành, do Trương Khiên đi sứ ở nước Đại Uyển đem về. Nay vật mà người ta thường ăn chính là hành của nước Hồ, được mang từ nước Hồ về. Trong Bản Chương ghi: “Hành nước Hồ là loại hành lá nhuyễn, đầu nhỏ như tim đèn, tợ cây tỏi lớn mà hình nhỏ.” Có một loại gọi là Sơn thông, sinh nơi nước đọng trong núi, cành nhỏ lá to, cũng gọi là Lạc sơn thông. Ở Tây Vức, tất cả các loại ngũ vị tân có nhiều thứ, nhiều hình loại chất vị khác nhau, đây không thể nêu ra hết, chỉ nêu ít loại mà thôi.

Tóm lại, tất cả các loại có chất vị cay nồng, đều không được ăn. Nếu hành giả ăn những thứ kể trên, có tác động kích thích tâm lý, sẽ sanh ý niệm không lành mạnh, đó là một chướng ngại lớn cho việc tĩnh niệm và hành thiền. Nếu tu hành tâm không chánh niệm thì con đường giải thoát làm sao đạt được.

Như trong Tây Vức Ký chép: “Các nhà Đạo sĩ ở Tây Vức, nếu người nào dùng ngũ vị tân phải ở riêng một chỗ. Giả sử có bệnh nặng, theo lời của thầy thuốc thì tạm dùng. Luật khai cho phải ở riêng chúng, phòng cá nhân biệt lập, sau bảy ngày xong rồi, phải tắm gội sạch sẽ, thay đổi y phục, mới cho vào chung ở với chúng Tăng.”
Kinh Lăng Nghiêm chép: “Ăn các thứ ngũ vị tân chất vị cay nồng có năm lỗi:

1. Ăn chín phát sanh tâm dâm, ăn sống phát sanh tâm sân.
2. Dù có thể nói mười hai bộ kinh nhưng các vị Trời và Tiên trong mười phương chê bai mùi xú uế kia, nên tất cả họ tránh xa.
3. Bị các ngạ quỷ liếm môi mép, thường cùng ở chung với quỷ ác.
4. Phước đức mỗi ngày mỗi tiêu dần, không lợi ích gì cho cưộc sống.
5. Bồ Tát và các thiện thần trong mười phương không đến ủng hộĐại lực quỷ vương thừa cơ hội đó, hiện làm Phật thân, ở trước mặt nói pháp, chẳng phải nói chê người hủy cấm giới của Phật mà quỷ vương tán thán khen ngợi tam độc “tham, sân, si”. Người ăn ngũ vị tân này sau khi mạng chung luôn luôn làm quyến thuộc của chúng, thọ báo quả kiếp ma hết rồi đọa vào Vô gián địa ngục. Nay do tâm dâm kia làm tăng trưởng tâm sân nhiễm ô “tâm địa giới”, các bậc Thánh, Hiền thảy đều xa lìa, nên kết tội khinh cấu. Cuối cùng đọa Địa ngục A Tỳ.


Giới thứ 5
KHÔNG DẠY NGƯỜI CÓ TỘI SÁM HỐI

Phật tử khi thấy người phạm những tội như: Ngũ giới, Bát giới, Thập giới, phá giới, phạm Thất nghịch, Bát nạn, v.v... phải khuyên bảo người ấy sám hối. Nếu Phật tử chẳng khuyên bảo người phạm tội sám hối lại đồng ở chung đồng sống chung, đồng bố tát, đồng thuyết giới, không cử tội người ấy, không nhắc sám hối, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:
Tất cả chúng sanh là trời, rồng , bát bộ, nhơn, phi nhơn, v.v..., người đã thọ giới Đại thừa, Tiểu thừa của Phật. Giả sử người không thọ giới mà có hành vi làm ác, làm việc phi pháp hay khuyến dụ người làm ác, phải liền dùng phương tiện quở trách, can gián, khiến cho họ dứt ý niệm hành vi xấuhối lỗi kia.

Bát giới chính là tám pháp trai giới và tám giới trọng. Trong kinh Địa Trì gọi là sát, đạo, dâm, vọng, hủy, não, sân, báng. Ngũ giớinăm giới của cận sự namcận sự nữThập giới là mười thiện giới của ba nghiệp thân, khẩu, ý và mười giới của Sa-di.

Hủy cấm giới là người đó sai phạm, hủy giới cấm của Phật mà mình đã lãnh thọ. Cấm là ngăn cấm. Đức Như Lai chế giới là để ngăn cấm tâm chúng sanh phóng túng theo trần cảnh, răn nhắc câu thúc thân khẩu ý nghiệp, nên cấm tức là giới. Giới phẩm tuy nhiều, nhưng không ngoài Đại thừa, Tiểu thừa (Thanh văn giớiBồ Tát giới). Đại thừa, tam tụ chánh giớiTiểu thừa, Bạch tứ Yết ma giới. Thất nghịch sau sẽ nêu ra.

Bát nạn tức là tám nạn:

1. Địa ngục
2. Súc sanh
3. Ngạ quỷ
4. Trường thọ thiên
5. Bắc-câu-lô-châu
6. Mù, điếc, câm, ngọng
7. Thế trí biện thông
8. Sanh trước Phật, sau Phật.

Tám nạn này đều là chướng ngại đạo giải thoát. Vì không được gặp Phật nghe pháp nên gọi là nạn. Nhưng tám việc này đều do đời trước hành giả phạm giới mà gây ra, Phật dạy cho họ sám hối để khỏi mắc quả báo về sau. Nếu đời này phạm giới gây tội, đời sau ắt phải chịu báo khổ. Tám nạn này nên dạy cho họ phải sám hối. Như tạo các nghiệp sát sanh, trộm cắp, dâm dục, v.v... tất nhiên phải chịu báo khổ ở tam đồ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh). Tu theo ngoại đạo vô tưởng định, thời chịu quả báo năm trăm đời ở cõi Trường thọ thiên, không biết gì đến Tam bảo. Gây phước báothế gian, thời cảm nhận phước báo ở Bác-câu-lô-châu. Tâm sanh tà kiến, không ưa nghe Phật pháp, thọ báo câm ngọng. Không tin Tam bảo, hủy báng Pháp sư, phải chịu quả báo câm, mù, điếc. Không tin pháp xuất thế gian, đắm trước mùi vị thế giáo, nên cảm thọ báo Thế trí biện thông (không tin chánh giáo và nhơn quả tội phước). Nghiệp nặng phước mỏng, không gặp Phật nên sanh ra trước Phật hoặc sau Phật.

Kinh chép: “Hủy báng Tam bảo, khinh hủy Thánh đạo, luận bàn hay dở, tốt xấu của người khác, tìm kiếm những điểm kém dở của người, lấn hiếp, vu khống người lương thiện, ghét ganh người hiền lương, thọ báo câm, ngọng, đui, điếc.”

Kinh Vấn Địa Ngục chép: “Cha mẹ và Sư trưởng gọi mà không trả lời, phải đọa trong loài ngạ quỷ điếc ở địa ngục, thường bị bàn chải áp sát lưỡi tội nhơn, trải qua hai trăm năm, sau được sanh làm người câm điếc.” Thế nên phải dạy họ ăn năn, sám hối để khỏi khổ báo về sau. Tất cả tội đã phạm dù khinh dù trọng, dù tánh tội, giá tội, đều dạy cho họ biết hổ, biết thẹn, như pháp sám hối, để không gây tội ác một ngày một thêm, đời sau phải đọa vào tam đồphỉ báng pháp môn, trái với hoằng nguyện hộ pháp lợi sanh của Đại sĩ.

Đồng trụ nghĩa là cùng ở trong một đại giới tu hành. Đồng lợi dưỡng là cùng một tăng đoàn, cùng thụ hưởng thí chủ lợi dưỡng, cúng dường.

Bố tát nói đủ là Bố sái đà. Bố sái là trưởng dưỡng, Đà là tịch trừ, nghĩa là mỗi nửa tháng nhóm chúng thuyết giới, liền có thể nuôi lớn pháp lành, tự tâm thanh tịnh, trừ các niệm bất thiện, cấu uế.

Một chúng thuyết giới nghĩa là đồng trong một giới, tất cả chúng Tăng, nửa tháng đồng bố tát thuyết giới, hoặc trong một đại giới có hai trụ xứ, đồng một thuyết giới mà riêng lợi dưỡng , vì nay không có trường hợp trên nên nói đồng lợi dưỡng, một chúng thuyết giới.

Không nêu tội họ mà chỉ có thấy, nghe, nghi ba căn, liền phải chỉ chỗ sai phạm của họ, dạy bảo nhắc nhở, khiến cho họ sám hối. Không cử tội, không nhắc nhở, không dạy, cùng Tăng hưởng lợi dưỡng, lạm dụng thọ của tín thí, thậm chí khiến cho họ mắc tội càng nhiều, lại trái với từ tâm, bi tâm, hộ tâm của Bồ Tát, nên tự mình mắc tội.

Kinh Niết Bàn chép: “Có Tỳ kheo trì giới, thấy người phá hoại chánh giới liền đuổi đi, quở trách trị phạt nhẹ. Phải biết người này được vô lượng phước, không thể tính kể. Nếu không quở trách đuổi đi hoặc cứ tội, phải biết người này là oán cừu trong Phật pháp. Nếu hay quở trách và đuổi đi, là đệ tử của Ta.”

Kinh Ưu Tắc Ngũ Giới Oai Nghi chép” Bồ Tátgương mẫu cho nhiều người, thấy quyến thuộc làm điều không đúng. Pháp sư nên quở trách và đuổi đi. Nếu gặp người sân tâmác tâm, không quở trách, trị phạt thì Bồ Tát phạm tội khinh cấu.”

Kinh Ưu Bà Tắc chép: “Thà thọ ác giới một ngày, đoạn mất vô lượng mạng căn của chúng sanh, trọn không nuôi dưỡng đệ tử ác. Đệ tử tệ ác không thể điều phục được, vì cớ sao? Vì đây là ác luật nghi, tai ương tự chuốc vào thân không thể giáo hóa răn dạy đệ tử lỗi lầm, mới khiến cho vô lượng chúng sanh tạo tội lỗi, hay phỉ báng chánh pháp.” Lại nữa, trong kinh Thiện Giới chép: “Bọn người Chiên Đà La cho đến đồ tể, tuy làm nghiệp ác mà không phá hoại chánh pháp của Như Lai, quyết không phải đọa trong ba đường ác, còn làm thầy mà không răn dạy đệ tử khi có lỗi sái quấy, thời phá Phật pháp, chắc chắn phải đọa địa ngục.” Bởi vậy, khi nêu tội họ, không được gấp rút vội vàng, cần phải hướng đến các bậc hữu đức trì giới ở trước người đó mà cử tội.

Trong Luật Tỳ Kheo, Phật dạy: “Muốn cử tội người khác, trước hết phải theo họ cầu thỉnhĐại sĩ phải dùng từ tâm, nói lời nhu nhuyến, nhẹ nhàng răn dạy họ, khiến cho người phạm sanh tâm biết hổ thẹn để quy phụcNếu không như thế mà hướng người khác nói thì đồng với bọn người trước.”

Luật Tăng Kỳ chép: “Khi cử tội, không được hướng người khác cử, phải hướng đến vị Thiện Tỳ kheo cử tội. Nếu vị Tỳ kheo phạm tội, tánh hung bạo hoặc ỷ vào thế lực vua quan, thế lực hung ác của người ấy đều là nhơn duyên sanh khởi tâm đoạt mạng người khác.” Tự thương tổn phạm hạnh nên khởi niệm này, hành nghiệp tội ắt phải tự thọ báo quả, họ tự phải biết, dụ như lửa cháy, chỉ tự cứu lấy thân, đâu biết việc khác. Bấy giờ chỉ cần giữ gìn căn bản tâm tướng vô tội.

Kinh Địa Trì chép: “Nếu Phật tử, Bồ Tát, thấy các chúng sanh đời này, đời sau tạo ác nghiệp, do tâm hiềm hận, không vì chánh pháp nói, ấy là phạm. Nếu người không trí hiểu biết, hoặc không có khả năng, hoặc sai người có thế lực, có khả năng nói, hoặc phương tiện khiến họ điều phục, nếu khi ta thật lòng cử tội họ, mà họ có tâm hiềm trách ta, hận thù ta, như thốt ra lời ác bảo rằng, thọ pháp điên đảo, hoặc không tâm ái kính; nếu họ tánh hay lãng quên, bất định thì không phạm. Hoặc thấy người phạm lỗi đáng quở trách, đáng trị phạt nên diệt tẩn, mà không quở trách, không diệt tẩn, không trị phạt, như thế là phạm tội khinh cấu. Nếu không trị phạt người đó, thì không nên nói chuyện với họ, không nên răn dạy nhắc nhở hay khởi tâm hiềm trách giận hờn. Nếu sợ khởi việc tranh cãi hoặc thưa kiện nhau hoặc phá hoại tăng chúng, phải quán sát, thì không phạm.”


Giới thứ 6
KHÔNG CUNG CẤP, THỈNH PHÁP

Phật tử, khi thấy Pháp sư Đại thừa hoặc những người đồng học, đồng kiến, đồng hạnh Đại thừa, từ trăm dặm, ngàn dặm đến nơi tăng phường, nhà cửa, thành ấp, phải đứng dậy rước vào, lễ bái; ngày ngày ba thời cúng dường các thứ cần dùng như đồ ăn uống, giường ghế, thuốc men, tất cả đồ cần dùngđáng giá ba lượng vàng đều phải cung cấp cho Pháp sư. Mỗi ngày sáng, trưa và chiều thường thỉnh Pháp sư thuyết phápđảnh lễ, không hề có lòng sân hận buồn rầu, luôn thưa thỉnh pháp không mệt mỏi, vì Pháp quên thân. Nếu Phật tử không như thế thì phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Trước nêu Pháp sư Đại thừa, sau nêu đồng học, đồng kiến, đồng hạnh Đại thừa, ba bậc bạn hữu để làm thầy bạn Đại thừaPháp sư là người thông suốt tánh tướng kinh luật Đại thừa, nhẫn đến có khả năng giáo hóa chúng sanh khiến họ vào Phật địa.

Trăm dặm, ngàn dặm là nói xa để nhiếp gần, nghĩa là xa mà còn cung thỉnh, huống gì ở gần ư?

Ba thời cúng dường nghĩa là từ lúc mặt trời mới mọc cho đến cuối giờ thìn, đầu giờ tỵ là đúng ngọ. 

Ba lượng vàng và trăm vị là nói lên sự cung kính tột bậc mà không có bỏn xẻn, biếng nhác, kiêu mạn. Người thọ nhận của cúng dường sanh lòng hổ thẹn, mới tiêu của tín thí.

Trong Tông Cảnh ghi: “Nếu người học Đại thừa Phật pháp, thọ nhận món ăn của thí chủ nặng như núi Tu di: thọ nhận y phục của thí chủ có thể trải khắp trái đất, nếu người không học, chưa vào hàng Tăng chúng, thì khắp mười phương không có chỗ để nhổ nước miếng.”

Ngài Vĩnh Gia nói: “Nếu người được sức giải thoát, không thể nghĩ bàn, hằng Sa-diệu dụng, nhận tứ sự cúng dường, tiêu vạn lượng vàng ròng, thân nát xương tan, cũng chưa đủ để đền đáp, nhưng chỉ cần thấu tỏ một câu liền vượt qua trăm ức. Tuy là như thế, nhưng biết thọ dụng vừa đủ mới không mắc lỗi. Bởi vì, người cung cấp trước là tự phát tâm cúng dường, còn sợ chưa đủ, nay theo sự cần dùng của thầy và bạn không nên trái ý niệm của họ, phải hết lòng cung cấp, tức là nói đến việc cúng dường ân cần.

Thường thỉnh là nói rõ chẳng phải một ngày hay một thời gian mà thôi.

Ba thời là trước giờ ngọ, sau giờ ngọ và tối. Ba thời lễ bái là nói tinh thần ưa pháp không tâm giải đãi, không nên thấy chút lỗi của Pháp sư mà sanh tâm sân, không nên hiềm chán lo lắng, phí tài sản sanh tâm buồn rầu, thân còn phải xả lìa, phải hoại diệt, đâu vì nản lòng lao nhọc về việc cung cấp Pháp sư mà sanh tâm thối thất.

Nhơn địa tu hành của Như Lai xả thí toàn thân để cầu nửa bài kệ, khoét thân thể làm ngàn lỗ đốt đèn để thỉnh Pháp sư nói pháp, thí vợ con cho quỷ Dạ xoa ăn thịt, vì muốn nghe pháp yếu. Nên ngài Phổ Hiền Bồ Tát bảo Thiện Tài đồng tử rằng:” Trong pháp hội của ta, không có một câu văn, không phải xả thí ngôi vị Chuyển luân vương và tất cả vật sở hữu mà cầu được pháp này, huống gì vật ngoài thân ư?” Nếu tiếc thân, tiếc của thì không phải hạnh nguyện của bậc Đại sĩ vì pháp quên mình, lại trái với bổn tâm hiếu thuận cung kính giáo pháp nên phạm.

Kinh Viên Giác chép: “Chúng sanh ở đời mạt, muốn tu hành phải nên hết lòng trọn đời cung kính cúng dường thiện hữu tri thứcPhật tử muốn đến thân gần thiện hữu tri thức ấy, phải dứt tâm kiêu mạn. Nếu thiện hữu tri thức đi phải dứt tâm sân hận, quán cảnh thuận hay nghịch cũng như hư không, rõ biết tự tâm rốt ráo bình đẳng, cùng với chúng sanh đồng thể không khác, tu hành như thế mới vào được cảnh giới Viên Giác.”

Sớ ghi: “Phàm thiện hữu tri thức độ người dùng các thứ phương tiện, tâm thầy trò khế hợp, mới truyền trao y pháp.” Bởi vậy, ứng cơ tiếp vật, nên Đại sĩ rủ lòng thương xót, thường gần gũi chúng sanh. Người ngu không biết, thường sanh tâm kiêu mạnKiêu mạn che tâm thì không thể nào vào đạo, nên nói cần phải đoạn kiêu mạn. Nếu gặp duyên khác, phải xa cách nhau liền sanh tâm sân hận, mới nói thân sơ, ta người, yêu ghét, đã sanh một niệm sân thì trăm ngàn muôn chướng đều sanh khởi, chẳng cần luận bàn lỗi của đạo cũng đọa vào tam đồ, nên nói phải dứt tâm sân hận. Xét trong kinh Thí Dụ và các kinh khác, Tôn Giả A Nan trong thời quá khứ từng làm đứa trẻ bán hương, thấy một Sa-di đi khất thực, miệng tụng kinh kệ, nhân đó hỏi Sa-di, Sa-di đáp: “Thầy tôi ở trong núi học đạotu đạo, dạy tôi mỗi ngày lo kiếm một thăng gạo và tụng một bài kệ, nên tôi làm như vậy”, đứa trẻ lại hỏi: “Nếu không kiếm được gạo, mỗi ngày tụng bao nhiêu kệ?” Sa-di đáp: “Có thể tụng được mười kệ”, đứa trẻ nói:”Từ nay về sau đừng đi khất thực nữa, tôi sẽ đi xin thay cho” Sa-di vui mừng vì được yên tĩnh tọa thiền và học đạo. Đến khi đứa trẻ xin được chín đấu gạo, thử nghiệm kinh kệ của Sa-di, thấy Sa-di thảy đều thuộc làu. Do phước báu này, đời sau đứa trẻ được gặp Phật, làm đệ tử đệ nhứt Đa văn, đầy đủ tam minh, lục thông, được Phật truyền tâm ấn. Phải biết cung cấp cho Sa-di trì kinh, còn cảm được thắng báo như thế, huống gì cúng dường bậc Sư trưởng, thiện hữu Đại thừa, thì phước báo thù thắng mà người hay thuyết pháp có được, ai có thể suy nghĩ luận bàn!


Giới thứ 7
GIẢI ĐÃI KHÔNG NGHE PHÁP

Phật tử hàng tân học Bồ Tát, phàm chỗ nào có giảng kinh, luật, phải mang kinh luật đến chỗ Pháp sư nghe giảng và thưa hỏi, hoặc trong núi rừng, vườn cây, chùa, nhà, v.v... tất cả chỗ thuyết pháp đều đến nghe giảng, học hỏi. Nếu Phật tử không đến nơi ấy nghe pháp và thưa hỏi thì phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Giới trước nói Pháp sư đến, ta thưa thỉnh được lợi ích, giới này Pháp sư ở chỗ khác, ta nên đến đó nghe giảng, học hỏiGiảng pháp là nói chung, thuyết pháp luận bàn nghĩa lý. Luật, tiếng Phạn gọi là Tỳ Ni, Trung Hoa dịch là Diệt, nghĩa là diệt trừ ba ác nghiệp (thân, khẩu, ý), còn gọi là Thiện trị, nghĩa là khéo hay tự trị dâm, nộ, si, cũng hay trị ác nghiệp cho chúng sanh. Đây đều từ công năng đặt tên, chẳng phải chánh dịch. Chánh dịch là luật, luật là pháp, đây từ Giáo đặt tên, nghĩa là xử đoán, khinh, trọng, khai, giá, trì, phạm, phi pháp, bất định.

Tỳ, Trung Hoa dịch là Khử. Ni, Trung Hoa dịch là Chơn, nghĩa là bỏ những gì phi pháp, sái quấy mà còn lại chơn thật. Chơn tức là bổn nguyên tâm địa. Kinh luật đều gọi là Tỳ Ni, vì kinh tức là Phạm Võng giới kinh; luật là Tâm địa pháp luật và các giới tạng của Bồ Tát. Lại nữa, tất cả kinh điển Đại thừa, có nghĩa là diệt ác sanh thiện, nên cũng đồng gọi là Tỳ Ni.

Tân học nghĩa là hàng Đại sĩ mới thọ Tâm địa giới, việc học chưa xong, không biết quý trọng pháp, tự sanh tâm kiêu mạn, biếng nhác, đánh mất lợi ích lớn, hàng ngày không tấn tu, vùi lấp tâm địa, nên đặc biệt khuyên nhắc cố gắng, nếu không thì mỗi ngày đều phạm tội khinh cấu.

Xét trong Kinh Trì Địa, không cần nói xa hay gần, còn trong Ưu Bà Tắc Giới Kinh nói: “Cách nhau khoảng một do tuần, thì không phạm.” Vì người tại gia, bao nhiêu công việc câu thúc thân, không thể đi xa nghe pháp được. Người xuất gia không bị hệ lụy, chuyên tâm huân tập Phật pháp làm sự nghiệp, sợ xa không đến được chính là tự biếng nhác, kiêu mạn, không có tâm trọng pháp nên phạm. Người lãnh thọ giới pháp siêng năng đi nghe giảng và thưa hỏi. Nghe là dùng nhĩ thức lắng nghe, thọ nhận. Thọ nhận là dùng tâm lãnh nạp đây chính là văn huệtư huệ. Hỏi tức là thưa hỏi, nghe rồi tư duy sâu sắc, tư duy mà không thông đạt thì hỏi lại. Mối nghi được giải thích liền nương đó tiến tu, thể nhập pháp môn tâm địa của Đại thừa.

Trước nói, tất cả chỗ là chỉ chung chỗ Tăng và tục ở; kế nói nhà ở rộng lớn là chỉ cho vương cung, nhà quan, nhà thế tục, nhà đàn việt, nơi thỉnh Pháp sư giảng kinh. Nay nói, tất cả chỗ thuyết pháp nghĩa là người xuất gia ở trong núi, dưới gốc cây, chốn lan nhã yên tĩnh, Tăng già lam, v.v... các chỗ như vậy, nếu Phật tử không đến đó nghe giảng thọ học, không phải coi thường người, coi thường pháp mà chính là giải đãi nên mắc tội.

Kinh Bồ Tát Giới Bổn chép: “Hoặc bệnh, hoặc không có sức khoẻ, biết người ấy nói tráo trở lộn xộn; nếu biết những điều người ấy nói là điều mình thường nghe, hoặc đã nghe nhiều rồi ghi nhớ, hoặc tu thiền định không muốn lãng phí thời gian, không đến thì không phạm.


Giới thứ 8
TRÁI VỚI ĐẠI THỪA HƯỚNG VỀ TIỂU THỪA

Nếu Phật tửquan niệm trái bỏ kinh luật Đại thừa thường trú, cho rằng không phải của Phật nói ra, mà đi thọ trì kinh điển tà kiến và tất cả cấm giới của Thanh văn Nhị thừa cùng ngoại đạo ác kiến, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Quan niệm trái bỏ kinh luật Đại thừa thường trú, nghĩa là cho rằng Đại thừa giáo không được siêu việt, nên trái bỏ (bỏ Đại hướng Tiểu); giáo pháp của Tiểu thừa ngoại đạo thù thắng thực tế hơn, nên hướng đến (bỏ Đại hướng ngoại đạo).

Kinh luật Đại thừa, từ Xá Na tâm địa lưu xuất, tánh vốn thường trú, không sanh, không diệt, không biến đổi, đây chính là nhứt thật giáoNhư Lai diễn nói, chứ không phải pháp phương thiện quyền xảo, tùy việc mà chế.

Hàng phàm phu sơ học Bồ Tát, không rõ được Đại thừa, Tiểu thừa, chánh tà ra sao, nên nghi kinh luật Đại thừa chẳng phải Phật nói ra.

Nói là tâm, vì tâm muốn trái bỏ mà ý niệm chưa quyết định, miệng muốn nói mà lời chưa mở, lòng còn hoài nghi, nên phạm tội khinh cấu.

Nếu tâm hướng đến sự trái bỏ đã thành tựu, thì liền mất giới, hoặc lời hủy báng đã thốt ra, gây hại người khác thì phạm tội khinh cấu.

Nhị thừa tức là Thanh vănDuyên giácThanh văn do nghe pháp Tứ Thánh Đế, chứng quả vô sanh, nên gọi là quả Thanh vănDuyên giác do quán pháp mười hai nhân duyên (quán hoa rơi lá rụng), không có thầy mà tự ngộ, gọi là Duyên giác (tiếng Phạn là Bích Chi Phật).

Hỏi: Đã từ Như Lai nghe giáo chứng đạo, tại sao gọi là Ác kiến?

Đáp: Đức Như Lai quán sát biết họ căn cơ hạ liệt, trí cạn, chưa kham lãnh thọ Đại pháp, nên phương tiện tạm chỉ bày tiểu giáo. Họ nghe tiểu giáo liền sanh tâm nhàm chán sanh tử, đoạn dứt nhân khổ, ham quả tịch diệt của Nhị thừa, tu 37 phẩm trợ đạo, để cầu thủ chứng đắcNhư không biết pháp Đại thừa thường trú, xả bỏ tâm địa đại giới này, đi thọ trì đạo pháp cấm giới của Thanh văn, cũng không chứng đắc viên mãn cụ túc, nên Kinh Niết Bàn chép:”Hàng A La Hán không biết Tam bảo thường trú bất biến, dù có cấm giới cũng không được cụ túc viên mãn, không đắc đạo Thanh văn được, thế thì trái với thú hướng và ý chí của hành giả, cả Tiểu thừaĐại thừa đều mất.”

Đại Luận ghi:”Thà khởi tâm làm con giã can ghẻ lỡ, chứ không sanh tâm thú hướng Nhị thừa.”

Tâm hung dữ là xấu ác, thân bệnh hoạn ghẻ lác, cũng không sanh niệm thú hướng Nhị thừa. Như kinh đã ghi: “Thà đọa đường ác mà được nghe tên Phật chứ không mong trường sanh bất tửcõi trời.”

Tất cả cấm giới, nghĩa là các giới hàng ngoại đạo thọ trì như: giới thờ bò, chó, ngựa, gà, v.v... Do kiến chấp của hàng ngoại đạo, họ cho rằng nếu tu khổ hạnh, sau khi xả báo thân sẽ được sanh vào cõi trời, hưởng phước lạc an vui, nên bắt chước thực vật (như cây cỏ) cam nhận ăn đồ phấn uế, tôn thờ thần lửa, thần gió, v.v... hoặc hớp không khí, hoặc đi một chân, hoặc chích đốt năm lỗ trên thân mình, hoặc tự đốt thân, hoặc bôi tro bụi lên thân thể, nằm lõa hình, v.v... cho rằng định tĩnh tu hành hết khổ được vui; đến như đời mạt, uống nước lã, giữ chay tịnh, cho rằng đã tẩy trừ ngũ trược; hoặc nhịn đói 7 ngày, cho rằng không tịch, tứ đại gặp mùa đông lạnh, mùa hạ nóng, cho rằng lạnh nóng không còn xâm hại được đến thân. Họ tự thọ cấm giới tà kiến như thế, nếu chẳng phải ngu si thì cũng để mê hoặc người khác. Lại khởi lên các thứ vọng chấp, tạo lập ra các thứ sách vở, ấy là kinh luật tà kiến. Giới này ý Phật chế để ngăn cấm, nhắc nhở các Đại sĩ nếu trái chánh nhân tâm địa thì sẽ mất cực quả thành Phật, nếu học giáo pháp Nhị thừa, đoạn dứt Kiến hoặcTư hoặc để cầu chứng đắc Niết bàn, đốt thân diệt trí thì vĩnh viễn không thể thực hiện đại dụng lợi tha, nên Phật quở tráchác kiến, ác nhân, chẳng phải nói giới Thanh văn không thể thọ trì.

Luận về tâm, thì Đại thừaTiểu thừa cần phải phân minh rõ ràng, nên nói: “Nếu khởi tâm một niệm Nhị thừa giáo thì phạm tội khinh cấu.”

Luận về giới, thì Đại thừaTiểu thừa đồng hành trì, nên kinh Niết Bàn chép: “Nghĩa của năm thiên bảy tụ, đều là luật nghi của Bồ Tát xuất gia.”

Phụ Hành Sự Sao chép: “Hàng Bồ Tát xuất gia có 6 phép hòa và 10 điều lợi ích giống hàng Thanh văn, còn sáu pháp Ba-la-mật và bốn Hoằng thệ nguyện thì khác với hạnh của Tiểu thừa.”

Như hàng Bồ Tát tại gia thì Tam quy, Ngũ giới đều thú hướng đến Bồ đề tâm, huống gì kinh Phạm Võng nói 84000 oai nghi, bảy chúng đệ tử Phật đều nương tựa, chúng sanh trong năm đường đều lợi ích, thì đâu thể chứa kẻ phá giới, mà xưng là Phật thừa.

Kinh Bồ Tát Giới Bổn chép: “Nếu khởi lên lời nói như thế thì Bồ Tát không nên nghe pháp Thanh văn, cũng không nên thọ học.” Bồ Tát nếu không ứng dụng pháp Thanh văn làm phương tiện quyền xảo thì phạm tội, vì sao? Vì Bồ Tát còn học dị luận của ngoại đạo, huống gì pháp Thanh vănlời Phật dạy. Nếu Bồ Tátchuyên chú học Bồ Tát tạng, nhưng chưa được hoàn mãn thì không phạm.

Kinh Địa Tạng Thập Luận chép: “Phật nói: Nên tu học tất cả Tam thừa giáo, không nên sanh tâm kiêu mạn, dối gọi là Đại thừa, hủy báng pháp của Thanh văn, Duyên giác thừa. Ta trước vì hàng căn cơ Đại pháp khí mà tâm kiên cố tu hành nên nói lời như thế, còn nếu chỉ tu pháp Đại thừa, thì có thể được cứu cánh, bởi vì xưa và nay không trái nhau.”

Như Khế Kinh chép: “Vì muốn sách tấn họ tu hành kiên cố, khi họ đã tập pháp Tiểu thừa rồi thì nên khiến họ thú hướng đến Đại thừa giáo, không nên trách họ bỏ Đại hướng Tiểu, nhưng cũng không nên nói rằng pháp Thanh văn là tầm thường phải bỏ.” Nếu người có tâm hổ thẹn, chỉ e rằng hành trì còn không kịp huống gì lại chê bai. Do thế, người xuất gia trong 5 nước Thiên Trúc, trước hết đều học Tiểu thừa, sau mới học Đại thừa, để giúp họ biết nhơn quả tội phước thì mới tránh khỏi lỗi, bỏ có chấp không, biết rõ nguồn gốc thứ lớp giáo điển mới không lầm tu và vọng chứng. Đây sợ rằng bậc sơ cơ mới học đạo, trí hiểu biết còn cạn hẹp, chưa hiểu thấu mật ý của Như Lai, mới nghe Phật nói các pháp như huyễn, không thật, liền sanh tâm nhàm chán, cầu chứng đắc Niết Bàn. Tâm thủ xả sanh khởi, trái với phương hướng tu tập Phật đã dạy, dối vọng cho là phù hợp ý chỉ kinh điển là tự mình trói buộc mình trong nhiều kiếp. Nếu người nào chê giới Thanh văn không thọ thì đừng cạo tóc, mặc y hoại sắc, tác tướng Sa môn, mà nên để râu, để tóc dài, làm người thế tục, hành Bồ Tát đạo. Nếu ham mộ tướng kia mà bỏ giới luật, giả mạo vào trong pháp môn, cùng với Tăng chúng đồng sự để yết ma bố tát, thì gọi là Tặc trụ (tội này cùng với ngũ nghịch tội ngang nhau, sau không được thọ cụ túc giới, vì tổn hại Phật pháp chẳng phải ít, nên cần phải suy nghĩ).

Ngài Ma Ha Ca Diếp, đệ tử lớn trong hàng Thanh văn của Phật, thọ trì 250 đại giới và hành 12 hạnh đầu đà, nguyện trọn đời không xả, vì sao đức Như Lai khi sắp nhập Niết bàn, đem chánh pháp nhãn tạng phó chúc cho Ngài mà không phó chúc cho ngài Di LặcVăn Thù Bồ Tát? Vì Bồ Tát đã có tâm tùy loại hóa sanh, hóa hiện không nhứt định, còn hàng Thanh văn là hàng trụ trì Tam bảothế gian, nhờ đó mà Phật bảoPháp bảo hoằng dương, làm chỗ nương tựa cho trời, người.

Nên biết giới đức, trọng trách gánh vác chẳng phải thường, nếu coi thường giới Thanh văn, không hành trì thì mất ngôi Tăng bảo. Khi Tăng bảo mất thì Phật bảoPháp bảo cũng mất luôn (kinh nói nhơn năng hoằng đạo là vậy), huống gì giới có công năng dứt ác sanh thiện. Hành trì một giới ngăn dứt được một ác nghiệp, sanh vô lượng thiện pháp, thế nên, hai vạn năm ngàn sông phước thường chảy vào. Hơn nữa, phải biết tâm rộng lớn thì giới lớn, tâm hẹp thì giới nhỏ, nên kinh Niết Bàn và Thập Bà Sa Luận khi nói về Thiên và Tụ chép rằng: “Hàng Bồ Tát Ma Ha Tát hành trì cấm giới, phải biết giới không có lớn nhỏ, tất cả đều do tâm kỳ vọng của người thọ trì.” Trừ ngoại đạo tà kiếnthế gian, không một pháp nào không phải là Phật pháp, như nói tất cả cây cối, hoa lá trong đại địa đều là vị thuốc, huống chi là kinh pháp giới luật do chính kim khẩu đức Như Lai nói ra.

Kinh Viên Giác chép: “Tất cả chúng sanh đều chứng Viên giác nếu gặp được bậc thiện hữu tri thức, nên nương vào họ mà thiết lập nhơn địa pháp hành. Như vậy, tu tập liền có Đốn hoặc Tiệm; nếu gặp Như Lai Vô thượng Bồ đề, con đường chánh tu hành, căn cơ không có lớn nhỏ, đều sẽ thành Phật quả.” Như kinh đã nói, mọi điều nghi hoặc liền tiêu tan, ngoài ra như giới thứ 24 nói rõ.


Giới thứ 9
KHÔNG SĂN SÓC BỆNH

Phật tử, thấy người tật bệnh phải tận tâm cúng dường như cúng dường Phật. Trong tám phước điền, cúng dườngphước điền thứ nhất. Nếu như Cha mẹ, Sư trưởng, Sư tăng cùng đệ tử có bệnh, có tật, trăm thứ bệnh tật đau khổ, đều phải săn sóc cho lành mạnh. Nếu Phật tử vì tâm sân hận, không chăm nuôi, nhẫn đến thấy trong tăng phường, thành ấp, nơi núi rừng, đồng nội, đường xá, có người bệnh mà không lo cứu tế, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Chú thích:

Do mê mất tâm từ bi lợi tế của Bồ Tát nên không săn sóc bệnh, mất hạnh cung kính hiếu thuận nên không cung cấp cúng dường.

Tất cả người tật bệnh, gồm trên là Hiền, Thánh Tam thừa, Sư tăng, Cha mẹ, giữa là huynh đệ, bạn bè thân thuộc, dưới là đệ tử chúng tại gia, già trẻ, sang hèn, người tha phương khác nước, v.v... nhẫn đến các loài hạ đẳng cầm thú, súc sanh, thảy đều phải cung cấp thuốc men để điều trị như đối với Phật không khác. Bổn hoài của Như Lai vốn là cứu độ sanh lão bệnh tử của muôn loài, nên Phật xuất hiện nơi đời, nay cúng dường người bệnh khiến cho họ được an ổn, đó chính là bổn hoài của Phật, huống gì tất cả chúng sanh đồng một nguồn tâm, sẽ thành chánh giác, nên nói như Phật không khác.

Xưa đức Như Lai tự săn sóc Tỳ kheo bệnh, trước rửa sạch cấu uế, sau nói pháp yếu cho họ nghe, vị Tỳ kheo liền chứng đạo quả, nhơn đó khiến cho trong tất cả tự viện, nhà bệnh đều vẽ hình tượng Như Lai tự đích thân khám bệnh, săn sóc. Người thọ giới Bồ Tát mà không cúng dường, không săn sóc bệnh thì thật trái với tâm thương xót chúng sanh của Bồ Tát.

Trong 8 phước điền, săn sóc bệnh là thứ nhứt. Tám phước điền ấy là:

1. Chư Phật phước điền
2. Thánh nhơn phước điền (Tam thừa thánh)
3. Chúng Tăng phước điền
4. Hòa thượng phước điền
5. A Xà Lê phước điền
6. Cha phước điền
7. Mẹ phước điền
8. Người bệnh phước điền

Chư Phật, Thánh nhơn, chư Tăng, ba bậc này gọi là Kỉnh điền. Hoà thượng, A Xà Lê, Cha, Mẹ, bốn bậc này gọi là Ân điền. Cúng dường người bệnh, gọi là Bi điền. Đối với 8 thứ phước điền này, cúng dường, bố thí thì sanh ra các phước lành như gieo trồng hạt giống được nảy mầm tươi tốt thì chắc chắn thu hoạch được kết quả, nên gọi là điền.

Trong 8 thứ ruộng phước, ruộng phước Phật là tối thắngCúng dường Phật được quả lành xuất thế gian, diệt trừ được vô lượng các nghiệp ác, cấu uế. Nay lấy việc săn sóc bệnh làm đệ nhứt, nghĩa là Bồ Tát lấy việc lợi sanh làm chủ yếu, cứu khổ ban vui cho chúng sanh là việc cần thiết, nên không lựa chọn thân sơ, sang hèn, chỉ dùng tâm cứu tế, nên nói rằng: “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật” (Nghĩa là còn có chúng sanh nào ở địa ngục thì Bồ Tát chưa thành Phật). Lại nói, nếu có một chúng sanh nào chưa thành Phật thì Bồ Tát quyết chưa nhập Niết bàn, vì thế mà Bồ Tát đã thừa sự Chư Phật để cầu học tu tất cả pháp môn, cũng đều vì lợi ích tất cả chúng sanh, thế nên Bồ Tát dùng Bi điền làm đệ nhứt.

Có tật, nghĩa là lục căn không đầy đủ, trong 6 căn, tùy theo thiếu một căn thì chúng sanh ấy khổ não vô cùng, huống gì tứ đại chống trái nhau, trăm bệnh khổ não ép ngặt thân thể

Trăm bệnh, là thân tứ đại gồm có 440 thứ bệnh, nay chỉ nói trăm bệnh là lược nêu một đại trong tứ đại mà thôi. Như các bệnh khổ làm loạn tinh thần, không thể tạm yên, nên nói khổ não.

Cúng dường khiến cho lành bệnh, là chỉ người nuôi bệnh, tùy sức mình, cung cấp cho bệnh nhân cơm áo, thuốc men, giường nằm, v.v..., nếu mình không đủ sức, nên đi khuyến hóa xin người khác giúp.

Trong Luật Tứ Phần ghi: “Săn sóc bệnh được công đức khi:

1. Biết người bệnh món ăn nào nên ăn, món nào không nên ăn, nên thì cho ăn, ngược lại thì không cho ăn.
2. Không nhờm gớm nước dãi, phân và nước tiểu của người bệnh.
3. Có tâm từ mẫn, không vì cơm áo mà săn sóc bệnh.
4. Hay chế biến thuốc men cho người bệnh đến lúc lành hoặc mạng chung.
5. Hay nói pháp hoan hỷ cho người bệnh nghe, giúp thân họ được tăng trưởng pháp lành.

Tâm sân hận, là do ngày trước đối với người bệnh có hiềm khích, hoặc người bệnh hiềm trách sự cung cấp không vừa ý, từ đó sanh tâm sân hận, không vui, không thăm bệnh, trái với tâm bình đẳng của Bồ Tát là không phân biệt oán thân, không niệm nào xả bỏ chúng sanh cả. Nếu Phật tử có tâm trái bỏ như thế thì mắc tội, chẳng những đối với cha mẹ, sư tăng, người thân, mà ngay cả với người bệnh gặp nơi thành ấp, khi đi đường, nếu không săn sóc, chăm nuôi cũng mắc tội.

Nếu tự thân mình có bệnh, hoặc không có sức để giúp người bệnh vượt qua bệnh khổ, thì phải khởi tâm từ bi chú nguyện khiến họ được an vui, hoặc nhờ người khác hoặc khuyên người khác săn sóc bệnh nhân, hay nếu họ đã có người thân săn sóc, thì đều không mắc tội phạm.

Khế Kinh nêu rõ: “Người nhiều bệnh hoạn phải chết yểu, đều do đời trước gây nghiệp sát, duyên báo chưa đến, hay còn do những duyên khác hay chiêu cảm đến bệnh hoạn, như trong hàng đệ tử Phật, có Tôn giả Xá Lợi Phất, không vượt qua nổi khổ nhiều bệnh. Phật bảo: Vì ông nhiều đời khinh mạn Sư trưởng, Cha mẹ, không biết tôn kính cúng dường, nên phải chiêu cảm quả báo này.”

Luận Tỳ Ni Mẫu ghi: “Nếu cha mẹ nghèo khổ bần cùng, nên khuyên họ thọ Tam quy, Ngũ giớimười điều lành, sau mới cung cấp tài vật cho. Nếu không nghèo, tuy có thọ Tam qui, Ngũ giới, mà đem cung cấp tài vật thì không hợp pháp. Nếu thí cho người bệnh, người bị giam cầm, người mang thai, trẻ nhỏ, phải dùng từ tâm tùy nghi mà thí, nếu thí một cách lầm lẫn thì bị đọa.” Đây nói tất cả tài vật của người xuất gia, đều là do tín tâm đàn việt hỷ cúng cho Tăng, chẳng phải bậc phước điền thì không kham thọ, còn Bồ Tát tại gia thì tùy ý mà thí.

Luận Tỳ Bà Sa ghi: “Nếu người có hiếu, có thể khiến cho cha mẹ phát lòng tin kính ngôi Tam bảo, thọ Tam quy, Ngũ giới, tập tu thiền định để phát sanh trí tuệ, ấy gọi là báo ân Cha mẹ một cách chân thật.


Giới thứ 10
CHỨA KHÍ CỤ SÁT SANH

Phật tử, dù cho cha mẹ bị người khác giết cũng không được báo thù, huống gì lại đi giết hại tất cả chúng sanhPhật tử không được cất chứa các loại khí cụ sát sanh như : dao, gậy, cung tên, búa, giáo, cùng những đồ sát sanh như: chài, lưới, sập, bẫy, v.v... Nếu cố cất chứa Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Sát hại sanh vật thương tổn lòng từ bi, trái với tâm địa giới thể, trái với hạnh nguyện lợi sanh của Bồ Tát.

Mâu, như cái đảnh có 3 góc; tu mâu dài hai trượng; di mâu dài hai trượng bốn thước, dao trượng, v.v... đều là binh khí nên gọi là khí cụ chiến đấu. Võng la, tức là lưới, được làm bằng dây chì hoặc chỉ gai, dùng để bắt cá hoặc giăng bắt các loài cầm thú gọi là khí cụ sát sanh. Khi cụ chiến đấu thì hại người, khí cụ sát sanh thì hại vật, tất cả đều không nên cất chứa, nên nói “không được cất chứa” là vậy.

Thề không đội trời chung với kẻ giết hại cha mẹ mình là trái với hạnh từ bi bình đẳng của bậc Đại sĩ xuất gia, coi tất cả chúng sanh như cha mẹ mình, không nên để tâm báo thù.

Cất chứa đồ sát sanhtiêm nhiễm nghiệp sát, trái với tâm hiếu thuận của Bồ Tát. Các thứ lưới chài, bẩy sập, đều làm tổn thương sanh vật, cầm thú, giới của Phật tử xuất gia hay tại gia, Phật đều cấm. Đao, gậy, cung tên, búa giáo là binh khí bảo vệ đất nước, xưa cho phép Quốc vương, Vương tử, Tướng sĩ, dùng không hạn chế, còn người chưa có trách nhiệm giữ nước, không cho tự do cất chứa, nếu cất chứa là phạm tội.

Giới thứ 11

ĐI SỨ

Phật tử, không được vì quyền lợiác tâm mà đi thông sứ mạng cho hai nước hiệp hội, quân trận, đem binh đánh nhau làm cho vô lượng chúng sanh bị giết hại. Phật tử còn không được ra vào, qua lại trong quân trận, huống gì lại làm môi giới cho chiến tranh, nếu cố làm, Phật tử phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Bậc Đại sĩ phải làm sứ giả của Như Lai, lấy việc an vui khắp quần sanh làm sở nguyện, không nên làm sứ giả của địch quốc, khởi tâm rình tìm tốt xấu, hay dở để tính kế mưu mô, yêu sách chiến trận. Nếu giết hại chúng sanhtrái với thiện tâm, tâm từ bi, tâm an ủi chúng sanh của Bồ Tát

Bồ Tát quên mìnhlợi tha, nhớ nghĩ tất cả chúng sanh, không nên vì lợi dưỡng sanh ác tâm làm thông sứ hai nước, theo mệnh lệnh của hai vua, giết hại chúng sanh không phải ít. Nếu thuyết phục cho hai nước chấm dứt giao chiến, làm cho cõi nước an vui, cứu giúp dân chúng, đó mới là quyền nghi của Bồ Tát, sanh ra vô lượng công đức.

Kẻ gây tai ách cho nhân dân, gây tổn hại cho cõi nước gọi là “giặc”. Trong quân trận chỉ luận bàn phương pháp chinh phạt, sát hại địch thủ, hàng Bồ Tát nỡ nào nghe lời huyên náo ô uế, giày xéo tàn sát chúng sanh! Thanh văn lo tư lợi, Phật còn không cho, huống gì Bồ tát từ bi tâm lợi vật ư? 

Nếu dạy người khác chinh phạt hoặc muốn họ đánh nhau, đều thuộc về tội trọng, tùy theo mức độ sát sanh nhiều hay ít mà kết tội.


Giới thứ 12
BUÔN BÁN PHI PHÁP

Phật tử, không được buôn bán người lành, tôi trai, tớ gái, lục súc, quan tài ván cây, đồ đựng thây chết, nếu Phật tử cố ý tự buôn bán, hay dạy người khác buôn bán các thứ ấy, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Tham tiền của, làm tổn hại sanh vật, mất bản tâm từ bi của Bồ Tát, tổn thương pháp môn, chẳng phải hạnh lợi tha của Bồ Tát. Phật cấm Phật tử không được mua bán người lành, tôi trai, tớ gái, lục súc, thậm chí cả đồ đựng thây chết, hòm, quan tài cũng không được mua bán, vì các hình thức mua bándụng tâm tham cầu lợi, đều trái với hạnh từ bi lợi tha của Bồ Tát.

Nếu mua bán người tất nhiên gây nên khổ não biệt ly trong quyến thuộc họ, đẩy họ phải chịu cảnh tôi đòi hạ tiện, bị nguời hại, làm nô dịch cho người, còn bị đánh mắng khổ sở. Nếu mua bán súc vật, tất nhiên có sự chết chóc, nấu rang, nước sôi lửa bỏng, thiêu đốt thảm khóc. Nếu mua bán quan tài, tâm mong nhiều lợi tức, đó là ác tâm, vô tình muốn cho nhiều sinh linh phải chết. Phật cấm tất cả Tăng và tục đều không được mua bán như vậy, nếu cố ý làm là phạm, còn mua bán việc tầm thường, không tổn hại sinh vật, thì Phật không cấm.

Kinh Ưu Bà Tắc chép: “Việc mua bán được tiền của, nếu chia làm 3 phần để: 

1. Cúng Tam bảo
2. Cung cấp cho cha mẹ
3. Lo cho thân mình, vợ con, quyến thuộc
Thì đó là mua bán đúng pháp.”

Luận Tát Bà Đa ghi: “Thà làm đồ tể không làm nghề buôn bán.”, vì sao? Vì đồ tể tuy sát hại chúng sanh nhưng không dối gạt. Không luận là đạo hay tục, hiền hay ngu, trì giới hay phá giới, không có tâm dối gạt, nếu buôn bán thường ôm lòng dối gạt. Như mua bán gạo thóc, tâm thường tính toán mong được lợi tức cao, tất nhiên gây ra sự tốn kém cho người khác, đó là ác tâm. Tuy luật Phật không chế định điều này cho Phật tử tại gia, nhưng là Phật tử thì không được dối gạt người khác.

Phật đã dạy Phật tử phải nói lời chân thật. Nếu Phật tử không nói lời chân thật, đong đếm, cân đo không đủ số lượng, dối trá gạt người, đều mắc tội vọng ngữ, dối gạt người khác, khi được vật đem về mình rồi, mắc tội lường gạt, đồng như tội trộm.

Dạy người có 2 cách: Dạy người thay mình làm, hoặc dạy người tự làm, đều phạm. 

Mua bán súc sanh, khiến cho chúng bị giết chết, hoặc khiến cho người ta bị khổ ép ngặt chết, đều phạm tội trọng. Nếu thay người mua bán súc sanh, lén giấu tiền của trị giá 5 tiền, thì phạm cả 2 tội là sát sanhtrộm cắp. Nếu thay người mua bán quan tài và dụ dỗ mua bán nô tỳ, lén giấu 5 tiền, đều mắc tội trộm. Nếu dùng tiền bán quan tài và gỗ ván đựng thây chết, đem thí cho người nghèo khó thì được phước vô lượng. Do lòng từ bi cứu giúp, tâm không cầu lợi, nên không phạm.


Giới thứ 13
HỦY BÁNG

Nếu Phật tửác tâm, đối với người tốt, người hiền lương, Pháp sư, Sư tăng hoặc Quốc vương và quí nhân, vốn vô sự mà hủy báng thì phạm tội thất nghịch, mười giới trọng. Với cha mẹ, anh em, lục thân phải có lòng từ bi, lòng hiếu thuận, nếu khởi tâm trái nghịch, hại họ, làm cho họ gặp tai ương, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Khởi ác niệm hủy nhục người khác, không có tâm hiếu thuận, mất hạnh từ bi chẳng phải bổn hoài hoằng nguyện lợi sanh, đại nguyện hộ trì chánh pháp của Bồ TátHiểu rõ ác tâm, chẳng phải thiện, nên làm lợi ích cho người khác, do tham sân muốn phá hoại công đức danh lợi của người khác.

Vô sự, nghĩa là thực sự người ấy không có sai phạm, cũng không căn cứ thấy, nghe, nghi mà lại vọng sanh phỉ báng chê bai. 

Người hiền lương, là người hiền có đức hạnh, thuần thiện, từ ái muôn vật. Pháp sư là thầy dạy tuyên dương Tam tạng Thánh giáo của Như LaiSư tăng tức Hòa thượng A Xà Lê, cho đến vị (mà) mình y chỉ một đêm ở, hoặc thọ học một câu chú, một bài kệ, nghe một lời nói pháp, đều gọi là A Xà Lê. Tăng là chúng Tăng. Quí nhân là Tam công, trăm quan. Những vị trên, trước đã thọ giới của Phật, nếu phỉ báng người thọ giới pháp, thì phạm tội khinh cấu. Nếu chỉ lỗi và phỉ báng người chưa thọ đại giới, không luận là có căn cứ hay vô căn cứ, thì phạm trọng tội.

Kinh chép: “Các bậc thiện hữu tri thức trong thiên hạ, không ai bằng Sư trưởngNếu có thể trọn đời hành đạo, thì chỉ là tự lợi, chưa thể báo đáp được ân Sư trưởngCha mẹ tuy có công sanh thành dưỡng dục, dạy bảo nhưng không thể đưa ta ra khỏi ba đường ác, Sư trưởng mới là người dạy dỗ chỉ bảo tấn tu, giúp ta xa lìa khổ sanh tử, được an vui Niết Bàn.”

Những người được Sư trưởng dạy bảo mà không chịu tin thọ, cho đến khởi lời nói ác, thốt lời phỉ báng, sanh ra phải quấy khiến Phật pháp suy vi, hủy báng Sư trưởng, ghét bỏ và tật đố với Sư trưởng, gọi là Đại ma trong Phật pháp, là hột giống của địa ngục.

Kinh Thiện Cung Kính chép: “Nếu đối với Pháp sư khởi tâm không cung kính, nói ra những gì tốt xấu của Sư tăng, đó là kẻ ngu si, nên đúng như pháp mà trị tội. Sư thật sự có lỗi còn không được nói, huống gì không có lỗi. Nếu người ở bên thầy mà không có tâm cung kính, sẽ bị đọa vào địa ngục tên là Thôi Phốc, một thân có bốn cái đầu, thân thể đều cháy hừng hực như lửa lớn bừng cháy rất mạnh, không lúc nào dứt. Hơn thế nữa, lại có móc câu, độc trùng kéo lưỡi người tội. Khi ra khỏi địa ngục, người này phải sanh vào loài súc sanh, thường ăn nuốt phẩn tiểu. Sau khi xả thân kia rồi, tuy được sanh làm người, phải ở nơi biên địa hạ tiện, da chẳng giống người, bị người khác khinh rẻ, phỉ báng, lăng nhục, lìa xa Phật pháp, nếu là Tăng thì không có trí tuệ. Từ nơi đó, sau khi xả thân rồi, trở lại đọa vào địa ngục chịu vô biên khổ não.”

Kinh Thần Biến chép: “Phật bảo Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát: Giả sử có người đối với hằng hà sa tháp miếu của Chư Phật, họ đều thiêu đốt phá hủy thì tội cũng không nặng bằng như đối với Bồ Tát tin hiểu Đại thừa mà khởi một niệm sân giận, lại thêm đánh mắng sỉ nhục, hoặc hủy báng, Bồ Tát này phải trải qua vô lượng A Tăng kỳ số kiếpđịa ngục.”

Trong Luận Bồ Tát ghi: “Phật dạy nếu Bồ Tát khởi tâm lấn hiếp người khác, ta nói người này đọa địa ngục không có hạn lượng, vì sao? Vì nếu Bồ Tát đối với vị Pháp sư, khởi tâm hủy báng chê bai, chính là xa lìa Chư Phật, hủy báng chánh phápTỳ kheo, Tăng. Hơn nữa, nếu khinh các vị Pháp sư nói pháp, không khởi tâm tôn trọng, chính đối với Chư Phật Như Lai cũng không sanh tâm tôn trọng.” Lại nữa, trong kinh Phát Giác Tịnh Tâm ghi: “Có 60 bậc sơ phát tâm Bồ Tát, đến dưới chân đức Thế Tôn khóc lóc thảm thiết, bạch Phật rằng: Chúng con nghiệp chướng sâu dày, xin đức Thế Tôn thương xót, vì chúng con phân biệt nói rõ, để chúng con biết rõ nguồn gốc tội lỗi không có tạo ác nữa. Phật dạy: Vào thời quá khứ trong pháp hội của đức Phật Câu Lưu Tôn, các ông là người xuất gia học đạo, thọ trì cấm giới, học rộng nghe nhiều, công đức tu hạnh đầu đà đầy đủ, nhưng các ông lại buông lung tâm ý, lần lần suy giảm công đức tu hành. Khi ấy có hai vị Tỳ kheo Pháp sư, bị các ông vu khống dâm dục để hủy báng, nhẫn đến các vị đàn việt thân hữu Pháp sư, các ông cũng phá hoạily gián, bằng cách nói hai lưỡi để hủy nhục, khiến cho người khác sanh nghi hoặc, không sanh tín tâm. Khi có người kính tin tùy thuận Pháp sư, các ông làm cho họ đoạn mất căn lành. Do nghiệp chướng đã tạo, nên suốt thời gian 62000 năm, các ông bị đọa trong địa ngục A Tỳ, rồi 40000 năm trong địa ngục Đẳng Hoạt, 30000 năm trong địa ngục Hắc Thằng, 800000 năm trong địa ngục nóng. Sau khi làm người, trong 500 đời, sanh ra bị mù không thấy đường, ám độn tối dốt, quên mất bản tâm, đóng kín cửa lành, thường bị người khinh khi, ghét bỏ, hủy nhục chỉ trích chê bai, thường sanh vào chốn biên địa nghèo nàn khổ sở. Từ đây, khi các ông xả mạng rồi, khoảng 100 năm sau thời kỳ chánh pháp đã diệt hết, các ông lại sanh làm người ở nơi cõi nước nhiều hung dữ, con người ở đó bần cùng hạ tiện, bị người khác phỉ báng, quên mất bản tâm. Sau 500 năm nữa, tất cả nghiệp chướng mới hết. Bấy giờ 60 vị Bồ Tát nghe Phật nói lời này rồi, tự xét lòng mình, lo sợ rợn tóc gáy, hướng về Phật cầu xin sám hối, lập đại thệ nguyện, ở bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu cũng không còn dám khởi ra các lỗi. Khi ấy đức Thế Tôn nói kệ rằng:

 Chớ ở bên người thấy lỗi người
Chớ nói phải quấy của người ta
Đừng đắm việc người, lo mình tịnh
Phải xả bỏ ngay những lời ác
Xả bỏ, rời xa nơi ồn náo
Tỳ kheo phi pháp chớ thân gần
Tu hạnh đầu đà, Phật từng ngợi
Chẳng đắm lợi nên được Niết bàn.

Lục thân có hai dạng:

1. Cha mẹ ruột của mình, lục thân trong anh em chú bác.
2. Bậc Đại sĩ thường niệm tất cả chúng sanhlục thân của mình, do tâm hiếu thuận nên không có việc nghịch báng, do lòng từ bi nên không bị đọa vào nơi khổ não, không như ý.

Chỗ không như ý, nghĩa là do lỗi rao bày cái xấu của người, nên thấy xấu hổ, ngày đêm không vui, thậm chí họ còn tự hại, vùi lấp thanh danh của người kia, do việc không vừa lòng, luôn luôn buồn rầu, nên nói rằng đọa vào chỗ không như ý.

Giới trước nói tự khen mình, hủy nhục người khác và hủy báng Tam bảo, từ chỗ hủy báng người khác trong đó gồm cả ý tự khen mình, nên phạm tội nặng. Giới này chỉ riêng hủy báng người khác, thuộc về phạm tội khinh cấu. Trước gồm chung cả hủy báng Phật pháp, nay chỉ hủy báng Tăng đã mắc khổ báo vô cùng, huống gì hủy báng người có ân đức. Thí như xưa có một bé gái 7 tuổi, chê cười một vị Tỳ kheo tiếng nói như chim, mà phải 500 đời làm thân chim mù mắt. Người mẹ của bé gái ấy nghe Phật nói, bèn đem đứa con đến chỗ Phật cầu xin sám hối, vẫn không khỏi tội. Do tâm hủy báng là tánh tội, bất luận là thọ giới hay không thọ giới, đem tâm hủy báng đều chiêu cảm lấy ác báo. Nên Kinh chép: “Giữ miệng như giữ bình, giữ ý như giữ thành.”

Kinh Báo Ân chép: “Người đời ở thế gian, họa từ miệng sanh ra, mạnh hơn lửa dữ. Lửa cháy chỉ thiêu đốt tài sản mà thôi, còn lời nói ác thiêu đốt công đức nhiều đời. Lửa dữ ở thế gian chỉ thiêu đốt tiền của tài vật, còn ác khẩu thiêu đốt Thất thánh tài. Vì thế, tất cả chúng sanh thường phải dè dặt giữ miệng, lưỡi trong miệng như búa bén chặt dứt cái họa diệt thân. Vì thế, người xưa bảo rằng, môi như cung nỏ, tâm như dây cung, lời nói như mũi tên, bắn mãi trong đêm tối, đâu thể làm tổn thương người, chỉ tự bôi tro trát bụi vào mình. Nên Địch Ba Ly, thân sống phải vùi lấp nơi địa ngục, đều do thốt ra những lời ác mà phải chịu ương báo ở địa ngụcMọi người phải biết, dù Tăng hay tục, phải sớm phản tỉnh, thận trọng tâm mình, giữ kỹ miệng, đừng để phải mang họa tai ương nhiều kiếp, có ăn năn hối lỗi cũng không kịp.


Giới thứ 14
PHÓNG HỎA THIÊU ĐỐT

Nếu Phật tửác tâm phóng hỏa thiêu đốt núi rừng, đồng nội, từ tháng 4 đến tháng 9, phóng hỏa cháy lan đến thành ấp, nhà cửa, tăng phường, ruộng vườn của dân và cung điện của quỉ thần, tài vật của quan chức. Tất cả chỗ có sanh vật, không được thiêu đốt, nếu cố ý thiêu đốt, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Kinh Lăng Nghiêm chép: “Tỳ kheo và các Bồ Tát thanh tịnh đi trên đường tắt còn không dẫm lên cỏ tươi, huống gì lại dùng lửa thiêu đốt, sát hại sanh vật hữu tình và vô tình, lỗi ấy chẳng phải nhỏ.”

Ác tâmtâm bất thiện, tâm sân hận đối với người khác, cho đến các loài cầm thú ở trong rừng còn phóng hỏa để thiêu đốt.

Từ tháng 4 đến tháng 9, căn cứ vào địa danh phương Bắc thì đây là thời gian sinh sản của các loài côn trùng, cầm thú. Nếu ở phương Nam, khí hậu ấm áp hơn, mùa sinh sản của các loài côn trùng bắt đầu vào Đông – Xuân, và chỉ bị hạn chế vào tháng 12, khi thời tiết quá lạnh.

Núi rừng, đồng nội, là nói chung, nhà cửa, thành ấp, tăng phường, v.v... là nói riêng, nghĩa là tuy họ không có ác tâm thiêu đốt nhà cửa, nhưng do thiêu đốt núi rừng, tai họa lan đến nhà cửa của dân. Ruộng vườn là chỗ gieo trồng sanh ra các thứ lúa gạo ngũ cốc. Tài vật của quỉ thần, quan chức vốn là quan vật (luận về quan vật, lẽ ra có tài vật của vua, nhưng nói đến thành ấp là đã nói đến tài vật của vua quan rồi). Trong Luận nói: “Tất cả cỏ cây là chỗ ở của quỉ thần, vì các quỉ thần đều nương nơi đây để làm cung điện, nhà cửa, nên Phật cấm Tỳ kheo không được phá hoại.” Hoặc nơi đồng trống, núi rừng, đồng nội, miếu thờ quỉ thần, cho đến cây cối. Các thứ đồ cúng đều là vật thuộc quỉ thần, như cung đình, hồ, miếu, trúc, cây, v.v... Nếu xin mà chưa cho liền chặt phá, liền bị chìm thuyền.

Tất cả vật như tường, vách, hàng rào, đất, củi mục, đều có côn trùng nương ở, nếu vì muốn trừ việc hổ lang rắn độc làm hại, thì Phật khai cho hàng tại giaCần phải quán sát thời gian, cân nhắc cẩn thận, nếu không thiêu, không gây thương tổn cho sanh vật thì không phạm.

Giới này nói về việc thiêu đốt núi rừng, nhưng không có tâm làm tổn thương sanh mạng nên phạm tội khinh cấu. Nếu do sân tâm, ác tâm mà thiêu đốt, gây tổn hại sanh vật, tùy theo số lượng sanh vật bị chết, mà kết tội. Có một con quỉ hỏi ngài Mục Kiền Liên rằng: “Tôi suốt một đời đến nay, thường bị hoạn nạn, thiêu đốt, đói khát, khi thấy sông Hằng, muốn vào trong đó để trừ nóng bức và sự đói khát, nhưng chạm vào nước thì thân thể bị tiêu hoại, da thịt lìa xương, uống vào một giọt nước thì ngũ tạng tiêu hoại, đau đớn không thể nói, không biết do tội gì mà gây nên báo này?”

Ngài Mục Kiền Liên đáp: “Khi ông làm người, ưa thiêu đốt núi rừng, sông ngòi, tàn hại chúng sanh, nên nay phải chịu họa báo.”

Xưa có một vị tiều phu, thấy lửa đốt núi rừng, bèn dập tắt khiến cho dứt, thân sau được phước báo làm Phạm Thiên vương, thọ mạng trụ hơn một kiếp. Cứu lửa mà còn được thắng báo như thế, huống gì tâm ác thiêu đốt núi rừng, tội đâu tránh khỏi!


Giới thứ 15
DẠY GIÁO LÝ NGOÀI ĐẠI THỪA

Phật tử, khi gặp đệ tử Phật, tất cả thiện tri thức, ngoại đạo, ác nhân, đều phải khuyên bảo họ thọ trì kinh luật Đại thừa, nên giảng cho hiểu nghĩa lý, khiến họ phát Bồ Đề Tâm, Thập Phát thú tâm, Thập Trưởng dưỡng tâm, Thập Kim cang tâm, trong ba mươi tâm ấy, giảng cho họ hiểu pháp dụng tuần tự thứ lớp của mỗi pháp. Nếu Phật tử sanh ác tâm, sân tâm, đem kinh luật của Thanh văn Nhị thừa, cùng các bộ luận của ngoại đạo tà kiến dạy cho họ, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Ngoài giáo lý Đại thừa tức là tà giáo hoặc Nhị thừaNgoại đạotà kiếnBồ Tát học Đại thừa Tâm địa pháp môn, mà không tự mình đem giáo pháp đã thọ để dạy người, ngược lại đem ngoại đạo tà nhơn, Nhị thừa tự lợi thiên kiến dạy người thì đọa vào đường tà, bỏ cái hạnh lợi tha, thì chẳng phải tâm từ thiện, tâm Đại thừa của Đại sĩĐệ tử Phật là nội chúng, do học nội giáo của Phật. Ngoại đạongoại chúng, do học tập ngoại giáoLục thân tri thức bao gồm cả nội và ngoại chúng, vì họ có học nội giáongoại giáo.

Ác nhơn là ngoại đạo tu pháp bất thiện, đem giáo pháp không nhơn quả để dạy chúng sanh, khiến cho họ lầm lẫn đọa vào ba đường ác và Nhứt-xiển-đề, thường không bao giờ ra khỏi.

Khế kinh chép: “Chúng sanh khôngtà kiến, nhưng do không may gặp tà sư ác hữu mà thành tà kiến, nên phải lầm đọa vào ác đạo.” Thiện tri thức, là người bạn tốt hiểu biết một cách tinh tường, chẳng phải ông thầy mô phạm của pháp môn.

Dù là hàng chánh đạo hay ngoại đạo, đều phải dạy cho họ hiểu nghĩa lý, sau dạy cho họ phát Bồ đề tâmNếu không thọ trì thì đâu biết diệu lý ý vị Đại thừa, nghĩa lý không thông đạt thì sự phát tâm chẳng phải chánh pháp, tâm Bồ đề đã không phát thì chỗ hiểu biết chỉ là dối luống. Khi nào hành giả đạt được hạnh giải tương ứng, mới hy vọng chứng ngộ.

Ba mươi tâm này là hạnh ban đầu vào thánh vị, nên trước cần phải khai thị, rồi từ sự phát tâm đến kim cang tâm, mỗi mỗi vì họ mà giảng nói, khiến cho họ biết để tấn tu công dụng, nối dòng quả vị Tam bảo.
Ác tâm là tự khởi niệm bất thiện khiến người vào đường tà.

Sân tâm là do có sự xúc não mà sanh tâm sân nộ, dạy bảo khiến họ vào đường tà, không chánh trực, nghĩa là pháp đáng dạy thì không dạy, pháp không đáng dạy thì dạy, họ muốn học giáo pháp Đại thừatrái lại dạy cho họ Tiểu thừa.

Do sân giận sanh tâm ác, không dùng chánh lý khai đạo, mà lại dạy giáo lý Nhị thừa Tứ A Hàm, Ngũ Thiên Thất Tụ, Tăng Khư Luận là những thứ ngoại đạo tà kiến, (trong Luận Đại Trí Độ ghi: “Ở Tây Vức, kinh và luật của ngoại đạo, có 18 thứ, đó là Tệ Ca Lan Na, Tăng Khư, Vi Đà, v.v...”)

Kim Cang Bồ Đề Tâm Luận ghi: “Hành giả biết tất cả hữu tình, đều ở trong tánh Như Lai Tạng, đều kham nhận an trú Vô thượng Bồ đề, vì thế không đem pháp của Nhị thừa độ thoát cho họ.” Hàng Thanh văn chấp pháp Tứ đế, Duyên giác chấp pháp 12 nhơn duyên. Do biết Tứ đại, Ngũ ấm rốt ráo phải hoại diệt, nên khởi tâm nhàm chán. Vì muốn phá tâm chấp của chúng sanh, siêng năng cần mẫn tu pháp này, mong chứng quả vị Vô thượngNhị thừa thú hướng đến Niết bàn tịch tịnh, cho là rốt ráo, tuy đã phá được pháp nhơn không, nhưng còn chấp có pháp tu chứng, chỉ tĩnh ý thức, không biết gì khác, lâu ngày thành tựu quả vị, để rồi đốt thân diệt trí, thú hướng đến Niết bàn, như hư không vắng lặng thường tịch. Nơi đây có định tánh, khó có thể phát sanh, cần phải đợi số kiếp mãn rồi, mới có thể phát sanh tâm tiến hơn lên. Còn không định tánh, không hạn luận kiếp số, gặp duyên là hồi tâm hướng Đại, ra khỏi Hóa thành, vượt khỏi tam giới, đó là nhờ nhiều đời tin sâu Phật pháp, liền được Chư Phật Bồ Tát, dùng phương tiện, nương đó phát Đại tâm. Trước hết từ Thập tín trải qua các cấp vị thứ lớp, qua vô số kiếp làm hạnh khổ khó làm, mới được thành Phật. Đã biết hàng Thanh văn, Duyên giác trí tuệ còn cạn hẹp, cũng không nên ham ưa. Hơn nữa, các ngoại đạo, v.v.. luyến tiếc thân mạng kia, hoặc trợ giúp thuốc men, nhằm tạo cảnh giới thiên cung, trụ nơi thiền định hoặc sanh trở lại cõi trời cho là cứu cánhHành giả nên quán sát những việc kia, nếu nghiệp lực đã hết, chưa lìa 3 cõi, phiền não vẫn còn, tai ương nhiều đời chưa dứt, ác niệm lại khởi, liền chìm đắm trong biển khổ, khó có thể ra khỏi. Phải biết pháp của ngoại đạo cũng đồng với huyễn mộng, ánh lửa. Vì thế, nếu chẳng phải là ác tâm thì không nên dùng tà giáo dạy học.

Nếu đem tâm lành đáp ứng đến sự mong muốn khiến cho họ đạt kết quả tốt, dùng phương tiện quyền xảo dẫn dắt họ qua pháp Tiểu thừa, sau khiến họ hướng tới Đại thừa, hoặc đem ngoại giáo dẫn họ vào nội giáo, đó gọi là trước dùng sự ham muốn để dẫn dắt, sau dùng trí để dứt các khổ thì không phạm. Kinh Hoa Nghiêm chép: “Ngũ địa Bồ Tát học trăm công kỹ nghệ để dẫn dụ vào Phật đạo.” Đây là Đại sĩ khéo léo dùng pháp Tứ nhiếp, để nhiếp thọ chúng sanh, chẳng phải ác tâm sân hận mà dạy trái kinh luật Đại thừa.

Kinh Anh Lạc chép: “Bồ Tát khéo dùng sức phương tiện vào trong dị học của ngoại đạo, để tùy thuận pháp của họ, thuận việc cầu cúng, quán sát chí thú của họ, mục đích để độ thoát họ, khiến cho họ gieo trồng vô lượng phước đức. Nếu Bồ Tát vào đó mà sanh tâm ưa đắm pháp dị học, thì thuộc về Tiểu giới trái với Đại thừa, hướng đến Tiểu thừa, không đúng với hạnh nguyện lợi tha của Đại sĩ.


Giới thứ 16
VÌ LỢI NÓI PHÁP LỘN XỘN

Phật tử, phải tận tâm học kinh luật Oai Nghi Đại thừa, thông hiểu nghĩa lý. Khi thấy có hàng tân học Bồ Tát từ xa trăm dặm, ngàn dặm đến cầu học kinh luật Đại thừa, nên đúng như pháp mà nói, trước giảng giải tất cả khổ hạnh như đốt thân,đốt cánh tay, đốt ngón tay, nếu không đốt thân, cánh tay, ngón tay cúng dường chư Phật, thì không phải hàng Bồ Tát xuất gia. Nhẫn đến xả thịt nơi tay chân, thân mình mà bố thí cho cọp đói, sư tử đói, v.v...và tất cả các loài quỷ đói, rồi sau mới tuần tự theo căn cơ của mỗi người mà giảng chánh pháp cho hàng tân học ấy được mở thông tâm ý. Nếu Phật tửquyền lợi, giảng kinh luật một cách điên đảo, văn tự lộn xộn, không có thứ lớp trước sau, thuyết pháptính cách hủy báng Tam bảo, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích;

Nếu không có tâm vì lợi dưỡngthuyết kinh văn một cách lộn xộn điên đảo, không riêng tư, nhưng làm khuất lấp nghĩa lý nhiệm mầu của giáo lý Đại thừa, thì chẳng phải là phương pháp huấn thọ, mất phương pháp sư phạm, còn vì lợi mà tiếc pháp, thật là trái với hạnh nguyện hoằng pháp của Bồ Tát.

Hảo tâm là chẳng phải tâm xấu vì lợi dưỡngBồ Tát vốn phát đại tâm thể hiện tinh thần tự lợilợi tha, nhưng muốn lợi tha trước hết phải tự lợi nên cần phải học Oai Nghi Kinh Luật, trong thì được chánh tâm, ngoài bày đủ oai nghi. Nên kinh chép: “Trì Tịnh giới thì phạm hạnh đầy đủ, đường đường Tăng tướng. Một vị thầy đầy đủ oai đứcuy nghi thì tất nhiên khiến cho người nể sợ, siêng năng tinh nhiếp thân tâm hợp thời, dung mạo khả quan thật là nghiêm chỉnh, đáng cho người kính trọng. Đây là đạo phẩm xuất gia, là bậc mô phạm của trời người. Bên trong ẩn chứa đức Sư tử, bên ngoài biểu hiện nghi dung của Tượng vương, thì nhận được sự tán thán của người, trời và long thần khâm phục.”

Khai giảng ý nghĩa vi diệu, khai là bày rõ, khiến cho người khác thông hiểu, không bị trở ngại, giải là khế ngộ không còn tâm nghi ngờ. Do thông đạt ý vị thâm sâu, khế ngộ ý vị nghĩa lý tông thú của kinh luật, nên mới thể hiện hạnh lợi tha, mới có thể cảm được sự lợi ích, nếu không thì chính mình cũng đã lầm lẫn và khiến cho người lầm lẫn theo.

Đúng như pháp mà nói, nghĩa là tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, do ba nghiệp thân, khẩu, ý tạo nghiệp ác, ngũ nghịch tội, nay muốn thâm nhập giáo pháp Đại thừa, trước hết phải dạy cho họ, để họ sám hối tội. Song các tội trước do ba nghiệp sanh ra, cần phải từ ba nghiệpsám trừ, nên khiến họ thiêu đốt ngón tay để diệt tội kia. Khi tội diệt hết thì chướng ngại tiêu trừ, nghe pháp liền được tâm khai, ý hiểu, chứ không phải Phật thọ nhận sự cung kính này, khiến cho chúng sanh sanh đại thống khổ. Huống gì tâm sám hối, đâu mạnh mẽ bằng tâm tạo tội, nếu có thể đốt chân, đốt tay, thì tâm tội tiêu dứt không còn.

Lại nữa, do chúng sanh đời đời tham lam bỏn xẻn, nên không có thể giải thoát khỏi con đường sanh tử, nay khiến họ xả thân mạng làm món ăn cho các quỷ thú, tuy tổn mình làm lợi cho chúng sanh, nhưng đó là bổn hoài của bậc Đại sĩ. Như Vương tử Ma Ha Tát Đỏa, xưa đem thân hiến cho cọp đói, chí thành cầu đạo chánh giác. Nên kinh chép: “Tất cả Đại địa, bất cứ chổ nào dù nhỏ bằng mũi kim châm, không nơi nào mà không có đức Như Lai xả thân mạng.” Huống gì thân tâm ngũ uẩn này vốn tự thể không tịch, không có Ngã và Ngã sởChúng sanh do không liễu ngộ, vọng chấp Ngã, nay muốn khiến cho họ thấu đạt ngũ uẩn thân vốn không, xả bỏ nó như bỏ giày rách, thế nên, trước vì họ nói các hạnh khổ để mở rộng tâm trí giác ngộ và tâm Bồ đề vững chắc, nguyện cầu giải thoát kiên cố, tỏ ngộ ngũ uẩn không thật, xa lìa Ngã chấp, bước đầu tấn tu trong sáu độ là Đàn Ba-la-mật (bố thí), trên cúng dường chư Phật, dưới bố thí chúng sanh, thành tựu Kính điềnBi điền, đó là con đường vào Đại đạo, sau mỗi mỗi theo thứ lớp nói chánh pháp ba mươi tâm (thập trụ, thập hạnhthập hồi hướng), khiến cho tâm khai mở thông sáng, ý được giác ngộ, thì chứng đắc quả vị không khó. Đây là thuận chánh lý mà nói, không nói lộn xộn, mất thứ lớp.

Nay không nói Bồ Tát tại gia, vì vua tôi có Quốc chánh, sĩ thứ ắt có cung cách tại gia, nước nhà thoát được, bốn đại đâu thể quên. Phàm phu sơ học dù chưa được tánh địa, chưa sanh huệ giải, chưa xả được thân , nhưng việc khổ hạnh không thể không biết.

Hỏi: Đã xả thân mình rồi, lấy ai thuyết pháp giáo hóa cho chúng sanh?

Đáp: Đây muốn nói thân còn không tiếc, huống gì cầu mong lợi dưỡng mà nói pháp một cách điên đảo, cũng muốn nói rằng trước thí món ăn, khiến cho họ sanh tâm ham vui, sau được nghe pháp thì pháp hỷ sung mãn. Như ngài Xá Lợi Phất đem cơm dư bố thí cho con chó đói, khiến cho nó dứt khổ đói khát, tâm được an vui, rồi sau vì nó nói pháp yếu, sau khi chó ấy mạng chung, sanh vào nhà Bà-la-môn, tu hành đến thành quả A La Hán.

Nếu trước có hứa thí cho và sau được nghe pháp rồi mới xả thân mạng, đây chính là Tài và Pháp, cả hai đều thí, mới xứng là bổn tâm của bậc Đại sĩ, đâu có thể vì tài lợi mà tiếc lẫn pháp, thật là trái với hạnh nguyện của Bồ Tát.

Đoạn văn này chia làm ba phần:
1. Vì lợi dưỡng, nói một cách không thuận chánh lý, còn có tâm lẫn tiếc.
2. Vì lợi dưỡng, nói một cách điên đảo lộn xộn, không có thứ lớp trước sau, cãi sửa văn nghĩa kinh luật, trước sau không thứ lớp, không rõ ràng.
3. Vì lợi dưỡng hủy báng giáo pháp Đại thừa, trái bổn nguyên tâm địa của Phật, trái nghĩa lý kinh điển, tông thú Đại thừa, đây là hủy báng Tam bảo.

Như mười giới trọng trước, do hủy báng Tam bảo nên kết tội trọng, nay chỉ giấu giếm, đáp bậy giảng bừa, nên phạm tội khinh, cảm lấy báo quả như Pháp sư ngồi tòa cao trong Kinh Tăng Hộ, cần nên xét kỹ.


Giới thứ 17
CẬY THẾ LỰC KHUYÊN GÓP

Nếu Phật tử tự mình vì việc ăn uống, tiền của, lợi dưỡng, danh dự mà thân cận Quốc vương, Vương tử cùng các quan, nương quyền, cậy thế bức người để lấy tiền của hoặc dạy người khác cầu lợi như vậy. Tất cả sự cầu lợi ấy gọi là ác cầu, đa cầu, đều không có lòng từ bi, lòng hiếu thuận, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Tự tâm là chẳng phải vì mọi người mà làm, mục đíchăn uống cá nhân, v.v..., việc làm đó là trái đạo, dù việc làm quên mình vì chúng cũng không ỷ thế cậy thần. Tuy quên lợi cá nhân nhưng cũng không nên cầu tiếng khen. Từ tâm của bậc Đại sĩthương xót những người bần cùng cô quả, thường suy nghĩ ban ân cho người khác, coi tất cả chúng sanh như Cha mẹ mình, thường nên khiêm cung từ tốn, dùng đạo từ hiếu để tu, đâu phải nương cậy thế lực Vua quan hào quý, phi lý để tìm cầu lợi dưỡng. Thậm chí còn biểu hiện thế lực để áp bức đánh đập, áp bức để lấy tài vật. Lại lôi kéo thêm nhiều thống khổ, khiến cho người khác hành động không thuận với chánh đạo. Tất cả sự cầu lợi như thế là bất thiện nên gọi là ác cầu, tìm cầu không biết đủ. Người tu hành phải thiểu dục tri túc, nếu không như thế là đa cầu. Hoặc dạy người khác ỷ thế, cậy quyền xin cho mình, rồi tự mình đòi lấy, hoặc giả mượn sắc lịnh, hoặc truyền thế lực hào tộc, tất cả đều phạm.



Giới thứ 18
KHÔNG HIỂU MÀ LÀM THẦY TRUYỀN GIỚI

Phật tử phải học mười hai phần kinh, thường tụng giới mỗi ngày sáu thời, nghiêm trì Bồ Tát giới, hiểu rõ lý tính, Phật tính của giới. Nếu Phật tử không hiểu một kệ, một câu cùng nhân duyên của giới luật mà dối rằng thông hiểu, đó chính là dối gạt mình và cũng dối gạt người khác. Không hiểu một pháp, không biết một luật mà lại đi làm thầy truyền giới cho người, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Làm bậc thầy mô phạm trước hết phải học Tam Tạng giáo điển, thông suốt mười hai phần kinh, làu thông giới luật Bồ Tát, y vào giới luật hành trì, thâm hiểu nghĩa lý của luật, khế hợp bổn nguyên trung đạo và tánh tông Phật tánh, khiến cho người khác tránh khỏi lầm lẫn, rớt vào Thiên không Niết bàn của hàng Thanh văn và tánh vọng chấp Đoạn, Thường của ngoại đạoKinh Niết Bàn chép: “Phật tánh chính là Đệ nhứt nghĩa khôngĐệ nhứt nghĩa không còn gọi là Trung đạo, là Phật tánh, là Đại Niết bàn.”

Mỗi ngày sáu thời (ngày ba thời, đêm ba thời) là ngày đêm chuyên cần tinh tấn đủ sáu thời, tinh chuyên tụng tập cho thuần thục thông làu, hiểu rõ cùng tận nghĩa thú, tham cứu tìm tòi nghĩa vị mười hai phần kinh. Dù đã thông làu, nhưng việc tụng, đọc hàng ngày cũng không bỏ qua, hàng Thiên Long bát bộ được nghe càng thêm lợi ích. Như Ngài Khuy Cơ mỗi ngày tụng một biến Giới Kinh và Thượng Sanh Kinh.

Mười hai phần kinh ấy là:
1. Trường hàng: (Trung Hoa dịch là Khế kinh) phàm tất cả kinh Như Lai nói ra là văn trường hàng, văn xuôi ấy vậy.
2. Kỳ dạ: (Trung Hoa dịch là Trùng tụng) là tóm yếu văn trường hàng thành kệ tụng.
3. Thọ ký: Phật vì hàng đệ tử Tam thừathọ ký cho họ.
4. Già đà: (Trung Hoa dịch là Cô Khởi) là chẳng phải đọc lại văn trường hàngđộc lập nói ra gọi là kệ tụng.
5. Ưu đà già: (Trung Hoa dịch là Vô Vấn tự thuyết) nghĩa là không đợi người thỉnh hỏi, mà Phật tự nói (như Kinh Di Đà chẳng hạn)
6. Ni đà gia: (Trung Hoa dịch là Nhơn duyên)
7. Bổn sanh: Nói về nhơn hạnh của Bồ Tát, các việc xưa đã làm.
8. Bổn sự: Nói những việc các hàng Thanh văn trước đã làm/
9. Phương đẳng: Cũng gọi là Phương quảng, các căn cơ được nghe đều được ích lợi gọi là Phương; tứ giáo đều nói gọi là Đẳng. Lại nửa, chánh lý là Phương, bao la gọi là Quảng, là nghĩa lý của kinh Đại thừa Phương Đẳng rộng lớn như hư không.
10. Vị tằng hữu: Nói công đức của Tam bảo thật là ít có.
11. Thí dụ: Vì hàng Độn căn, phải mượn thí dụ để mô tả cho họ hiểu
12. Luận nghị: Giải rộng nghĩa lý trong kinh.

Mười hai phần kinh này, hàng Tam thừa đồng học, Đại Tiểu thừa đồng hành trì, nên luật chế Tỳ kheo phải thông hiểu ba Tạng và mười hai phần Kinh, đủ 10 hạ mới cho làm thầy. Giả sử, không thể thông kinh luận, thì Luật Tạng cần phải thông rành. Khai, Giá, Trì, Phạm, Khinh, Trọng các lỗi, huống chi Bồ Tát Tạng, văn thì uẩn súc, nghĩa lý sâu xa, Quyền và Thật hai Tông, nếu biết qua loa thì làm sao rõ được chỗ uyên thâm cùng tận của Luật? Nếu không thông đạt tông thú, tánh tướng Quyền giáoThật giáo mà làm thầy trao giới cho người thì thật nguy hiểm thay!

Giải, nghĩa là hiểu ngộ, chẳng phải đọc tụng câu văn, nên không nói là tụng mà nói là hiểu là biết vậy.

Một câu, một kệ, đối với số nhiều trong mười hai phần kinh không có thể giải ngộ, cho đến tối thiểu một câu một kệ cũng không thể lãnh hộithông hiểu, thì đem pháp nào làm thầy người? Song Như Lai đã nói một lời một chữ mà nhiếp hết vô lượng nghĩa, một câu một kệ mà tóm thâu tất cả Pháp, như một chữ A, biển mực chép còn không hết. Nên Kinh Hoa Nghiêm chép: “Biển Pháp môn vô lượng vô biên, chỉ một lời mà diễn nói không còn sót.”

Sớ ghi: “Nghĩa ở trong vô tự, dù giáo dù nghĩa, hoặc tánh hoặc tâm, đều nhiếp hết.” Nên nói bởi do ý nghĩa vi diệu trong một câu văn nhiếp hết các nghĩa không còn sót, vì một là một của tất cả, một là xứng tánh mà nói. Lại nữa, trong bài kệ “Chư hành vô thường”, nếu hiểu một câu thì thông đạt tất cả pháp, nhưng 2 chữ “Tịch diệt” kia, dù vận dụng hết sức lực cũng không thể nào nói được, huống gì biết được thọ dụng của chữ “Lạc” ư?

Như xưa, Hòa thượng Giải Thoát được Chư Phật cảm ứng hiện trong hư không, nói kệ rằng: “Pháp của Chư Phật thậm thâm tịch diệt, nhiều kiếp tu hành nay mới được, nếu có thể mở tâm trí hiểu pháp nhãn này, tất cả Chư Phật đều hoan hỷ”. Hòa thượng liền hỏi: “Pháp Tịch diệt, có thể diễn nói, dạy người được ư?”, Chư Phật liền ẩn, dùng âm thanh bảo rằng:
“Phương tiện trí làm đèn,
Soi thấy tâm cảnh giới,
Muốn xét pháp chơn thật
Tất cả đều chẳng thấy.”

Nếu có thể liễu ngộ kệ này, liền thời rõ suốt Tam tạng giáo điển và mười hai bộ kinh. Bởi vậy, ngài Xá Lợi Phất nghe bài kệ Pháp thân, liền chứng được sơ quả. Ngài Ngu Lộ, ba tháng thọ trì nửa bài tụng, chứng đắc A La Hán, vì các Ni chúng lược nói pháp yếu, đều chứng Thánh quả.

Tổ Huệ Năng nghe câu kệ “Ưng vô sở trụ”, được đốn ngộ tâm tông, hiểu hết các kinh Pháp Hoa, Niết Bàn, thông suốt Bát thức, các luận. Bởi vậy, một câu một kệ, nghĩa kia khó lường, người sơ cơ học không hiểu, sanh tâm khinh thị coi thường, nên kinh Tăng Nhứt A Hàm chép: “Trong một kệ lưu xuất ra 37 phẩm trợ đạo và các pháp môn”. Ngài Ca Diếp hỏi: “Sao gọi là một kệ?” A Nan đáp: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo.”

Kinh Anh Lạc chép: “Đem nghĩa một câu diễn nói ra vô lượng Chư Phật Pháp Tạng, hết kiếp này sang kiếp khác, nhẫn đến trăm kiếp, không thể tham cứu cùng tận nghĩa một câu. Nên biết pháp bí yếu của Như Lai không thể nghĩ bàn, hàng tiểu căn tiểu trí không thể lường biết được.

Luật Sao ghi: “Phật dạy, khéo hiểu một chữ gọi là Luật sư, một chữ đó là chữ Luật vậy.” Phải biết một chữ “Luật” chính là tông chỉ của Tỳ Ni, nếu ngộ được tông chỉ thì không pháp nào mà không thông đạt, nên nói Luật là khởi nguyên của vạn pháp.

Nhơn Duyên giới Luật, gồm những việc như : Đức Xá Na truyền giới cho ngàn Phật, ngàn Phật lại truyền cho ngàn trăm ức Thích Ca, trước hết ở Bồ đề Đạo tràng dưới cội Bồ đềDiệu quang đường nói pháp gì, lần lần đến cung trời Thiên vương nói pháp gì, cho đến từ miệng Phật phóng hào quang, vì các Quốc vương, Vương tử tuyền trao giới pháp, v.v... .

Mê mất bốn tâm gọi là tự mình dối gạt mình, làm mê lầm người gọi là dối gạt người khác. Đã là người truyền trao giới pháp cho người khác, mà giới luật chẳng hiểu, tất cả kinh điển giáo pháp cũng không biết, thật là tự mê hoặc mình và người, nên mắc tội. Tội tuy thuộc về khinh cấu nhưng tự dối gạt người khác, lỗi kia thật nặng.

Giới này đối với ba chúng nhỏ và hai chúng Bồ Tát nam nữ tại gia, Phật không chế, do họ không phải là người mẫu mực, chưa thuộc hàng Tăng bảo. Còn Ni giới thì chế sơ lược, do trong giới Thanh văn chỉ cho Tỳ kheo ni làm Tam sư Thất chứng, nhưng vì họ trí cạn, nghe ít, nên không cho phép Ni giới làm thầy truyền giới Bồ Tát.

Kinh Bảo Vân chép: “Đầy đủ 10 pháp thì gọi là Luật sư”. Mười pháp ấy là:
1. Khéo hiểu nhân duyên sanh khởi của Tỳ Ni.
2. Khéo hiểu chỗ thậm thâm của Tỳ Ni.
3. Khéo hiểu việc vi tế của Tỳ Ni.
4. Khéo hiểu việc nào của Tỳ Ni được, việc nào không được.
5. Khéo hiểu tánh trọng giới của Tỳ Ni.
6. Khéo hiểu Tỳ Ni chế giới trọng
7. Khéo hiểu Tỳ Ni chế khởi nhơn duyên.
8. Khéo hiểu Tỳ Ni của Tiểu thừa Thanh văn.
9. Khéo hiểu Tỳ Ni của Bích Chi Phật
10. Khéo hiểu Tỳ Ni của Bồ Tát.

Khi hiểu biết như vậy, làm thầy truyền giới cho người mới không hổ thẹn.


Giới thứ 19
NÓI LƯỠI HAI CHIỀU

Nếu Phật tửác tâm, thấy thầy Tỳ kheo trì giới, tay bưng lư hương, tu hạnh Bồ Tát, tự đi đâm thọc hai đầu cho sinh sự bất hòa, khinh khi người hiền, tạo nhiều tội ác, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Ghen ghét người hiền lương, chia cắt hai bên, đem lời người này nói với người kia, đem lời người kia nói với người này để phá hoại sự hòa hợp của họ, khiến cho họ tranh cãi với nhau, nên nói là lưỡng thiệt (hai lưỡi) thật chẳng phải thiện tâm, từ tâm của bậc Đại sĩ.

Phỉ báng, khinh khi người hiền, ghen ghét người lương thiện, khiến họ tranh cãi nhau, khiến họ không được an tâm tu tập. Hành động như vậy là ác tâm, chẳng phải hạnh Bồ Tát.

Tay cầm lư hương, chính là nêu sơ lược một pháp muôn hạnh của bậc Đại sĩ, cũng là tiêu biểu Lục độ vạn hạnh của Bồ Tát, không quên kỉnh Phật và hướng đến Ngũ phần pháp thân.

Đấu cấu hai bên, đấu là cãi vã nhau, cấu là gặp nhau. Nghĩa là người có tâm xấu, đến người này nói lỗi người kia, gặp người kia nói xấu người này, khiến cho họ cãi vã nhau, trái với pháp Lục hòa kỉnh, hoặc dựng lên chuyện hư dối, thị phi, phải quấy, khiến họ gây hận với nhau.

Hai đầu là hai bên kia đây, dù là lời nói thực, không truyền lời nói kia đây, ở hai bên nói một lời khiến cho họ ly tán, đều phạm tội.

Báng là hủy báng, có khi là dối gạt vậy, nghĩa là các thứ hủy báng dối gạt, lăng mạ, dèm pha, tật đố ghen tỵ người hiền lương, nên nói không có tội ác nào mà không tạo, nếu hướng đến người khác nói lỗi quấy của họ, chính là thuộc về giới nói lỗi Tứ chúng; nếu tự khen mình, chê bai hủy báng người, thuộc về giới Hủy tha, cả hai giới này đều phạm tội trọng.

Giới này chỉ trực tiếp khiến cho hai bên cãi vã, ly gián, nên phạm tội khinh cấu.

Tỳ kheo trì giới chính là xuất gia Bồ Tát giới, đứng đầu trong bảy chúng. Nên biết, nói Tỳ kheobao gồm cả bảy chúng, nhẫn đến ly gián, dèm pha người như vua tôi, quân thần, ly gián tình cha con, anh em, bạn bè, v.v... tất cả đều phạm.

Nếu thấy người nhóm họp, sắp làm việc tội lỗi hoặc ác tri thức, ác bè đảng, làm những điều phi pháp, việc làm không nghĩa lợi, mà phá họ ly tán, sinh ra nhiều phước lợi cho người, thì không phạm.


Giới thứ 20
KHÔNG PHÓNG SANH CỨU VẬT

Phật tử, nên vì tâm từ bi mà làm việc phóng sanh. Tất cả nam tử là Cha ta, tất cả nữ nhơn là Mẹ ta, từ nhiều đời ta thường thác sanh nơi đó, vì lẽ ấy nên chúng sanh trong lục đạo đều là Cha mẹ ta, nếu giết chúng để ăn thịt, thì chính là giết Cha mẹ ta và cũng là giết thân chủ của ta. Tất cả chất tứ đại đều là bản thân, bản thể của ta, cho nên thường phải làm việc phóng sanh và khuyên bảo người làm. Nếu lúc thấy người đời sát sanh, nên cứu hộ cho chúng được thoát khỏi nạn khổ, thường đem giới Bồ Tát để giảng dạy, để cứu độ chúng sanh

Nếu ngày Cha mẹ hay anh em chết, nên thỉnh Pháp sư giảng kinh luật Bồ Tát giới, người chết nhờ phước đức ấy hoặc được vãng sanh Tịnh độ ra mắt Chư Phật, hoặc thác sanh trong cõi trời cõi ngườiNếu không làm các điều trên đây, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Bồ Tát nếu thấy chúng sanh bị nguy nạn mà không phương tiện cứu giúp, thấy tử vong mà không xiển dương đại pháp thì thật là trái với tâm hiếu thuậnđạo từ bi của Phât, Tổ.

Bồ Tát luôn luôn thể hiện tâm từ vô duyên, độ chúng hữu tình, nên làm việc phóng sanh. Người đời chỉ biết cha mẹ hiện tại, vì mê muội nhiều kiếp nên xa lìa thân thuộc, vọng nhận hiện tiền tứ đại sắc thân là thân mình, mê mất trời đất đồng căn nguyên, chỗ chí lý muôn vật đồng thể, nên khởi tâm nhơn ngã, chấp chúng sanh, đua nhau dối gạt, lấn hiếp nhau rồi ăn nuốt lẫn nhau, chỉ biết tự an thân, không biết cái khổ của người khác. Vì thế họ không có tâm cứu nguy bạt khổ cho chúng sanh để thoát hoạn nạn kia.

Bậc Đại sĩ ngộ được từ vô thủy đến nay, gá thác thọ thân, vào ra khắp các cõi trong Ngũ thú (trời, người, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh), nên tất cả nam tử, nữ nhơn trong lục đạo đều là Cha mẹ ta, lẽ nào nỡ sát hại để ăn nuốt ư?

Bởi do mê mất pháp thân tự tánh thanh tịnh của mình, chạy theo bóng dáng của lục trần làm tướng của tự tâm. Ngoài thân này ra đâu có vật gì khác để làm cho thân tâm, vì thế ta cùng chúng sanh đồng nhận tứ đại làm thân hình, nên nói bổn thân cũ của ta là đã biết bổn thể thân trước, đâu nỡ tự hãm hại, không thương tâm ư? Phải biết chúng sanh an lạc chính là mình an lạc, nên phải thường làm việc phóng sanh. Tất cả chúng sanh thân tâm chưa không (chưa dứt được bệnh chấp ngã), đâu có thể thoát được khổ sanh tử, nên mãi ở trong tam giới lục đạo hết đời này sang đời khác, thọ sanh không dứt.

Đây là pháp thường trụ, thường hằng không thay đổi, tự mình tỏ ngộ liễu đạt rồi, cũng nên dạy cho người biết cội gốc luân hồi sanh tử không dứt, do mê mất bản tâm, để họ chuyển hóa nội tâm, lần lần tu tập trở về tâm địa bản nguyên sẵn có. Tâm địa ấy là thể tánh bất sanh bất diệt, nên phương tiện giáo hóa, cho họ biết con đường trở về theo hướng tiệm tu. Trước khuyến cho họ phóng sanh tu phước, nếu không có tài vật, nên khuyến hóa người khác mua để cứu thoát sanh vật ấy.

Các khổ nạn đều là thống khổ trói buộc, đánh đập, hành hạ, sát hại, v.v... đến lâm nguy ác nạn. Khuyến hóa người giảng nói Bồ Tát giới để giúp cứu khổ nạn kia thì thân được lợi lạc. Nay giảng thuyết về giới là đem pháp giúp cho tâm an ổn, tức là giải thoát các phiền não, tham, sân, si, v.v... để trở về bổn nguyên tâm địa, thật là hạnh lợi tha Đại sĩ cứu độ chúng sanh, không trái bỏ thân thuộcthuận theo đạo lý từ bi đồng thể, không trái hạnh nguyện lợi tha, rồi ban pháp vô úy cho chúng hữu tình.

Nếu không tin chúng sanh trong sáu cõi đều là cha mẹ, như Kinh Pháp Cú chép: “Trong thành Xá Vệ có vị trưởng giả, tiền của vô số kể nhưng tâm bỏn xẻn tham lam, không biết bố thí. Hai vợ chồng ngồi với đứa nhỏ ở giữa, cùng ăn thịt gà và thường thường lấy thịt đút vào miệng đứa con. Phật biết vị trưởng giả này có thể hóa độ được, nên hóa thành một vị Sa môn, đứng trước cửa bảo rằng: “Bố thí ít nhiều gì đều được đại phước”, vị trưởng giả nghe nói thế liền mắng rằng: “Ông là Đạo nhơn mà không biết hổ thẹn, đến nhà người ta đang ngồi ăn, sao đường đột vậy?” Vị Sa môn nói: “Ông tự ngu si không biết hổ thẹn” Trưởng giả nói: “Tôi và vợ tôi cùng vui, sao gọi là hổ thẹn ?” Sa môn đáp: “Ngươi giết cha, giết mẹ, giết vợ, cung dưỡng oan gia mà không biết hổ thẹn. Thịt gà trên bàn là cha ngươi đời trước, do vì tham lam bỏn xẻn, thường sanh trong loài súc sanh bị ngươi ăn thịt. Đứa trẻ này, về sau làm La-sát, ngươi là khách mua bán, chèo thuyền vào biển, đọa vào cõi nước quỷ La-sát, bị La-sát ăn nuốt. Như thế trải qua 500 đời, thọ mạng hết lại sanh thân khác làm con của ngươi, do các tội kia chưa hết nên lại tiếp tục hại nhau. Người vợ này của ngươi là mẹ ngươi đời trước, do tình ân ái thâm trọng, nay trở lại làm vợ ngươi. Sanh tử luân hồi, xoay quanh Ngũ thú (trời, người, điạ ngục, ngã quỷ, súc sanh), ai có thể biết.” Nói rồi Phật liền hiện thần thông khiến cho trưởng giả biết túc mạng, trưởng giả thấy liền sám hối tạ tội và xin Phật thọ năm giới, nhờ Phật nói pháp, ông đã chứng quả Tu-đà-hoàn.

Trước tự giảng nói, là giáo hóa cứu độ chúng sanh, cho đến Cha mẹ nhiều đời. Nay thỉnh người khác giảng nói, là cứu độ thân nhân của mình, hiện đời quyến thuộccha mẹ.

Xem giới Luật Đại thừa là giới của Đức Xá Na đã truyền. Bồn nguyên của Chư Phật là cửa ngõ vào cảnh giới Niết bàn, là con đường tắt đến cõi trời người, người hiện tại nghe qua một lần nơi nhĩ căn, vình viễn làm Phật chủng, vong nhơn ở chốn tối tăm được phước, vãng sanh về cõi Tịnh độ của Chư Phật, hoặc sanh ở cõi người cõi trời, hưởng phước an vui vô tận. Phải biết công đức diễn giảng giới pháp. ...không có phước nào sánh bằng.

Xưa đời nhà Đường nước Tân La, ngài Tăng Thống Luật sư, giảng giới Bồ Tát bảy ngày đêm ở chùa Hoàng Long, trời mưa nước Cam Lồ, mây lành bao phủ che kín giảng đường, tứ chúng hết sức kinh ngạc, tán thán vì thấy việc chưa từng có. Từ đó mà xét, kẻ còn, người mất đều lợi ích, đâu thể nghĩ bàn.

Đây là tổng kết văn trên, nghĩa là đối với người sống, không cứu giúp nạn nguy khốn, đối với người chết không tiếp độ thần thức họ ra khỏi chốn u đồ, đều phạm cấu tội. Giới thứ 39 cũng khuyên giảng nói kinh giáo để cứu độ kẻ còn cũng như người mất, đồng như giới này.

Mười giới như thế phải nên học, hết lòng kính trọng phụng trì, như trong phẩm Diệt Tội, mỗi mỗi đều nói rõ.


Giới thứ 21
ĐEM SÂN HẬN BÁO THÙ SÂN HẬN,
ĐEM ĐÁNH TRẢ ĐÁNH

Phật tử, không được đem giận trả giận, đem đánh trả đánh, dù cha mẹ, anh em trong lục thân hoặc Quốc chủ bị người khác giết cũng chẳng được báo thù, vì giết sanh mạng để báo thù sanh mạng đó là việc không thuận với hiếu đạo. Không được chứa nuôi tôi tớ rồi đánh đập mắng nhiếc chúng, mỗi ngày ba nghiệp (thân, khẩu, ý) tạo vô lượng tội lỗi, nhất là khẩu nghiệp, huống gì lại cố làm việc thất nghịch. Nếu xuất gia Bồ Tát mà không có lòng từ bi, cố báo thù, nhẫn đến cố báo thù cho hàng lục thân, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích

Bị người sân hận đánh đập nhưng không báo thù, thì tránh được cái khổ oán tắng; giận mà không báo thù, tránh được cái khổ oan khiên nhiều kiếp, huống gì Đại sĩ dùng từ tâm nhẫn nhục, chịu đựng, quán tâm bình đẳng, thấy tất cả chúng sanh là người thân của mình không khác. Nếu lấy oán báo oán, thì chẳng phải từ tâm bình đẳng của Đại sĩ; đem sân trả sân bằng cách đánh mắng , thì trái với hạnh vô sanh pháp nhẫn của Bồ Tát.

Giết mạng sống của chúng sanh để báo thù tâm sân hận của mình, đời đời như thế, nào có lợi ích gì. Sân hậnoán hận báo oán với nhau, oán ấy đâu có dứt. Phải biết rằng: “Chẳng những chúng sanh trong lục đạoCha mẹ ta, mà còn là Phật tương lai.” Nếu giết hại hoặc báo oán thì rất trái với đạo hiếu thuận, thật chẳng phải là Phật tử. Nếu Bồ Tát tại gia thì có khuôn phép Vua, Cha, tự có thế lễ quyền pháp, không can dự gì đến bổn nguyên Tâm địa giới luật. Nhung khuôn phép lễ giáothế gian cũng không cho phép được báo thù, giết sanh mạng báo thù sanh mạng là vô lý.

Như Vương tử Trường Sanh nhớ lời cha dặn dò, không báo thù giết Phạm Thí Vương, trái lại, Phạm Thí Vương đã cùng với vợ và con gái trở về nước gặp Vương tử Trường Sanh, từ đó họ hiểu ra đồng một cội nguồn, đồng thể thật tướng vô tướng, rồi cả hai cùng sống trong cuộc sống an lạchạnh phúc.

Như vậy đủ biết lễ nghi quyền pháp ở thế gian cũng không chỗ nào cho phép báo thù. Người xuất gia đã ngộ được chỗ chơn thật, năng và sở tánh không, tâm địa không hai, đồng một nguồn gốc, thời đâu còn tâm chấp Quyền, Giáo. Nếu trái ngược với nguồn gốc tâm nguyên thì trái với tâm địa, tức là thuận dòng sanh tử trong nhiều kiếp.

Bồ Tát xuất gia còn không nuôi chứa đồ chúng vì ngăn ngại đạo nghiệp tu hành, nên kinh Viên Giác chép: “Phật dạy các Bồ Tát phải ba tháng siêng năng sách tấn tu hành, không phiền đồ chúng.” Còn hàng A La Hán dạy đồ chúng, tất nhiên phải gánh chút phiền não chi phốiNam Nhạc, Thiên thai có than trách trong Thiết Luân Ngũ Phẩm, huống gì nuôi chứa nô tỳ (hầu gái), khiến cho tăng trưởng ác nghiệp, tổn thương cội gốc từ tâm, trái với đạo giải thoát, gây nên sự chê trách của người khác, làm cho bại hoại chánh pháp, đồng như thế gian thì đâu còn là Thích chủng nữa.

Đánh đập thuộc về thân nghiệp, mắng chửi hủy nhục thuộc về khẩu nghiệp. Khi hai nghiệp thân và khẩu chưa phát, nếu sân tâm khởi trước thì ý nghiệp tạo thành, nên gọi là tội.

Hỏi: Đã nói ba nghiệp, vì sao chỉ nêu khẩu nghiệp?

Đáp: Do tâm khởi sân nên hành động đánh đập, đã đánh đập thì ắt có chữi rủa, hủy nhục. Khi mắng nhiếc và hủy nhục thì lời nói ác từ miệng thốt ra, mắc tội không thể kể xiết, nên nói vô lượng tội là vậy. Trong Giới Kinh, đối với hàng Thanh văn, trước hết Đức Như Lai cũng răn nhắc khẩu nghiệp, vì trong ba nghiệp thân, khẩu, ý thì khẩu nghiệp quan trọng nhất.

Các lỗi như đây đều do nuôi chứa tôi tớ và nô tỳ, đánh mắng hủy nhục họ, Phật còn không cho, huống chi tạo tội thất nghịch ư? Phải biết đây là lời dụ, nêu giới trọng để răn nhắc tội khinh.

Phật dạy: “Bồ Tát tại gia được phép nuôi chứa tôi tớ, nô tỳ, nhưng không được vô cớ đánh đập mắng nhiếc, hủy nhục họ, làm tăng trưởng ác nghiệp cho mình, kết thêm oán thù cho người khác, đối với tâm địa giới thật có phần thiếu sót sai trái vậy. Nếu đem tâm từ bi để chiết phục, đúng lý mà dạy bảo, thì đây là phương pháp quyền xảo để thích nghi hóa giáo của bậc Đại sĩ, là phương tiện nhiếp thọ.

Tóm kết văn trên, rõ ràng chẳng phải Đại sĩ tại gia mà là Bồ Tát xuất gia, không phân biệt lớn nhỏ, thân sơ, tất cả dều không được báo thù.

Bồ Tát ban ân huệ cho người, nếu thấy người vì oán báo thù, phải dùng từ tâm khuyến hóa họ, để cho họ phát khởi tâm lành với kẻ thù. Nếu bị hủy nhục, phải tự nghĩ rằng, ta đã gieo túc nghiệp đời trước, nên nay phải cam nhận quả báo này, tâm vui vẻ gánh chịu, đó là phương thuốc diệt oan nghiệt đời trước, huống gì ta là người hành đạo Bồ Tát, phải chịu thay tất cả khổ nhục cho chúng sanh. Nếu khởi niệm báo oán, chẳng những mất hạnh nguyện giác ngộ giải thoát mà còn phải sa vào tam đồ ác đạo, chịu bao thống khổ không có ngày ra khỏi.

Lại nữa, phải hiểu thân tâm ngủ uẩn của ta đây, không có ngã và ngã sở, vậy thì ai là người chịu hủy nhục?. Khi Bồ Tát khởi tâm quán tưởng như thế, tự nhiên đạo lực Bồ Tát càng thêm vững chắc như núi Tu Di, tám thứ gió không làm lay động, cũng như hư không, không bị ngũ sắc làm ô nhiễm.

Đại Luận ghi: “Bồ Tát giáo hóa chúng sanh , dù cho chúng sanh sanh tâm không chịu nhận sự giáo hóa này, ngược lại còn sân hận với Bồ Tát thì Bồ Tát phải nghĩ mình như bậc Đại Y trị bệnh quỷ cho chúng sanhChúng sanh được trị bệnh không biết ơn, ngược lại còn mắng nhiếc thầy thuốc, nhưng thầy thuốc không trách người bệnh. Nếu mình cũng sân hận như họ, thì phải biết người này đã bị quỷ sai sử. Bồ Tát cũng vậy, thường biết các chúng sanh bị quỷ sai khiến.

Kinh Hải Ý chép: “Phật dạy Hải Ý rằng: Giả sử có người dùng ác tâm sân hận đến mắng nhiếc hủy nhục Bồ Tát, Bồ Tát phải nghĩ rằng: Người này lười biếng xa lìa tịnh pháp. Ta nay phát khởi lòng tinh tấn cho họ, khiến họ siêng năng tu tập, trồng các gốc lành, đừng sanh tâm nhàm chán, nguyện cho họ ngồi Đạo tràng trước, rồi sau mình mới thành bậc Chánh giácCho đến ta nương vào pháp này, thì cái gì là sân ? Cái gì không phải là sân? Quán sát cả hai tất cả đều không nắm bắt được. Lại nữa, sân hay không sân, dù mình hay người, đều không có tự thể, đều bất khả đắc, nếu lìa được cái thấy này, mới gọi là nhẫn. Bồ Tát được như thế mới là quán được oán thân bình đẳng, oán thân đã bình đẳng thì đâu còn tâm thù hằn nữa.”


Giới thứ 22
TÂM KIÊU MẠN KHÔNG THỈNH PHÁP

Nếu Phật tử mới xuất gia, chưa thông hiểu kinh luật mà tự ỷ mình là trí thức, thông minh, hoặc ỷ mình là cao quý, lớn tuổi, hoặc ỷ mình là dòng sang, hoặc ỷ mình học rộng, phước nhiều, giàu có, v.v... rồi sanh lòng kiêu mạn không chịu học kinh luật với các vị Pháp sư học đạo trước mình. Vị Pháp sư ấy hoặc là dòng hèn, con nhà hạ tiện, tuổi trẻ, nghèo nàn, hèn hạ hay có tật nguyền, nhưng lại thật có đức hạnh, do thông hiểu nhiều kinh luật, hàng tân học Bồ Tát không được nhìn vào dòng giống vị Pháp sư mà không chịu đến học hỏi kinh luật Đại thừa với vị ấy, Phật tử nếu như vậy, thời phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Ôm lòng kiêu mạn, buông lung phóng túng, nên không kính người; ỷ mình thông minhtrí tuệ, nên không thỉnh pháp là tự đánh mất lợi mình, lại thiếu mất sự lợi ích của việc giáo hóa người khác.

Người mới xuất gia không biết pháp kính người; chưa thật khế ngộ. Do ỷ lại bảy việc sau nên sanh tâm kiêu mạn:

1. Ỷ thế trí thông minh
2. Ỷ địa vị cao quý
3. Ỷ tuổi tác cao
4. Ỷ thấy biết rộng
5. Ỷ dòng họ sang
6. Ỷ phước đức lớn
7. Ỷ giàu sang phú quý.

Nên tâm ngã mạn dựng cao như núi, trở ngại việc tấn tu, vì thế có những kẻ học rộng hiểu nhiều nhưng chẳng có chút thay đổi, đến nỗi đánh mất sự lợi ích của việc tu học.

Kinh Hoa Nghiêm chép: “Thiện nam tử ! Bồ Tát nhờ Thiện tri thức chỉ dạy, không bị đọa vào ác thú, nhờ Thiện tri thức dẫn dắt mà ra khỏi thế gian, nhờ nương vào đạo Giác ngộ của Thiện tri thức mà diệt sạch nghiệp chướng, ra khỏi thành trì sanh tử, đến chỗ thanh tịnh an vui. Nhẫn đến tự thân khởi tưởng bệnh khổ, đối với Thiện tri thức, khởi tưởng là vua thuốc của mình, tùy theo sự dạy bảo, khởi tưởng đó là vị thuốc hay, nên tu chánh hạnh, diệt trừ những bệnh tưởng ấy.

Kinh Đại Thừa Tứ Pháp chép: “Các vị Tỳ kheo hết tuổi thọ, nhẫn đến gặp nhơn duyên tán thân mất mạng, quyết định không được xa lìa Thiện tri thức.” Thiện tri thức, là người rành thông Ba Tạng, liễu đạt tâm tông, biết rõ chơn vọng, biết bệnh biết thuốc, điều trị vô số bệnh cả thân và tâm của chúng sanh.

Tất cả kinh luật của Đại thừa Bồ Tát đều là lý trung đạo tối thượng thậm thâm, dứt bặt có và không, chẳng phải một, chẳng phải khác, chân thật không dối, không pháp nào vượt hơn pháp này, lời hay ý đẹp, đó là Đệ nhất Nghĩa đế. Hàng Tân học không biết, liền tự cao ngạo mạn, dựa vào bảy hoàn cảnh trên, sanh tâm kiêu ngạo. Đem dòng họ hèn so sánh với cao quý, đem tuổi nhỏ so sánh với trưởng lão kỳ túc, đem gia thế nghèo nàn so sánh với cao sang, đem hạ tiện so sánh với quý tộc, đem các căn khiếm khuyết so sánh với bậc Đại thông minh trí tuệ, đem cái hiểu biết toàn vẹn so sánh với cái chưa hiểu, trong bảy hoàn cảnh ấy, so sánh bất kỳ một việc trong đó rồi sanh tâm kiêu mạn, không đến tham vấn học hỏi với người trước, đánh mất lợi ích lớn, nên phạm.

Kinh Đại Bát Niết Bàn chép: “Có các Bồ Tát khinh các Bồ Tát khác, dù chỉ một niệm nhưng phải trải qua một kiếp, xa nơi Phật đạo, lại trải qua một kiếp nửa mới tu lại Phật đạo”. Bởi vậy, không nên tự cao, mà cũng không nên hạ nhục người khác.

Kinh Trì Địa chép: “Bồ Tát theo Thiện tri thức nghe thọ kinh pháp, đối với người thuyết pháp, có năm chỗ không nên để tâm nhớ nghĩ mà phải tịnh tâm lắng nghe:

1. Không nghĩ nhớ người phá giới, nghĩa là không nghĩ rằng: “Đây là người phạm Luật nghi, không nên theo họ thọ kinh pháp.”
2. Không nghĩ họ là dòng họ hèn, nghĩa là không nghĩ rằng: “Ta không theo người dòng họ hèn lãnh thọ kinh giáo.”
3. Không nghĩ nhớ người kia xấu xa thô bỉ, nghĩa là không nghĩ rằng: “Ta không theo người xấu xa bỉ ổi để nghe thọ kinh pháp.”
4. Không nghĩ nhớ người kia không nói đúng kinh điển, nghĩa là không nghĩ rằng: “Ta không theo người không chánh ngữ (nghĩa là lời nói không chánh, không thông suốt nghĩa lý) để lãnh thọ kinh pháp, chỉ nên y theo nơi nghĩa, không y vào pháp vị.”
5. Không nghĩ nhớ lời hay, nghĩa là không nghĩ rằng: “Ta không theo người nói năng không hay để nghe kinh pháp.”

Năm trường hợp như thế, không nhớ nghĩ, Bồ Tát này siêng năng nhiếp trì chánh pháp. Đối với người thuyết pháp, không khởi ra tưởng hiềm khích. Nếu là Bồ Tát hạ căn, khởi tâm thấy lỗi người rồi sanh tâm thối lui, không thích nghe pháp, thì Bồ Tát này không có khả năng tự độ, trí tuệ bị mai một.”

Kinh Trang Nghiêm Bảo Vương chép: “Ngài Trừ Cái Chướng Bồ Tát bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn, con nay phải dựa vào đâu để được sáu chữ Đại Minh Đà La Ni? Phật dạy: Ở Đại thành Ba La Nại có một Pháp sư, thường khởi ý thọ trì khóa tụng sáu chữ Đại Minh Đà La NiPháp sư đó khó có thể gặp được, ông gặp Pháp sư ấy phải như gặp Như Lai không khác, cho đến không được khinh mạn, sanh tâm nghi ngờ, thối thất tâm địa Bồ Tát của ông, vì Pháp sư ấy đã khuyết phạm giới hạnh, có vợ có con, đại tiểu tiện lợi, làm nhơ nhớp Cà sa, không còn chút oai nghi. Khi ấy, ngài Trừ Cái Chướng Bồ Tát lãnh thọ lời Phật dạy, rồi liền cùng với vô số Bồ Tát đem lọng trời và các thứ phẩm vật đến để cúng dường vị Pháp sư, cầu xin sáu chữ Đại Minh Đà La Ni.” Bởi vậy hể cầu pháp, không nên tự thị, nếu thấy lỗi của Pháp sư mà sanh tâm khinh mạn, biếng nhác, thì tự mình chuốc lấy quả báo không như ý.

Kinh Viên Giác chép: “Phật bảo Bồ Tát Phổ Giác rằng: “Này thiện nam tử, chúng sanhđời sau, muốn phát đại tâm cầu Thiện tri thức, muốn tu hành thì phải tìm cầu các vị chánh tri kiến, tâm không trụ tướng, không đắm trước cảnh giới của Thanh văn Duyên giác, mặc dầu hiện thân trong cõi trần lao mà thường thanh tịnh, thị hiệnlỗi lầm nhưng tán thán phạm hạnh, không khiến cho chúng sanh rơi vào cảnh giới không luật nghi. Cầu được người như thế, liền thành tựu Vô thượng Bồ đềChúng sanhđời sau, thấy người như thế phải nên cúng dường, không tiếc thân mạng, nhẫn đến thị hiện các thứ lỗi lầm, đối với các vị thiện hữu kia, ta không khởi ác niệm, liền thành tựu chánh giác cứu cánh, hoa tâm phát sáng chiếu khắp mười phương cõi nước.”

Kinh Sớ ghi: “Bồ Tát hóa hiện, quyền cơ khó lường, hoặc làm lợi ích, hoặc có duyên sai biệt, việc làm tuy trái với oai nghi, thệ trái với chơn giáo, chỉ có chê mình, làm việc không chánh, chứ không được vẽ thêm cái không chơn chánh để nói lý, làm lầm lạc phàm phu. Đây không đồng với bọn người tà; tự tạo các lỗi, lại nói những việc chẳng phải phạm hạnh cho là chơn thật, khiến cho vô lượng người rớt vào đường hiểm. Vì đồng sự nhiếp, tuy hiện các lỗi mà thường tán thán phạm hạnh chơn thật. Nên trong Luận ghi: “Người phá kiến, dù không phá hạnh cũng không được làm người có đạo nhãn cho chúng sanh. Người phá hạnh nhưng không phá kiến là bậc phước điền thù thắng cho trời người.” Song làm thầy thì khó, làm đồ chúng cũng không dễ, chớ theo lời răn nhắc này mà lầm lẫn kính trọng người dối trá, mình mù mờ chánh đạo, lại bắt người khác tuân theo. Lại nữa, nếu đem thuốc này trị bệnh cho đồ chúng, thì ông thầy chớ cho uống càn, vì uống vào càng tăng thêm bệnh, thì không có thuốc nào trị lành bệnh ấy, dụ như lấy trói mở trói, thật là vô lý.

Nếu để tâm lầm kính kẻ dối trá, thì có khác gì kính con vượn như là Đế Thích ư ? Nhận càn pháp kia không khác gì nhận ngói gạch làm vàng ròng, chưa đủ huệ nhãn, ai soi xét phải quấy ? Phải chọn lời nói chơn chánh, chớ thọ nhận lời nói dối gạt kia, một niệm đã sai, ngàn đời đi lầm, như kinh đã nói, phải tự răn nhắc, chớ để ngày sau, hối cũng không kịp.

Giới thứ 6 không cung cấp thỉnh cầu pháp, giới thứ 7 biếng nhác không chịu nghe pháp, giới này Phật răn dạy không nên kiêu mạn mà không thỉnh pháp. Nếu tâm kiêu mạn, biếng nhác, không kính, không nghinh tiếp, biếng nhác thấy lỗi người ấy, không chịu đến thưa hỏi, cùng đồng như giới này.


Giới thứ 23
KHINH NGẠO KHÔNG TẬN TÂM DẠY

Phật tử, sau khi Phật nhập Niết Bàn, nếu có tâm tốt muốn thọ giới Bồ Tát, thì đối trước tượng Phật và tượng Bồ Tát mà tự nguyện thọ giới. Nên ở trước tượng Phật và tượng Bồ Tát sám hối trong bảy ngày, hễ thấy được tướng hảo tức là đắc giới, nếu chưa thấy tướng hảo thì phải sám hối 14 ngày hoặc 21 ngày, cho đến cả năm, cầu thấy tướng hảo, khi thấy tướng hảo rồi thì được đối trước tượng PhậtBồ Tátthọ giới, nếu chưa thấy tướng hảo thời dầu có đối trước tượng Phật, tượng Bồ Tát thọ giới, vẫn không gọi là đắc giới. Còn nếu đối trước vị Pháp sư đã thọ giới Bồ Tátthọ giới thì không cần thấy tướng hảo, tại sao vậy? Vì vị Pháp sư ấy là chư Sư truyền giới cho nhau, nên không cần thấy tướng hảo, hễ đối trước vị Pháp sư ấy mà thọ giới thời liền đắc giới. Do vì hết lòng kính trọng nên đắc giới, nếu ở trong vòng ngàn dặn mà không có giới sư truyền giới, thì Phật tử được phép đối trước tượng PhậtBồ Tát mà tự nguyện thọ giới Bồ Tát nhưng cần phải thấy tướng hảo.

Nếu các vị Pháp sư ỷ mình là thông rành kinh luật cùng giới pháp Đại thừa, kết giao với Vua, Quan, Thái tử, v.v..., khi có hàng tân học Bồ Tát đến cầu học nghĩa Kinh, Luật, người ấy sanh ác tâm khinh chê, cậy mình hiểu biết, ỷ thế khinh người, diễn nói pháp tướng một cách đảo điên, nhận chìm nghĩa lý Kinh, Luật, thì người này quả thật trái với phép tắc dạy bảo của bậc Đại sĩ, không chịu tận tâm chỉ bảo, vị này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Ỷ thông kinh luật, cậy thế lực khinh người, rồi nói lời điên đảo, tránh nói pháp tướng làm khuất lấp nghĩa lý kinh luật, thật rất trái với phép tắc mô phạm huấn đạo của Đại sĩ.

Đức Như Lai đã dứt hết đại hoạn của sanh tử, vượt khỏi bốn dòng, hóa độ tất cả chúng sanh hữu duyên, trở về chơn tế, nên nói là “diệt độ.”

Hảo tâm, nghĩa là trên cầu diệu đạo Vô thượng của chư Phật, dưới giáo hóa chúng sanh, khiến cho họ phát Bồ đề tâm

Tự thệ thọ giáo, nghĩa là ở trong vòng ngàn dặm không có người có trí tuệđạo lực, có khả năng hiểu và truyền trao giới pháp, mới cho phép người này ở trước tượng PhậtBồ Tát phát thệ nguyện sám hối tội lỗi ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai), chừng nào thấy được tướng hảo đúng như pháp mà tự thọ. Nếu chưa thấy tướng hảo thì càng phải hổ thẹn, không ngớt trách mình, buồn tủi rơi lệ, lại phải sám hối 21 ngày cho đến một năm, đến khi thấy được tướng hảo mới thôi. Khi thấy được tướng hảo rồi, đúng như pháp ở trước Phật và Bồ Tátthọ giới, nếu không biết pháp thọ giới thì không do đâu đắc giới.

Tướng hảo, nghĩa là trong lúc sám hối hoặc khi ngồi thiền hoặc trong chiêm bao, thấy hoa, thấy hào quang, hoặc thấy Phật và Bồ Tát xoa đầu. Như Luật sư Chân Biểu, chí tâm cầu giới pháp, thệ nguyện tha thiết mong được Đức Di Lặc đích thân trao giới, Ngài liền lên núi, ngày đêm thành tâm sám hối, trải qua 21 ngày thấy Bồ Tát Địa Tạng hiện thân, tay cầm tích trượng, sách tấn cho Ngài trước khi thọ giới cần phải gia tâm tinh tấn hơn nữa. Đến ngày thứ 14, thấy có Đại ác quỷ từ trên núi cao nhảy xuống đứng ở chân núi, tướng quỷ hung dữ, ngầm ý bảo Ngài tinh tấn hơn nữa. Đến ngày thứ 21, Ngài thấy núi sông bằng phẳng, biến thành thế giới màu bạc, Bồ Tát Di Lặc dung nghi khả kính đi vòng quanh xoa đảnh nói rằng: “Lành thay Đại trượng phu, cầu thọ giới Pháp như thế, núi Tu Di có thể hoại, tâm ông trọn không thối thất. Phật Di Lặc đích thân trao cho Ngài 3 y và bình bát để làm biểu tượng truyền trao giới pháp, rồi ban cho Ngài hiệu là Chân Biểu.

Thiền sư Nam Nhạc Huệ Tư nằm mộng thấy 42 vị Phạm Tăng, hơn nữa lại tác pháp yết ma cho thọ cụ túc giới.

Xưa, Sa môn Đạo Tấn cầu PhápĐàm Vô Sấm, thọ Bồ Tát giới, ngài Vô Sấm nói: “Ông hãy về sám hối tội lỗi đi.” Đạo Tấn về chí thành sám hố tội lỗi 7 ngày 7 đêm xong, trở lại cầu giới. Đàm Vô Sấm nổi giận. Đạo Tấn suy nghĩ: “Hình như nghiệp chướng của mình chưa hết.” Đạo Tấn lại trở về sám hối trong 3 năm, mộng thấy đức Thích Ca cùng các vị Bồ Tát truyền trao giới pháp cho. Hôm sau, Đạo Tấn đến chỗ Đàm Vô Sấm, muốn kể lại điềm mộng đã thấy. Còn mấy mươi bước nữa mới đến, thì Đàm Vô Sấm kinh ngạc đứng dậy nói: “Lành thay! lành thay! ông đã đắc giới rồi, Ta sẽ vì ông tác chứng”, nói rồi Đàm Vô Sấm đối trước tượng Phật thuyết giới tướng. Sau đó có hơn ngàn người theo Đạo Tấn thọ giới. Cách truyền trao giới pháp này được lưu truyền cho đến đời sau, đều theo quy tắc của Đàm Vô Sấm. Lúc bấy giờ, con của Hà Tây Vương là Thư Cừ Mông Tốn, tên Cảnh Hoàn, tôn Đạo Tấn làm thầy, sau thỉnh Đạo Tấn dến nước Cao Xương. Gặp năm mất mùa, dân chúng đói khổ, Đạo Tấn cắt thịt mình để cứu đói cho dân, sau đó Ngài tịch.

Người đời xưa cầu giới bị quở trách nhẫn đến gặp phải tướng ma đáng sợ, nhưng ý chí không thối thất mà càng thêm tinh tấn, chí thành trong 3 năm mà không sanh một niệm mỏi mệt, nên nhận được sự cảm ứng lạ kỳ, như vang theo tiếng. Người đời nay cầu giới, nếu giới sư vấn nạn, hoặc khuyến tấn một lời, thì liền sanh tâm sân hận, phủi áo đi thẳng. Làm như vậy, chẳng những đánh mất đi lợi ích của giới cho bản thân, mà còn chuốc lấy tội khinh khi. Thời nay, có những người theo thầy thọ giới xong, liền bỏ thầy đi biệt, thì làm sao còn thân cận thầy mà học hỏi. Có thọ nhưng không hành trì, thì khác gì bám cái phao rách bơi qua biển khổ.

Tướng hảo: Tướng có tà và chánh, ma sự thì rất nhiều, chưa dễ gì phân biệt được, cần phải khéo thẩm xét cho kỹ lưỡng, không nên khinh suất nhận càn, cho là tướng hảo. Hàng Bồ Tát từ sơ địa đến thập địa, mà ma quỷ còn trá hiện thân Phật thọ ký cho họ, thì phàm phu ở đời mạt pháp đâu thể không thận trọng!

Chư Sư truyền trao nghĩa là đức Xá Na trao cho Đức Thích Ca, Thích Ca trao cho Di Lặc, như thế hơn 20 vị Bồ Tát lần lượt truyền trao cho nhau nối tiếp đến nay, như đèn này nối tiếp đèn kia, cho nên không mượn tướng hảo mà mỗi người thấy khác nhau. Tuy giới do tâm phát nhưng cũng phải nhờ thầy truyền mới được, bởi vậy không có thầy truyền tự thọ rất khó, chẳng khác nào mài cây lấy lửa, sức lực hao mòn mà chẳng được lửa. Có thầy truyền trao thì dễ, như đèn nối đèn, ngọn lửa chẳng dứt, không cần nhiều sức, cho nên sự tương quan giữa thầy và trò quả thật không nhỏ. Nhưng trong thời mạt pháp, ông thầy biết pháp quả thật là khó gặp, giả như được gặp, ắt phải chí thành, sanh tâm kính trọng, tưởng như khó gặp, thờ kính như Phật, mới hay phát được tâm địa đại giới. Nếu gặp thầy truyền giới không chân thật, cũng như đèn bị tắt, người thọ giới, dầu có thọ cũng không đắc giới, trái lại còn mắc lỗi giả danh, kẻ trao, người thọ đều mắc tội, không thể không cẩn thận dè dặt.

Hỏi: Tuy không đắc giới nhưng người thọ giới chí thành, lẽ đâu không được chút lợi ích.

Đáp: Nếu hành giả chuyên tâm hành trì, không phạm, thì cũng cảm nhận được cái thiện của giới, hành thập thiện tuy không biết cách thọ mười pháp thiện nhưng cũng được phước, không được làm thầy truyền giới cho người khác. Như người nhận lầm sắt làm bạc, chì làm vàng, ưa thích giữ gìn, cũng không phải hoàn toàn vô ích, cũng có thể đổi chác được một cái áo hay một bửa ăn, chỉ không được khẳng định nói với người đây là vàng bạc thật mà thôi. Nếu trong ngàn dặm có minh sư thông rành giới luật, mà khinh mạn biếng nhác bỏ qua, không đến cầu thọ giới mà tự thệ thọ giới, thì không đắc giớiGiả sử thấy được tướng hảo, cũng chỉ là cảnh ma. Như Ngài Chân Biểu không có thầy mà tự thọ là biểu trưng cho tâm vững chắc. Như Ngài Đạo Tấn có thầy truyền trao là biểu trưng cho tâm chí thành, đó gọi là kim chỉ nam cho muôn đời, phép tắc hay của ngàn xưa. Huống gì Ngài Đàm Vô Sấm, từ xưa người ta đã nghi Ngài là Bồ Tát Y Ba Lạc, ứng tích, thác hóa truyền đến cõi này, đã là Bồ Tát ứng tích, vẫn còn khuyên Đạo Tấn chí thành tấn tu trong 3 năm, vậy có thầy truyền trao còn phải thấy tướng hảo, mới cảm nhận được lợi ích lớn, còn như không có thầy mà tự thệ thọ giới, lẽ đâu dễ ư? Nay người cầu thọ, không luận là phải hay quấy, được hay mất, không lựa bậc minh sư, thầy đã không biết pháp luật, thì làm sao khai phát đạo tâm, lấy gì để răn dạy hai đường tội hay phước. Phương pháp sám hối nghiệp chướng lỗi lầm oan khiên, khiến cho thân tâm thanh tịnh, mới kham lãnh thọ tịnh giới, nên Di Lặc Bồ Tát giao cho Ngài Chân Biểu 108 cái thẻ, dạy cho người đến cầu giới trước tiên phải sám hối, mãn đủ kỳ hạn bỏ một thẻ xuống, để nghiệm xem tướng phiền não tội đã diệt hay chưa. Phải biết Đàm Vô Sấm khuyên Đạo Tấn tu tập trong 3 năm, pháp tự nhiên đến, trước Thánh sau Hiền, đồng một khuôn phép.

Nên Kinh Anh Lạc chép: “Nếu người muốn đến thọ giới, vị Bồ Tát pháp sư trước phải giảng nói cho họ hiểu ý nghĩa đọc tụng, khiến cho người đó được tâm khai ý giải, sanh tâm ưa thích, rồi sau trao giới cho họ. Người thọ giới, vào cảnh giới của chư Phật, chư Bồ Tát, vượt khỏi khổ 3 kiếp sanh tử, vì thế nên thọ. Lại nữa, người thọ giới pháp này đã vượt khỏi tứ ma, vượt khổ trong 3 cõi, từ đời này đến đời khác, không mất giới này, thường tùy niệm tu hành, cho đến thành Phật. Kinh Bồ Tát Ưu Bà Tắc Ngũ Giới Oai Nghi chép: Có hai việc làm mất giới Bồ Tát:

1. Xả nguyện Bồ đề
2. Tăng trưởng tâm ác

Ngoài hai việc này, nếu xả bỏ thân, giới tâm trọn không mất, từ đây về sau, sanh bất cứ nơi đâu vẫn thường có giới này. Nếu tâm không nghĩ nhớ, lại được gặp thiện hữu thọ giới, không gọi là tân học, như kinh đã ghi: “Nên biết đại giới của Bồ Tát, có pháp thọ mà không có pháp xả, người trao và thọ cần phải thận trọng.”

Kinh Anh Lạc chép: “Pháp sư hay ở trong tất cả cõi nước, giáo hóa mọi người xuất gia thọ Bồ Tát giới, vị Pháp sư này tạo phước thù thắng hơn xây 84000 tháp, huống gì lại có hai người, ba người cho đến trăm ngàn người, phước quả ấy không thể tính kể.”

Trước khi cầu thầy thọ giới, phải sanh tâm chí thành cẩn trọng, kính Sư như kính Phật, như tìm cầu Đại Bảo Ma Ni, tâm không nhàm chán mệt mỏi. Khi được của báu rồi, phải trân trọng giữ gìn bảo hộ.

Người làm bậc thầy mô phạm cho người khác, phải dùng tâm từ bi xem người cầu pháp như đứa con đỏ, phàm có thưa hỏi điều gì, mỗi mỗi đều chỉ bày, khiến cho họ sanh tâm vui mừng, không nên trong lòng ỷ vào năng lực học hỏi, hiểu biết, khinh người mới học, không thật tâm trả lời; ngoài thì tự thị chỗ giao thiệpthế lực, địa vị để khinh mạn người, không đáp lại sự học hỏi của người khác.

Tâm khinh khi tức là coi thường người khác. Tâm ác tức là không có lòng từ tiếp vật, tâm ngã mạn tức là ỷ mình lấn hiếp người khác, do 3 tâm này nên không ưa trả lời, hoặc đối với đồ chúng của mình thì hết lòng, còn đối với đồ chúng người khác thì trả lời không rõ ràng, thật chẳng phải là đạo làm thầy trái với đại tâm bình đẳng.

Nếu biết người đến thưa hỏi có ác kiến, đến để tìm lỗi quấy, không đáp thì không thể điều phục họ được, hoặc người không kính thuận đại thừa, hoặc căn tánh ám độn, nghe giáo pháp thâm sâu, ngược lại sanh tâm tà kiến, hoặc nghe rồi nói lại cho người ác để phá hoại chánh pháp, những người như thế đến thưa hỏi, không đáp cũng không phạm.


Giới thứ 24
KHÔNG TU HỌC ĐẠI THỪA

Nếu Phật tử, có kinh Luật Đại thừa, chánh kiến chánh tánh, chánh pháp thân, mà không chịu siêng năng tu tập, lại bỏ 7 của báu, học theo tà kiến, những sách thế tục như A Tỳ Đàm, Tạp Luận, tất cả sách vở của ngoại đạo Nhị Thừa, đó là đoạn dứt Phật tánh, là nhơn duyên chướng đạo, chẳng phải thật hành đạo Bồ Tát, nếu cố làm như vậy, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Kinh luật của Phật là nói chung cho giáo pháp Đại thừa Bồ Tát tạng, rõ ràng chẳng phải kinh luật Tiểu thừa, cho nên gọi là Pháp Đại thừa.

Chánh kiến là kinh luật Đại thừa, vốn đủ những kiến giải mầu nhiệm phát xuất từ bổn nguyên tâm địa.

Chánh tánh là do đủ chánh giải của tâm địa, nên khế hợp với nhơn mầu nhiệm của tâm địa, chính là Phật tánh của Xá Na.

Chánh pháp thân do ngộ được Phật tánh của Xá Na, đó là tự tánh của ta, rồi tu lục độ, vạn hạnh, hạnh giải tương ưng, sự lý viên dung, chứng thể vi diệu của quả đức chơn thường, đây gọi là chánh pháp thân. Chánh nhơn, chánh quả của kinh luật Đại thừa như thế mà không khuyến hóa họ tư tập, ấy là đại sĩ tự mê mất chánh hạnh, đi vào đường tà.

Vàng bạc bảy báu, thế gian cho là rất quan trọng, có thể giúp hết được sự nghèo khổ, khiến cho thân tâm an lạc. Nay giáo pháp Đại thừa tâm địa này, đối với các pháp là trân quý thứ nhứt, hay trừ khổ não cho chúng sanh, làm cho họ được pháp tài công đức, trang nghiêm thân Xá Na vạn đức, nên dụ như của báu.

Tà kiến, nghĩa là tất cả sách vở của Nhị thừa ngoại đạo, không có chút chánh giáo về tâm địa, nên nói là tà kiếnNhị thừatà kiến thiên không, ngoại đạotà kiến vọng chấp mê lầm. Sách vở thế tụctà kiến bác không nhơn quả ba đời.

A Tỳ Đàm, Trung Hoa dịch là Vô Tỷ Pháp, đây thuộc luận Tiểu thừa, gồm có vài trăm quyển. 

Tạp luận, là tất cả các bộ luận Tiểu thừa và các bộ luận như Tăng Khư, v.v.... của ngoại đạo.

Bách luận chép: “ 96 đạo đều không thể hiểu được thật tướng các pháp, nên thuận với đạo của Thanh văn, đều thuộc là tà ( 95 thứ đạo cộng với Tiểu thừa giáo thành ra 96).”

Đoạn dứt Phật tánh, nghĩa là Nhị thừa chấp không, mà không có chánh nhân tâm địa, nên mất quả đức thành PhậtNgoại đạo lầm chấp Đoạn, Thường rồi mê mất chánh giáo, trung đạo, là đoạn mất chủng tánh chánh giácNhơn duyên chướng đạo là do tâm chấp tà kiến làm nhơn, lầm tu tà hạnh làm duyên, vì thế ngăn lấp Đại thừa chánh đạo, vĩnh viễn mê mất bổn nguyên tâm địa. Chẳng phải hành Bồ Tát đạo, nghĩa là Nhị thừa chỉ lo tự lợi còn ngoại đạo thì vào đường tà.

Những sách vở thế tục, gồm tất cả sách vở thư tục, truyện ký của thế gianThiên Trúc có những luận ký như : Tất Đàm Chương, Tỳ Già La, Ngũ Minh, v.v... , Trung Hoa thì có Kinh Sử và Bách Gia Chư Tử. Đây là những sách trị đời, đều chẳng phải là phương thức thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh của bậc Đại sĩ, mà phải tu lục độ vạn hạnh.

Kinh Bồ Tát Ưu Bà Tắc Ngũ Giới Oai Nghi chép: “Bồ Tát có kinh tạng của Phật, không siêng năng học mà lại đi học sách vở của thế tục ngoại đạo, là phạm khinh cấu tội.” Kinh Bồ Tát Giới Bổn chép: “Đối với sách vở của ngoại đạo tà luận mà Bồ Tát mê đắm không bỏ, không khởi tâm tưởng là độc hại, như thế là phạm. Nếu học Tiểu thừa để trợ giúp cho Đại thừa, mục đích là muốn dẫn dắt hàng Nhị thừa, khiến cho họ hướng đến Đại thừa, thì không phạm.”

Bồ Tát Thiện Giới Kinh chép: “Vì bàn luận nghĩa lý, để phá tà kiến, biết sách vở ngoại đạohư dối không thật, Phật pháp thì chơn thật, vì muốn biết thế sự thì không phạm.

1. Trước trái với giới Đại thừa, hướng đến giới Tiểu thừa, chí hướng trái ngược, nên cấm.
2. Tịch giáo giới, do họ đem tâm sân ác dạy, khiến người khác có tâm thiên lệch, nên cấm.
3. Nay an nhiên học theo Tiểu thừa, không nghĩ đến Đại thừa, nên cấm.
4. Sau đó tạm nhớ nghĩ đến giới, từ đó mà biết và học theo Đại thừa thì không nên khởi một niệm tự độ, nên cấm.

Nghĩa sai khác của 4 giới này không thể không biết.


Giới thứ 25
TRI CHÚNG VỤNG VỀ

Nếu Phật tử, sau khi Phật nhập diệt, làm pháp sư, giảng sư, luật sư, thiền sư, thủ tọa, tri sự, tri khách, phải có lòng từ bi khéo hòa giải trong chúng, khéo giữ gìn tài vật của Tam bảo, chớ tiêu dùng vô độ như của riêng mình mà trở lại khuấy chúng gây gỗ, kình chống, tiêu xài lãng phí của Tam bảo. Nếu làm như thế, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Làm người chủ không biết an xử đồ chúng, cất giữ tài vật không biết dùng chừng độ, thì tự tổn mình và tổn người, chẳng phải tâm từ hòa của bậc Đại sĩ.

Khi Như Lai còn tại thế, người người đều y vào pháp hóa, không sanh pháp hữu lậu, sau khi Phật diệt độ, cách Phật càng xa, pháp hữu lậu ngày một tăng trưởng, cái tệ ấy phần nhiều là do người làm chủ, nay nêu sơ lược 6 người:

1. Thuyết pháp chủ: Là người thay Phật tuyên dương diễn nói 12 bộ kinh cho chúng.
2. Hành pháp chủ: Là người hạnh giải tương ưng, khiến cho chúng như thuyết tu hành.
3. Tăng phường chủ (tiếng Phạn là Ma Ma Đế, Trung Hoa dịch là Trụ trì hay Tự chủ): Nghĩa là Tỳ kheo dựng chùa hoặc là vị tri sự, biết xử lý những Tăng sự của chúng thường trụ, nay gọi là Giám viện hay Giám tự. Tăng Sử Lược ghi: “Chức trụ trì bắt đầu từ đời Đông Hán ở chùa Bạch Mã. Chùa đã dựng nên ắt phải có người làm chủ, lúc ấy tuy chưa có tên gọi là Trụ trì, nhưng có Tri sự. Từ đời Đông Tấn đến nay, chức vị này mới thịnh, cho nên Lương Võ Đế dựng chùa Quang Trạch, thỉnh ngài Pháp Vân làm trụ trì, lập ra pháp chế cho Tăng. Đó là quy củ của Đông Độ, không phải là phép tắc của những nước ở Quan Tây. Những nước ở Nguyên Tây, chức Thượng tọa là cao nhất. Vị đứng ra xây dựng ngôi chùa thì gọi là chủ, nếu có việc gì nên bàn bạc với chúng, nếu chúng đồng ý thì làm, chúng không đồng ý thì không làm, hoàn toàn không có ý riêng của người chủ, được như vậy mới phù hợp với việc hoằng hóa của bậc Đại thánh.
4. Giáo hóa chủ: Là người dạy bảo người khác làm phước, khuyên họ làm lành, khiến cho họ biết Tam bảoruộng phước tốt, phát lòng tin rồi hướng về quy y, cung kính cúng dường.
5. Toạ thiền chủ: Là người hướng dẫn chúng tu tập thiền định tam muội.
6. Hành lai chủ: Là người đảm trách việc đi lại, xuất nhập của Tăng chúng, chẳng hạn như Tôn Giả Đạp Bà Ma La Tử ngày xưa, ngày nay gọi là Tri chúng hoặc Tri khách.

Từ tâm làm chủ gồm:

1. Dùng từ tâm để khéo hòa giải trong chúng, dứt việc tranh cãi nếu có, khiến cho chúng được an vui tu tập. Tranh cãi có 4 thứ như luật ghi: Ngôn tránh, mích tránh, phạm tránh, sự tránh. Hoặc 7 pháp dứt sự tranh cãi như: Đáng cho làm phép hiện tiền Tỳ Ni, v.v...
2. Dùng từ tâm khéo giữ gìn của Tam bảo, khiến cho chúng tăng được thọ dụng đúng pháp. Vật của Phật, của Tăng đều có chủ không nên lạm dụng, dùng lộn xộn, dùng phải có mức độ, không tự ý xài như của riêng mình. Vật của Phật, nếu không tác pháp thì không được dùng cho Pháp, cho Tăng; Nếu là vật của Pháp thì không được dùng cho Phật, cho Tăng; Nếu là vật của Tăng , thì không được dùng cho Phật cho Pháp. Vật của Phật ở chỗ này không được đem đến Phật ở chỗ khác. Vật trong điện, trong tháp, kinh pháp, vật của Tăng thường trụ, vật của hiện tiền Tăng, v.v..., cũng không được dùng một cách lộn xộn. Như một hạt muối, một hạt gạo, một cây kim, một cọng cỏ, một tờ giấy, một viên thuốc, cũng không được dùng riêng cho mình. Ngày nay thì dễ dàng bỏ qua, nhưng quả báođời sau thì khó trả hết. Còn lại như kinh luật có nói rất rõ: “Nếu tài vật làm điện Phật có dư, thì được làm tượng Phật; làm tượng Phật có dư, thì phải làm đồ thờ cúng trước Phật, chứ không được làm điện PhậtLàm Phật điện có dư thì không được làm điện Bồ TátTượng Phật, tượng Bồ Tát không được dùng một cách lẫn lộn. Nếu vật của Pháp có dư, thì nên in ấn kinh Phật và sửa sang Pháp tòa. Vật của Tăng có dư nên để vào kho đụn, cúng dường cho Tăng mười phương. Tiền cúng trai phạn có dư thì không được làm trai đường, đọa Hỏa Già địa ngục. Tiền để làm đá thì không được đem làm ngói, tiền làm ngói thì không được đem làm đá.”

Kinh Bảo Ấn ghi: “Vật của Phật, của Pháp không được dùng lộn xộn. Vật của Phật, của Pháp không có chủ lại không thể tác bạch, nên không đồng với vật của Tăng. Vật của thường trụ, chiêu đề phải có tác bạch thưa hỏi.” Tháp Phật có tài vật dù chỉ hơn một tiền, do thí chủ có tâm coi trọng nên xả. Đối với vật này, chư Thiên, người khởi tưởng như Phật, như tháp. Nhẫn đến gió thổi hư hoại, không được đem đồ báu của người chết để làm tháp của Như Lai vì không người đặt giá.

Kinh Bảo Tích chép: “Phật dạy: Tỳ kheo đối với vật sở hữu không nên khởi tưởng tự tại, giả sử có làm việc gì, đại chúngđồng ý mới làm, chớ có tự tiện. Nhẫn đến vật của hiện tiền Tăng, tứ phương Tăng, không được dùng lộn xộn với vật của tháp Phật đắp đổi chứa nhóm, nên khéo đề phòng những việc lộn xộn như trên.”

Tăng Kỳ Luật chép: :”Tỳ kheo làm trụ trì, nếu tháp Phật không có vật, mà khởi tâm suy nghĩ rằng: Thí chủ sở dĩ cúng dường Tăng, đều nhờ ân của Phật, cúng dường Phậtcúng dường Tăng nên đem vật Tăng để sửa sang tháp, thì trụ trì mắc khinh tội. Đem vật của tháp cúng cho Tăng cũng vậy. Nếu đúng như phápsử dụng, trao đổi thì được, nhưng phải ghi lại rõ ràng, khi nào trao đổi, khi nào dùng, khi nào hoàn trả lại, nên đọc lại trước Tăng, giao lại minh bạch. Trong luật có dạy rõ việc này, không nên làm theo ý mình, lỗi ngàn đời khó tránh khỏi. Không đem tâm từ an ổn bảo hộ đại chúng, ngược lại làm loạn chúng, không dùng từ tâm khéo giữ gìn của Tam bảo, nếu chi dụng lãng phí, khiến chúng có việc tranh cãi, đó là phạm khinh cấu tội, nếu cố tâm dùng lẫn lộn thì phạm trọng tội.

 

Giới thứ 26
RIÊNG THỌ LỢI DƯỠNG

Nếu Phật tử, trước ở trong tăng phường, sau thấy có khách Tỳ kheo Bồ Tát đến hoặc trong thành ấp nhà cửa của tăng phường hay nhà cửa của Quốc vương cho đến nơi an cư kiết hạ, hay đại hội, ... chư Tăng ở trước phải rước đến đưa đi, cúng dường đồ ăn thức uống, đồ nằm, thuốc men, nhà phòng, giường ghế, v.v... nếu tự mình không có thì phải bán thân, bán con cái, lóc thịt thân mình mà bán để sắm đồ cúng dường cho khách Tăng ấy. Nếu có thí chủ đến thỉnh chúng Tăng thọ trai, khách Tăng có dự phần, vị Tri sự phải theo thứ tự, phái khách Tăng đi thọ trai. Nếu chư Tăng ở trước riêng đi thọ trai, mà không phái khách Tăng đi, thì vị Tri sự mắc vô lượng tội, không đáng là hàng Sa môn, không phải dòng họ Thích, nào khác gì loài súc sanh, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Trái với tâm bình đẳng của thí chủ, mất hạnh lợi tha của bậc Đại sĩ, không cử Tăng thứ lớp đi thọ trai, chính là muốn đem lợi riêng về mình, vì thế gọi là chỉ một mình mình thọ.

Tăng phường là chỗ Tăng nương ở (tiếng Phạn là Tăng Già Lam, Trung Hoa dịch là Chúng Viên) nghĩa là nơi cho chúng sanh gieo trồng mầm đạo Thánh quả; hoặc gọi là Tỳ Ha La (Trung Hoa dịch là Du Hành Xứ), là Tự viện mà Tăng qua lại; còn gọi là Tăng Già La Ma (Trung Hoa dịch là Chúng Viện), là nơi chúng Tăng ở.

Xưa, ngài Ma Đằng mới đến Trung Hoa, Hán Minh Đế thỉnh Ngài ở chùa Hồng Lô. Sau tuy dựng trụ xứ khác nhưng không quên tên cũ, nên vẫn gọi là “Tự” (chùa). Nhà cửa của Quốc vương, là nhà cửa, phòng xá mà Quốc vương dựng lập cho Tăng ở. Nơi an cư là nơi do vua, tôi, đàn việt thỉnh Tăng đến an cư 3 tháng hạ. Đại hội là hội vô giá (hội thí) hoặc hội Phật Niết bàn, hội Phật giáng sanh, hội Phật thành đạo, hội Tăng tự tứ, v.v... , người ở trước là chủ nhân, người đến sau là khách, chủ phải nghinh tiếp khách, cho đến cung cấp mọi thứ cho khách Tăng dùng.

Lóc thịt thân mình, là ý nói coi trọng việc cung cấp cho khách Tăng, thịt trên thân còn cắt huống gì những vật ngoài thân như là tiền của, lẽ đâu một mình mình nhận lấy sự lợi dưỡng ư ?

Nam nữ là gồm cả tại gia Bồ Tát, phải không tiếc thân mạng, quyến thuộc để cúng dường khách Tăng. Chánh văn tuy nói Tỳ kheo Bồ Tát, nhưng Thanh văn Tăng cũng có trong đó. Vị trụ trì hơn tại gia, Sa-di, Sa-di-ni, Thức-xoa-ma-na, vì họ là những người không biết việc Tăng, chỉ có Tỳ kheo mới đảm trách được chức vụ này, mới sai đón tiếp, cung cấp. Sau đó, mới theo thứ lớp mà đi phó trai.

Đàn việt, Đàn là tiếng Phạn ( Trung Hoa dịch là Thí) , Việt là siêu việt, nghĩa là người hay thực hành bố thí, thì liền vượt khỏi biển khổ nghèo cùng.

Khách Tăng, gồm cả Đại thừa, Tiểu thừa, Tăng từ mười phương đến, tức tất cả Tăng chúng, người có phần lợi dưỡng do đàn việt cúng dường hoặc thức ăn, hoặc y phục v.v... hoặc thỉnh hết, hoặc thỉnh có giới hạn, gồm chung phàm thánh mười phương, không luận là chủ hay khách, thảy đều bình đẳng, nên nói có phần.

Thứ lớp thọ thỉnh, nghĩa là đàn việt không có khả năng thỉnh hết đại chúng, chỉ giới hạn thỉnh 5 hoặc 10 vị, nhẫn đến 30 hay 50 vị mà thôi. Theo vị Thượng tòa nương thứ tự mà đi, nếu trước đó mà thí chủ có thỉnh riêng mình, mình đã được sai đi phó trai, nên theo thứ tự sai tiếp những người chưa được thỉnh đi, chứ không được vượt qua thứ lớp. Nếu biết Tăng chưa được mời, mà không sai đi, thì Trụ trì chỉ phạm tội khinh cấu. Đến lúc đi, tâm nghi ngờ ra khỏi Đại giới hoặc có Tăng mới vào là vị Thượng tọa, thì nên nhường cho Thượng tọa đi, bởi người mới đến chưa có phần, như vậy Trụ trì chỉ phạm tội không sai đi, đó là tội khinh cấu. 

Nếu biết ngoài đại giới không có Tăng đến, đã sai xong, nơi đáng đến lại không sai đi, hoặc sai dư người, thì người sai đi, người được sai, đều phạm tội trộm.

Phương tiện hoặc đồ ăn, hoặc đồ mặc, tính giá trị 5 tiền, thì thành trọng tội, nên nói mắc vô lượng tội. Chỉ biết có ăn uống mà không biết thứ lớp, nên Phật nói không khác gì với súc sanh, trái với phép thường của Tăng, nên chẳng phải Sa môn, phạm tội trộm kết trọng tội, nên chẳng phải con cháu dòng họ Thích.

Trước không nghinh tiếp cung cấp, sau lại không cho Tăng phẩm vật, đều mắc tội, nếu thí chủ không thiết trai phạn, nhưng có duyên riêng, thỉnh những người ở trước thì đi không phạm. Nếu ý của thí chủ muốn thỉnh hết chúng Tăng, nhưng những người ở trước làm trở ngại, thì những người này mắc tội. Nếu biết thí chủ gặp người đó thì sanh tâm không vui, nên tìm cách ngăn cản đừng cho người ấy đi, làm như vậy thì không phạm.

Có một con quỷ hỏi ngài Mục Liên rằng: “Tôi cả đời đến nay thường bị đói khát, muốn đến nhà xí ăn phẩn dơ, nhà xí có đại lực quỷ, cầm gậy đánh tôi, không cho tôi đến gần, không biết tôi đã gây tội gì mà phải chịu như thế?” Ngài Mục Liên đáp rằng: “Lúc ông làm người, giữ chức Trụ trì, khi có khách Tăng đến, tâm ông bỏn xẻn, không cho người ta ăn, đợi khi khách Tăng đi khỏi rồi, mới cho Tăng thường trụ ăn. Ông bỏn xẻn vật của Tăng nên phải chịu ác báo, còn quả báo phải vào địa ngục.”

Lại có một con quỷ hỏi rằng: “Tôi cả đời nay, trên vai phải mang một cái bình đựng đầy nước đồng sôi, rưới trên đầu tôi, đau đớn vô cùng, không biết tôi đã gây tội gì mà phải chịu cái khổ này?”. Ngài Mục Liên đáp: “Khi ông làm người giữ chức Duy na, biết rõ việc Tăng, chúng Tăng có một bình sữa, ông đem cất giấu chỗ khác, không cho khách Tăng uống, đợi khách Tăng đi rồi, mới cho chúng thường trụ dùng. Sữa này là vật thuộc Chiêu Đề Tăng, tất cả đều có phần, do ông bỏn xẻn vật của Tăng, nên nay thọ ác báo, còn quả báođịa ngục.”

Phật bảo ngài Tăng Hộ: “Ông thấy hạng người thứ 4 này, không phải là Tăng ở trong chùa, cũng chẳng phải là Tỳ kheo mà là người ở địa ngục. Thời Phật Ca Diếp, người này xuất gia thường ở trong chùa, có đàn việt đem thức ăn đến, cúng dường cho hiện tiền Tăng, khi đó có khách Tăng đến, Tỳ kheo trụ trì này do tâm bỏn xẻn tham tiếc, đợi khách Tăng đi mới chia cho chúng thường trụ, chưa kịp chia thì bị trùng phá hư thức ăn, đành phải đem đổ, do nhơn duyên này, đọa vào địa ngục ăn phẩn dơ, uống nước tiểu. Từ khi Phật Ca Diếp nhập diệt đến nay, chịu khổ không lúc nào ngớt. Lại nữa, ông thấy hạng người thứ 6 này, không phải là Tăng ở trong chùa, cũng chẳng phải là Tỳ kheo, mà là người ở địa ngục. Thời Phật Ca Diếp người này xuất gia, không đánh kiền chùy báo cho Tăng biết, lẳng lặng cùng với chúng Tăng uống nước ngọt, vì sợ Tăng ở ngoài đến, do nhơn duyên bỏn xẻn tham tiếc kia, nên phải đọa trong địa ngục, uống nước đồng sôi, chịu khổ đến nay chưa hết. Ông có thấy cái đài thịt to lớn thứ 2 kia không, đó chẳng phải là đài mà là người ở địa ngục. Thời Phật Ca Diếp, ông này là người xuất gia, vì làm chủ chư Tăng trong chùa, ưa lựa phòng xá tốt, rồi tự mình hoặc cho những người thân hữu thọ dụng và không chịu theo luật thứ lớp phân chia phòng xá, vì tâm không bình đẳng, do nhơn duyên này nên phải đọa địa ngục, làm đài thịt lớn, thọ muôn ngàn thống khổ, đến nay chưa hết.” Ngoài ra như trong Kinh Tăng Hộ có nói rõ.


Giới thứ 27
THỌ BIỆT THỈNH

Phật tử, tất cả không được nhận thỉnh riêng, nhận hết lợi dưỡng về cho mình, của cúng dường này thuộc về thập phương Tăng, nếu nhận riêng thời là lấy của thập phương Tăng đem về phần mình. Vật trong tám phước điền, vật của chư Phật, Thánh nhân, của tất cả Sư Tăng, Cha mẹ và người bệnh, nếu tự mình lấy, dùng, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Tất cả, đây là chỉ cho vua, quan, bề tôi, kẻ sĩ, muôn dân, năm chúng xuất gia và hai chúng tại gia. Muốn lựa chọn thỉnh riêng chừng vài người, người được thỉnh không được nhận thỉnh, bởi vì lợi dưỡng của thí chủ đều thuộc về Tăng của thập phương, ai nấy đều có phần. Nếu ta nhận lời mời tức là ta đã lấy vật của Tăng đem về cho mình, mà đó cũng là cướp đoạt vật trong tám phước điền đem về mình tự dùng.

Tăng được lợi dưỡng, được thí chủ cúng, thì trước là cúng cho Kỉnh điền, sau là cho Ân điền, sau nữa là cúng cho Bi điền. Nếu thỉnh thuyết pháp, thọ giới, hoặc thấy căn cơ thích nghi hoặc biết vì thí chủ tâm không còn chấp ngã, thời không tính toán về công đức hoặc số người được thỉnh, chỉ trong 4 người, có một người do Tăng sai đi, thì không phạm.

Tăng là chúng hòa hợp, một, hai hay ba người không gọi là Tăng, mà 4 người trở lên cho đến trăm, ngàn người mới gọi là Tăng”.


Giới thứ 28
BIỆT THỈNH TĂNG

Phật tử là những hàng Bồ Tát xuất gia, Bồ Tát tại gia, cho đến tất cả đàn việt, lúc muốn thỉnh Tăng để cúng dường, cầu nguyện, nên vào trong Tăng phường thưa với vị Tri sựTri sự mới bảo rằng: “Theo thứ tự mà thỉnh thời được thập phương hiền thánh Tăng, nhưng người đời thỉnh riêng, 500 vị Tăng Bồ Tát, A la hán cũng chẳng bằng Tăng sai một phàm phu Tăng. Nếu biệt thỉnh Tăng thì đó là pháp của ngoại đạo. Trong 7 Phật không có pháp biệt thỉnh Tăng, vì không thuận theo đạo hiếu, nếu Phật tử cố thỉnh riêng thời phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Trái với tâm vô tướng, mất phước bình đẳng, Tam luân chưa không, chẳng phải Pháp đàn Ba-la-mật của bậc Đại sĩ. Hiền, Thánh có Quyền và Thật. Thật là những vị đã chứng Tứ quả,Tam Hiền, Thập Thánh. Quyền tuy là phàm phu nhưng đã thọ Đại giới Tâm địa Bổn nguyên, tu học chánh đạo của Hiền, Thánh, nên cũng gọi là Hiền, Thánh. Vì thế, Tăng là gồm cả Phàm và Thánh, thí khắp mười phương, tâm hành bình đẳng, phước như hư không, nếu tâm còn sanh lựa chọn thì phước quảgiới hạn, huống gì Thánh và Phàm khó rõ, hơn kém khó lường, vì thế mà ngài Tân Đầu Lô bị đánh. Sa-di không được nhận cúng y, nên biết không lựa chọn, thì thỉnh được Hiền, Thánh, huống gì đức Như Lai đã sai 16 vị đại A La Hán, mỗi người lãnh trăm ngàn đồ chúng đều chứng Tứ quả, thị hiện đồng phàm phu, người thường đâu biết được, để làm bậc phước điền cho đàn việt.

Xét trong Thập Tụng Luật, Giới Nhơn Duyên Kinh, mẹ ngài Tỳ kheo Tỳ Xá Khư, thỉnh riêng 500 vị A La Hán, Phật bảo mẹ ngài Tỳ Xá Khư là người vô trí, không khéo léo, không được đại phước, nếu ở trong Tăng, theo thứ lớp thỉnh một vị, được công đức rất lớn, lợi ích phước báo rất thù thắng.

Hỏi: Như vậy thì 500 vị Thánh Tăng không bằng một phàm phu Tăng ư?

Đáp: Nên biết luận về phước điền, thì vượt hơn trăm ngàn vạn, nhưng vẫn chưa bằng Thánh.

Cho nên, ngài A Na Luật đem dâng một bửa ăn cho vị Độc Giác, từ đó đến nay trải qua 91 kiếp, dù ở trên trời hay dưới nhân gian, Ngài luôn hưởng phước điền.

Như Kinh Tứ Thập Nhị Chương chép: “Cúng thí cho kẻ ác nhẫn đến cúng dường Như Lai, phước kia rất rõ. Luận về tâm, nếu tâm bình đẳng thì phước lớn; vì thế, đức Như Lai sai Xá Lợi Phất, đem cơm thí cho con chó, nhưng xét về lý thì tùy thời mà chọn cúng, chớ có chấp nê vào một pháp, thì sẽ được không ngăn ngại, ở đây luận về tâm thí bình đẳng, chứ không luận về cầu pháp, cầu pháp phải đủ con mắt trạch pháp, không thể không biết rõ tà chánh, không phân biệt được hiền, ngu, mê mất đạo lớn, việc chẳng phải nhỏ.

Kinh này ghi: “Khi đức Như Lai mới ngồi dưới cội cây Bồ đề, mẹ ngài Tỳ kheo Tỳ Xá Khư chưa sanh, làm sao nói thỉnh riêng 500 vị Tăng ư ?” Đây là Như Lai nói về thời quá khứ, việc xảy ra trước thời Phật, hoặc là thọ ký trước, sau quả nhiên, mẹ ngài Tỳ kheo Tỳ Xá Khư có việc như vậy.

Tin theo giáo pháp ngoại đạo là không tuân theo lời Phật dạy, là trái lại giáo pháp Phật, trái lại nhơn địa phàm thánh, nên nói không thuận đạo hiếu.

Bảy Phật đều ứng hóathế giới Ta bà này, dấu tích trong cả 100 kiếp, cõi Trường thọ thiên, đều đã từng thấy, nên chỗ nào cũng dẫn 7 Phật để làm chứng, khiến cho mọi người dễ biết rõ.

91 kiếp về quá khứ, có một vị Phật ra đời, tên là Tỳ Bà Thi, cũng gọi là Duy Vệ, các kiếp trong khoảng kế tiếp không có Phật ra đời, đến kiếp thứ 31 có hai vị Phật ra đời là:
1. Phật Thi Khí
2. Phật Tỳ Xá Phù

Đến kiếp thứ 91, gọi là Hiền kiếp. Lúc này có ngàn Phật ra đời như: Phật Câu Lưu Tôn, Phật Câu Na Hàm Mâu Ni, Phật Ca Diếp, Phật Thích Ca Mâu Ni, v.v... cho đến vị Phật sau cùng trong 1000 Phật này ra đời tên là Lâu Chí Phật.

Trước riêng thọ lợi dưỡng, không sai khách Tăng đi phó thỉnh, là mắc tội, sau thọ biệt thỉnh là tự mình thọ nhận người khác thỉnh riêng, nên mắc tội. Nay giới này tự lựa chọn thỉnh Tăng, nên kết tội. Không phải cầu phước mà cúng trai Tăng, hoặc biết rõ thân bằng quyến thuộc, thì không phạm.


Giới thứ 29
TÀ MẠNG NUÔI SỐNG

Nếu Phật tử dùng ác tâmlợi dưỡng buôn bán nam sắc, nữ sắc, tự tay làm đồ ăn, tự xay, tự giã, xem tướng nam nữ, giải điểm kiết hung, bùa chú, pháp thuật, nghề nghiệp, phương pháp nuôi chim và chó săn, hòa hiệp trăm thứ thuốc độc, ngàn thứ thuốc độc, rắn độc, kim ngân độc, cổ độc, đều không có tâm từ mẫn, tâm hiếu thuận. Nếu cố ý làm các điều như thế, thì Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Nương vào tà pháp được lợi dưỡng nuôi thân mạng, tổn thương sanh vật làm lợi cho mình, đều chẳng phải tâm từ bi thanh tịnh của Đại sĩ.

Ác tâm là chẳng phải thiện tâm, vì lợi dưỡng mà chẳng phải vì lợi tha.

Buôn bán nam sắc nữ sắc, nghĩa là mua bán nam nữ tuổi nhỏ, đem đến cho người để thoả mãn việc ham muốn (dục vọng). 

Tự tay làm đồ ăn là đích thân mình thổi nấu.

Tự xay, tự giã là xay giã ngũ cốc.

Xem tướng nam nữ, tức là bói xem hình dáng, khí sắc rồi bảo cho họ biết chết yểu hay là giàu nghèo.

Giải điềm kiết hung là đem điềm mộng để đoán tốt xấu, họa phước, đã có thai nam hay nữ.

Chú thuật là phù phép tà chú của ngoại đạo.

Công xảo là 100 thứ kỹ nghệ. Nuôi chim và chó là dạy chim, chó để đi săn.

Trăm thứ ngàn thứ thuốc độc là tất cả thứ thuốc độc ở thế gian, hòa hợp lại, nấu thành cao hoàn tán để hại sanh vật.

Rắn độc là lấy nọc độc của rắn ở đầu, ở đuôi, hoặc ở não, hoặc tinh dịch để hại người khác. Kim ngân độc là thứ độc uống vào chết ngay. Cổ độc là hòa hợp thuốc độc uống vào thì sình trướng.

Đều không có tâm từ mẫn, nghĩa là bậc Đại sĩ phải dùng tâm từ thương xót tất cả chúng sanh cũng như con mình, phải thường nhớ nghĩ tổn hại mình để làm lợi cho người, nhưng trái lại tự nuôi sống mình bằng cách làm hại người, chẳng khác nào ăn thịt con mình, cho nên không có tâm từ mẫn là thế. Bồ Tát coi chúng sanh như Cha mẹ mình, mà trái lạilợi dưỡng riêng mình mà thương tổn đến thân nhân, ngỗ nghịch không ai bằng, đó là không có tâm hiếu thuận.

“Cố ý làm” rõ ràng không phải là nhầm lẫn, lấy tà nghiệp để mưu cầu mạng sống cho mình, nên phạm khinh cấu tội. Nếu việc làm khiến chúng sanh phải chết thì phạm trọng tội. Nếu Bồ Tát tại gia dùng chú thuật công xảo y dược, đúng như pháp tự nuôi sống, không thương tổn sanh vật thời không phạm. Bồ Tát xuất gia dùng chú thuật công xảo, cứu nguy bạt khổ cho chúng sanh, không có tâm cầu lợi thì cho phép.

Hỏi: Xay giã nấu ăn, người tại gia làm sao tránh khỏi ?

Đáp: Đây có hai nghĩa, một là tự nuôi sống bản thân, không phải là việc làm của bậc đại nhân. Hai là trong ngũ cốc phần nhiều có trùng, nếu không tổn hại đến chúng sanh, không phải dùng tà nghiệp để sanh sống. Hai chúng nhỏ xuất gia, Phật cũng khai cho. Xét trong Kinh Luận, dùng tà nghiệp để mưu cầu mạng sống có 5 loại hoặc 4 loại, nay xin đưa ra cùng với các giới:

1. Vì lợi dưỡng, nên trá hiện những điều kỳ đặc.
2. Vì lợi dưỡng, nên tự nói công đức của mình.
3. Vì lợi dưỡng, xem tướng tốt xấu.
4. Vì lợi dưỡng, lớn tiếng ra uy, khiến cho người sợ.
5. Vì lợi dưỡng, nên nói lợi ích của việc cúng dường để kích động lòng người khác.

Người xuất gia có 4 thứ tà mạng nuôi sống:

1. Hạ khẩu thực, nghĩa là nói về thuốc men trị bệnh, xem địa lý, gieo trồng các thứ cây trái ruộng vườn.
2. Ngưỡng khẩu thực, nghĩa là xem thiên văn, mặt trăng, mặt trời, 5 thứ tinh tú, v.v...
3. Phương khẩu thực, nghĩa là nịnh hót nhà giàu, kẻ có thế lực, đi sứ 4 phương, nói năng khéo léo để mưu cầu nhiều lợi.
4. Duy khẩu thực, nghĩa là học các thứ chú thuật bói toán kiết hung, nếu trái với những thứ trên đây gọi là Tịnh mạng thực.

Tịnh mạng cũng có 4 thứ:

1. Ở trong núi sâu, ăn rau trái
2. Thường đi khất thực 
3. Thọ dụng đàn việt cúng dường
4. Ăn món ăn thanh tịnh trong Tăng.

Dùng các thứ này để nuôi sống thân mạng cho mình thì không làm nhiễm ô tâm địa nên gọi là Tịnh mạng.


Giới thứ 30
BẤT KÍNH TRỌNG NHỮNG NGÀY TRAI GIỚI
(Ngày tốt)

Nếu Phật tửác tâm tự mình hủy báng Tam bảo, giả tuồng kính mến, miệng thì nói không, mà hành vi ở trong lại có, làm quản lý cho hàng Bạch y, vì hàng bạch y làm mai làm mối cho nam nữ giao hội dâm sắc, gây thành các nghiệp kiết phược; sáu ngày trai trong mỗi tháng, ba tháng trường trai trong mỗi năm, làm việc sát sanh, trộm cắp, phá trai phạm giới, người này phạm tội khinh cấu.

Mười giới như thế hết lòng kính trọng, phụng trì.

Giải thích:

Những ngày tốt mà không có tâm cung kính là chẳng có tín tâm hiếu tâm. Lời nóiviệc làm trái nhau, chẳng phải là chánh tâm chơn chánh. Sáu ngày trai trong một tháng và ba tháng trường trai trong một năm, những ngày này là ngày Phật hiện Đại thần thông, nhẫn đến Phật Đản sanh và ngày thành đạo, nhập Niết Bàn, ngày Tự tứ, v.v... đều là ngày giờ tốt.

Ác tâm, nghĩa là đối với Tam bảo, không sanh tâm cung kính phụng sự, khéo dẫn dắt mọi người, lại dối gạt, trá hiện tướng thân cận Tam bảo, khiến cho người khác tin kính. Miệng thốt ra lời nói lý Bát nhã, thực tế trong tâm lại chấp có, lời nóiviệc làm trái nhau, trái với chơn chánh, nên nói là phỉ báng Tam bảo.

Kinh lý, nghĩa là kinh doanh lo liệu công việc cho hàng Bạch y, thậm chí làm việc mai mối cho nam nữ, tư thông dâm ái với nhau, hoặc làm môi giới, hoặc những việc uế ác, xấu xa khác.

Gây nên các nghiệp kiết phược, nghĩa là làm các việc dơ xấu như trên, cả mình và người cùng bị trói buộc trong 3 đường ác (địa ngục, ngạ quỷ súc sanh) trôi lăn trong sáu đường sanh tử, khổ không được giải thoát.

Sáu ngày trai, trong kinh Thiên Vương ghi: “Chư Thiên dò xét xem trong những ngày trai này, con người làm thiện hay ác. Mỗi vị trời cõi Tứ Thiên vương trấn giữ một phương, thường chọn 3 ngày trong tháng là mồng một, mồng 8 và 20 để sai sứ giả xuống nhân gian xem xét việc làm của chúng sanh là thiện hay ác. Còn ngày 14 và 29 sai Thái tử xuống, ngày 15 (rằm) và 30, Tứ Thiên vương đích thân xuống, ra lịnh cho nhựt nguyệt và tinh tú, 28 tinh chủ cần quán sát xem chúng sanh thiện hay ác, thấy rồi trở về Thiên đình tâu với trời Đế Thích, để thi hành kiết lành hay dữ.”

Ba tháng trường trai, là tháng giêng, tháng 5 và tháng 9. Trời Đế Thích dùng gương Đại Bảo, chiếu soi cõi Nam Thiệm Bộ Châu để quán sát tội phước của chúng sanh cõi này. Trời Tứ Thiên vương mỗi vị đều phân chia trấn giữ giữa tháng ở cõi Tứ Đại Bộ Châu.

Nay 3 tháng này, là Đa Văn Thiên Vương ở phương Bắc, trấn giữ phía Nam Châu, quán sát tháng thiện hay ác. Ngày này tháng này, tất cả quỷ thần thường thừa cơ, cũng là thời gian tốt để các vị Thiên vương cùng nhau đi tuần thú, thế nên cần tránh ác tu thiện. Thời điểm tốt như thế mà chúng Bồ Tát, Phật tử không biết, trái lại đem tâm mạn nghịch, sai phạm giới luật, không sanh tâm hổ thẹn lo sợ, điều này gọi là ác tâm.

Sát sanh trộm cắp, 2 giới này đã lược nêu trong mười giới trọng, nay nêu 2 giới này thời đã bao gồm 10 trọng giới, tùy theo việc sai phạm mà kết tội Ba-la-di. Hơn nữa, trong 10 trọng giới lại kết thêm tội khinh cấu. như người phạm tội tử hình lại dùng roi đánh thêm. Nếu phạm trong 48 giới khinh, tức là thêm một tội bất kính trong những ngày trai giới.

Phá trai, là trong sáu ngày trai của Phật tử tại gia, trường trai một tháng thọ trì Bát quan trai giới, quá ngọ không ăn (gọi là trai), nếu phạm là phi thời thực, nên nói là phá trai. Người xuất gia trọn đời không phạm phi thời, cũng như trong các ngày trai, nếu phạm là phi thời thực, tội càng nặng thêm.

Kinh Anh Lạc ghi: “Nếu có Bồ Tát Ma Ha Tát, tu tập pháp lục độ thanh tịnh, gồm tu cả Bát trai giới của chư Phật, thiện nam tử thiện nữ nhơn này đối với việc hành sáu pháp này đầy đủ hạnh thanh tịnh.” Đúng như kinh đã chép, lại có thể khinh bỏ trai giới, bỏ tám pháp trai giới không thọ trì, cam tâm làm người phá giới chăng ?

Mười giới như thế hết lòng kính trọng phụng trì. Phần còn lại như trong phẩm Chế Giới có ghi rõ.


Giới thứ 31
KHÔNG MUA CHUỘC

Phật tử, sau khi Phật nhập diệt, ở trong đời ác nếu thấy tất cả hàng ngoại đạo, kẻ ác trộm cướp, cùng tất cả người ác đem bán hình tượng Phật, Bồ Tát, Cha mẹ, đem bán kinh luật, đem bán Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, người hành đạo Bồ Tát, kẻ phát tâm Bồ đề, để làm tay sai cho các quan, hay làm tôi tớ cho mọi người, v.v... nên có lòng từ bi cứu hộ, tìm cách cứu vớt, nếu không đủ sức, Phật tử phải đi quyên tiền các nơi để chuộc hình tượng Phật, Bồ Tát cùng tất cả kinh luật, chuộc Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, người tu hạnh Bồ Tát, kẻ phát tâm Bồ đềNếu không chuộc, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Thấy người khổ mà không cứu giúp thì không có tâm từ bi, biết người bị người khác bán mà không chuộc thì trái với đạo hiếu thuận.

Sau khi Phật diệt độ, là nói rõ đời mạt pháp. Khi Phật còn tại thế, phần đông người ta làm lành lánh dữ, nên không có tệ nạn như trên xảy ra.

Ảnh tượng, hoặc là điêu khắc, hoặc tự họa, nếu bị người khác cưỡng đoạt chiếm lấy, hoặc bị giặc cướp, hoặc trộm lấy đem bán. Nay chỉ nêu 2 chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, thời đã bao gồm cả 7 chúng rồi.

Người phát tâm Bồ đề, là người mới phát đạo tâm. Đạo nhơn, là người hành Bồ Tát đạoĐại Trí Độ Luận ghi: “Người đắc đạo gọi là Đạo nhơn, ngoài ra, người xuất gia tuy chưa đắc đạo, nhưng do tu đạo xuất thế nên cũng gọi là Đạo nhơn. Quan sử là người sai khiến phục dịch những việc quan sai. Tất cả mọi người, là kẻ sĩ, nhà nông, thợ thuyền, thương buôn, v.v...

Tượng PhậtPhật bảo. Kinh luật là Pháp bảo. Người phát đạo tâmTăng bảoHình tượng Bồ TátĐại thừa Tăng bảoTỳ kheo, Tỳ Kheo NiTiểu thừa Tăng bảoCha mẹÂn điền.

Phật tử cũng là Đại sĩ trong trời đất, đang ở trong đời mạt kiếp ác thế này, hộ trì Phật pháp, nối dòng Tam bảo, rộng làm việc lành hóa đạo chúng sanh, đâu có thể thấy người khổ mà ngồi nhìn những việc hủy nhục vậy sao ? Bởi vậy phải cứu vớt nỗi khổ cho họ. Nếu tự mình không có khả năng tiền của để chuộc lại, phải dùng các thứ phương tiện khuyến hóa người khác chuộc lại. Nếu tâm biếng nhác hoặc cố ý không chuộc, đều phạm.


Giới thứ 32
TỔN HẠI CHÚNG SANH

Phật tử, không được chứa hay buôn bán dao, gậy, cung, tên, những khí cụ sát sanh, không được dùng cân non, giạ thiếu để đong, không được nương thế lực quan quyền mà lấy tài vật của người, không được ác tâm trói buộc người, phá hoại việc thành công của người, không được nuôi mèo, chồn, heo, chó. Nếu cố làm các điều trên đây, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Ngăn ngừa nhơn xa tổn hại, lìa nghiệp kiết phược về sát sanh, trộm cắp, v.v... mới không trái với tâm từ bi, tâm lợi ích của bậc Đại sĩ.

Đao trượng, cung tên, trói buộc, mèo chồn heo chó, ấy là tổn hại chánh báo thân mạng của chúng sanh, ngoài ra các thứ vật nhỏ, v.v... đều là tổn hại y báo các vật thọ dụng của chúng sanh. Dùng cân non bán ra, tất dùng đấu lớn mua vào, thước đo dài ngắn cũng vậy.

Hình thế, hoặc tự dụng thế lực quan quyền, hoặc ỷ thế lực người khác. Trói buộc là dùng thế lực ác độc riêng tư mà trói buộc người, làm tổn hại thân thể chúng sanh, chứ không phải dùng tâm công bằng trói buộc. Tuy là tội nhơn, cũng cần nên sanh tâm thương xót, nhớ nghĩ họ ngu si không biết, nên phương tiện khuyến dụ, khiến cho họ phát khởi tâm tốt, sửa đổi lỗi quấy trước.

Phá hoại sự thành công của người, nghĩa là người khác muốn thành tựu sự nghiệp mà mình do vì ác tâm, trái lại muốn cho họ bỏ phế hư hoại việc ấy.

Trưởng dưỡngnuôi dưỡng. Mèo chồn đều là loài thú bắt chuộc. Heo, chó là tham tài hại mạng, nếu mua bán thì phạm tội khinh cấu.

Sát sanhphạm giới trọng đầu. Đấu là đồ đong đếm, cho đến ỷ vào thế lực để lấy tài vật của người và phá hoại sự nghiệp của người khác, đều phạm vào giới trọng thứ hai, gọi là khi dối cưỡng đoạt, nên phạm.

Kinh Ưu Bà Tắc Giới ghi: “Cũng không cho nuôi chó, heo, dê, v.v...” Trong Luật ghi: “Vì đề phòng, giữ gìn tài sản của chùa nên khai cho phương tiện nuôi chó.”

Kinh Tạp Tạng chép: “Có một con quỷ thưa ngài Mục Liên rằng: Âm hoàn của tôi to lớn như là cái hũ, khi đi phải vác lên vai, khi đứng phải ngồi lên trên âm hoàn ấy, đi lại rất là khổ sở, không biết vì nhơn duyên gì ? Ngài Mục Liên đáp: Khi ngươi còn ở đời, bán thì dùng cân thiếu, mua thì dùng cân nặng, chỉ muốn lợi nhiều mà thôi, do cắt xẻn người khác, nên thọ tội này, đây là họa báo, khổ quảđịa ngục sau này phải chịu.”


Giới thứ 33
TÀ MẠNG GIÁC QUÁN

Phật tử, không được vì ác tâm đi xem nam nữ đánh nhau, hay quân trận, binh tướng giặc cướp, v.v... đánh nhau, cũng không được đi xem hát, nghe nhạc, chơi cờ, đánh bạc, đá cầu, đá bóng, v.v..., cho đến bói quẻ, không được làm tay sai cho kẻ trộm cướp, nếu cố làm các điều trên, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Ác tâm thúc đẩy, nghĩa là lấy việc được thua thắng bại của người làm trò vui giải trí cho mình. Có khi mình vui thích trong cái đau khổ của người khác mà không hay. Khi họ đánh nhau, gây nhau, v.v... Xảy ra những việc trái với thiện tâm, mình không có khả năng phương tiện can gián cho họ mà trái lại còn trực tiếp coi xem lấy đó làm vui thích, thật là trái với tâm từ bi của Đại sĩ, thật là ác tâm, tà tư tà giác. Gồm có năm việc như sau: coi đôi bên đấu tranh, coi người vui chơi, coi đánh cờ, đánh bạc, bói quẻ, v.v...Tất cả những việc trên đều làm cho ta rối loạn tâm trí, dễ manh nha ác tâm, đệ tử Bồ Tát giới cần tránh. Tất cả chỗ vui chơi đều khiến cho người ta buông lung phóng túng, quên mất chánh niệm. Như hiện nay, các thứ trò chơi đều khiến cho người ta mê tâm loạn trí, đều là tà nghiệp, không phải chỗ tăng trưởng Đại bi tâm của Đại sĩ.

Bị giặc cướp sai khiến, đây thuộc về tánh nghiệp và giá nghiệp, còn giá tội, tùy vào việc sai phạm mà kết thành tội khinh.

Kinh Giới Bản chép: “Nếu Bồ Tát lười biếng buông lung, ham vui, ham ngủ, nghỉ, đều là phi thời, không phải hạnh xuất ly, đây là phạm tội nhiễm ô tâm địa. Không phạm là khi bệnh hoặc vì đoạn mạng, giới này nhiếp tất cả, vì khi muốn khởi tâm phương tiện nhiếp thủ đối trị, phiền não tánh thường sanh khởi.


Giới thứ 34
TẠM BỎ BỒ ĐỀ TÂM

Nếu Phật tử ngày đêm sáu thời đọc tụng giới Bồ Tát này, nên giữ gìn giới luật, trong cả khi đi đứng nằm ngồi vững chắc như kim cương, như đeo phao để qua biển khổ. Như các Tỳ kheo bị cột bằng dây cỏ, thường có tín tâm Đại thừa. Đối với Đại thừa, tự biết rằng mình là Phật chưa thành, còn chư Phật là Phật đã thành, rồi phát Bồ đề tâm và giữ vững không thối chuyển. Nếu có một tâm niệm xu hướng theo Nhị thừa, hay ngoại đạo, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Tâm muốn trái bỏ giáo pháp Đại thừa, hướng về Tiểu thừa, ý còn do dự chưa quyết định hẳn, liền phạm như giới thứ 8 trước. Nếu tâm đã quyết thì liền mất giới, phạm giới trọng.

Nay giới này nói tâm chưa muốn trái bỏ Đại thừa, mà chỉ nói giáo pháp Đại thừa dễ tu dễ học. Hơn nữa, trước cần đoạn Kiến, Tư, Hoặc để chứng Niết Bàn, rồi sau hóa sanh chưa muộn, mà tạm dấy khởi niệm này, thì đã phế bỏ Đại nguyện rồi, rốt cuộc đọa vào pháp Thanh văn, đâu biết Đại sĩ còn nguyện mang Hoặc nghiệp, mà vẫn có thể làm lợi quần sanh. Nên Luận Chỉ Quán ghi: “Thối tâm Đại thừa, thủ chấp Tiểu thừa bị các Thánh quở trách.” Bồ Tát thì không như vậy, thấy chúng sanh khổ, coi như mình khổ, khởi tâm đại bi, thương chúng sanh như con một. Như khi người mẹ được món ăn, thường nhớ đến đứa con. Nếu Bồ Tát cầu trụ nơi Thiên không Niết bàn, thì có lỗi xả bỏ chúng sanh, đâu thể làm thanh tịnh quốc độ Phật. Giáo hóa chúng sanh phải có đầy đủ Phật Pháp. Tất cả chưa có thể làm xong, tuy vào thế gian sanh tử phiền não, nhưng nếu có đủ đạo lực, thì không bị tổn hại trí tuệ của mình. Dầu đạo Phật dài xa, cũng không lấy làm xa, tuy chúng sanh số nhiều, mà có ý chí dõng mãnh, tâm kiên cố không thối khuất, tinh tấn phát tâm thú hướng về giác ngộ, trước hết tâm không mệt mỏi biếng nhác. Nên nói Bồ Tát ở trong sanh tử mà có tâm dõng mãnh, đối với cảnh Niết Bàn mà không đắm trước. Dõng mãnh ở nơi sanh tử, vô sanh mà sanh, không bị sanh tử làm nhiễm ô, như hoa sen ở trong bùn, không bị bùn làm ô nhiễm.

Trong Phụ Hành Sao ghi: “Ở nơi cao nguyên không sanh hoa sen, ở chốn bùn lầy đất ướt mới sanh hoa sen.” Nên biết Niết bàn Cao nguyên không thể sanh hoa Đại bi của Bồ Tát, mà nơi sanh là bùn sanh tử, mới là lực dụng thù thắng của Bồ Tát. Tuy ở trong sanh tử mà không bị sanh tử làm nhiễm ô, bởi vì chí dõng mãnh và thệ nguyện kiên cố của bậc Đại sĩ, huống gì Tiểu thừa giới không lìa Bồ Tát giới. Sức của giới Bồ Tát, hay thành tựu chí nguyện độ sanh. Đây là lấy Đại nhiếp Tiểu. Tiểu thừa không có Đại dụng, làm sao hóa sanh được ?

Trong 58 giới này, đều là đức Xá Na chế, nên nói cấm giới, như sắc lệnh cấm của nhà vua, không ai dám cố ý sai phạm. Thế nên bậc Đại sĩ ở trong tứ oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi) hộ trì cấm giới, không để cho sai phạm, ngày đêm phải chuyên cần học tập, đọc tụng cho thông làu, khiến cho đừng quên.

Kim cang, dụ cho giới hay phá trừ được giặc kiết sử phiền não, cũng dụ cho tâm kiên cố giữ gìn cấm giới của Đại sĩ vững như kim cang.

Phao là đồ vật mà người ở Thiên Trúc sử dụng để vượt qua biển, hoặc dùng lông cừu, cánh chim để làm thành, hoặc làm bằng da dê, hoặc mang phao nổi, thường mang theo bên mình. Khi thuyền đi biển, nếu bị hư, liền thổi hơi cho nổi lên để vượt qua biển cả sanh tửNếu không nương vào cấm giới của Phật thì không thể sang bờ bên kia được. Nên Kinh Niết Bàn ghi: “Có một con quỷ La-sát theo người qua biển, ân cần xin cái phao, người qua biển trả lời quỷ rằng:”Thà giết thân mạng ta, còn phao không thể cho được, quỷ La-sát nói: Nếu không bằng lòng cho ta hết thì xin vui lòng cho ta một nửa thôi, người kia cũng từ chối.” Đây là dụ cho khi Bồ Tát giữ gìn cấm giới, quỷ phiền não La-sát xúi Bồ Tát, khiến cho phạm 10 giới trọng, còn giới khinh thì hộ trìBồ Tát không thuận theo, như thế, lần lần quỷ La-sát (vô minh phiền não) xúi phạm Bồ Tát khởi tâm tạo các tội cấu ác, Bồ Tát cũng nhất định không thuận theo, vì cớ sao ? Vì Bồ Tát giữ mười giới trọng của Phật và các tội khinh cấu, ác tác, kính trọng giữ gìn hết sức kiên cố, giới trọng cũng như giới khinh, không khác.

Các Tỳ kheo bị buộc bằng cỏ, nghĩa là Phật chế giới, Tỳ kheo không được làm tổn hại cỏ cây. Xưa có các Tỳ kheo đi ngoài đồng vắng, bị giặc cướp đoạt hết quần áo, giặc sợ các Tỳ kheo vào tụ lạc báo cho dân biết, họ muốn giết hết các Tỳ kheo. Trong số bọn giặc có một người, biết Tỳ kheo không làm thương tổn cỏ cây, bèn cột họ vào cây cỏ rồi bỏ đi. Ngày hôm đó, các Tỳ kheo bị muỗi mòng, bọ chét chích đốt, từ sáng đến tối, ác thú liên tiếp tung hoành, rất đáng lo sợ. Các Tỳ kheo cùng nhau nhắc nhở chỉ lo giữ gìn cấm giới, thà chết không sai phạm. Mỗi người đều giữ yên thân mình không để dao động. Ngày hôm sau, nhà vua đi săn bắn, thấy các Tỳ kheo thọ trì giới cấm, nguyện thà chết không sai phạm, nhà vua thấy thế rất lấy làm hoan hỷ, liền sai người cởi trói cho các Tỳ kheo.” Phần này trong Kinh Nhơn Duyên và luận Đại Trang Nghiêm nêu rõ.

Hỏi: Nay theo giới kinh này, khi ấy, đức Như Lai mới ngồi dưới cội Bồ đề nói giới kinh này, lúc đó chưa có chúng Tỳ kheo, làm sao bị cột bằng cỏ được ?

Đáp: Đây hoặc Như Lai dự ký, hoặc là các việc của Tỳ kheo từ thời Phật quá khứ, dẫn ra để chứng minh. Như vào thời Phật Ca Diếp, có vị Tỳ kheo ngồi thiền, bẻ cành lá của cây Y La Thối, bị đọa trong loài rồng, cây có mùi xú uế sanh ở trên đầu, gió thổi diêu động, mủ tràn khắp làm nhơ biển cả, trăm ngàn muôn năm chịu các thống khổ, cho đến khi đức Phật Di Lặc ra đời, mới thoát khỏi thân rồng, nên trong Tam tạng kinh điển, mỗi mỗi đều dẫn tích này để chứng minh.

Thời nay, các kẻ cuồng thiền bảo rằng tông môn giải thoát, giữ giới cho là chấp tướng, đẵn cây đào đất nào có thương tổn gì. Nhưng chưa đủ lực dùng tay chém rắn độc như Quy Tông, chưa có cái đức của Sơ Quả cày ruộng trùng đứt thành 4 khúc, xem quả báo của con rồng này, dám cho mình là giải thoát chăng? Là chấp trước chăng? Làm tổn hại một lá cây, còn phải thọ báo như thế, lẽ đâu những việc ấy không làm cho ta phải ớn lạnh đến vỡ mật chăng !

Mặc dầu, trước có thể hộ trì cấm giới kiên cố, mà không có tâm chánh tín Đại thừa, còn e rằng sa vào pháp Nhị thừa, chung quy mất cực quả thành Phật, mà đại nguyện độ sanh theo đó cũng mất. Cần phải phát tâm sanh chánh tín, tin ta và chúng sanh là Phật sẽ thành, chư Phật là Phật đã thành. Mặc dù đủ lòng tin, nhưng không phát tâm Bồ đề, thì lòng tin kia cũng không có chỗ nương tựa, nên phải phát đại tâm, để lập lòng tin kiên cố. Phải biết tâm ta tức là tâm Phật, vì thế trước cầu Phật đạo, và cũng phải biết tâm ta chính là tâm chúng sanh, nên dưới thì hóa độ chúng sanh. Đối với tâm này trong từng giây, từng phút không thể xa lìa, nên nói niệm niệm không lìa tâm, nếu lìa niệm trong giây phút liền rơi vào pháp Nhị thừa tự độ.

Hạ hoá, nghĩa là chẳng phải chỉ hóa độ chúng sanh trong một thế giới, mà phải hóa độ đến chúng sanh trong trăm ngàn hằng hà sa thế giới.

Thượng cầu, nghĩa là chẳng phải chỉ thừa sự chư Phật một thế giới, mà phải phụng thờ đến chư Phật trăm ngàn hằng hà sa thế giới để cầu đạo vô thượng. Nên Kinh Hoa Nghiêm chép: “Bồ Tát không phải vì giáo hóa chúng sanh trong một thế giới mà phát Bồ đề tâm, nhẫn đến không phải vì giáo hóa tất cả chúng sanh vi trần thế giới trong Tam thiên Đại thiênphát Bồ đề tâm, không phải chỉ cúng dường Như Lai trong một thế giới mà cúng dường tất cả Như Lai trong các thế giới thứ lớp xuất hiện nơi đời phát Bồ đề tâm, không những chỉ cúng dường bất khả thuyết, bất khả thuyết Phật trong vi trần thế giới, mà muốn giáo hóa, điều phục tất cả chúng sanh không sót một ai nên phát Bồ đề tâm, vì muốn thờ phụng cúng dường tất cả Phật chẳng sót vị nào nên phát Bồ đề tâm.”

Hỏi: Tâm đại Bồ đề từ đâu lưu xuất ra?

Đáp: Từ Đại bi tâm mà sanh. Kinh Vô Tận Ý ghi: “Vì muốn cứu độ tất cả chúng sanh hữu tình, khởi sức bi niệm, v.v... hướng đến cầu vô thượng Bồ đề, nếu khônghóa độ chúng sanh thì Ta không phát tâm Bồ đề.”

Kinh Hoa Nghiêm ghi: “Từ Sơ địa đến Thập địa, ở trong các địa đều dùng tâm đại bi làm chủ.”

Bồ đề Tâm luận ghi : “Tâm từ bi phát sanh ra tâm đại Bồ đề, tất cả Phật pháp tối thắng, đều do bi tâm làm cội gốc.”

Vô Sai Biệt Luận ghi: “Nhơn tu tức là Bồ đề tâm, quả đức viên mãn tức là Chánh Giác. Pháp Bồ đề không thể nghĩ bàn, chư Phật Như Lai đều khen ngợi tán thán pháp này.” Kinh Vô Úy Thượng Thọ Vấn ghi: “Khi phát tâm Bồ đề đã sanh các phước, sánh bằng cõi hư không, cao tột rộng khắp không có cùng tậnGiả sử có người đem trân bảo trong hằng hà sa số cõi Phật cúng dường đức Thế Tôn, nếu có người chí thành chắp tay chỉ trong một niệm phát tâm Bồ đề vô thượng chánh đẳng, chánh giác, thì phước đức này vượt hơn phước đức cúng dường trân bảo cho đức Thế Tôn, phước cầu vô thượng, không thể tính kể được.”

Kinh Thành Phật ghi: “Các pháp vô tướng, là tướng hư không, khi khởi lên quán chiếu rồi, gọi là Thắng nghĩa Bồ đề tâm. Phải biết tất cả pháp không, do đã tỏ ngộ pháp vốn không sanh, không diệt, vì tâm thể vốn tự như vậy chẳng thấy thân tâm trụ nơi tịch diệt, rốt ráo bình đẳng, trí chơn thật thường không bị thối mất. Nếu khi vọng tâm khởi lên, biết thì chớ có rong ruổi theo, khi vọng niệm dứt, nguồn tâm tĩnh lặng, vạn đức đầy đủ, bấy giờ diệu dụng không cùng tận, bởi vì mười phương chư Phật dùng hạnh nguyện thắng nghĩa làm giới. Nếu người đầy đủ tâm này, hay chuyển bánh xe pháp, cả mình và người đều lợi lạc, như Kinh Hoa Nghiêm quyển thứ 64 ở phẩm Phát Bồ Đề Tâm nói rõ.


Giới thứ 35
KHÔNG PHÁT NGUYỆN

Phật tử, nên phát những điều nguyện lớn: nguyện ở hiếu thuận với Cha mẹ, Sư tăng, nguyện gặp được thầy lành, thiện hữu tri thức, thường dạy bảo cho ta các kinh luận Đại thừa, dạy cho ta về Thập Phát thú, Thập Trưởng dưỡng, Thập Kim cangThập địa, khiến cho ta hiểu rõ để tu hành đúng chánh pháp và nguyện giữ vững giới của Phật, thà chết chứ không chịu thay lòng. Nếu Phật tử không phát những điều nguyện trên đây thì phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Nguyện là nghĩa mong cầu, ưa muốn. Tất cả nhơn thú thắng quả vi diệu vô lượng thiện pháp mà không có tâm mong cầu, ưa muốn thì do đâu được toại nguyện, nên phải phát Đại nguyện.

Tất cả nguyện bao gồm 10 nguyện sau:

1. Nguyện hiếu thuận, chính là nguyện trì giới. Lấy hiếu làm giới, nên hiếu là cội gốc của mười nguyện, cội gốc nếu thiếu khuyết thì chín giới sau không chỗ nương.
2. Mong gặp được thầy tốt, thầy tốt là hạnh giải song toàn, nếu có hiểu biết thông suốt mà không có đức hạnh thì đâu có thể dắt dẫn ta tinh tấn tu hành được, nếu có hạnh đức nhưng không thấu hiểu, thì làm sao khai mở tâm địa cho ta được. Vì để báo ân hai đấng song thân, nối dòng Tam bảo đều nhờ vào lực dạy dỗ của Sư trưởng, nên trong mười Đại nguyện, ân Sư là quan trọng nhất. Dẫu đủ tín tâm, nếu không có thầy lành dẫn dắt, cũng không thành bậc pháp khí. Nay nhằm thời mạt pháp, người giới đức, hạnh giải đầy đủ thật là hiếm gặp, có hiểu mới tu, y vào hiểu biếthành trì, tự mình phải gia công cố gắng tấn tu, cuối cùng mới hy vọng đạt đến vô sanh, thẳng đến Bảo sở. Nếu có hạnh mà không hiểu kinh điểnphương pháp tu hành thì hạnh kia không phải là chánh hạnh, rất tối kỵ, khi nương tựa người như thế, chẳng khác nào như người không có mắt mà dẫn đường, ắt sẽ đọa vào đường hiểm, vĩnh viễn không ra khỏi. Nay cầu chánh kiến, chánh giải, cũng không phải là dễ gặp minh sư thiện hữu, huống chi bậc hạnh giải song toàn ư ?

Trước nói về Sư Tăng là phải hiếu thuận với thầy, sau nói về thầy tốt là cần phải lựa chọn gặp vị minh sư để dẫn dắt, mới tránh khỏi sự lầm đường lạc lối.
3. Nguyện được đồng học với bậc thiện hữu tri thức, đồng học chánh tông Đại thừa, gặp bạn lành khéo hiểu Tâm địa pháp môn. Dù gặp được minh sư nhưng nếu không có bạn hiền, thì đánh mất đi sự lợi ích tha thiết trên bước đường tu học của ta.
4. Nguyện gặp người khéo dẫn dắt dạy bảo, nghĩa là nguyện trước là thầy lành, bạn tốt, thường dạy ta về nghĩa lý kinh luật Đại thừa, để phát tâm chánh tín, thú hướng tấn tu đến Thập Phát thú vị, khỏi rơi vào Thiên không Nhị thừa, kiến giải tà chấp ngoại đạo.
5. Nguyện tu Thập trụ nên nói Thập Phát thú.
6. Nguyện tu Thập hạnh nên nói Thập Trưởng dưỡng.
7. Nguyện tu Thập Hồi hướng, nên nói Thập Kim cang.
8. Nguyện tu chứng Thập thánh nên nói Thập địa.
9. Nguyện tu hành tất cả như pháp. Nghĩa là như pháp Đại thừa trước đã nói cần phải vâng lời thầy bạn giúp cho tiến tu, nguyện theo chánh pháp đã lãnh thọ, khiến cho tâm ta mở mang kiến giải thù thắng, tùy hiểu rồi tu hành, thể nhập chứng đắc quả vị Tam Hiền, Thập Thánh.
10. Nguyện kiên cố trì giới. Trước lấy hiếu thuận làm giới, sau lấy nguyện thứ mười, là trì giới, làm tóm kết. Phải biết từ xưa đến nay đều lấy Tâm địa chánh giới làm tông thú Đại thừa, bởi vậy vô lượng pháp môn, trăm ngàn thắng Định, vô lậu Diệu Huệ, đều từ giới mà lưu xuất ra. Tam Hiền, Thập Thánh cho đến Diệu giác cực quả, đều do giới mà được thành tựu, nên giới pháp này, đặc biệt cần phải tôn trọng.

Thà bỏ thân mạng không niệm nào xa lìa giới này, nghĩa là mười nguyện trước phát tâm kiên cố, niệm niệm không quên, dù gặp phải nạn duyên mất mạng, nguyện xả thân tứ đại giả tạm này, nhưng nếu xả tâm này, thật là trái phạm tâm giới.

Tất cả Bồ Tát không phát nguyện này, nghĩa là từ lúc mới đắc giới, cho đến Thập địa, nếu không phát Thập Đại nguyện này thì chí nguyện không kiên cố, gia hạnh tấn tu cũng e rằng bị ma làm chướng ngại, giữa đường thành trệ mà Quả hải Diệu giác cũng không biết dựa vào đâu để chứng đắc, nên nói rằng: “Trang nghiêm cõi Phật là việc lớn”. Nếu chỉ một mình làm việc công đức, thì không thể thành tựu, nên cần phảinguyện lực để hành trì. Thí như sức con trâu, tuy có thể kéo được cỗ xe, nhưng cần phải có người điều khiển, mới có thể đi đến đích. Nên biết, người có chí mà không kiên cố thì nguyện khó viên mãn. Bởi vậy Kinh Viên Giác chép: “Phải phát Đại nguyện thanh tịnh của Bồ Tát.” Nên suy nghĩ như vầy: “Mong cho con đời này trụ ở quả Viên giác của Phật, cầu thiện tri thức, chẳng gặp ngoại đạo, Nhị thừa, nương nguyện tu hành, dần dần đoạn hết các chướng, chướng hết thì nguyện viên mãn, liền lên điện bảo pháp giải thoát thanh tịnh, chứng đắc cảnh giới Đại viên giác vi diệu trang nghiêm.”


Giới thứ 36
KHÔNG PHÁT THỆ

Phật tử, khi đã phát mười điều nguyện lớn trên đây rồi, phải giữ gìn giới cấm của Phật. Tự thệ rằng: “Thà nhảy vào đống lửa hố sâu, núi dao, quyết không cùng với tất cả khác phái, làm điều bất tịnh, để phạm điều cấm trong Kinh luật của Tam thế Chư Phật.

Lại thệ rằng: “Thà lấy lưới sắt nóng quấn thân mình cả nghìn lớp, quyết không để thân này phá giới mà thọ những đồ y phục của tín tâm đàn việt. Thà chịu nuốt hoàn sắt nóng cháy đỏ và uống nước đồng sôi mãi đến trăm nghìn kiếp, quyết không để miệng này phá giới mà ăn các thứ thực phẩm của tín tâm đàn việt. Thà nằm trên đống lửa lớn, trên tấm sắt nóng, quyết không để thân này phá giới mà nhận lấy các thứ giường ghế của tín tâm đàn việt, thà trong một hai kiếp chịu cho cả trăm gươm giáo đâm vào mình, quyết không để thân này phá giới mà thọ các thứ thuốc men của tín tâm đàn việt. Thà nhảy vào vạc dầu sôi trong trăm ngàn kiếp, quyết không để thân này phá giớithọ lãnh phòng xá, nhà cửa, ruộng vườn, đất đai của tín tâm đàn việt.”

Lại phát thệ rằng: “Thà dùng chày sắt đập thân này từ đầu tới chân, nát như tro bụi, quyết không để tâm này phá giớithọ sự cung kính lễ bái của tín tâm đàn việt.”

Lại phát thệ rằng: “Thà lấy trăm nghìn lưỡi gươm đao khoét đôi mắt mình, quyết không đem tâm này phá giới mà nhìn xem sắc đẹp của người. Thà lấy trăm ngàn dùi sắt đâm thủng lỗ tai mình, trải qua trong một hai kiếp, quyết không đem tâm này phá giới mà nghe tiếng tốt giọng hay. Thà lấy trăm ngàn lưỡi dao cắt bỏ lỗ mũi mình, quyết không đem tâm này phá giới mà ngửi các thứ mùi thơm. Thà lấy trăm ngàn lưỡi dao cắt đứt lưỡi mình, quyết không đem tâm này phá giới mà ăn các thứ tịnh thực của người. Thà lấy búa bén chặt đứt thân thể mình, quyết không đem tâm này phá giới mà mặc các thứ đồ tốt.”

Lại phát nguyện: “Nguyện cho tất cả chúng sanh đều thành Phật đạo.”

Nếu Phật tử không phát những điều nguyện trên đây, thì phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Thệ là trong tâm quyết đoán mười lời nguyện, ý chí, dõng mãnh, lấy thệ hỗ trợ cho nguyện, để khiến cho tâm không sanh khởi một niệm khiếp nhược thối lui, bậc Đại sĩ mới thành tựu ý nguyện sở trì, sở cầu, mãn nguyện như ý.

Đại sĩ trì cấm giới của Phật, trước tiên lấy 10 nguyện làm người dẫn đường, sau dùng 5 thệ để làm cho nguyện được kiên cố, khiến cho không sanh khởi một niệm khiếp nhược, tấn tu trọn đời. Năm lời thệ ấy là:

1. Lìa nhiễm dục
2. Thọ nhận của cúng dường
3. Thọ nhận sự cung kính
4. Làm thanh tịnh sáu căn
5. Độ chúng sanh.

Thà đem thân này, nghĩa là lời phát thệ kiên cố, ý nói là nát thân chứ không phạm giớiChúng sanh bị lưu chuyển trong sanh tử, ái dục là thứ nhất. Làm nhiễm ô tâm địa bổn nguyên, hạnh bất tịnh đứng đầu, bởi vậy trước phải phát đại thệ rằng: “Thà đem thân nhảy vào hầm lửa, chịu các khổ thiêu đốt nát như tro bụi, chịu cái khổ rơi trong địa ngục, trong núi đao, rừng kiếm, chịu nỗi thống khổ cắt lóc da thịt chân tay, ruột gan, v.v.... trăm ngàn muôn thứ thống khổ bức bách, trọn không dám vi phạm kinh luật của Phật, làm hạnh bất tịnh với người khác phái, vì sao vậy? Vì như lửa dữ, núi đao chỉ hoại sắc thân trong một đời, còn như làm hạnh bất tịnh thì muôn kiếp tan thân mất mạng. Cho nên tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, trầm luân trong biển khổ, không ra khỏi được, đều do nữ sắc, ái dục trói buộc. Như người mù không có con mắt trí tuệ, không thấy được hố sâu sanh tử, khiến cho không biết bao sinh mạng phải bị vùi lấp.

Kinh Niết Bàn chép: “Nếu Bồ Tát tuy không hòa hợp với người nữ nhưng cùng họ nói năng, đùa giỡn cười cợt, hoặc là ngoài vách nghe tiếng vòng xuyến, nhẫn đến thấy nam nữ đuổi bắt nhau, Bồ Tát này đã hủy phá tịnh giới, làm nhiễm ô phạm hạnh, khiến cho giới tạp uế, không được gọi là tịnh giới cụ túc, nghe tiếng, thấy sắc còn khiến cho tạp uế, huống gì Bồ Tát khởi niệm bất tịnh, lẽ đâu được giới cụ túc ư ?

Đoạn trước ghi: “Lập thệ như vầy”, còn đoạn này nói: “Lại nguyện như vầy” nên biết Thệ là ý chí quyết đoán trong Nguyện, tất cả y phục, ăn uống, thuốc men, giường chiếu, ngọa cụ, nhà cửa, ruộng vườn, đều là do tín tâm đàn việt, mong cầu phước mà cúng dường cho ta. Giới của ta được vẹn toàn cũng cần phải kiểm xét tâm mình sanh lòng hổ thẹn, dùng Bi điền và Kỉnh điền triển chuyển để sanh phước thiện. Nếu khuyết giới thì một hạt gạo cũng khó tiêu, huống gì có thể đền đáp chỗ mong cầu của thí chủ được, nên lập trước lời thệ này để tự răn nhắc và ngăn ngừa.

Lễ bái tuy không hao tổn tiền của nhưng mà tín tâm đàn việt chí thành. Bởi vậy có người đem tâm cung kính Tam bảo, một lần chiêm ngưỡng, một lần lễ lạy, vô lượng tội diệt, vô biên phước sanh.

Kinh Anh Lạc chép: “Bồ Tát khi mới sanh, đi bảy bước, kế đó giở chân trái, thế nhưng vô lượng chúng sanh trong tam thiên thế giới chẳng hay chẳng biết. Nếu có chúng sanh thấy tướng túc luân, đều phát tâm Vô thượng chánh đạo, phước báo này là do xưa kính lễ đức Như Lai, phải biết được phước đã nhiều nhưng nếu sai phạm mắc tội cũng không phải ít. Nay đem thân phá giới, thọ nhận người khác cung kính lễ bái, thì tự tổn phước không ít, đâu có thể khiến cho họ tăng thêm phước lành. Người có tâm hổ thẹn cần nên nghĩ kỹ. Trước là thệ thân khẩu không nhận tứ sự cúng dường của người khác. Nay thệ sáu căn, không nên phóng túng nhiễm đắm ngũ trần, mà không nói về ý căn là vì trong ngũ căn đều nói: “Tâm phá giới”, tâm chính là ý, huống gì ý căn vô hình, pháp trần vô thể, không thể dụ giống như ngũ căn, nhưng ý căn duyên cảnh trong năm trần phân biệt tốt xấu, tức là pháp trần, nên không thể lập thêm một pháp trần khác. Như vậy sáu căn nhiễm sáu trần, như con ruồi dính nơi đờm dãi, nay đã hoại mất giới thân, thì vĩnh viễn mất huệ mạng, cần phải phát thệ nghiêm trọng và lập ra cái nạn nghiêm trọng để ngăn ngừa. Bởi vậy thà chịu sự thống khổ trăm ngàn dao nhọn kiếm bén đâm vào tim mình, quyết không nhìn sắc đẹp, nhẫn đến không ham đắp mặc y phục mịn màng, nằm nơi êm ấm, v.v... Nay dùng tâm thệ này, cắt đứt nguồn gốc ác mới có thể sanh căn lành. Nên Kinh Di Giáo chép: “Tai họa của năm căn gây tai ương đến nhiều đời, gây hại không kể xiết, không thể không thận trọng. Bởi vậy người trí ngăn ngừa mà không theo, giữ nó như giữ giặc, giả sửbuông lung nó thì chỉ trong khoảnh khắc, liền phải trừ diệt.”

Luận Đại Trí Độ chép: “Như Phật dạy, thà dùng sắt nóng dí lên mắt mình, chứ không đem tâm nhiễm liếc nhìn nữ sắc. Người trí không nên nhìn sắc đẹp, nếu muốn quán, phải coi người ấy như mẹ, như chị của mình, v.v... nhìn kỹ, quán xem bất tịnh dẫy đầy, lửa dâm chẳng dứt thì bị nó thiêu đốt. Cái họa của sắc đã như vậy, còn thanh, hương, vị, xúc có thể tự rõ.

Bốn thệ nguyện trên đây, tuy nói là tự độ, nhưng cũng gồm cả độ tha, vì sao vậy ? Vì Bồ Tát tu hành vốn vì chúng sanh, nếu không tự độ thì làm sao độ người ?, Không giống như Nhị thừa, chỉ tự độ, nên nay phát thệ nguyện này, nguyện chúng sanh thành Phật, chính là bổn hoài của Bồ Tát, là đại thệ tự lợilợi tha cùng thành Phật đạo. Người không phát nguyện này là do không lập năm thệ trước. Nếu không lập mười nguyện và năm thệ, dẫu có tu trì, chỉ là không rơi vào Nhị thừa, được hưởng phước báu ở cõi trời, cõi người mà thôi.


Giới thứ 37
KHÔNG ĐƯỢC DU HÀNH NƠI MẠO HIỂM, CÓ NẠN

Phật tử, thường nên hai mùa tu hạnh Đầu đà, mùa đông mùa hạ ngồi thiền, kiết hạ an cư, thường dùng nhành dương, nước tro, ba y, bình bát, tọa cụ, tích trượng, hộp lư hương, đãy lược nước, khăn tay, con dao, đá lửa, cái nhíp, giường giây, kinh luật, tượng Phật, tượng Bồ Tát. Khi Bồ Tát tu hạnh Đầu đà, du phương qua lại trong trăm dặm, ngàn dặm, 18 vật này thường mang theo bên mình. Hành hạnh Đầu đà từ rằm tháng giêng đến rằm tháng ba và từ rằm tháng tám đến rằm tháng mười, trong hai kỳ hành hạnh Đầu đà luôn mang theo mình mưới tám thứ ấy, như chim hai cánh.

Nếu đến ngày bố tát, Bồ Tát tân học mỗi nửa tháng phải thường bố tát tụng 10 giới trọng và 48 giới khinh.

Lúc tụng giới nên ở trước tượng Phật và tượng Bồ Tát mà tụng, chỉ có một người bố tát thì một người tụng, nếu có hai người, ba người, cho đến trăm ngàn người thì cũng chỉ một người tụng. Người tụng ngồi trên tòa, người nghe ngồi dưới tòa, tất cả đều đắp y hoại sắc chín điều, bảy điều và năm điều, lúc kiết hạ an cư mỗi mỗi việc đều phải như pháp.

Lúc hành hạnh Đầu đà, chớ đi đến chỗ có tai nạn, như cõi nước hiểm ác, nhà Vua hung bạo, đất đai gập ghềnh, cỏ cây rậm rạp, chỗ có sư tử, cọp, sói cùng lụt bão, nạn cháy, giặc cướp, đường xá có rắn độc; tất cả những nơi hiểm ác ấy đều không được đến, chẳng những lúc hành hạnh Đầu đà, mà lúc kiết hạ an cư cũng không được vào những chỗ hiểm nạn ấy. Nếu cố vào nơi ấy, Phật tử này phạm tội khinh cấu.

Giải thích:

Nghiệp đã kết nhiều đời nhưng sở dĩ chưa thọ quả báo thì chưa nhất định gặp duyên liền như vang theo tiếng, như bóng theo hình, nếu chưa gặp duyên phải đợi đến lúc khác.

Du hành nơi hiểm nạn, như con thiêu thân lao đầu vào lửa, huống gì thân người khó được như rùa mù gặp lỗ cây. Giả sử gặp ác duyên tạm quên huệ nhãn, sanh ra đại thống khổ, do đây phải đọa ba đường ác, hiện tại đánh mất phước duyên với đạo, vĩnh viễn trôi dạt trong bến mê, hơn nữa các tai nạn lớn nhỏ nào ai biết trước, tự chuốc lấy tai vạ chết yểu, thật đáng thương thay.

Hai mùa là mùa xuânmùa thu, khí hậu dễ chịu, không bị nóng và lạnh trở ngại, việc hành hóa của Bồ Tát trở nên thuận tiện.

Đầu đà, cũng gọi là Đỗ đa (Trung Hoa dịch là Đẩu tẩu), nghĩa là phủi sạch các phiền não tham, sân, si trong ba cõi ra khỏi sự trói buộc, thương ghét của sanh tử. Hành Đầu đà có 12 thứ như kinh Đại Bát Nhã nêu rõ: 
1. Ở chốn A Lan Nhã (Trung Hoa dịch là chỗ tịch tĩnh), cách thôn ấp khoảng sáu dặm.
2. Thường đi khất thực.
3. Mặc áo bá nạp, chính là áo phấn tảo.
4. Ăn một bữa.
5. Tiết chế sự ăn uống.
6. Sau giờ ngọ không ăn, chỉ uống nước trái cây.
7. Ngồi nơi gò mả.
8. Ở dưới gốc cây.
9. Ngồi nơi đất trống.
10. Thường ngồi không nằm.
11. Theo thứ lớp khất thực (không lựa nhà giàu sang)
12. Chỉ mặc 3 y (không chứa y dư thừa).

Đối với việc ăn uống, y phục và chỗ ngủ, nghỉ, không đắm nhiễm là lìa chướng ngại, mau được giải thoát.

Đại Luận chép: “Giới mà Phật đã kiết, đệ tử phải thọ trì.” Mười hai hạnh Đầu đà không gọi là giới, nếu người hay thực hành thì giới được trang nghiêm, không hành trì thì cũng không phạm giới, thí như người bố thí hay thực hành thì được phước, không bố thí thì cũng không mắc tội. 

Mùa đông, mùa hạ thì ngồi thiền, mùa đông thì tuyết lạnh, mùa hạ thì nóng bức, lại nhiều thứ côn trùng giun dế, muỗi mòng, nếu đi du hành thời thường gặp khi trời lạnh nóng làm thương tổn thân thể, lại tổn hại thân mạng chúng sanh nên tọa thiền an cư.

Mười tám thứ vật mang theo bên mình như chim có hai cánh, mặc tình bay lượn, dạo đi trăm dặm, ngàn dặm, thọ dụng không thiếu, về sự thì như vậy, nhưng về lý có hơn có kém.

Nhành dương để tẩy sạch khẩu nghiệpNước tro dùng để tẩy sạch thân nghiệp. Nước tịnh bình để tẩy sạch ý nghiệp. Một bình bát tiêu biểu biết đủ để lìa tà mạng. Ba y để trừ ba độc, là đắp mặc áo giáp hoằng thệTọa cụ để an ổn ngũ phần pháp thânTích trượngtiêu biểu dựng lập cờ xí của Thánh, Hiền. Hương là tiêu biểu cho mùi thơm giới đức. Lò là tiêu biểu trì giới kiên cố. Hộp là vật để hương có đáy bằng phẳng, tiêu biểu tâm địa Bồ Tát bình đẳng. Đãy lược nước là hạnh từ cứu độ chúng sanh. Khăn tay là để lau chùi mồ hôi vô tàm, vô quý. Dao là hàng phục bốn ma. Đá lửa tiêu biểu ánh sáng trí tuệ, để phá trừ vô minh si mê tối tăm. Nhíp dùng để nhổ sạch cội rễ phiền não. Giường giây tiêu biểu cho tòa pháp không.

Kinh luật để xiển dương cội nguồn Đại thừa tâm tông. Tượng Phật tiêu biểu cực quả Như Lai.

Tượng Bồ Táttiêu biểu cho nhơn vi diệu của Bồ Tát, muốn chứng quả cao tột phải cần có nhơn vi diệu, muốn xây dựng thềm bậc của nhơn vi diệu, trước hết phải rõ tâm địa, mười tám thứ vật dụng như thế, sự và lý đầy đủ, dù trong tích tắc không được lìa khỏi thân, nếu lìa thì chẳng phải thực hành đại đạo của Bồ Tát.

An cư kiết hạ, từ ngày 16 tháng 4 kiết đến rằm tháng 7 (âm lịch ) giải, là ba tháng cấm túc, đó là thời gian cần thiết để 3 tháng sách tấn tu hành.

Thường bố tát, nghĩa là trong một năm, mỗi nửa tháng (tháng có trăng và không trăng) thường tụng giới kinh, không nên bỏ kỳ nào. Nay chỉ nêu hàng tân học Bồ Tát, nghĩa là hàng cựu học đã biết rõ phép thường của Chư Phật mỗi nửa tháng tụng giới một lần, vì sợ rằng hàng tân học Bồ Tát chưa rõ nghi thức định kỳ tụng giới hàng tháng, chứ không phải ý nói cựu học Bồ Tát không tụng, nên văn trước nêu rõ: “Phật Lô Xá Na tụng, ta cũng tụng như thế, ba đời Chư Phật Bồ Tát cũng tụng như thế”, đủ biết không phải chỉ riêng tân học Bồ Tát mới tụng.

Khiến ở trước tượng PhậtBồ Tát tụng, thấy rõ là hàng tân học Bồ Tát tụng cũng không khác với Phật và Bồ Tát. Một người bố tát thì một người tụng, cho đến trăm ngàn người cũng chỉ một người tụng mà thôi, đây là khiến cho đại chúng nghe không bị huyên náo ồn ào, mỗi mỗi đều được nhứt tâm, người tụng ngồi tòa cao, tụng cho rõ ràng để hiển rõ giới pháp phải tôn sùng, người nghe ngồi tòa thấp, để được nghe hết, cũng để rõ khiêm tốn đem tâm kính giới.

Ca sa, tiếng Phạn nói đủ là Gia-sa-giả (Trung Hoa dịch là Hoại sắc) cũng gọi là màu đỏ, dùng ba thứ phẩm xanh, đen, mộc lan nhuộm thành y hoại sắc, như lá dâu vàng, để khác với năm sắc chính, còn như nêu rõ công năng, thì tên gọi và nghĩa của nó không chỉ có một, danh nghĩa của nó chẳng phải một.

Năm điều gọi là An Đà Hội (Trung Hoa dịch là Hạ Trước Y). Bảy điều gọi là Uất Đa La Tăng (Trung Hoa dịch là Thượng Trước Y). Chín điều gọi là Tăng Già Lê, Trung Hoa dịch là Trùng y, y này có chín phẩm, từ 9 điều đến 25 điều, nay chỉ lược nêu phẩm thứ nhất, cũng là biểu trưng cho nửa tháng tụng giới, là cửa ngỏ đầu tiên làm lợi ích cho cửu giới (chín cõi).

Mỗi nửa tháng như pháp, nghĩa là chẳng những mỗi nửa tháng tụng giới, mà ngay trong mùa an cư kiết hạ cũng phải nhất nhất như pháp, mỗi nửa tháng tụng giới, không được thiếu sót.

Nếu gặp lúc an cư mà không an cư, mạo hiểm du hành đây đó, thì đây gọi là mạo hiểm du hành chỗ có nạn, có ngại. Thời nay cách Phật quá xa, chánh pháptượng pháp đã qua rồi, đang thời kỳ mạt, bỏ phế việc bố tát, chánh giáo ít được nghe. Các chốn tòng lâm, mười người hết chín người không thực hành, hoặc có người vào ngày mùng một, ngày rằm thăng tòa dạy chúng, gọi đó là bố tát. Thậm chí ban đêm uống trà, nói chuyện cho đó là yết maThan ôi! Pháp sắp diệt rồi, ai là người chánh đây ! chỉ nhờ bậc Đại nhơn hữu lực, nối dòng Thánh chủng,