Subscribe HoaVoUu Youtube
Kính mời Subscribe kênh
YouTube Hoa Vô Ưu
Sitemap Hoavouu.com
Điền Email để nhận bài mới
Bài Mới Nhất
View Counts
19,178,144

Bồ Tát Quán Thế Âm

Tuesday, February 25, 201400:00(View: 5427)
Bồ Tát Quán Thế Âm


BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM

 

Hạnh Cơ

 

lrg-72-33tiguanyin29-jpg“Sáng cho nguời thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ.”, đó là một trong những lí do thiết yếu để đạo Phật có mặt ở thế gian. Bởi vậy, cho vui cứu khổ đã trở thành một nhiệm vụ chánh yếu của mọi người tu học theo Phật pháp – dù xuất gia hay tại gia, ở bất cứ phương trời nào, bất cứ thời khắc quá hiện vị lai nào. Đặc biệt, đối với các hành giả phát tâm tu tập Bồ Tát Đạo, nhất là chư vị Đại Bồ Tát, thì cho vui cứu khổ còn là một trong những hạnh nguyện trọng đại, được thực hiện thường xuyên, không gián đoạn, không ngưng nghỉ. Vì vậy, trong trường hợp này, đạo Phật cũng được gọi là đạo Từ Bi, hay đạo Cứu Khổ, hoặc đạo Từ Bi Cứu Khổ. Trong các vị Đại Bồ Tát, hình ảnh cứu khổ tiêu biểu nhất, đó là đức Bồ Tát Quán Thế Âm. Phật tử Việt-nam, lòng tín ngưỡng đối với Ngài rất là mãnh liệt. Hình ảnh của Ngài thật vô cùng quen thuộc, gần gũi; hầu như trong tâm khảm của người Phật tử Việt-nam nào cũng in đậm hình ảnh đáng tôn kính của Ngài, bởi vì đã có vô số trường hợp người ta cảm nhận được sự linh ứng cứu độ của Ngài. Vậy nên, việc thờ kính Ngài, niệm danh hiệu Ngài, từ lâu đời, đã trở thành một trong các pháp môn tu tập quan yếu của Tăng tín đồ Phật giáo Việt-nam.

Đức tin của Phật tử chúng ta đối với Bồ Tát Quán Thế Âm tuy đã thâm sâu vững chắc, nhưng nhiều người có lẽ còn chưa biết rõ về Ngài. Vậy chúng tôi xin giới thiệu sau đây vài nét cụ thể về sự tíchcông hạnh của Ngài.

 

A. DANH HIỆU “QUÁN THẾ ÂM”

Tên tiếng Phạn của Ngài là Avalokitesvara, dịch âm ra Hán ngữ là A-phược-lô-chỉ-đê-thấp-phạt-la, dịch nghĩa là Quán Thế Âm (dân gian Việt-nam thường quen gọi là Quan Âm). Với tâm nguyện đại bi, Ngài dùng tánh nghe viên thông để quán nghe tiếng kêu cầu của chúng sinh đau khổthị hiện cứu độ, đó là ý nghĩa của danh hiệu “Quán Thế Âm”. Kinh Pháp Hoa (phẩm Phổ Môn) nói: Chúng sinh bị khổ não, nếu nhất tâm xưng niệm danh hiệu Bổ Tát Quán Thế Âm, Ngài liền quán sát âm thanh của họ mà cứu độ họ được thoát khổ; vì thế mà gọi là Quán Thế Âm. Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, cách nay vô lượng vô số kiếp về đời quá khứ, từ thời đức Phật Quán Thế Âm tại thế độ sinh, Bồ Tát Quán Thế Âm đã từng sở trường về pháp tu tam muội gọi là “nhĩ căn viên thông”, đầy đủ khả năng quán sát sâu rộng âm thanh kêu cầu của chúng sinh đau khổ, để hiện đến cứu độ. Cho nên trải qua bao nhiêu kiếp tu hành đạo Bồ-tát, cho đến hiện nay, Ngài vẫn giữ lấy danh hiệu của đức Phật kia Quán Thế Âm làm tên của mình.

“Quán Thế Âm” là cách dịch cũ (trước thời đại pháp sư Huyền Trang); các nhà dịch kinh Trung-hoa từ pháp sư Huyền Trang (thế kỉ thứ 7 dương lịch) trở về sau, đã dịch danh hiệu của Ngài là Quán Thế Tự Tại – gọi tắt là Quán Tự Tại, với ý nghĩa rằng, Ngài quán sát thế gian để cho vui cứu khổ một cách tự tại, không bị bất cứ một thứ gì, một thế lực hay hoàn cảnh nào làm cho chướng ngại. Quán Tự Tại cũng có nghĩa là Ngài dùng trí tuệ bát nhã để quán sát và thấy rõ tất cả các pháp là hư huyễn, không có tự tánh, không chân thật, cho nên không còn bị vướng mắc vào bất cứ pháp nào, hoàn toàn giải thoát mọi khổ đau sinh tử.

Phật tử Việt-nam, với lòng tôn kính thiết tha, thường xưng niệm Ngài bằng một danh hiệu thật dài, và thật đầy đủ ý nghĩa: “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Tầm Thanh Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát”.

 

B. SỰ TÍCH BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM

Trong Kinh Bi Hoa, đức Phật Thích Ca có dạy: Vào thời quá khứ xa xôi, khi chưa xuất gia tu hành, có một kiếp đức Quán Thế Âm sinh làm một vị thái tử, tên là Bất Huyến, con trưởng của vua chuyển luân Vô Tránh Niệm, trị vì cả bốn châu thiên hạ của thế giới San-đề-lam. Lúc đó có đức Phật ra đời, hiệu là Bảo Tạng. Vua Vô Tránh Niệm phát tâm qui y Tam Bảo, đồng thời khuyến khích một ngàn vị thái tử con mình, cùng toàn thể quần thần đều qui y Tam Bảo. Đức vua phát tâm sắm sửa các thứ cần dùng hằng ngày như ẩm thực, thuốc men, y phục, giường nệm v.v... đem đến đạo tràng cúng dường lên Phật và chúng tăng suốt ba tháng; nguyện đem công đức ấy hồi hướng về đạo quả Vô thượng Bồ đề; liền được Phật Bảo Tạng thọ kí, vô số kiếp về sau sẽ thành Phật hiệu là Vô Lượng Thọ, giáo chủ thế giới An-lạc. Thái tử Bất Huyến cũng vâng lời phụ vương, hết lòng tin kính, sắm sửa lễ vật trân quí như vua cha, đem đến đạo tràng cúng dường lên Phật và chúng tăng suốt ba tháng. Nhờ nghe lời giảng giải của một vị đại thần thiện tri thức, thái tử tự nghĩ rằng: Bởi chúng sinh trong đời không gặp được những bậc hiền nhân khuyên dạy việc lánh dữ làm lành, chỉ gặp toàn những kẻ ác tâm xúi giục làm điều bất thiện, hủy báng Chánh Pháp, khinh bỉ Tam Bảo, ngập sâu tà kiến, khiến cho mất hết căn lành, không còn biết đến đạo đức là gì, nên phải chịu đày đọa trong ba dường dữ, không ngày giải thoát.

Nghĩ như thế xong, thái tử đến trước Phật, cung kính bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nay con ở trước Thế TônThánh Chúng, xin nguyện rằng: Con nguyện đem công đức cúng dường Tam Bảo và những phước lành đã tu tập được, xin hồi hướng về đạo quả Vô thượng Bồ đề. Trong khi tu hành đạo Bồ-tát, con nguyện luôn luôn làm lợi lạc cho chúng sinh. Như có chúng sinh nào chịu nhiều điều khốn khổ, bị tù hãm trong hoàn cảnh tối tăm, cô đơn buồn rầu, không nơi nương tựa, không có người giúp đỡ, nếu chúng sinh ấy nghĩ đến và xưng niệm danh hiệu con, tức thì con dùng thiên nhĩ để lắng nghe, dùng thiên nhãn để quan sát, xem kẻ đau khổ kia đang ở chỗ nào, con hiện đến để cứu giúp cho họ thoát khổ được vui. Nếu không được như lời nguyện ấy thì con quyết sẽ không thành Phật. Bạch đức Thế Tôn! Nay con vì hết thảy chúng sinh mà phát lời nguyện lớn, tu học pháp xuất thế, chóng được tự giác tự lợi. Khi phụ vương con là Vô Tránh Niệm, trải hằng sa kiếp, chứng thành quả Phật, hiệu là Vô Lượng Thọ Như Lai, giáo chủ thế giới An-lạc; lại trải qua vô lượng kiếp, đức Phật ấy hóa độ chúng sinh xong rồi, liền nhập niết bàn, Chánh Pháp truyền lại, con ở trong ấy tu tập hạnh Bồ-tát, thường làm Phật sự. Đến khi Chánh Pháp của đức Phật ấy sắp diệt, hễ diệt vào đầu hôm, thì cuối đêm con sẽ thành Vô thượng Chánh giác. Cúi xin đức Thế Tôn từ bi thọ kí cho con.”

Phật Bảo Tạng nghe những lời nguyện ấy, liền đặt hiệu cho thái tử Bất Huyến là Quán Thế Âm, và thọ kí cho thái tử, sau khi đức Phật Vô Lượng Thọ (tức Phật A Di Đà) nhập niết bàn, thế giới An-lạc (tức Cực-lạc) sẽ được đổi tên là Nhất-thiết-trân-bảo-sở-thành-tựu, Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ thành Phật, hiệu là Biến Xuất Nhất Thiết Quang Minh Công Đức Sơn Vương Như Lai, thọ mạng dài đến chín mươi sáu ức na do tha kiếp, sau khi nhập niết bàn, chánh pháp sẽ còn truyền đến sáu mươi ba ức kiếp.

Từ đó, trải qua hết kiếp này đến kiếp khác, ngài Quán Thế Âm đều giữ vững bản nguyện, tinh tấn tu hành hạnh Bồ-tát, cầu đạo Bồ-đề, cứu giúp chúng sinh đau khổ, không khi nào xao lãng hạnh nguyện đại bi. Hiện tại, vua Vô Tránh Niệm, do tu hành tinh tấn, công hạnh viên mãn, đã thành Phậtthế giới Cực-lạc, hiệu là A Di Đà, cách nay đã mười kiếp (theo Kinh A Di Đà); còn đức Quán Thế Âm (tức thái tử Bất Huyến), công hạnh cũng tròn đầy, trở thành một vị Đại Bồ Tát, chứng đến bậc Đẳng-giác, cũng đang ở thế giới Cực-lạc hầu cận đức Phật A Di Đà, hằng ngày tiếp dẫn chúng sinh khắp mười phương đem về cõi ấy.

Trong Kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Đắc Đại Thế Bồ Tát Thọ Kí có nói: Trong vô lượng kiếp sau, đức Phật A Di Đà sẽ nhập niết bàn. Sau đó, đức Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ thành Phật, hiệu là Phổ Quang Công Đức Sơn Vương Như Lai, thay thế Phật A Di Đà nhiếp hóa chúng sinh.

Trong Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni có ghi lời Phật dạy rằng: “Bồ Tát Quán Thế Âm vốn đã thành Phật từ kiếp xa xưa, có danh hiệuChánh Pháp Minh Như Lai, nhưng vì lòng đại bi, muốn thành tựu đạo nghiệp cho tất cả chúng sinh, muốn cho chúng sinh được an vui, ngài thường thị hiện làm thân Bồ-tát...”

Trong nền văn học cổ điển Việt-nam có hai tác phẩm văn vần, viết về hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm, rất được truyền tụng trong dân gian Việt-nam, mọi người đều kính ngưỡng thiết tha; đó là hai truyện Quán Âm Thị Kính Quán Âm Nam Hải.

Truyện Quán Âm Thị Kính viết về một nàng con gái xinh đẹp ở nước Cao-li, tên Thị Kính, vì bị nghi oan có ý định giết chồng, không có cách gì giải tỏa được, bèn ngậm mối oan tình mà trở về nhà cha mẹ, rồi giả dạng nam nhi vào chùa xin tu hành; trở thành chú Kính Tâm. Nàng đã xa lánh trần tục, quên nỗi oan cũ, quyết tâm tu hành, tưởng được yên thân nơi chốn thiền môn; nhưng trớ trêu làm sao, nàng lại bị một cô gái khác tên Thị Mầu, để ý yêu thích! Cô gái này vốn tính trăng hoa, tư thông với chính người đầy tớ trai trong nhà, đến nỗi có mang; bị làng tra hỏi, cô bèn đổ oan cho Kính Tâm. “Chú” bị làng dùng đủ thứ cực hình tra khảo, nhưng vẫn nhẫn nhục chịu đựng. “Chú” không nhận tội, nhưng cũng nhất quyết giữ bí mật cái “phận gái” của mình. Thấy “chú” có thể bị tra tấn đến chết, sư cụ Trú Trì bèn xin nộp phạt cho làng để bảo lãnh “chú” về chùa. Về sau Thị Mầu sinh được một bé trai, chẳng biết giấu đi đâu, cô bèn mang bé lên chùa, bỏ trước cổng tam quan. Kính Tâm nghe tiếng trẻ con khóc ở ngoài cổng chùa, ra xem, thấy đứa bé, rất xót thương, nên bồng vào nuôi. Dù bị người làng dèm pha, nguyền rủa, Kính Tâm vẫn nhẫn nhục chịu đựng, không một lời minh oan biện bạch. Khi đứa bé lớn lên, cũng là lúc Kính Tâm kiệt sức. “Chú” biết mình sắp lìa đời, bèn viết bức di thư để lại cho cha mẹ, kể rõ hết sự tình oan khuất của mình. Sau khi nàng qua đời, sư cụ trú trìmọi người làng mới biết nàng là gái, và bao nhiêu sự thật mới được phơi bày rõ ràng. Do tâm chí thành tinh tấn tu hành, do lòng từ bi bao la và đức nhẫn nhục kì vĩ, Kính Tâm đã công thành quả mãn, đắc đạo, được tôn hiệu là Phật Quán Âm.

Truyện Quán Âm Nam Hải kể chuyện một nàng công chúa tên Diệu Thiện, con vua Diệu Trang ở nước Hưng-lâm (thuộc lãnh thổ nước Ấn-độ ngày nay), sang nước Đại-Việt (tên xưa của Việt-nam) tu hành chứng quả; vì thường cư trú ở vùng biển nước Nam ta, nên được gọi là Quán Âm Nam Hải. Nguyên vua Diệu Trang có ba người con gái, đều xinh đẹp, hiền lành, hiếu thuận. Hai công chúa lớn đã vâng lệnh phụ vương đi lấy chồng, còn Diệu Thiện là công chúa út thì không muốn lập gia đình, mà quyết chí xuất gia tu hành để cứu giúp mọi người đang đau khổ. Nhà vua đã tìm mọi cách để cản trở việc xuất gia của cô con út, nhưng không thành công; nàng vẫn nhất quyết sống đời phạm hạnh trong một ngôi chùa, trở thành một vị ni cô mẫu mực. Thấy thế, nhà vua vô cùng tức giận, cho lệnh đốt ngôi chùa ấy; nhưng thình lình trơi mưa xối xả, dập tắt hết lửa, cứu sống mọi người trong chùa. Nhà vua lại sai quân lính bắt ni cô Diệu Thiện đem xử chém. Khi lưỡi gươm của đao phủ chém gần đến cổ ni cô, thì bất chợt một con mãnh hổ xuất hiện, cõng ni cô chạy mất! Con mãnh hổ cõng ni cô Diệu Thiện chạy vượt qua bao núi non hiểm trở, sang đến lãnh thổ nước Đại-Việt, đặt ni cô xuống đất, rồi bỏ đi. Sau đó ni cô gặp được vị hoàng tử con vua đầu nhà Lí (thế kỉ 11 TL), biết ni cô quyết tâm tu hành, ông giúp ni cô đến động Hương-tích (tức núi Hương-sơn, tỉnh Hà-đông, Bắc-Việt) để ẩn tu. Sau nhiều năm tu hành tinh tấn, ni cô Diệu Thiện bừng sáng trí tuệ, đắc thành đạo quả, có sức nghe mầu nhiệm, nghe được nhiều tiếng kêu thương của mọi người, dù ở thật xa, cho nên ni cô thường xuống núi để cứu giúp và hóa độ mọi người. Tiếng đồn vang khắp chốn nơi, dân gian kính ngưỡng thiết tha, đều tôn xưng ni côBồ Tát Quán Âm, hoặc gọi là Phật Bà Quán Âm Hương-tích.

 

C. TRÚ XỨ của BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM

Theo Kinh Tân Hoa Nghiêm ghi chép, đức Bồ Tát Quán Thế Âm cư trú tại núi Bổ-đà-lạc-ca (hoặc gọi là Phổ-đà-lạc-già - tiếng Phạn là Potala), một hải đảo nhỏ ở gần bờ biển Nam của nước Ấn-độ; chính tại nơi đây, Thiện Tài Đồng Tử đã đến tham bái Ngài để cầu đạo Bồ-đề.

Theo các kinh Đại A Di Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Thế Âm Thọ Kí, thì Bồ Tát Quán Thế Âm thường cư trú tại thế giới Cực-lạc, cùng với Bồ Tát Đại Thế Chí, là hai vị hầu cận và trợ thủ đắc lực nhất của đức Phật A Di Đà trong việc tiếp dẫn chúng sinh ở cõi Ta-bà về thế giới Cực-lạc. Bởi vậy, tông Tịnh Độ đã tôn xưng đức Phật A Di Đà và hai vị Bồ Tát này là “Tây Phương Tam Thánh”.

Một hòn đảo nhỏ ở gần bờ biển phía Đông của huyện Định-hải, tỉnh Triết-giang, Trung-quốc, cũng được đặt tên là núi Phổ-đà; và theo tín ngưỡng từ lâu đời, người Phật tử Trung-hoa đã coi đó là đạo tràng của đức Bồ Tát Quán Thế Âm trên đất nước Trung-quốc.

Theo tín ngưỡng của Phật tử Việt-nam, đức Bồ Tát Quán Thế Âm, qua hóa thâncông chúa Diệu Thiện (trong truyện Quán Âm Nam Hải vừa ghi trên), đã tu hành đắc đạo tại động núi Hương-tích, miền Bắc Việt-nam; và Ngài thường xuyên có mặt trêm biển Nam-hải (Việt-nam) để cứu độ chúng sinh.

Phật giáo Tây-tạng thì tin rằng, đức giáo chủ của họ (tức vị Đạt-lai Lạt-ma) chính là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Vì vậy mà cung điện của vị Đạt-lai Lạt-ma (cũng đồng thờiquốc vương nước Tây-tạng) đã được xây cất vô cùng nguy nga hùng tráng, được đặt tên là điện Potala; và đức Bồ Tát Quán Thế Âm luôn luôn được dân chúng xứ này sùng kính đặc biệt.

 

D. HẠNH NGUYỆNOAI THẦN của BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM

Hạnh nguyện độ sinh của Bồ Tát Quán Thế Âm thật là rộng lớn vô biên. Qua lời giới thiệu của đức Phật Thích Ca (trong Kinh Đại Bi), đức Bồ Tát Quán Thế Âm là một vị cổ Phật, đã thành Phật từ vô lượng kiếp trước –hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai,– vì hạnh nguyện đại bi muốn cứu độ chúng sinh, nên Ngài hiện thân làm Bồ-tát. Ở trước đức Phậthội chúng đông vô lượng, chính Bồ Tát Quán Thế Âm đã nói thần chú “Đại Bi Tâm Đà La Ni”. Trước khi nói thần chú này, Ngài bạch Phật rằng: “Con nói thần chú này vì muốn cho chúng sinh được an vui, dứt tất cả bệnh hoạn; được sống lâu, giàu có, diệt trừ tất cả nghiệp ác, khỏi các chướng nạn, tiêu tan mọi sợ hãi; được tăng trưởng mọi công đức lành, mau chóng đầy đủ mọi điều mong cầu.” Ngài cũng tự kể rằng, trong vô lượng kiếp về trước, có đức Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ ra đời, lúc đó Ngài vừa chứng bậc Bát-địa Bồ-tát, liền phát nguyện trước đức Phật kia rằng: “Nếu về sau con có thể thành tựu được những việc lợi ích an lạc cho tất cả chúng sinh, thì ngay bây giờ đây, nơi thân con hãy sinh đủ ngàn tay ngàn mắt!” Nói lời ấy xong thì thân thể Ngài liền hiện đủ ngàn tay, ngàn mắt.

Trong Kinh Bi Hoa, Ngài từng phát nguyện trước đức Phật Bảo Tạng rằng: “Trong khi tu hành đạo Bồ-tát, con nguyện luôn luôn làm lợi lạc cho chúng sinh. Như có chúng sinh nào chịu nhiều điều khốn khổ, bị tù hãm trong hoàn cảnh tối tăm, cô đơn buồn rầu, không nơi nương tựa, không có người giúp đỡ, nếu chúng sinh ấy nghĩ đến và xưng niệm danh hiệu con, tức thì con dùng thiên nhĩ để lắng nghe, dùng thiên nhãn để quan sát, xem kẻ đau khổ kia đang ở chỗ nào, con hiện đến để cứu giúp cho họ thoát khổ được vui.”

Theo phẩm “Phổ Môn” trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, hễ ai thờ Ngài thì đều được phước đức lớn; ai cầu nguyệnxưng niệm danh hiệu Ngài, đều được Ngài chở che và cứu giúp thoát khỏi mọi hoàn cảnh đau khổ, hiểm nguy.

Trong Kinh Địa Tạng, đức Phật có khen ngợi Bồ Tát Quán Thế Âm rằng: “Ông có nhân duyên lớn đối với thế giới Ta-bà này. Các hàng trời, người, rồng, thần, quỉ, cho đến các chúng sinh đau khổ trong khắp nẻo luân hồi, hễ nghe danh hiệu ông, thấy hình ảnh ông, mà kính ngưỡng, tán thán, thì các chúng sinh ấy đều được hưởng phước báo an vui mầu nhiệm nơi các cõi Trời và Người, đối với đạo quả Bồ-đề thì không bị thối chuyển, và đến khi nhân duyên thành thục thì được gặp chư Phật thọ kí cho.”

Hạnh nguyện của đức Bồ Tát Quán Thế Âm đã vô cùng rộng lớn như vậy, mà oai thần diệu dụng cứu độ chúng sinh của Ngài lại càng không thể nghĩ bàn. Kinh Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương nói rằng, từ vô lượng vô số kiếp xa xưa (trong những thời đại của các đức Phật Tì Bà Thi, Thi Khí, Tì Xá Phù v.v...), khi đức Thích Ca Mâu Ni còn đang tu tập hạnh Bồ-tát, Ngài đã từng nhiều lần nghe biết và thán phục công đức cũng như sức oai thần lớn của Bồ Tát Quán Thế Âm. Trong lúc đức Phật sắp bắt đầu nói kinh này ở tinh xá Kì-viên (thành Xá-vệ), thì đức Quán Thế Âm đang ở đại địa ngục A-tì để cứu độ chúng sinh đau khổ; và lúc đó, từ trong địa ngục ấy, ánh hào quang rực rỡ của đức Bồ Tát đã rọi lên chiếu sáng cả khu vườn Cấp-cô-độc, làm cho quang cảnh Kì-viên tăng phần trang nghiêm vi diệu. Đồng thời đức Bồ Tát cũng cứu độ vô số ngạ-quỉ được vãng sinh về thế giới Cực-lạc, trở thành những vị Bồ Tát bất thối ở cõi Tây-phương. Kinh này cũng chép rằng, có một lúc Bồ Tát Quán Thế Âm đến thành Ba-la-nại, bấy giờ thành phố này rất dơ bẩn, vô số trăm ngàn vạn loại sâu bọ dòi trùng chen chúc. Ngài phát tâm từ bi, muốn cứu độ các chúng sinh dơ bẩn kia. Ngài liền hóa thân thành một con ong, bay tới chỗ ấy, trong tiếng kêu vo-ve có phát ra tiếng “Nam Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng”. Các loài sâu bọ dòi trùng nghe tiếng ấy cũng đều bắt chước kêu theo như thế: “Nam Mô Phật, Nam Mô Pháp, Nam Mô Tăng”; tức thì tất cả đều mạng chungvãng sinh về thế giới Cực-lạc.

Trong Kinh Đại Bi, đức Phật bảo tôn giả A Nan rằng: “Bồ Tát Quán Thế Âm thần thông oai lực không thể nghĩ bàn. Vị Bồ Tát ấy có ngàn tay, mỗi tay đều tiêu biểu cho hạnh tùy thuận các điều mong cầu của chúng sinh (như cầu được giàu sang, được khỏi bệnh, được yên ổn, được gặp bạn lành, thoát khỏi ách nạn, hàng phục ma quỉ, quyến thuộc hòa thuận, được thân cận Tam Bảo, được vững tâm bồ-đề, v.v...). Đó là do tâm đại bi của vị Bồ Tát ấy hóa hiện.” Kinh này còn nói, vì tâm đại bi cứu độ chúng sinh mà đức Bồ Tát Quán Thế Âm nói ra thần chú “Đại Bi”. Chính Ngài đã bạch lên đức Phật về sức oai thần của thần chú ấy: “Nếu chúng sinh nào tụng trì thần chú Đại Bi mà còn bị đọa vào ba đường dữ, không được sinh về các cõi Phật, con thề không thành Chánh-giác. Những người tụng trì thần chú này, mọi điều mong cầu đều được toại nguyện – ngoại trừ mong cầu những điều bất thiện. Ai tụng trì thần chú này với lòng tin tưởng chân thành, đều được chư Phật mười phương chứng minh hộ niệm, cho nên mọi tội lỗi nặng nhẹ, kể cả trọng tội ngũ nghịch, cũng đều được tiêu trừ...”

Trong Kinh Pháp Hoa (phẩm Phổ Môn), sức oai thần diệu dụng cứu độ của Bồ Tát Quán Thế Âm còn được đức Phật chỉ dạy cho chúng ta thấy một cách cụ thể:

- Ái dục, sân hậnsi mêba loại phiền não độc hại nhất từng nhận chìm chúng sinh trong biển sinh tử luân hồi từ vô thỉ đến nay, nhưng nếu ai bị nhiều nỗi đau khổ hành hạ vì tâm ái dục quá nhiều, hoặc vì tâm sân hận quá cao, hoặc vì tâm si mê quá nặng; mà được phước duyên nghe được danh hiệu đức Bồ Tát Quán Thế Âm, rồi thành tâm trì niệm danh hiệu Ngài, sẽ được Ngài cứu độ cho cởi bỏ được ba loại phiền não độc hại ấy.

- Trong tất cả các trường hợp bị tai nạn, nếu thành tâm xưng niệm danh hiệu đức Bồ Tát Quán Thế Âm, do “sức niệm Quán Âm”, liền được thoát khỏi tai nạn – mà điển hình là bảy loại tai nạn: nạn lửa, nạn nước, nạn gió, nạn dao gậy, nạn gông cùm, nạn giặc cướp, nạn ác quỉ.

- Một cách tổng quát, oai thần diệu dụng cứu độ của Bồ Tát Quán Thế Âm lớn lao không thể nghĩ bàn. Người trì niệm danh hiệu của Ngài sẽ được vô lượng vô biên phước đức; chỉ cần chí thành niệm danh hiệucung kính lễ bái cúng dường Ngài một lần trong đời, thì phước đức ấy cũng sánh bằng với người trọn đời niệm danh hiệulễ bái cúng dường sáu mươi hai ức hằng sa chư vị Bồ Tát khác trong mười phương.

- Do oai thần diệu dụng rộng lớn như thế, đức Bồ Tát Quán Thế Âm thường xuyên có mặt ở thế giới Ta-bà, bằng đủ mọi loại thân hình thị hiện (từ thánh nhân cho đến trời, người, cùng 8 bộ long thần), để cứu độ rộng khắp mọi chúng sinh đau khổ. Trong phẩm “Phổ Môn” này, đức Phật đã kể ra 32 hiện thân như thế của Bồ Tát Quán Thế Âm, đó là thân Phật, thân Phật Bích-chi (Kinh Thủ Lăng Nghiêm thì kể làm hai thân: Độc-giác và Duyên-giác), thân Thanh-văn (3 loại thân thánh nhân); các thân trời Phạm Vương, trời Đế Thích, trời Tự Tại, trời Đại Tự Tại, Đại tướng quân của trời Đế Thích, trời Tì Sa Môn (6 loại thân trời); các thân quốc vương, trưởng giả, cư sĩ, quan lại, bà la môn, tì kheo, tì kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ, phụ nữ, đồng nam, đồng nữ (12 loại thân người); các thân thiên, long, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lầu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, thân người nói chung, thân các loài phi-nhân khác, thân thần cầm chày kim cang (11 loại thân nhânphi nhân). Thật ra, chúng sinh thì nhiều vô lượng, nỗi đau khổ của chúng sinh thì vô biên, cho nên thân ứng hóa của Bồ Tát Quán Thế Âm ở trong thế gian cũng vô biên vô lượng; sự liệt kê 32 (hoặc 33) thân ở trên chỉ mang ý nghĩa tượng trưng mà thôi.

Theo Kinh Thủ Lăng Nghiêm, ngoài 32 ứng thân như trên (liệt kê có khác đôi chút), đức Bồ Tát Quán Thế Âm còn thành tựu được 14 năng lực vô úy; nhờ đó mà “tất cả chúng sinh trong mười phương, những ai đang bị khổ nạn, nếu thành tâm xưng niệm danh hiệu Ngài, liền được thoát khỏi các khổ nạn; dù vào hầm lửa lớn, lửa không đốt cháy được; dù bị rớt xuống nước, nước không nhận chìm được; dù vào nơi ác quỉ, ác quỉ không hại được; dù gặp nạn đao kiếm, đao kiến liền bị gẫy; v.v...”thế cho nên trong Kinh Pháp Hoa (phẩm Phổ Môn), Ngài được gọi là “bậc bố thí đức tính không sợ hãi”.

 

*

* *

 

Nói tóm lại, đức từ bi của Bồ Tát Quán Thế Âm rộng lớn vô biên, hạnh nguyện cứu độ chúng sinh của Ngài bao la vô tận, và oai thần diệu dụng cứu độ của Ngài thật không thể nghĩ bàn. Vì tình thương là đức tính tiêu biểu của Ngài, cho nên ở các nước Á-đông, người Phật tử thường tôn thờ Ngài bằng hình ảnh một bà Mẹ hiền; vì qua hình ảnh đó, họ mới cảm nhận được trọn vẹn niềm thân thương ấm cúng, sự đùm bọc che chở của Ngài.

Tất cả hạnh nguyện độ sinh của Bồ Tát Quán Thế Âm được đặt trên nền tảng tâm đại bi. Bi tâm ấy hoàn toàn thanh tịnh, sáng suốt, bình đẳng. Vì thế, bất cứ ở đâu, lúc nào, hễ có chúng sinh đau khổ là liền có Ngài thị hiện để cứu độ; và cũng vì thế mà sự cứu độ của Ngài luôn luôn được thi thiết trên nguyên lí “cảm ứng” – nghĩa là có cảm tất có ứng. Những người có lòng tin tưởng vững chắc nơi Ngài, thời thời thờ kính Ngài, mỗi khi có điều kêu cầu (cảm) liền được Ngài cứu độ (ứng) đã đành; đến như những người xưa nay chưa từng tin tưởng và thờ kính Ngài (như người ngoại đạo chẳng hạn), trong trường hợp nguy hiểm khẩn cấp, bỗng dưng được biết và chí thành xưng niệm danh hiệu Ngài để cầu xin cứu độ, tức khắc họ được Ngài cứu độ. Thậm chí, những kẻ suốt đời làm ác, phỉ báng Tam Bảo, phá hoại Phật pháp, rồi trong một hoàn cảnh nguy khốn, quá sợ hãi, bỗng dưng nhớ được danh hiệu Ngài, chí thành xưng niệm, kêu cầu cứu độ, cũng tức khắc được Ngài cứu độ! Có điều nên biết, là chúng ta không thể nào hiểu biết được sự cứu độ của Ngài, vì nó hoàn toàn vượt ra ngoài tầm hiểu biết của chúng ta; chúng ta chỉ cảm nhận được bằng trực giác rằng, chúng ta “đã được Ngài cứu độ” mà thôi – hạnh phúc riêng ai nấy biết.

Phật tử chúng ta không những trọn lòng tín ngưỡng đức Bồ Tát Quán Thế Âm, mà còn nên tu tập theo hạnh đại bi của Ngài, làm cho công hạnh độ sinh của Ngài được thể hiện ngay nơi mỗi người Phật tử chúng ta. Con người hiện nay ngày càng tàn ác; càng văn minh tiến bộ về vật chất thì càng dơ bẩn, thụt lùi về tâm linh. Bởi vậy, những khổ nạncon người trên thế giới phải gánh chịu do thiên tai, do chiến tranh, do lừa lọc, do cướp bóc, do bạo hành, do đâm chém bắn giết, v.v..., cứ xảy ra không những hằng ngày, hằng giờ, mà phải nói là hằng phút, hằng giây. Số chúng sinh đau khổ quá nhiều, dù chúng ta cũng thấy có xuất hiện không biết bào nhiêu tấm lòng nhân ái, nhường cơm xẻ áo, trợ giúp kẻ khốn cùng, dùng lời từ ái để xoa diệu phần nào nỗi đau thương thống khổ cho người bất hạnh, nhưng vẫn không làm sao vơi hết khổ đau được! Người Phật tử thấy rõ tình trạng đó, hãy cùng khuyến tấn nhau thời thời sống với tâm từ bi, không tham lamtinh tấn bố thí; không hận thùhỉ xảyêu thương người; nghe nơi nào cần giứp đỡ liền tùy khả năng mà ra tay tế độ. Đó chính là hình ảnh của Bồ Tát Quán Thế Âm. Một triệu người Phật tử sống đời sống như thế, là một triệu hiện thân của Bồ Tát Quán Thế Âm trong cõi đời đau khổ này!

Sáng cho người thêm niềm vui; chiều giúp người bớt khổ.

Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.

 

Reader's Comment
Tuesday, September 30, 201416:46
Guest
Bài viết rất hữu ích.cảm ơn
Send comment
Off
Telex
VNI
Your Name
Your email address
(View: 584)
Được tổ chức tại Chùa Phật Đà, San Diego, California, vào lúc 10:00am ngày 27/9/2020.
(View: 13823)
Nam Mô Từ Lâm Tế Chánh Tôn, tứ thập tam thế, Húy Thượng Tâm Hạ Nhẫn, Tự Hành Từ, Hiệu Chí Tín Giác Linh Trưởng Lão Hòa Thượng Liên đài chứng giám
(View: 1080)
Là bậc Cao tăng xuất chúng, bằng trực giác mẫn tuệ, sư Đạo Sinh tự nghiệm ra một lý lẽ rất cao siêu và công khai thuyết giảng rằng ai ai cũng có Phật tính
(View: 680)
Mắt không phải là xiềng xích của sắc (cái được thấy), sắc cũng không phải là xiềng xích của mắt. Bất cứ tham và luyến nào khởi lên dựa vào hai thứ đó
(View: 1830)
Do niên cao lạp trưởng đã thu thần viên tịch vào lúc 02h56 phút ngày 16 tháng 4 nhuận năm Canh Tý - nhằm ngày 7 tháng 6 năm 2020 tại Thiền Viện Vạn Hạnh. Trụ thế: 84 năm, 47 hạ lạp.
(View: 1801)
Các tác phẩm của Thầy phần lớn được dịch từ Hán tạng, gồm giới kinh và các nguồn văn học Phật giáo Đại thừa với tư tưởng uyên thâm về triết họctâm lý học.
(View: 2260)
Thầy Tuệ Sỹ Là Viên Ngọc Quý Của Phật Giáo và Của Việt Nam - Nguyễn Hiền Đức
(View: 924)
Bài của Olaf Beuchling - đăng trên tạp chí "BUDDHISMUS Aktuell“ (Phật Giáo Ngày Nay) số 2/2020, phát hành tháng Tư, Năm, Sáu – từ trang 44 - 49 Việt dịch: Đạo Hữu THỊ CHƠN Ngô Ngọc Diệp
(View: 4481)
Đại Lão HT Thích Quảng Độ viên tịch lúc 21 giờ 30 ngày 22 tháng 2 năm 2020, thượng thọ 93 tuổi, 73 hạ lạp
(View: 1260)
Dịch theo bản Anh dịch “The Enlightenment of Chiyono” của Anne Dutton, từ các trang 173-179 của sách “Zen Sourcebook: Traditional Documents from China, Korea, and Japan
(View: 1529)
Giới đàn là một nghi lễ để truyền trao giới pháp cho các giới tử là những người xuất gia theo đạo Phật. Để thành tựu được một giới đàn, phải có đủ 3 yếu tố: Tam sư, thất chứng và giới tử.
(View: 1463)
Nhận thấy nhu cầu tìm hiểu những nhân vật, con người, đã và đang đóng góp công sức cho Phật giáo Việt Nam ngày nay...
(View: 1700)
Ôn thường canh cánh về Mẹ bên lòng khi còn sanh tiền. Trước khi “chết” Ôn về quê thăm Mẹ, lạy tình thương của Mẹ từ thuở ấu thơ.
(View: 15511)
“Rốt cuộc, tôi không biết gì, không có ý định gì cả, nên cuộc đời tôi ‘không vẫn hoàn không’, không có gì đáng nhớ, đáng nói… ‘Không vẫn hoàn không’ là Phật cho, tôi mới được như vậy.”
(View: 3036)
Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Trí Quang (1923-2019) vừa viên tịch
(View: 2286)
Trưởng Lão HT Thích Chơn Thành sinh ngày mùng 9 tháng 8 năm 1934, tại Xã Xuân Thọ, Quận Sông Cầu, Tỉnh Phú Yên, Việt Nam.
(View: 1263)
Bài Thuyết Trình: Hành TrạngSự Nghiệp của Trưởng Lão Hòa Thượng THÍCH ĐÔN HẬU Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN nhân ngày Khánh Thành Chùa Đôn Hậu tại Na Uy
(View: 869)
Vị thứ hai trong dòng những tái sinh Jamyang Khyentse là Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro, người vĩ đại đến mức thật khó để tôi thậm chí thốt lên danh hiệu của Ngài
(View: 6176)
Kính Mừng Thọ 70 tuổi HT Thích Như Điển tổng hợp những bài viết cho Hoà Thượng Phương Trượng
(View: 3033)
Chương trình tang lễ của HT Thích Quảng Thanh được tổ chức tại Chùa Bảo Quang từ ngày 14 đến 17/6/2019
(View: 1119)
Hòa Thượng Thích Thiện Định là vị Tổ khai sơn chùa Pháp Hoa tại Marseille, Pháp Quốc.
(View: 2206)
Ngài thế danh là Diệp Quang Tiền, Pháp danh Tâm Khai, tự Thiện Giác (Đồng sư với Hòa thượng Thiện Châu ở bên Pháp), hiệu Trí Ấn Nhật Liên
(View: 1718)
Chúng ta nói chuyện thế kỷ 13, đó là một thời nước lớn phía Bắc không thôi kinh ngạc khi nghĩ tới nước nhỏ Đại Việt phía Nam, cả về quân sự và Phật pháp.
(View: 1969)
Tây Tạng xưa nay là xứ huyền bí. Đó là vùng đất thường được gọi là mái nhà của thế giới, nơi sản sinh ra nhiều bậc thánh giả siêu việt, mà ngài Lạt Ma tái sinh Zong Rinpoche là một trong những hình ảnh tiêu biểu.
(View: 1051)
GS Tenzin nói, những kinh nghiệm đó cho anh thực hiện nhiệm vụ thông dịch khá là tuyệt vời. Đối với một người thông dịch nào không quen thuộc với Đức Đạt Lai Lạt Ma, công việc như thế sẽ rất là khó.
(View: 2140)
Hòa Thượng Thích Như Điển - Chân Dung Một Nhà Văn
(View: 1676)
Sư cô Thích Nữ Chủng Hạnh sanh ngày 12 tháng 8 năm 1933. Do tuổi cao sức yếu, đã thâu thần thuận tịch vào ngày 07 tháng 11 năm 2018. Trụ thế: 86 năm, Hạ lạp: 07 năm.
(View: 2160)
A Dục, Asoka (Sanskrit). Khi đức Phật Thích ra đời, Vua A Dục là một đứa trẻ, trong lúc đang chơi đức Phật đi ngang qua, đứa trẻ đem cát mà coi như cơm cúng dường cho Phật...
(View: 3946)
Chương trình tang lễ được tổ chức từ ngày 23 đến 25 tháng 10 năm 2018 tại Chùa Diệu Quang, 3602 W 5th St, Santa Ana, CA 92703. Tel: (714)554-9588
(View: 1841)
Sư bà Nguyên Thanhthế danh Lê Thị Quan, sanh năm1944, tại Quy Nhơn, là con gái thứ ba trong năm người con của ông Lê Đức Khánh và bà Trần Thị Quýt, làng Phú Nhơn, xã Cát Trinh, khuyện Phù cát, tỉnh Bình Định.
(View: 1857)
Chương Trình Lễ Tang sẽ được tổ chức lúc 5 giờ chiều Thứ Bảy ngày 4 tháng 8 năm 2018 và Chủ Nhật ngày 5 tháng 8 năm 2018, tại Đạo Tràng Nhân Quả, 10801 Trask Ave, Garden Grove, CA 92843
(View: 1513)
Hòa Thượng Thích Thiện Hữu thế danh Nguyễn Hữu Nghĩa thượng Như hạ Lễ tự Viên Nhơn, hiệu Thiện Hữu sinh năm Giáp Thân (1944) tại xã Nhơn Khánh, quận An Nhơn, tỉnh Bình Định.
(View: 4268)
Thay mặt chư tôn đức Tăng, Ni và quý Cư Sĩ Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHK nhất tâm nguyện cầu Giác Linh Sư Bà Tân Viên Tịch Cao Đăng Phật Quốc.
(View: 7754)
Lễ Nhập Quan: Vào lúc 10 giờ sáng Thứ Sáu, ngày 12 tháng 1 năm 2018 tại Peek Funeral Home, 7801 Bolsa Ave., Westminster, CA 92683
(View: 11041)
Đức Trưởng lão Hòa Thượng thượng ĐỨC hạ CHƠN Viện chủ Tu Viện Quảng hương Già Lam, Sài Gòn vừa viên tịch lúc 03g40′ ngày 27/11/2017
(View: 2937)
Khó hình dung rằng một phụ nữ Anh đang phụ trách về kế toán trong một công ty quản trị quỹ đầu tư đa quốc bỗng nhiên trở thành một vị ni sư theo truyền thống Tây Tạng
(View: 45759)
HT Thích Đức Niệm - Trụ trì Chùa Ưu Đàm, Tp. Marina, California viên tịch lúc 11:30AM ngày 20/10/2017...
(View: 4886)
Hòa Thượng Phương trượng Chùa Thiền Tôn, húy Tắc An hiệu Lãng Thiện đời thứ 23 dòng thiền - Thiên Thai Giáo Quán Tông
(View: 12131)
Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Minh Tuyền (1938-2017) Khai Sơn Chùa Phật Giáo Việt Nam tại Nhật Bản
(View: 2543)
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu được tồn vinh đó là nhờ công đức sáng lập của Thầy.
(View: 2381)
Chỉ cần, đối cảnh vô tâm, hay cứ để mặc cho các pháp được thấy như là được thấy, được nghe như là được nghe… Và đó là Thiền Tông: không một pháp nào để làm.
(View: 6245)
Kỷ Yếu Tri ÂnTán Dương Công Đức của Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Như Huệ... TT Thích Nguyên Tạng
(View: 2709)
Ngay từ hồi còn trẻ cụ Chu Văn An (1292-1370) đã nổi tiếng là một người cương trực, giữ tiết tháo, không cầu danh lợi, chỉ ở nhà đọc sách.
(View: 9725)
Sư Bà đã viên tịch ngày 15/1/2017. Lễ Nhập Kim Quan vào lúc 9am, Chủ Nhật, 22/01/2017; Lễ Trà Tỳ vào lúc 3pm, Thứ Hai, 23/01/2017
(View: 8409)
Tuệ Sĩ – Người ẩn mình dưới lòng hố thẳm hun hút, Tuệ Sĩ – Trên đỉnh Trường Sơn chót vót sương mù, mây trắng.
(View: 13002)
Chúng con/tôi vừa nhận được tin: Thượng Tọa THÍCH ĐỨC TRÍ Trụ trì Chùa Tam Bảo Tulsa, Oklahoma vừa viên tịch...
(View: 4676)
Vào tháng 4 năm 1998, tôi trở về nhà ở Dharamsala, Ấn Độ, sau hành trình giảng dạy dài và khoản thời gian miệt mài viết lách tại Mông Cổ và phương Tây.
(View: 3974)
Đại lão HT Thích Thiện Bình đã thu thần viên tịch 17-11-2016 (18-10-Bính Thân), tại chùa Long Sơn TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa), thọ 84 tuổi.
(View: 4579)
Xuất gia năm 1960, thọ Sadi giới ngày 17-11 năm Quý Mão (1963) tại Tổ đình Tường Vân, thọ cụ túc giới năm 1964 tại giới đàn Quảng Đức
(View: 5899)
Đức Vua Bhumibol Adulyadej, vị hoàng đế ở trên ngai vàng lâu nhất thế giới, vừa băng hà tại bệnh viện ở thủ đô Bangkok ngày 13-10-2016.
(View: 2988)
Tiểu sử của một lama vĩ đại được gọi là “namtar” (rnam-thar), một tiểu sử mang tính cách giải thoát, vì nó tạo nguồn cảm hứng cho người nghe...
(View: 4206)
Hòa Thượng Thích Thiện Hoa con nhà gia giáo thuộc hạng trung lưu, trong gia quyến ai nấy đều theo đạo Phật.
(View: 5468)
Trong cuộc phỏng vấn năm 1999, Richard Gere nói về những năm tháng tu tập của mình, sự cống hiến của anh cho Lão sư của mình là Ngài Đạt La Lạt Ma.
(View: 3091)
Chu Văn An (1292-1370) hiệu là Tiều Ẩn, tên chữ là Linh Triệt, tên thụy là Văn Trinh. Tên thật của Chu Văn An vốn là...
(View: 4306)
Theo các nhà nghiên cứu về lịch sử Phật giáo, người Nga đã biết đến đạo Phật nhờ tiếp xúc với các lân quốc vùng châu Á như Mông Cổ, Tây Tạng...
(View: 3384)
Thupten Jinpa là một cựu tăng sĩ, hoàn tục để lập gia đình, trở thành một tác giả, và trong 30 năm qua, là người thông dịch chính về tiếng Anh cho Đức Đạt Lai Lạt Ma.
(View: 10674)
Lễ nhập Kim Quan lúc: 04 giờ chiều ngày Thứ Bảy: 25/6/2016; Lễ cung tống Kim Quan trà tỳ lúc: 08 giờ sáng ngày Thứ Năm: 30/06/2016
(View: 4054)
Bồ Tát Thích Quảng Đức tự thiêu tại ngã tư Phan Đình Phùng Lê Văn Duyệt, toàn thân Ngài bất động điềm nhiên trong tư thế thiền định...
(View: 4131)
Bài thuyết trình cho Khóa An Cư Kiết Hạ tại Niệm Phật Đường Fremont, SanJose, từ ngày 13-23 tháng 6 năm 2016
(View: 6769)
Kỷ Yếu Tri ÂnTán Dương Công Đức của Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn
(View: 6272)
Đức Trưởng Lão HT Thích Như Huệ Chứng minh Đạo sư GHPGVNTN Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan
(View: 4800)
Trong số mấy chục vị Thánh Tử Đạo ấy có Sư Cô Thích Nữ Diệu Định ở Quảng Nam-Đà Nẵng...
(View: 30012)
Lễ nhập kim quan lúc: 09:00am, ngày 12/3/2016. Lễ di quan lúc 10:00am ngày 15/3/2016
(View: 4140)
Đại Lễ Tri Ân nhị vị Hòa Thượng Trưởng Lão của Giáo HộiTrưởng Lão Tăng Giáo Trưởng HT Thích Huyền Tôn và Trưởng Lão Chứng Minh Đạo Sư HT Thích Như Huệ.
(View: 7265)
Kỷ Yếu Tưởng Niệm HT Thích Hạnh Tuấn (1956-2015) Chùa Trúc Lâm Chicago, USA ấn hành 2015
(View: 8386)
Kể từ khi tổ Minh Hải–Pháp Bảo khai tông lập giáo, tính đến nay dòng thiền Lâm Tế Chúc Thánh đã trải qua 300 năm lịch sử với 12 đời truyền thừa...
(View: 5284)
Dẫu là một ông vua, cai trị một đế chế rộng lớn, quyền uy sinh sát trong tay, nhưng kỳ thực A Dục Vương vẫn là một đệ tử Phật, một tín đồ thuần thành của Phật Giáo.
(View: 13236)
HT Thích Tâm Thọ, Thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam trên thế giới, Viện Chủ Chùa Giác Hoàng, Thủ đô Hoa Thịnh Đốn, Hoa Kỳ
(View: 4323)
Thiền sư BẠCH ẨN HUỆ HẠC (Hakuin Ekaku), thế danh Iwajiro (Nham Thứ Lang, nghĩa là cậu bé đá), quê tại Hara, tỉnh Suruga, thị trấn Numazu, hạt Shizuoka, Nhật Bản.
(View: 16248)
HT Thích Hạnh Tuấn, Trú Trì Chùa Trúc Lâm, Chicago, đã viên tịch; Lễ Nhập Liệm vào ngày thứ 4, 4/11/2015; Lễ Trà Tỳ vào ngày Chủ Nhật, 8/11/2015
(View: 8275)
Cả Đức Thích Ca Mâu Ni Phật và Guru Rinpoche đều tiên tri sự ra đời và thành tựu tâm linh của Tông Khách Ba.
(View: 10260)
Long Thọ (Nagarjuna, Klu-grub), cùng với Vô Trước (Asanga, Thogs-med), là hai đại hành giả tiên phong của truyền thống Đại thừa.
(View: 20698)
Lễ nhập quan sẽ được cử hành vào lúc 14 giờ ngày 25 tháng 08 năm 2015 (nhằm ngày 12/07/Ất mùi)
(View: 21475)
Trưởng lão Hòa Thượng vừa thâu thần viên tịch tại Tổ đình Từ Quang, thành phố Montreal, Canada, lúc 10g15 thứ Năm, ngày 20-8-2015, trụ thế 95 tuổi đời, 74 Hạ Lạp
(View: 7703)
Kỷ Yếu Tưởng Niệm Hòa Thượng Thích Minh Tâm (1940-2013)
(View: 4826)
Pháp danh của ông là Buddhadasa có nghĩa là người tỳ kheo hầu hạ Đức Phật, thế nhưng người dân Thái thì lại gọi ông là Ajhan Buddhadasa.
(View: 4754)
Ngài Tịch Thiên (Shantideva) là một trong những vị luận sư lỗi lạc nhất của thời kỳ sau trong quá trình phát triển tông phái Đại thừa
(View: 7323)
Ngài Huyền Trang theo truyện Tây Du không gọi là Huyền Trang mà kêu là Tam tạng thỉnh kinh hay Đường Tăng. Trong sách nói đủ là Tam tạng Pháp sư Huyền Trang.
(View: 7155)
Tranh vẽ Chân Dung HT Tuệ Sỹ của nhiều tác giả
(View: 5775)
Có một người đã cắt bỏ được sợi dây ràng buộc của gia đình để sống theo tăng đoàn của đức Phậtcống hiến trọn cuộc sống của mình cho công cuộc hoằng dương Phật pháp, đó là Tôn Giả Phú Lâu Na.
(View: 4949)
Huệ Viễn đại sư họ Cổ, nguyên quán xứ Lâu Phiền ở Nhạn Môn thuộc tỉnh Sơn Tây. Ngài sanh tại Thạch Triệu, năm Giáp Ngọ, vào niên hiệu Diên Hy đời vua Thành Đế nhà Tấn.
(View: 4684)
Đức Đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ (1909 - 1984), Đệ nhất Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN là bậc cao tăng có những cống hiến to lớn đối với Đạo pháp và Dân tộc
(View: 6475)
Đức Đệ Nhị Tăng Thống Giáo Hội Phật Việt Nam Thống Nhất, Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, viên tịch năm kỷ Mùi.
(View: 14627)
Hòa Thượng Thích Tuệ Chiếu, thế danh Lưu Đức Thụy, Pháp danh Thiện-Uẩn, Pháp hiệu Hồng Liên, pháp tự Tuệ Chiếu thuộc Thiền Phái Lâm Tế đời thứ 40.
(View: 17094)
Phật giáo Bắc tông nói chung, Thiền tông nói riêng đều lấy giác ngộ làm mục đích tiến tu. Dù là tu sĩ xuất gia hay cư sĩ tại gia trong khi tu hành được đôi phần giác ngộ đều được mọi người quí kính.
(View: 9330)
Quyển Ngữ Lục này là tập hợp từ những lời thị chúng của Thiền Sư Duy Lực trong những kỳ thiền thất tại Việt Nam kể từ năm 1983 cho đến những năm tháng cuối đời.
(View: 6078)
Từng nghe, lòng dạ kiên trinh, ý chí vững bền, khí tiết đặc biệt đâu phải hoàn toàn do bẩm tính tự nhiên mà phải dốc lòng kính ngưỡng, noi theo những bậc có đức hạnh cao vời.
(View: 13322)
Vào lúc 15 giờ ngày 14/12/2014, tại An Tường tự viện, Oakland, California, Hoa Kỳ, các tự viện đã phối hợp cùng Môn đồ pháp quyến tổ chức Lễ truy niệm và phát tang HT húy thượng Đồng hạ Đạt, tự Thông Đạt, hiệu Thanh An, Viện chủ An Tường tự viện
(View: 11700)
Những ngữ cú của Sư được chép rải rác trong trứ tác của các nhà, nhưng chưa được gom tập. Cho nên vào niên hiệu Nguyên Văn, thiền sư Huyền Khế biên tập và đặt tên là Động Sơn Lục, tàng bản tại Bạch Hoa Lâm.
(View: 6332)
Ngài Long Thọ (Nagarjuna) thường được tôn xưng là “đức Phật thứ hai” bởi các truyền thống Phật Giáo Đại Thừa tại Tây Tạng và Đông Á.
(View: 5100)
SB Diệu Không thế danh là Hồ Thị Hạnh, húy là thượng Trừng hạ Hảo, hiệu là Nhất Điểm Thanh. Sư Bà sinh năm 1905, con gái Út của Cụ Hồ Đắc Trung và Cụ Châu Thị Lương, làng an Truyền, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên.
(View: 4822)
Hòa Thượng thế danh là Nguyễn Văn Kính, sanh ngày 17 tháng 11 năm Tân Mão, nhằm ngày 17 tháng 12 năm 1891, tại làng Dưỡng Mong Thượng, tổng Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.
(View: 9583)
Trì Châu Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền Sư quê ở Tân Trịnh, Trịnh Châu, họ Vương, theo Đại Hoè Sơn, Đại Huệ thiền sư xuất gia, đến Tung Nhạc thọ giới cụ túc.
(View: 5384)
Mỗi khi tâm niệm đến hành trạng Thiền sư Vạn Hạnh, chúng ta không thể không đề cập đến con ngườisự nghiệp Lý Công Uẩn.
(View: 24564)
Tám vạn bốn ngàn pháp môn thảy đều do một tâm mà khởi. Nếu tâm tướng trong lặng như hư không, tức ra khỏi thân tâm.
(View: 13162)
Quyển Hai quãng đời của Sơ tổ Trúc Lâm do chúng tôi giảng giải, để nói lên một con người siêu việt của dân tộc Việt Nam.
(View: 7861)
Sư sống vào thời Hậu Lê, người ta quen gọi là Tổ Cầu. Tổ tiên quê ở làng Áng Độ, huyện Chân Phúc. Ông Tổ năm đời của Sư làm quan Quản chu tượng coi thợ đóng thuyền cho triều đình.
(View: 18446)
Hôm nọ, Phật ở trong hội Linh-sơn, tay cầm cành hoa sen đưa lên, cả hội chúng đều ngơ-ngác. Chỉ có ngài đắc ý chúm chím cười (niêm hoa vi tiếu)...
(View: 8986)
Thiền sư Khánh Hỷ (1067–1142) thuộc dòng thứ 14, thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Sư họ Nguyễn, quê ở Cổ Giao, huyện Long Biên, thuộc dòng tịnh hạnh, từng được vua Lý Thần Tông phong chức Tăng Thống.
(View: 4462)
Nhiều người tu tập Phật Giáo cảm thấy hoang mang khi nghe nói có các vị thầy Phật Giáo không tuân thủ một số giới luật, chẳng hạn như uống rượu, sống chung với các thành viên khác trong tập thể tu hành
Quảng Cáo Bảo Trợ